1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Ebook Phòng, chống HIVAIDS (Tài liệu dùng cho đào tạo sinh viên hệ bác sỹ y học dự phòng) Phần 2

124 257 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 5,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách gồm 14 bài, trong đó đề cập đến các nội dung như: Dịch tễ học về HIVAIDS; công tác giám sát, theo dõi và đánh giá dịch HIVAIDS; các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV; tư vấn xét nghiệm HIVAIDS; các kỹ thuật xét nghiệm HIV; tổng quan về chăm sóc, điều trị HIVAIDS; kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIVAIDS;... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH VI

DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV

MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi kết thúc bài học, học viên có khả năng:

1 Trình bày được khái niệm và vai trò của truyền thông thay đổi hành vi trong dự phòng lây nhiễm HIV

2 Nêu được các nguyên tắc cơ bản trong truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV

3 Phân tích được các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông và vai trò của các yếu

tố này trong truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV

4 Trình bày được các nguyên tắc lựa chọn kênh và phương tiện truyền thông thay đổi hành vi

NỘI DUNG HỌC TẬP

1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ NGUYÊN TẮC CỦA TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH VI TRONG PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS

1.1 Một số khái niệm có liên quan

Truyền thông là một quá trình giao tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin từ người truyền

(nguồn tin) đến người nhận (đối tượng truyền thông) nhằm nâng cao nhận thức, đạt được sự hiểu biết, thay đổi thái độ và hành vi của người nhận

Hành vi là cách ứng xử hàng ngày của một cá nhân đối với một sự việc, một hiện

tượng, một ý kiến hay một quan điểm Hành vi hình thành và phát triển, biến đổi theo ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái, môi trường, xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị

Hành vi trong phòng, chống HIV/AIDS là những thói quen, việc làm hàng ngày có lợi

hoặc có hại cho hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV

Truyền thông thay đổi hành vi (TTTĐHV) là biện pháp tiếp cận truyền thông ở nhiều

cấp độ nhằm thúc đẩy và duy trì việc thay đổi hành vi để làm giảm nguy cơ nào đó cho mỗi

cá nhân và cộng đồng thông qua các thông điệp phù hợp và các kênh truyền thông khác nhau Đây là một quá trình nhằm tăng cường và duy trì những thay đổi tích cực về hành vi của cá nhân và cộng đồng

Trong phòng, chống HIV/AIDS, truyền thông thay đổi hành vi được hiểu là biện pháp tiếp cận truyền thông ở nhiều cấp độ nhằm khuyến khích, thay đổi hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, với những thông điệp có tính định hướng hành động được chuyển đến công

Trang 2

chúng bằng nhiều kênh và phương tiện truyền thông khác nhau, đồng thời có sự phối hợp với việc cung ứng hoặc giới thiệu các dịch vụ hỗ trợ việc thực hiện và duy trì thực hiện hành

vi an toàn

Như vậy, ngoài việc cung cấp đủ kiến thức, thông tin về HIV, truyền thông thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS còn cần chú trọng đến tạo môi trường hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để hướng dẫn các đối tượng (người nhận/người được truyền thông) loại

bỏ hành vi nguy cơ và thực hiện hành vi an toàn để phòng tránh lây nhiễm HIV hoặc để không làm lây truyền HIV (gọi chung là dự phòng lây nhiễm HIV)

1.2 Vai trò của truyền thông thay đổi hành vi trong phòng, chống HIV/AIDS

Thế giới đã trải qua hơn 30 năm đối mặt với dịch HIV/AIDS nhưng cho đến nay dịch vẫn đang tiếp tục lan rộng trong cộng đồng Trong bối cảnh này truyền thông thay đổi hành

vi để làm tăng nhận thức, trách nhiệm và làm thay đổi hành vi của mọi người dân trong xã hội về dự phòng lây nhiễm HIV vẫn là một giải pháp không thể thiếu được và đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc chiến chống HIV/AIDS

Truyền thông thay đổi hành vi giúp nâng cao nhận thức của người dân về nguy cơ của đại dịch HIV/AIDS, các con đường lây truyền HIV, các đường không lây truyền, các hành

vi nguy cơ và các hành vi không làm lây truyền HIV, các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS, v.v… Khi cộng đồng hiểu biết đúng và đầy đủ sẽ có thái độ, hành vi đúng về dự phòng lây nhiễm HIV; chấp nhận, gần gũi, chia sẻ và giúp người nhiễm HIV tái hòa nhập cộng đồng, giúp họ cảm thấy họ vẫn được cộng đồng đùm bọc, từ đó họ sẽ có trách nhiệm bảo vệ cho những người khác

Bên cạnh đó, truyền thông thay đổi hành vi còn nhằm khuyến khích cộng đồng chủ động tham gia vào các hoạt động tìm hiểu, thảo luận và đối thoại về các hành vi nguy cơ và các yếu tố làm tăng hoặc giảm các hành vi nguy cơ Từ đó tạo ra nhu cầu về thông tin, dịch

vụ và thúc đẩy hành động, thực hiện hành vi an toàn để làm giảm nguy cơ, phòng lây truyền HIV cho bản thân và cho mọi người xung quanh

Truyền thông thay đổi hành vi trong phòng, chống HIV/AIDS còn giúp định hướng cho mọi người thực hiện pháp luật và các chính sách về phòng, chống HIV/AIDS, kết nối và thúc đẩy các dịch vụ về dự phòng, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị liên quan đến nhiễm HIV/AIDS và các dịch vụ hỗ trợ về kinh tế, xã hội khác, tạo môi trường thuận lợi cho mọi người thực hiện hành vi an toàn

Đặc biệt, truyền thông thay đổi hành vi trong phòng, chống HIV/AIDS còn góp phần nâng cao trách nhiệm và sự quan tâm của các cấp, các ngành, thu hút dư luận xã hội ủng hộ cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS và duy trì bền vững những thành quả đạt được

1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV

Để đạt được mục tiêu giúp đối tượng thay đổi các hành vi nguy cơ và thực hiện các hành vi an toàn dự phòng lây nhiễm HIV một cách có hiệu quả thì truyền thông thay đổi

Trang 3

 Quan tâm đến các lợi ích của cá nhân đối tượng;

 Nói cụ thể về những lợi ích sẽ đạt được và những mối nguy hại sẽ giảm đi khi thực hiện hành vi mới;

 Trình bày những hành vi có lợi, dễ thực hiện hoặc phù hợp với đối tượng trước, sau

đó trình bày các hành vi có lợi khác khó thực hiện hơn;

 Hãy chỉ rõ rằng hành vi có lợi mà chúng ta hướng dẫn là những hành vi được cộng đồng và xã hội chấp nhận, ủng hộ, nhiều người đã thực hiện thành công;

 Hãy đưa ra những hướng dẫn và lời khuyên cụ thể về cách thực hành hành vi có lợi

và cách thức vượt qua khi gặp trở ngại;

 Cần đặc biệt quan tâm đến những người không ủng hộ sự thay đổi hành vi và tập trung vào việc thuyết phục những người này để làm gương cho người khác;

 Hãy dùng những “tấm gương” cụ thể để chỉ cho mọi người thấy hiệu quả và lợi ích của việc thực hành hành vi an toàn

2 CÁC YẾU TỐ CỦA QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH VI DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV

Quá trình truyền thông bao gồm hai hoạt động cơ bản, đó là hoạt động chuyển thông điệp từ người phát tin (người truyền) tới đối tượng nhận tin (người nhận) qua việc sử dụng các thông điệp, các kênh truyền thông và các phương tiện truyền thông khác nhau; và hoạt động phản hồi từ đối tượng nhận tin tới chủ thể phát tin Việc nắm và xác định được các yếu

tố truyền thông phù hợp sẽ quyết định chất lượng và hiệu quả của mỗi hoạt động truyền thông thay đổi hành vi nói chung cũng như trong truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV nói riêng

Quá trình truyền thông được mô tả bao gồm:

Hình 7.1 Mô hình quá trình truyền thông

Trang 4

2.1 Người truyền/nguồn truyền

2.1.1 Ai có thể là người truyền

 Người truyền hay chủ thể phát tin là nguồn phát tin, cung cấp thông tin Đây là yếu

tố khởi xướng quá trình truyền thông

 Người truyền có thể là một cá nhân, một nhóm, một cơ quan, tổ chức Ví dụ: nhân viên y tế thôn bản, Hội Phụ nữ, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS, v.v… Tùy thuộc từng cộng đồng, sự tin cậy và nguồn tin đáng tin cậy người truyền còn có thể là: người đứng đầu cộng đồng; người có chuyên môn cao; các cơ quan, tổ chức có uy tín, v.v…

 Các tuyên truyền viên/giáo dục viên đồng đẳng có một vai trò hết sức quan trọng trong truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV, đặc biệt là truyền thông cho các đối tượng có hành vi nguy cơ cao Bởi hơn ai hết, các tuyên truyền viên đồng đẳng hiểu rất rõ tâm lý, hành vi, hoàn cảnh sinh hoạt và làm việc của các đối tượng (là những người đồng đẳng với họ) v.v do đó thuận lợi hơn trong việc tiếp cận và chia sẻ, truyền thông, giúp đối tượng thay đổi hành vi nguy cơ và thực hiện hành vi an toàn Hiện nay, phương pháp giáo dục đồng đẳng được coi là một trong những phương pháp truyền thông, giáo dục hiệu quả nhất trong phòng, chống HIV/AIDS bởi những ưu điểm vượt trội của nó

2.1.2 Điều kiện/tiêu chuẩn chung của người truyền

 Người truyền thông cần có kiến thức càng sâu rộng càng tốt về vấn đề cần truyền thông, có kinh nghiệm, kỹ năng truyền thông, v.v…

 Ngoài các yêu cầu về chuyên môn, kiến thức, kỹ năng, v.v việc lựa chọn người truyền thông thường phụ thuộc vào kết quả phân tích đối tượng truyền thông

2.2 Người nhận/đối tượng truyền thông

Người nhận hay đối tượng truyền thông là người tiếp nhận các thông điệp truyền thông

và là người được mong muốn thay đổi hành vi Họ có thể là một cá nhân, một nhóm người hay một cộng đồng Ví dụ: người nhiễm HIV; nhóm phụ nữ bán dâm, nhóm người nghiện chích ma tuý… Người nhận hay đối tượng truyền thông là nhóm đối tượng mà các thông tin, tài liệu, dịch vụ hỗ trợ và chiến dịch truyền thông sẽ tập trung vào Do vậy, điểm khởi nguồn của các hoạt động truyền thông cần bắt đầu từ việc tìm hiểu, phân loại và phân tích đối tượng truyền thông Hay nói cách khác, người nhận là trung tâm của hoạt động truyền thông thay đổi hành vi

2.2.1 Phân loại đối tượng truyền thông

Căn cứ vào các mục tiêu tác động cụ thể trong truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV có thể phân chia đối tượng truyền thông thành 2 nhóm chính:

2.2.1.1 Đối tượng đích cấp 1 hay nhóm đối tượng trực tiếp

Là những người có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV mà chúng ta muốn tác động để làm

Trang 5

vi sử dụng bơm kim tiêm sạch khi tiêm chích ma tuý thì nhóm đối tượng đích là nhóm người tiêm chích ma tuý

2.2.1.2 Đối tượng đích cấp 2 hay nhóm đối tượng liên quan

Là những người có ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến đối tượng đích cấp 1, có thể tác động tạo ra sự thay đổi ở nhóm đối tượng đích cấp 1

Ví dụ: nhóm cha mẹ, nhóm bạn thân, đồng nghiệp, thầy cô giáo; nhóm các nhà lãnh đạo đảng, chính quyền, các đoàn thể ở địa phương Những người này có khả năng ra các quyết định để ủng hộ, giúp đỡ các cá nhân/đối tượng thực hiện hành vi an toàn dự phòng lây nhiễm HIV

Đối với từng vấn đề trong lĩnh vực dự phòng lây nhiễm HIV, đối tượng đích còn được phân ra những nhóm nhỏ hơn dựa trên các đặc điểm về nhân khẩu học, thể chất, tâm lí hay hành vi có liên quan đến HIV/AIDS

2.2.2 Phân tích đối tượng truyền thông

Phân tích đối tượng truyền thông là cơ sở cho việc xác định các yếu tố khác trong quá trình truyền thông cho phù hợp Từ người truyền thông, thông điệp truyền thông, kênh truyền thông đến cách lấy thông tin phản hồi đều phải phù hợp vơi đối tượng truyền thông Các đặc điểm của đối tượng truyền thông cần phân tích bao gồm:

Các đặc điểm về nhân khẩu học như: giới, tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, thu nhập, học

vấn, hoàn cảnh gia đình, nơi làm việc và nơi ở, v.v…

Các đặc điểm về văn hoá như cách sống, phong tục tập quán

Các đặc điểm về thể chất như: tình trạng sức khoẻ, bệnh sử cá nhân, các dạng và mức

độ tiếp xúc (phơi nhiễm) với các nguy cơ lây nhiễm HIV, điều kiện chăm sóc sức khoẻ

Các đặc điểm về tâm lí như: thái độ, niềm tin, chuẩn mực xã hội hay các đặc tính cá

nhân khác

Đặc điểm về hành vi như: có hành vi nguy cơ, hành vi không có nguy cơ lây

nhiễm HIV

2.3 Thông điệp và nội dung truyền thông

2.3.1 Thông điệp truyền thông

2.3.1.1 Một số khái niệm về thông điệp truyền thông

Thông điệp là những nội dung truyền thông chính, được trình bày súc tích và thuyết

phục về một chủ đề, vấn đề sức khỏe nào đó Nội dung của thông điệp phải phản ánh được mục tiêu truyền thông, chỉ rõ những hành động cụ thể mong muốn và kêu gọi đối tượng thực hiện những hành động mong muốn đó

Trang 6

Ví dụ: nếu mục tiêu là mong muốn đối tượng sử dụng bao cao su thường xuyên đúng cách thì thông điệp có thể là “Hãy sử dụng bao cao su đúng cách cho mỗi lần quan

hệ tình dục”

Thông điệp theo nghĩa hẹp là những thông tin chủ đạo, nó có thể là một từ, cụm từ,

câu, đoạn văn ngắn, lời kêu gọi, hình ảnh, âm thanh hoặc kết hợp các hình thức với nhau nhằm thu hút đối tượng; có ý nghĩa vận động, kêu gọi đối tượng hành động theo mục tiêu truyền thông

Ví dụ: “Bao cao su - sự lựa chọn an toàn trong dự phòng lây nhiễm HIV” hay “Tôi đã được xét nghiệm HIV - Còn bạn?”

Thông điệp theo nghĩa rộng là tất cả các thông tin, ý tưởng, nội dung mà người

truyền thông cần/muốn chuyển đến đối tượng

Ví dụ: những nội dung liên quan đến bao cao su làm từ chất liệu gì? Tại sao bao cao

su có tác dụng phòng, tránh thai và phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, sử dụng và bảo quản bao cao su như thế nào v.v

2.3.1.2 Yêu cầu đối với thông điệp truyền thông

 Thông điệp truyền thông cần phải rõ nghĩa, ngắn gọn và có tính khuyến khích, thuyết phục hành động Nên sử dụng các số liệu chính xác, cập nhật để tạo thêm sức thuyết phục của thông điệp Những thông điệp tốt thường kết hợp chặt chẽ các từ ngữ, các mệnh đề với các tranh ảnh minh họa mang tính tích cực, có ý nghĩa đối với đối tượng đích

 Việc lựa chọn thông điệp truyền thông không chỉ phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu của hoạt động truyền thông, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của quá trình truyền thông, như đối tượng truyền thông, người truyền thông và phương tiện truyền thông

2.3.2 Các nội dung truyền thông trong dự phòng nhiễm HIV

Tùy thuộc vào mục đích, mục tiêu và đối tượng đích của mỗi hoạt động truyền thông

mà có các nội dung truyền thông khác nhau Theo điều 10 của Luật phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) thì nội dung của

các thông điệp truyền thông trong phòng, chống HIV/AIDS tập trung vào các vấn đề sau:

 Nguyên nhân, đường lây truyền HIV, các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV và các biện pháp chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV

 Hậu quả của HIV/AIDS đối với sức khoẻ, tính mạng con người và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

 Quyền, nghĩa vụ của cá nhân, gia đình và của người nhiễm HIV trong phòng, chống HIV/AIDS

 Các phương pháp, dịch vụ xét nghiệm, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị người nhiễm HIV

 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cộng đồng trong phòng, chống HIV/AIDS

Trang 7

 Chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV

 Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống HIV/AIDS

Tùy thuộc vào đối tượng và mục tiêu của từng hoạt động truyền thông thay đổi hành vi

mà lựa chọn các nội dung ưu tiên cho phù hợp

2.4 Kênh và phương tiện truyền thông

2.4.1 Kênh truyền thông

Là cách thức để chuyển tải thông điệp truyền thông đến đối tượng truyền thông Thông thường người ta phân ra hai loại kênh truyền thông là trực tiếp và gián tiếp

2.4.1.1 Kênh truyền thông trực tiếp

Kênh truyền thông trực tiếp giữa các cá nhân giúp cho việc đưa ra các thông điệp phòng, chống HIV/AIDS trong khung cảnh quen thuộc với đối tượng hơn

Kênh truyền thông trực tiếp có tính tương tác cao, thường tạo được sự tin tưởng và mức độ ảnh hưởng cao đối với đối tượng Kênh truyền thông này được chứng minh là rất hiệu quả trong nhiều chương trình y tế, đặc biệt là trong truyền thông dự phòng lây nhiễm HIV Bởi ngoài việc cung cấp kiến thức thiết thực, phù hợp với đối tượng, kênh truyền thông trực tiếp còn có khả năng trình diễn/hướng dẫn thực hiện các hành vi an toàn, trong

đó có những thực hành không thể hướng dẫn thông qua kênh truyền thông gián tiếp/đại chúng (ví dụ hướng dẫn sử dụng bao cao su đúng cách)

Tuy nhiên, hạn chế của truyền thông trực tiếp là chỉ tác động đến một số lượng đối tượng nhất định, thường mất nhiều thời gian, lượng thông tin không nhiều và phụ thuộc nhiều vào kiến thức, kỹ năng của người truyền thông

Kênh truyền thông trực tiếp thường bao gồm các hình thức truyền thông chủ yếu sau:

 Nói chuyện chuyên đề:

 Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về HIV để nâng cao hiểu biết của cộng đồng và giáo dục cộng đồng thực hiện các hành vi ngăn chặn sự lan truyền HIV trong cộng đồng Tổ chức nói chuyện về HIV có thể mời được nhiều đối tượng cùng tham dự Người nói chuyện chủ động trong việc soạn thảo và chuẩn bị các nội dung thông điệp về HIV/AIDS qua buổi nói chuyện

 Cách thức tổ chức: có thể tổ chức buổi nói chuyện chuyên đề trong một cuộc họp riêng hoặc lồng ghép vào một sự kiện có đông người tham gia Với phương pháp này có thể chuyển tải trực tiếp các kiến thức cơ bản, cập nhật về HIV/AIDS đến đối tượng đích nhằm nâng cao kiến thức hiểu biết và mong đợi đối tượng thay đổi hành vi sức khỏe, cách nhìn nhận và đối xử với những người nhiềm HIV/AIDS trong cộng đồng

 Thảo luận nhóm nhỏ:

Trang 8

 Thảo luận nhóm nhỏ giúp cho các đối tượng có dịp được phát biểu trước nhóm về HIV/AIDS, qua đó mà thể hiện kiến thức, thái độ, hành vi của mình và người truyền thông biết được để có thể lựa chọn thông điệp, nội dung, cách thức truyền thông cho phù hợp

 Tham dự thảo luận nhóm, lắng nghe người khác phát biểu sẽ làm cho người tham

dự có thêm kinh nghiệm và hiểu rõ hơn về HIV/AIDS; thấy rõ giá trị, lợi ích của các thực hiện các hành vi an toàn trong phòng, chống HIV/AIDS

 Trong một số trường hợp cụ thể, tham gia thảo luận còn giúp các cá nhân có những quan điểm, thái độ đúng đắn và nhận diên rõ ràng hơn các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của mình; thấy sự thay đổi hành vi của bạn bè mà quyết tâm thay đổi hành vi để dự phòng lây nhiễm HIV

Chú ý: tổ chức thảo luận các nhóm đồng đẳng sẽ có thể đem lại hiệu quả cao, nhất là việc chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và tạo được sự hỗ trợ lẫn nhau, có thể cam kết thực hiện các giải pháp cùng nhau để thay đổi hành vi

 Tư vấn:

 HIV/AIDS là một vấn đề sức khỏe nhạy cảm Tư vấn thay đổi hành vi cho cá nhân hay gia đình nhằm hướng dẫn giúp đỡ đối tượng hiểu rõ về HIV/AIDS, có biện pháp phòng tránh và đối mặt với vấn đề thực tại

 Tư vấn cho cá nhân có thể thực hiện tại cơ sở y tế, gia đình hoặc địa điểm thuận lợi

Để tư vấn tốt người tư vấn phải nắm chắc những vấn đề liên quan đến HIV/AIDS ở cộng đồng, hiểu biết đối tượng cần tư vấn Thái độ và ứng xử của người tư vấn cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của tư vấn Tư vấn thông qua điện thoại cho cá nhân về HIV/AIDS là một trong các hình thức tư vấn đang được thực hiện và phát huy tác dụng tốt

 Thực tế tại cộng đồng có thể có hai khả năng thực hiện hoạt động tư vấn về HIV/AIDS Thứ nhất là cán bộ y tế chủ động tiến hành tư vấn giáo dục sức khỏe cho cá nhân và gia đình khi thấy họ có nhu cầu Thứ hai là những đối tượng muốn tìm hiểu hoặc có vấn đề liên quan đến HIV/AIDS, chủ động tìm đến với cán bộ tư vấn giáo dục sức khỏe hay qua điện thoại

 Thăm hộ gia đình:

Trong truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV, đến thăm từng hộ gia đình để thực hiện tư vấn giáo dục sức khỏe là một phương pháp giáo dục sức khỏe trực tiếp mang lại hiệu quả cao vì có nhiều ưu điểm:

 Xây dựng được mối quan hệ tình cảm tốt đẹp với các thành viên trong gia đình;

 Được quan tâm nên các đối tượng dễ tiếp thu và thay đổi hành vi;

 Tại môi trường gia đình nên các thành viên gia đình có tâm lý thoải mái, tự tin để trình bày và nêu ý kiến, quan điểm về HIV/AIDS;

 Cán bộ y tế trực tiếp tìm hiểu, quan sát được các vấn đề liên quan đến sức khoẻ của gia đình và có thể đưa ra các lời khuyên sát thực với điều kiện, hoàn cảnh gia đình và mỗi

Trang 9

2.4.1.2 Kênh truyền thông gián tiếp (đại chúng)

Là truyền thông qua những phương tiện truyền thông như: loa, đài phát thanh; truyền hình; các tài liệu in ấn như báo, tạp chí, tờ rơi, sách nhỏ, tranh quảng cáo (áp phích); bảng tin lớn (pa nô) hay qua điện thoại, thư điện tử (email), internet

Kênh truyền thông gián tiếp có thể chuyển tải một khối lượng lớn thông tin và rất nhanh chóng tới được đông đảo công chúng

Các phương tiện truyền thông rất đa dạng từ phương tiện nhìn, nghe nhìn đến đa phương tiện, cũng như các loại hình sân khấu hóa

Tuy nhiên, ta không thể hi vọng nhiều vào việc các phương tiện thông tin đại chúng có thể làm cho mọi người thay đổi hành vi của họ, cũng như khó đo lường ngay được hiệu quả của truyền thông đại chúng và khó nắm bắt được sớm các thông tin phản hồi từ đối tượng Ngoài ra, kênh truyền thông đại chúng còn phụ thuộc vào yếu tố thời gian, địa lí, chất lượng thông tin và các yếu tố cơ sở hạ tầng kĩ thuật khác

2.4.2 Phương tiện truyền thông

Phương tiện truyền thông là công cụ mà người làm truyền thông sử dụng để thực hiện truyền thông và qua đó chuyển tải nội dung/thông điệp truyền thông tới đối tượng truyền thông

Trong truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV thường sử dụng các phương tiện truyền thông sau:

2.4.2.1 Các phương tiện và tài liệu truyền thông có khả năng tiếp cận rộng rãi các đối tượng

 Truyền hình:

Truyền hình thường được mọi người quan tâm chú ý vì ngoài ngôn ngữ, lời nói và chữ viết còn có các hình ảnh động gây được hứng thú và ấn tượng sâu sắc cho người xem và có thể hướng dẫn được cả các thao tác, kỹ thuật, qua đó đối tượng cũng có thể học được các kỹ năng dự phòng lây nhiễm HIV

Truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV qua các kênh của đài truyền hình trung ương có những ưu thế về sự phổ biến rộng, nhanh, nhưng lại kém ưu thế so với đài truyền hình địa phương về ngôn ngữ, thời gian phát sóng, sự phù hợp về văn hóa, phong tục tập quán…

Các nội dung truyền thông chuyển tải qua truyền hình có thể thông qua nhiều hình thức thể hiện rất phong phú như phóng sự, tin tức, hướng dẫn, chất vấn, hỏi đáp, gương người tốt, việc tốt Đặc biệt các thông điệp về HIV/AIDS sẽ được chuyển đến đối tượng một cách tự nhiên, hấp dẫn và gây ấn tượng thông qua các chương trình phim truyện, tiểu phẩm, ca nhạc, múa rối, hội thi

Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, quá trình cung cấp thông thông tin qua truyền hình vẫn chủ yếu là một chiều

Trang 10

 Đài phát thanh

Đài phát thanh (của trung ương và địa phương) là một phương tiện truyền thông đại chúng được sử dụng khá phổ biến trong truyền thông phòng, chống HIV/AIDS (bao gồm cả truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV) vì hiện nay, nhiều địa phương đã có sẵn hệ thống phát thanh từ tỉnh, huyện, xã đến thôn, kể cả ở những vùng xa xôi, cách trở, miền núi, dân tộc thiểu số

Truyền thông thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS trên đài phát thanh có ưu điểm nổi bật là phổ biến và nâng cao được kiến thức, hiểu biết về HIV/AIDS cho một số lượng lớn người dân trong cùng một thời điểm

Là phương pháp dễ thực hiện, đơn giản, ít tốn kém, có thể chủ động về thời gian Thông thường có thể lồng ghép nội dung truyền thông về HIV/AIDS với các chương trình phát thanh khác của địa phương, hoặc xây dựng chương trình truyền thông về HIV/AIDS riêng, phát thanh vào các thời gian nhất định trong ngày hay trong tuần

Chú ý nội dung bài viết trên đài phát thanh phải ngắn gọn, dễ hiểu, sử dụng ngôn ngữ địa phương quen thuộc với đa số người dân Có thể chuẩn bị nội dung bài viết dưới dạng các câu hỏi và trả lời để thu hút sự chú ý lắng nghe của thính giả

Những thông điệp truyền thông về HIV/AIDS cũng có thể chuyển tải qua đài phát thanh thông qua các hình thức như thơ, ca, hò vè, tiểu phẩm kịch đây là những hình thức dễ thu hút cộng đồng tham gia và đem lại kết quả tốt mà người thực hiện cần chú ý khai thác

Tuy nhiên, cũng tương tự như truyền hình, quá trình cung cấp thông thông tin qua đài phát thanh vẫn chủ yếu là một chiều

Tuy nhiên, khả năng tiếp cận sử dụng báo viết ở các đối tượng, khu vực có khác nhau, thói quen sử dụng báo in ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa hiện nay cũng còn rất hạn chế, do đó cần cân nhắc yếu tố về địa lí, dân số, kinh tế, loại báo cho phù hợp với đối tượng, vùng miền, khu vực

2.4.2.2 Các loại phương tiện, tài liệu truyền thông tiếp cận hạn chế một số đối tượng

 Sách mỏng/sách nhỏ

 Sách mỏng là loại tài liệu truyền thông phổ biến, thường được sử dụng rộng rãi cho các nhóm đối tượng Tuy nhiên, tuỳ từng đối tượng mà việc thiết kế sách mỏng hoặc tờ tin

Trang 11

 Sách mỏng thường chứa đựng một hàm lượng thông tin nhất định phù hợp theo từng chủ đề phòng, chống HIV/AIDS/truyền thông thay đổi hành vi

 Sách mỏng thường được sử dụng khi phối hợp với các hình thức truyền thông trực tiếp như nói chuyện với cá nhân, tư vấn, thảo luận nhóm… Sách mỏng cũng có thể được phân phối cho từng hộ gia đình

 Sách mỏng dễ và tiện cho người sử dụng nhưng chi phí cao và không sẵn có cho tất

cả các đối tượng

 Tờ rơi /tờ gấp/tờ bướm

 Tờ rơi là loại tài liệu truyền thông rất phổ biến và đa dạng, có thể chỉ có một trang hay nhiều trang, đa dạng về hình thức, thường có kèm hình ảnh minh họa các thông điệp Nội dung trong tờ rơi thường rất ngắn gọn, cô đọng những thông tin cần thiết nhất

 Tờ rơi thường dùng để phát cho các nhóm đối tượng không có nhiều thời gian để đọc, trong các buổi thảo luận nhóm, nói chuyện, thăm hộ gia đình, tư vấn Tờ rơi cũng thường được trưng bày, để đối tượng lựa chọn, đọc tại những “góc truyền thông”, phòng giáo dục sức khoẻ của các cơ sở y tế, hoặc tại các triển lãm về y tế

 Thường sử dụng kết hợp trong các buổi nói chuyện về HIV/AIDS trực tiếp với cá nhân, với nhóm

 Khi sử dụng, người hướng dẫn quay mặt có ảnh/tranh vẽ về phía học viên, còn mình thì đọc luôn được phần giải thích ở mặt sau để giải thích cho họ Tranh lật được sử dụng rất

có hiệu quả cho đối tượng có trình độ học vấn thấp

 Tạp chí

 Tạp chí cũng là một phương tiện truyền thông sử dụng để đăng tải các thông tin Tạp chí thường đăng tải những thông tin chuyên đề, chuyên sâu, vì vậy thường dành cho một số nhóm độc giả nhất định

 Tạp chí rất phù hợp với một số nhóm đối tượng có trình độ, các nhà lãnh đạo bận rộn không có nhiều thời gian để cập nhật thông tin

 Tuy nhiên, giá của tạp chí thường cao hơn so với các loại tài liệu in khác nên cũng hạn chế số người sử dụng

 Áp phích, pa nô

 Pa nô là những bảng lớn thường được thiết kế công phu dựng ngoài trời

Trang 12

 Áp-phích (poster) như pa nô nhưng kích thước nhỏ hơn, thiết kế đơn giản hơn pa nô

 Hai loại phương tiện này thường bao gồm các bức tranh, biểu tượng và những câu ngắn gọn thể hiện một thông điệp truyền thông nào đó như: nguyên nhân, triệu chứng, đường lây, hậu quả, cách phòng, chống HIV/AIDS, hành vi an toàn dự phòng lây nhiễm HIV cần thực hiện

 Pa nô thường đặt, treo ở ngoài trời, những nơi công cộng, nơi đông người, ở vị trí

dễ quan sát nên gây được sự chú ý của nhiều người và có tác động thường xuyên, liên tục

 Áp phích được sử dụng để hỗ trợ cho các tài liệu khác trong các chiến dịch truyền thông như cổ động nhân những sự kiện đặc biệt hoặc treo/dán ở những nơi công cộng, trụ sở

cơ quan và cũng có tác động thường xuyên, liên tục

 Các vật dụng hàng ngày (áo phông, áo mưa, mũ, cặp sách, túi khoác, dây đeo chìa khóa, tờ dán) mang thông điệp truyền thông

 Các vật dụng này được sử dụng ngày càng rộng rãi hơn trong hoạt động truyền thông nói chung hay quảng cáo và tiếp thị xã hội nói riêng, đặc biệt là trong các sự kiện/chiến dịch truyền thông

 Thông điệp truyền thông thể hiện trên các vật dụng này được chọn lọc rất kĩ lưỡng

và rất ngắn gọn, thường dưới dạng một cụm từ hoặc một hình ảnh

 Những vật dụng này có thể được phân phối miễn phí hoặc được bán với giá rẻ

 Băng cassette

 Sử dụng để ghi âm nội dung truyền thông sử dụng với máy cassette để phát tin hoặc

để phát tin qua loa phát thanh

 Phương tiện này được sử dụng phổ biến trong các chiến dịch truyền thông đại chúng, có thể sử dụng trong truyền thông nhóm hoặc lồng vào các bài hát, đoạn quảng cáo ngắn để thu hút sự chú ý của đối tượng

 Băng video, đĩa CD/VCD/DVD

 Đây là loại phương tiện nghe nhìn hiện đại, sinh động, hấp dẫn

 Sử dụng phương tiện này chủ động hơn so với chương trình truyền hình

 Loại hình này có thể sử dụng cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau Việc chuẩn bị kịch bản, chương trình thu băng, kĩ thuật thu đòi hỏi người có chuyên môn, kĩ thuật đồng thời cũng cần có kinh phí thích hợp cho các hoạt động này

 Sử dụng video phối hợp với các hình thức khác như nói chuyện, thảo luận nhóm sẽ đem lại hiệu quả truyền thông tốt hơn

 Ở cộng đồng, băng video thường được sử dụng trong những chiến dịch truyền thông

ở các cụm dân cư

 Ngoài vấn đề kinh phí và kĩ thuật sản xuất, hạn chế lớn nhất của hình thức này là

Trang 13

 Báo điện tử, internet

 Đây là phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại trên mạng internet Lượng thông tin vô cùng lớn, đa dạng, cập nhật nhanh, giao diện tương tác sinh động, hấp dẫn

 Loại phương tiện này này rất thông dụng ở khu vực đô thị và đối tượng sử dụng thường là giới trẻ, giới trí thức

 Yêu cầu cơ bản để sử dụng là phải có kiến thức và kĩ năng sử dụng máy tính và truy cập internet

 Khả năng tiếp cận sử dụng phương tiện truyền thông này ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa còn hạn chế

2.4.3 Lựa chọn kênh và phương tiện truyền thông

Khi sử dụng các kênh, các phương tiện truyền thông, người làm công tác truyền thông cần cân nhắc về ưu nhược điểm của từng kênh, từng loại phương tiện, phương pháp truyền thông, đặc điểm của nhóm đối tượng đích, điều kiện và khả năng tài chính để phối hợp các kênh, kết hợp sử dụng các phương tiện truyền thông đạt được hiệu quả cao nhất

Sau đây là một số nguyên tắc khi lựa chọn kênh và phương tiện truyền thông:

 Mức độ và độ thường xuyên tiếp cận được với nhóm đối tượng đích của loại phương tiên truyền thông dự định sử dụng

 Mức độ ảnh hưởng đến đối tượng đích của mỗi loại kênh hoặc phương tiện truyền thông

 Mức chi phí tương đối của mỗi loại kênh hoặc phương tiện truyền thông

 Có thể phối hợp được nhiều kênh để tạo được ảnh hưởng tối ưu

 Chọn kênh truyền thông có trong tầm tay của người truyền thông (tính sẵn có của

kênh/phương tiện truyền thông)

2.5 Phản hồi

Phản hồi là những thông tin, ý kiến từ phía đối tượng nhận tin (người được truyền thông) được chuyển đến chủ thể phát tin (người truyền thông) Dựa vào phản hồi mà chủ thể phát tin đánh giá được tác động, hiệu quả của quá trình truyền thông đến đối tượng, từ đó có những điều chỉnh thích hợp và kịp thời nội dung, thông điệp, hình thức, kênh truyền thông hoặc thay đổi cả người truyền thông

Thông tin phản hồi có thể được thu nhận:

 Trực tiếp từ đối tượng nhận tin hay đối tượng đích, hay từ những người có liên quan;

 Thông qua các kỹ năng quan sát, lắng nghe của người truyền thông;

 Thông qua các hoạt động giám sát, đánh giá hiệu quả truyền thông trên đối tượng

bằng các kỹ thuật khác nhau

Trang 14

2.6 Nhiễu

Nhiễu là những yếu tố không mong muốn tác động đến quá trình truyền thông làm ảnh hưởng đến hiệu quả truyền thông

Nhiễu có thể là tiếng ồn, môi trường quá nóng, quá lạnh

Nhiễu cũng có thể là yếu tố ngôn ngữ làm cho thông điệp sáng hơn, mạnh hơn nhưng đôi khi có tác dụng ngược lại

Ví dụ: thông điệp “ma tuý, mại dâm là con đường ngắn nhất dẫn đến HIV” có thể nhấn mạnh nguy cơ nhiễm HIV rất cao qua tiêm chích ma tuý và bán dâm, tuy nhiên cũng

có thể là yếu tố nhiễu trong chống kỳ thị và phân biệt đối xử, dễ làm cho mọi người khi nghĩ đến HIV là nghĩ ngay đến ma tuý, mại dâm - một tệ nạn xã hội

Nhiễu cũng có thể là cùng một lúc đưa ra nhiều loại thông tin không liên quan đến chủ

đề truyền thông hoặc các thông tin khác nhau

Tất cả các yếu tố nhiễu có thể ảnh hưởng đến sự tiếp nhận nội dung thông điệp truyền thông của đối tượng truyền thông

Cần kiểm soát yếu tố nhiễu vì chúng có thể làm sai lệch thông điệp truyền thông, làm giảm hiệu quả truyền thông

3 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH VI ĐỐI VỚI MỘT

SỐ NHÓM ĐỐI TƯỢNG CÓ HÀNH VI NGUY CƠ CAO

3.1 Đối với nhóm nghiện chích ma túy

3.1.1 Đối tượng truyền thông

Đây là nhóm có nguy cơ lây nhiễm HIV cao nhất Các hành vi nguy cơ điển hình liên quan đến lây nhiễm HIV là sử dụng chung bơm kim tiêm với bạn chích, quan hệ tình dục không an toàn cùng với bạn chích hoặc với người bán dâm Các vấn đề sức khỏe tâm thần ở nhóm này cũng thường xuất hiện ở nhóm này, như tâm lý sợ hãi bị đi cai nghiện bắt buộc,

sợ bị đi tù, v.v Các đối tượng này cũng chịu sự kỳ thị và phân biệt của xã hội vì hiện giờ mọi người vẫn coi ma túy và mại dâm là những tệ nạn xã hội và đáng bị lên án Các đối tượng sử dụng ma túy cũng thường sinh hoạt theo nhóm do đó hành vi của các cá nhân luôn chịu ảnh hưởng bởi các quan niệm và hành vi của nhóm

3.1.2 Người truyền/nguồn truyền

Việc tiếp cận với nhóm này để thực hiện truyền thông cũng không phải dễ dàng bởi họ không tin tưởng vào những người không thuộc nhóm của họ Do đó thường sử dụng phương pháp giáo dục đồng đẳng và người truyền chính là những người trong nhóm họ được đào tạo các kiến thức và kỹ năng có liên quan đến phòng, chống HIV/AIDS Những người này được gọi là tuyên truyền viên đồng đẳng hoặc giáo dục viên/cộng tác viên đồng đẳng

Trang 15

3.1.3 Thông điệp và nội dung truyền thông

Cần tập trung vào các đường lây truyền và các hành vi làm lây truyền HIV hoặc bị lây nhiễm HIV; nguy cơ lây truyền HIV qua việc sử dụng chung bơm kim tiêm hoặc/và dụng cụ khi tiêm chích và quan hệ tình dục không an toàn (không sử dụng bao cao su); cách thực hành các hành vi an toàn (sử dụng bao cao su đúng cách, sử dụng bơm kim tiêm sạch ); tác hại của sử dụng ma túy và các lợi ích khi từ bỏ ma túy, sử dụng bơm kim sạch để tiêm chích

ma túy, cách sử dụng bao cao su đúng cách và thường xuyên mỗi khi quan hệ tình dục; sự cần thiết của việc khám và điều trị kịp thời các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục; giới thiệu đối tượng truyền thông/đối tượng đích đến các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS như cơ sở điều trị nghiện nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (methadone), chăm sóc sức khỏe sinh sản đáng tin cậy, xét nghiệm HIV định kì cũng như các dịch vụ xã hội mà đối tượng cần

3.1.4 Kênh truyền

Kênh truyền thông tốt nhất đối với nhóm nghiện chích ma túy là kênh trực tiếp “mặt đối mặt” giữa giáo dục viên đồng đẳng với người nghiện chích ma túy hay thông qua tiếp cận truyền thông gia đình/bạn bè đối tượng Ngoài ra cán bộ y tế cũng có thể thực hiện tư vấn cho đối tượng tại các phòng tư vấn xét nghiệm HIV, cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế v.v…

3.1.5 Phương tiện truyền thông

Có thể sử dụng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau Nhưng nên sử dụng tờ rơi, sách nhỏ, tranh lật, pa nô, áp-phích, đĩa CD/VCD, v.v… thì phù hợp hơn với người nghiện chích ma túy

3.1.6 Cách nhận thông tin phản hồi

Trực tiếp thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ giữa người nghiện chích ma túy với giáo dục viên đồng đẳng hoặc tư vấn viên

3.1.7 Hạn chế các yếu tố nhiễu

Bằng cách xây dựng các thông điệp truyền thông rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, kèm hình ảnh, mang tính tích cực, khuyến khích hành động

3.2 Nhóm phụ nữ bán dâm

3.2.1 Đối tượng truyền thông

Phụ nữ bán dâm cũng là một trong những nhóm có hành vi nguy cơ cao làm lây truyền HIV/lây nhiễm HIV Bởi họ thường có quan hệ tình dục với nhiều bạn tình nhưng thường không sử dụng các biện pháp bảo vệ Do liên quan đến vấn đề bất bình đẳng về quyền lực nên phụ nữ bán dâm thường không có quyền thương lượng về hành vi tình dục an toàn và thường có xu hướng bị bạo lực tình dục So với người mua dâm là nam giới, phụ nữ bán dâm cũng có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn do đặc điểm giải phẫu và dễ mắc các nhiễm

Trang 16

trùng lây truyền qua đường tình dục (STIs) Ngoài việc bán dâm, trong nhóm này cũng có một tỷ lệ không nhỏ sử dụng ma túy và sử dụng chung bơm kim tiêm với bạn chích

3.2.2 Người truyền/nguồn truyền

Việc tiếp cận với nhóm này để thực hiện truyền thông cũng không dễ dàng, cần tìm cách tiếp cận phù hợp như giáo dục đồng đẳng hoặc tiếp cận thông qua các chủ nhà hàng, khách sạn, cơ sở vui chơi, giải trí Người truyền là các tuyên truyền viên đồng đẳng

3.2.3 Thông điệp và nội dung truyền thông

Cần tập trung vào các đường lây truyền của HIV và các bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục; hướng dẫn sử dụng bao cao su đúng cách; lợi ích của việc sử dụng bao cao su thường xuyên và đúng cách mỗi khi quan hệ tình dục; sự cần thiết của việc khám và điều trị kịp thời các STIs; kỹ năng thương thuyết tình dục an toàn, sử dụng bao cao su; xét nghiệm HIV định kỳ, v.v…Với những phụ nữ bán dâm sử dụng ma túy thì có thêm nội dung như với người nghiện chích ma túy (nêu trên)

3.2.4 Kênh truyền

Kênh truyền thông tốt nhất với nhóm phụ nữ bán dâm là trực tiếp ‘‘mặt đối mặt” giữa giáo dục viên đồng đẳng với phụ nữ bán dâm; tư vấn cá nhân (bí mật, riêng tư, thân thiện ); thảo luận nhóm nhỏ

3.2.5 Phương tiện truyền thông

Để sử dụng trong các buổi truyền thông trực tiếp như: tờ rơi, sách nhỏ, tranh lật, pa nô, áp-phích, đĩa CD/VCD, v.v…

3.2.6 Cách nhận thông tin phản hồi

Trực tiếp thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ giữa phụ nữ bán dâm với giáo dục viên đồng đẳng hoặc cộng tác viên

3.2.7 Hạn chế các yếu tố nhiễu

Bằng cách xây dựng các thông điệp truyền thông rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, kèm theo hình ảnh, mang tính tích cực, khuyến khích hành động

3.3 Nhóm nam có quan hệ tình dục với nam (MSM)

3.3.1 Đối tượng truyền thông

Những người thuộc nhóm MSM thường rất đa dạng về tuổi, nghề nghiệp và trình độ học vấn, tình trạng kinh tế do đó rất khó để tiếp cận với tất cả các thành viên của nhóm Nhóm cũng chịu sự kỳ thị và phân biệt đối xử của mọi người trong cộng đồng Các vấn đề tâm lý thường gặp ở nhóm này là trầm cảm, tự kỳ thị và có thể dẫn đến lạm dụng chất gây nghiện Vấn đề bạo lực cũng khá phổ biển ở cộng đồng MSM Liên quan đến hành vi nguy

cơ, nhóm này thường quan hệ tình dục qua đường hậu môn, đường miệng, sinh hoạt theo

Trang 17

3.3.2 Người truyền/nguồn truyền

Tuyên truyền viên đồng đẳng (cũng là MSM, nhưng được đào tạo) sẽ là những người tiếp cận đối tượng để truyền thông thay đổi hành vi cho MSM hiệu quả nhất Ngoài ra cũng

có thể sử dụng các tuyên truyền viên/cộng tác viên là các thanh niên hiểu và có mối quan hệ tốt với nhóm MSM

3.3.3 Thông điệp và nội dung truyền thông

Tập trung vào các thông điệp về thực hiện quan hệ tình dục an toàn, chung thủy/ít bạn tình; nếu MSM có sử dụng ma túy thì áp dụng nội dung truyền thông như đối với nhóm sử

dụng ma túy (nêu trên)

3.3.4 Kênh truyền

Kênh truyền thông tốt nhất là trực tiếp mặt đối mặt giữa giáo dục viên đồng đẳng/tuyên truyền viên đồng đẳng với MSM (trong nói chuyện với cá nhân, tư vấn, thảo luận nhóm truyền thông thay đổi hành vi) Ngoài ra có thể sử dụng kết hợp với các kênh truyền thông gián tiếp khác như dán áp phích tại những nơi nhóm hay sinh hoạt (câu lạc bộ, quán bar, v.v…), tổ chức các buổi trình diễn và giao lưu về chủ đề dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm MSM

3.3.5 Phương tiện truyền thông

Tờ rơi, sách nhỏ, tranh lật, pa nô, áp-phích, đĩa CD/VCD, v.v…

3.3.6 Cách nhận thông tin phản hồi

Trực tiếp thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ giữa MSM với giáo dục viên/tuyên truyền viên đồng đẳng hoặc tuyên truyền viên/cộng tác viên

3.3.7 Hạn chế các yếu tố nhiễu

Bằng cách xây dựng các thông điệp truyền thông rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, mang tính tích cực, khuyến khích tích cực hành động

Trang 18

LƯỢNG GIÁ CUỐI BÀI

Câu hỏi tự luận

1 Trình bày khái niệm và vai trò của truyền thông thay đổi hành vị trong phòng, chống

HIV/AIDS

2 Nêu các nguyên tắc cơ bản của truyền thông thay đổi hành vi trong phòng, chống

HIV/AIDS

3 Phân tích các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông và vai trò của các yếu tố này trong

truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV

4 Trình bày các nguyên tắc lựa chọn kênh và phương tiện truyền thông trong truyền thông

thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV

5 Xây dựng một số thông điệp truyền thông thay đổi hành vi dự phòng lây nhiễm HIV có

chất lượng và hiệu quả

Câu hỏi lựa chọn

1 Trong quá trình truyền thông, yếu tố nào là quan trọng nhất (khoanh vào 1 câu trả lời

đúng nhất)

A Người truyền

B Thông điệp truyền thông

C Kênh truyền/phương tiện truyền thông

D Người nhận

E Thông tin phản hồi

2 Các nguyên tắc trong truyền thông thay đổi hành vi (Đánh dấu X vào các ô đúng hoặc sai)

Quan tâm đến các lợi ích của cá nhân đối tượng

Nói cụ thể về những lợi ích sẽ đạt được và những mối nguy hại sẽ giảm đi khi

thực hiện hành vi mới

Trình bày những hành vi có lợi và khó thực hiện với đối tượng trước, sau đó trình

bày các hành vi có lợi khác dễ thực hiện hơn

Hãy chỉ rõ rằng hành vi có lợi mà chúng ta hướng dẫn là những hành vi được

cộng đồng và xã hội chấp nhận, ủng hộ, nhiều người đã thực hiện thành công

Không nên đưa ra những hướng dẫn và lời khuyên cụ thể

Cần đặc biệt quan tâm đến những đối tượng cần thay đổi hành vi, không nên

quá quan tâm đến người không ủng hộ sự thay đổi hành vi

3 Các nguyên tắc khi lựa chọn kênh và phương tiện truyền thông (Đánh dấu X vào các ô

đúng hoặc sai)

Chọn kênh hoặc phương tiện thường xuyên tiếp cận được với nhóm đối tượng đích

Chọn kênh hoặc phương tiện mà người làm truyền thông ưa thích

Quan tâm đến mức chi phí hoặc khả năng chi trả

Không nên phối hợp nhiều kênh truyền thông cùng lúc

Trang 19

CAN THIỆP GIẢM TÁC HẠI TRONG DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV

MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi học xong bài này, học viên có khả năng:

1 Trình bày được đại cương về các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV và các khái niệm có liên quan

2 Trình bày được các bằng chứng về tác động của các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV trên thế giới và ở Việt Nam

3 Trình bày được các chương trình can thiệp giảm tác hại đang triển khai tại Việt Nam

NỘI DUNG HỌC TẬP

1 ĐẠI CƯƠNG VỀ GIẢM TÁC HẠI TRONG DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV

HIV là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người và lây truyền qua đường máu, đường quan hệ tình dục và đường từ mẹ sang con HIV không chỉ làm suy giảm miễn dịch, làm tăng các nguy cơ mắc bệnh và tử vong mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của các cá nhân, gia đình và toàn xã hội

Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam có mô hình dịch tễ khác nhau tùy theo từng địa bàn, khu vực Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay dịch HIV/AIDS vẫn tập trung chủ yếu trong các nhóm có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao như người tiêm chích ma túy (TCMT), phụ nữ bán dâm (PNBD), nam có quan hệ tình dục với nam (MSM) do các hành vi tiêm chích không an toàn và tình dục không an toàn Trên thực tế, các số liệu thống kê cho thấy HIV lây truyền chủ yếu qua đường máu (tiêm chích ma túy chung bơm kim tiêm), tuy nhiên trong một vài năm trở lại đây, số người lây nhiễm HIV qua đường quan hệ tình dục không

an toàn đang có xu hướng gia tăng, thậm chí trong năm 2012 đã nhiều hơn số người bị lây nhiễm HIV qua đường máu

Mặc dù, các bằng chứng khoa học gần đây cho thấy việc điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) sớm và tích cực ở những người nhiễm HIV/AIDS có tác dụng dự phòng (làm giảm tỷ lệ mới mắc HIV trong cộng đồng), nhưng các chiến lược dự phòng, đặc biệt là các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong các nhóm có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao vẫn

có vai trò chủ chốt trong dự phòng lây nhiễm HIV

1.1 Các biện pháp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV

Các biện pháp pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV bao gồm tuyên truyền, vận động, khuyến khích sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm sạch, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và các biện pháp can thiệp giảm tác hại khác nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện các hành vi an toàn để phòng ngừa lây

Trang 20

nhiễm HIV (Theo khoản 15, điều 02, Luật phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)

1.2 Nhân viên tiếp cận cộng đồng

Nhân viên tiếp cận cộng đồng là những người trực tiếp tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV được cấp thẻ theo quy định của

pháp luật, bao gồm tuyên truyền viên đồng đẳng và những người tình nguyện khác (Theo khoản 01, điều 02, Nghị định 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ)

1.3 Tuyên truyền viên đồng đẳng

Tuyên truyền viên đồng đẳng là người tự nguyện thực hiện công tác tuyên truyền, vận động và giúp đỡ cho các đối tượng có cùng cảnh ngộ, lối sống như mình hiểu và thực hiện

các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS (Theo khoản 02, điều 02, Nghị định

108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ)

1.4 Đặc điểm của tiếp cận giảm tác hại

Nền tảng cơ bản của tiếp cận giảm tác hại là quan điểm cho rằng, các hành vi của con người có thể dẫn đến các nguy cơ cao lây nhiễm HIV (như tiêm chích ma tuý, bán dâm hay quan hệ tình dục không an toàn, bao gồm cả quan hệ tình dục) chưa thể giải quyết triệt để trong ngắn hạn, nên cần phải quan tâm giải quyết những hậu quả sức khoẻ không mong muốn của các hành vi này Tiếp cận giảm tác hại cho rằng việc triệt tiêu các hành vi này không phải là cách duy nhất để làm giảm các tác hại về sức khoẻ cho các nhóm có hành vi nguy cơ và cho cộng đồng

Đặc điểm thứ hai của tiếp cận giảm tác hại là tính thực tế và hướng đến các mục tiêu ngắn hạn (ví dụ giảm hành vi không an toàn) thay vì các mục tiêu dài hạn không dễ đạt được (ví dụ loại bỏ hành vi) Vì vậy, tiếp cận giảm tác hại phải dựa trên nhiều giải pháp đa dạng, bổ sung lẫn nhau và cần được triển khai đồng bộ, thay vì chỉ dựa vào một giải pháp duy nhất

Tùy theo hình thái dịch của từng khu vực, từng nước, từng địa phương mà một chương trình can thiệp giảm tác hại có thể bao gồm một hoặc tất cả can thiệp giảm tác hại chính Vai trò của những nhà chuyên môn triển khai các hoạt động giảm tác hại là cung cấp thông tin đầy đủ cho cá nhân và nhóm có hành vi nguy cơ cao về các giải pháp khác nhau để họ có thể lựa chọn giải pháp phù hợp nhất cho hoàn cảnh của mình

Đặc điểm cuối cùng nhưng rất quan trọng của tiếp cận giảm tác hại chính là sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc vượt qua và phá bỏ vị thế bên lề xã hội của các nhóm có hành vi nguy cơ cao, nhất là sự kỳ thị và phân biệt đối xử với các nhóm này Chương trình can thiệp giảm tác hại không thể có thành công bền vững nếu như không có các biện pháp vận động chính sách hoặc các biện pháp khác để tạo ra khung pháp lý và môi trường xã hội trong đó thành viên của những nhóm có hành vi nguy cơ cao được công nhận đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như những thành viên khác trong xã hội Việc cung cấp dịch vụ y tế và

xã hội cho các nhóm này không chỉ có ý nghĩa bảo vệ sức khoẻ của họ mà còn cho cả cộng đồng

Trang 21

1.5 Đối tượng áp dụng các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV

Theo Điều 5, Nghị định 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ thì các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV được triển khai trong các nhóm đối tượng sau:

 Người mua dâm, bán dâm

 Người nghiện chất dạng thuốc phiện

 Người nhiễm HIV

 Người có quan hệ tình dục đồng giới

 Người thuộc nhóm người di biến động

 Người có quan hệ tình dục với những người trên

1.6 Bằng chứng về tác động của các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV

1.6.1 Bằng chứng về tác động của các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV trên thế giới

Đã có nhiều bằng chứng trên thế giới cho thấy rằng các biện pháp can thiệp giảm tác hại có tác động rõ rệt trong việc phòng, chống HIV/AIDS

Y văn thế giới đã ghi nhận các chương trình cung cấp miễn phí BCS kết hợp với truyền thông thay đổi hành vi đã giúp giảm các hành vi tình dục không an toàn, giảm tỷ lệ mắc mới HIV và STIs khác

Các nghiên cứu đánh giá, báo cáo tổng kết của các tổ chức quốc tế đã chứng minh hiệu quả của chương trình 100% bao cao su (BCS) tại Thái Lan trong việc giảm và khống chế sự lây truyền của HIV tại quốc gia này Hình thái lây truyền HIV chính tại Thái Lan là qua các hành vi tình dục không an toàn, đặc biệt là trong mua-bán dâm, với tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm lên tới 15,2% vào giữa năm 1991 Chương trình 100% BCS ở Thái Lan đã được bắt đầu thử nghiệm vào năm 1989, sau đó nhanh chóng mở rộng ra toàn quốc vào năm 1991 với chính sách yêu cầu tất cả các cơ sở có hoạt động mại dâm phải cung cấp BCS miễn phí, và phụ nữ bán dâm chỉ thực hiện việc bán dâm khi khách hàng có sử dụng BCS Chương trình đã được thực hiện với sự phối hợp của chính quyền địa phương, công an

và các cơ quan y tế các cấp Tới giữa năm 1992, chương trình 100% BCS đã được triển khai

ở tất cả các tỉnh của Thái Lan Kết quả sau 5 năm, tỷ lệ sử dụng BCS đã tăng lên gấp 4 lần (từ 14% năm 1989 lên hơn 90% năm 1994), số các ca mắc các bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STIs) cũng giảm mạnh từ 410.406 ca trong năm 1987 xuống còn 27.362 ca năm 1994 Tỷ lệ lây nhiễm HIV cũng giảm mạnh ở tất cả các nhóm

Nghiên cứu về hiệu quả dự phòng lây nhiễm HIV của việc sử dụng BCS xuất bản vào năm 1997 của các nhà nghiên cứu tại Mỹ đã khẳng định rằng việc sử dụng BCS thường xuyên có hiệu qủa làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục từ 90% tới 95%

Trang 22

Các nghiên cứu cũng cho thấy các chương trình trao đổi bơm kim tiêm (BKT) sạch có hiệu quả trong việc dự phòng lây truyền HIV trong nhóm sử dụng ma túy qua đường tiêm chích (TCMT) Một nghiên cứu thử nghiệm có đối chứng về dự phòng lây nhiễm HIV bằng trao đổi BKT dựa vào cộng đồng ở Trung Quốc đã cho thấy rằng tỷ lệ sử dụng chung BKT

đã giảm đi một cách đáng kể ở nhóm được can thiệp ( 68,4% trước can thiệp và 35,3% sau can thiệp) trong khi đó tỷ lệ dùng chung BKT vẫn giữ nguyên ở nhóm chứng Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng tỷ lệ nhiễm mới HIV cũng giảm đi đáng kể ở nhóm có can thiệp so với nhóm chứng (18,1% so với 23,6%)

Một nghiên cứu khác về hiệu quả dự phòng lây nhiễm HIV trên 81 thành phố ở Mỹ có triển khai và không triển khai chương trình BKT sạch, sử dụng các số liệu ghi nhận các ca nhiễm HIV mới từ năm 1988 đến 1993 đã chứng rằng, ở các thành phố có chương trình BKT sạch có tỷ lệ nhiễm HIV mới thấp hơn 11,0% so với ở các thành phố không có chương trình BKT sạch

Các nhà nghiên cứu khác của Đại học New South Wales của Úc cũng tìm được kết quả tương tự về hiệu quả dự phòng lây truyền HIV của các chương trình BKT sạch dựa trên các

số liệu sẵn có về tỷ lệ nhiễm HIV tại 99 thành phố trên toàn thế giới có triển khai và không triển khai chương trình BKT sạch Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã thấy rằng, ở các thành phố có triển khai chương trình BKT sạch có tỷ lệ mắc mới HIV giảm 18,6% mỗi năm, trong khi đó các thành phố không có chương trình BKT sạch, tỷ lệ này lại tăng 8,1% mỗi năm

1.6.2 Bằng chứng về tác động của các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV ở Việt Nam

Can thiệp giảm tác hại đã được triển khai thí điểm lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm

1993 với các hoạt động can thiệp chính là giáo dục đồng đẳng, truyền thông thay đổi hành

vi, cung cấp và hướng dẫn sử dụng BCS

Mạng lưới nhân viên tiếp cận cộng đồng có vai trò chủ chốt trong các hoạt động can thiệp giảm tác hại, với số lượng người tham gia ngày càng tăng

Đến hết năm 2011, chương trình bơm kim tiêm (BKT) đã được triển khai tại 60/63 tỉnh/thành phố, 65% quận/huyện, 38,8% xã/phường Ước tính có khoảng 40.000 - 50.000 người TCMT được tiếp cận với chương trình BKT Kể từ năm 2004, số lượng BKT được phát cho người NCMT ngày càng tăng, lên đến 30 triệu vào cuối năm 2011 Kết quả là tỷ lệ mới nhiễm HIV trong nhóm NCMT giảm rõ rệt: từ 29% trong năm 2001 xuống còn 13,4% trong năm 2011 Ước tính, ở những tỉnh, thành phố triển khai tốt chương trình BKT, có thể

đã dự phòng được khoảng 50% các ca nhiễm mới HIV trong giai đoạn 2005-2009

Bên cạnh chương trình can thiệp giảm tác hại thông qua cung cấp, hướng dẫn sử dụng BKT sạch và thu gom BKT đã qua sử dụng, chương trình cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao su (BCS) ở Việt nam cũng đã được triển khai mạnh mẽ từ năm 2004 trở lại đây với

2 hình thức: phát miễn phí và tiếp thị xã hội BCS Có 63/63 tỉnh/thành phố, 78% quận/huyện, 51,4% xã/phường triển khai chương trình bao cao su Kết quả là nhận thức về phòng chống HIV/AIDS của người bán dâm tăng lên rõ rệt, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm có xu hướng giảm Chương trình tiếp thị xã hội BCS đã góp phần “bình

Trang 23

Bắt đầu từ năm 2008, Việt Nam đã triển khai thí điểm chương trình “Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadon” tại thành phố Hải Phòng và Hồ Chí Minh Sau hơn 2 năm triển khai, các nghiên cứu đánh giá cho thấy hiệu quả và lợi ích rõ rệt của chương trình này Ngoài tác động về sức khỏe nói chung của người tham gia điều trị, cũng như các tác động tích cực đến tình hình kinh tế-xã hội; an ninh, trật tự của xã hội và gia đình, chương trình này còn đã góp phần làm giảm sự lây truyền HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu như viêm gan B, C và bệnh giang mai… Theo kết quả điều tra nghiên cứu đánh giá hoạt động sau 24 tháng tại TP Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh chỉ phát hiện thêm 5 ca nhiễm mới HIV trong tổng số hơn một nghìn người TCMT tham gia điều trị Tính đến 30/6/2013, chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone đã được triển khai tại 20 tỉnh, thành phố, với 61 cơ sở điều trị và 13.838 bệnh nhân được điều trị

2 CÁC CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP GIẢM TÁC HẠI DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV TẠI VIỆT NAM

Theo các quy định tại Nghị định 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người thì công tác can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV ở Việt Nam đươc triển khai thông qua các chương trình/dự án sau:

2.1 Chương trình, dự án cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao su

 Bao cao su (BCS) được các chương trrình, dự án cung cấp miễn phí hoặc cách bán trợ giá cho những người có hành vi nguy cơ cao (đã nêu ở trên) thông qua các nhân viên tiếp cận cộng đồng đã được cấp thẻ hoặc qua mạng lưới các điểm cung cấp BCS

 BCS cung cấp miễn phí phải được in rõ trên bao bì hoặc nhãn phụ dòng chữ “Cung cấp miễn phí, không được bán”

Người phụ trách chương trình, dự án BCS có quyền:

 Phát triển mạng lưới các điểm cung cấp BCS miễn phí, đặt các máy bán BCS tự động, bố trí các điểm bán lẻ BCS tại các địa điểm vui chơi, giải trí, bến tàu, bến xe, nhà ga, các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng và các cơ sở dịch vụ khác

 Đẩy mạnh hoạt động cung cấp BCS miễn phí, bán BCS đã được trợ giá cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng

Người phụ trách chương trình, dự án BCS có trách nhiệm:

Trang 24

 Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan công an cùng cấp có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các chương trình, dự án hoạt động, phát triển mạng lưới cung cấp BCS trên địa bàn theo thẩm quyền quản lý

2.2 Chương trình, dự án cung cấp và hướng dẫn sử dụng bơm kim tiêm sạch

 Bơm kim tiêm (BKT) sạch được các chương trình, dự án cung cấp miễn phí cho người nghiện chích ma túy (NCMT) thông qua nhân viên tiếp cận cộng đồng đã được cấp thẻ hoặc qua mạng lưới các điểm cung cấp BKT sạch

 BKT sạch được các chương trình, dự án cung cấp miễn phí cho người NCMT phải được in rõ trên bao bì hoặc nhãn phụ dòng chữ “Cung cấp miễn phí, không được bán”

Nhân viên tiếp cận cộng đồng khi phân phát BKT sạch cho người NCMT có nhiệm vụ:

 Hướng dẫn việc thực hành sử dụng BKT an toàn

 Phân phát đúng số lượng BKT sạch đã được chương trình, dự án cấp, đồng thời thu gom các BKT đã qua sử dụng vào hộp cứng an toàn và chuyển về địa điểm quy định để tiêu hủy theo quy định của Pháp luật về xử lý chất thải

 Người NCMT có trách nhiệm thu gom BKT đã qua sử dụng để trao lại cho nhân viên tiếp cận cộng đồng để thu gom và tiêu hủy theo đúng quy định

 Các chương trình, dự án được phép phát triển mạng lưới các điểm cung cấp BKT sạch cố định hoặc di động tại Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS, Trung tâm Y tế dự phòng cấp tỉnh và cấp huyện, các nhà thuốc, các phòng tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện

và các địa điểm thích hợp khác

 Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan công an cùng cấp có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các chương trình, dự án hoạt động, phát triển mạng lưới cung cấp BKT sạch trên địa bàn theo thẩm quyền quản lý

2.3 Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế

 Người bệnh phải tự nguyện tham gia điều trị

 Liều Methadone phải phù hợp với từng người bệnh dựa trên nguyên tắc bắt đầu với liều thấp, tăng từ từ và duy trì ở liều đạt hiệu quả

 Điều trị bằng thuốc Methadone là điều trị duy trì lâu dài, thời gian điều trị phụ thuộc vào từng người bệnh nhưng không dưới 1 năm

 Điều trị bằng thuốc Methadone cần phải kết hợp với tư vấn, hỗ trợ về tâm lý xã hội, các dịch vụ chăm sóc và điều trị y tế khác khi có chỉ định để điều trị đạt hiệu quả cao

 Người đứng đầu cơ sở điều trị chỉ cung cấp thông tin về người bệnh cho các cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu hoặc cho người khác khi được sự đồng ý của người bệnh

(Xem thêm Nghị định số 96/2012/NĐ-CP, ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ

Trang 25

2.4 Các thách thức đối với chương trình can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam

 Độ bao phủ chương trình can thiệp giảm tác hại vẫn còn thấp (mới có 38,82% xã, phường triển khai chương trình/dự án cung cấp và hướng dẫn sử dụng BKT);

 Phối hợp liên ngành: chưa thật sự mạnh mẽ, thiếu sự đồng thuận, phối hợp giữa y

tế, công an, lao động thương binh xã hội ;

 Không xác định được số người nghiện chích ma tuý và người bán dâm nên rất khó khăn cho việc lập kế hoạch triển khai các hoạt động can thiệp cũng như quản lý, giúp đỡ những người này ở cộng đồng;

 Đội ngũ làm công tác can thiệp giảm tác hại thiếu, thường xuyên có sự biến động, thay đổi nên ảnh hưởng đến việc tổ chức triển khai các họat động can thiệp giảm tác hại;

 Các tỉnh, thành phố chưa đầu tư kinh phí thỏa đáng cho hoạt động can thiệp giảm tác hại mà còn chủ yếu dựa vào các nguồn tài trợ quốc tế Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadon, mặc dù đạt được nhiều kết quả khả quan, tuy nhiên cũng gặp nhiều thách thức trong việc mở rộng và tiếp cận điều trị như:

 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ nên nhiều người nghiện chích

ma tuý chưa lộ diện để tiếp cận với chương trình;

 Mô hình điều trị chưa đa dạng làm giảm khả năng cung cấp dịch vụ điều trị cho người nghiện các chất dạng thuốc phiện;

 Thiếu kinh nghiệm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện;

 Thuốc Methadone hiện nay vẫn đang nhập khẩu, vì vậy chưa chủ động được nguồn thuốc này;

 Các địa phương chưa có kế hoạch cụ thể đầu tư kinh phí lâu dài cho chương trình

3 MỘT SỐ VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC CAN THIỆP GIẢM TÁC HẠI DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV

Trong hơn một thập kỷ qua, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan

đã phối hợp với các cơ quan liên quan trong và ngoài nước xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật cho việc triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV ở Việt Nam, trong đó quan trọng đến phải kể đến các văn bản như:

 Luật phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) được Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm

2006 (Luật số 64/2006/QH11)

 Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)

 Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BYT-BCA ngày 20/1/2010 hướng dẫn việc cấp, phát, quản lý thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV

Trang 26

 Nghị định 96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ Quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế;

 Thông tư số 12/2013/TT-BYT, ngày 12 tháng 4 năm 2013 của Bộ Y tế hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 96/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế

LƯỢNG GIÁ CUỐI BÀI

1 Liệt kê các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV

2 Trình bày khái niệm về nhân viên tiếp cận cộng đồng và tuyên truyền viên đồng đẳng

3 Trình bày được các bằng chứng về tác động của các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV trên thế giới và ở Việt Nam

4 Trình bày được các chương trình can thiệp giảm tác hại đang triển khai tại Việt Nam

Trang 27

TƯ VẤN XÉT NGHIỆM HIV

MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi học xong bài này, học viên có khả năng:

1 Trình bày được các khái niệm về tư vấn, tư vấn về HIV/AIDS, tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện (VCT) và tư vấn xét nghiệm HIV do cán bộ y tế đề xuất (PITC)

2 Nêu được các lợi ích và 5 nguyên tắc chung của tư vấn xét nghiệm HIV

3 Mô tả được quy trình thực hiện tư vấn và xét nghiệm HIV, các nội dung trong tư vấn xét nghiệm HIV

4 Phân tích được sự giống và khác nhau giữa 2 hình thức tư vấn xét nghiệm VCT và PITC

5 Thực hiện được đầy đủ các bước và nội dung của một buổi tư vấn xét nghiệm HIV

NỘI DUNG HỌC TẬP

Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn trong giai đoạn tập trung, chủ yếu ở nhóm

có hành vi nguy cơ cao Để đối phó với dịch HIV/AIDS, Việt Nam đã và đang triển khai nhiều chương trình can thiệp, trong đó có áp dụng các mô hình tư vấn xét nghiệm HIV nhằm phát hiện sớm các đối tượng nhiễm HIV trong cộng đồng để sớm đưa vào chương trình chăm sóc và điều trị Đây được coi là một trong những hướng tiếp cận hiệu quả trong công tác phòng, chống HIV ở Việt Nam và trên thế giới

1 TỔNG QUAN VỀ TƯ VẤN

1.1 Khái niệm về tư vấn

Tư vấn là tiến trình tương tác giữa người tư vấn/tư vấn viên (dưới đây viết tắt là TVV)

và người được tư vấn (còn gọi là khách hàng) trong đó tư vấn viênTVV sử dụng kiến thức,

kĩ năng nghề nghiệp của mình giúp người được tư vấn (dưới đây viết tắt là NĐTV) thấu hiểu hoàn cảnh của mình và tự giải quyết vấn đề của mình

Có thể tóm tắt khái niệm tư vấn bằng 4 chữ T: Tiến trình, Tương tác, Thấu hiểu và Tự giải quyết

Tiến trình: tư vấn cần một khoảng thời gian tương đối dài, có thể không phải chỉ

gặp gỡ một lần, mà có khi phải cần rất nhiều lần mới có kết quả rõ rệt Tư vấn là tiến trình bởi nó là một hoạt động có mở đầu, có diễn biến và có kết thúc

Tương tác: tư vấn không phải là việc người tư vấn khuyên bảo NĐTV phải làm gì,

mà đó là cuộc trao đổi hai chiều

Thấu hiểu: tư vấn giúp NĐTV nhận ra mình là ai, đang ở trong hoàn cảnh nào, có

thế mạnh, điểm yếu nào, đã sử dụng những biện pháp nào cho tình huống của mình, tại sao chưa có kết quả, những cái được và cái mất khi sử dụng một biện pháp giải quyết nào đó

Trang 28

 Tự giải quyết: tư vấn viên không quyết định thay đổi NĐTV Trên cơ sở thấu hiểu hoàn cảnh của mình, NĐTV phải cân nhắc, lựa chọn biện pháp nào phù hợp nhất cho bản thân mình

1.2 Mục đích của tư vấn

 Xây dựng và phát triển lòng tin cậy và tôn trọng lẫn nhau giữa tư vấn viên và người được tư vấn

 Giúp NĐTV có đầy đủ thông tin cần thiết để hiểu rõ hơn hoàn cảnh của bản thân và

tự đưa ra các quyết định và cách giải quyết phù hợp và hiệu quả

 Thay đổi hành vi của bản thân NĐTV để đạt được các kết quả mong muốn

1.3 Phẩm chất cần có của một tư vấn viên tốt

Tư vấn viên là người không những được đào tạo chuyên môn về lĩnh vực mình tư vấn, được trang bị những kĩ năng cần thiết (kỹ năng trò chuyện, quan sát, lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, kỹ năng dừng lại, thuyết phục và tóm tắt) mà còn cần phải có những phẩm chất sau đây:

1.3.1 Ý thức được bản thân mình (Identity)

Người tư vấn/TVV phải hiểu và nhận thức được bản thân mình để khi làm nhiệm vụ tư vấn không bị lôi cuốn theo vấn đề của NĐTV Điều này cho phép TVV hiểu, phân định được sự khác biệt giữa vấn đề của bản thân và vấn đề của NĐTV Từ sự phân định này giúp TVV biết bản thân mình có khả năng tư vấn cho NĐTV ở mức độ nào và sẽ cần hỗ trợ của những TVVkhác khi nào nếu khi vấn đề của NĐTV vượt ra ngoài phạm vi mình có thể giải quyết được

1.3.2 Đồng cảm (Empathy)

Phẩm chất này là không thể thiếu được ở một cán bộ tư vấn Biết đồng cảm sẽ giúp TVV chia sẻ những vui, buồn với NĐTV và thể hiện sự hiểu biết của mình từ đó giúp tạo dựng mối quan hệ tốt giữa tư vấn viên và NĐTV, nó sẽ làm hiệu ứng tốt cho quá trình

1.3.4 Biết được ranh giới của mối quan hệ tư vấn viên và người được tư vấn (Boundaries)

Tư vấn viên cần phải biết tôn trọng ranh giới giữa tư vấn viên và NĐTV trong mối quan

hệ được tạo dựng cho mục đích tư vấn Tư vấn viên cần hết sức tránh các mối quan hệ khác

Trang 29

1.4 Các bước tiến hành trong một buổi tư vấn

Dù có nhiều cách chia buổi tư vấn thành các bước khác nhau nhưng nhìn chung tất cả một các buổi tư vấn nói chung đều tuân thủ theo các bước sau (6 G):

Gặp gỡ: niềm nở đón tiếp NĐTV, tạo ra sự tin tưởng, cởi mở thân thiện ngay từ ban đầu

Gợi hỏi thông tin: để tìm hiểu điều gì làm cho NĐTV lo lắng, vấn đề của NĐTV là

gì? Tại sao NĐTV lại cần đến tư vấn? Đã có những giải pháp nào cho hoàn cảnh bản thân, kết quả ra sao? NĐTV mong muốn nhất điều gì khi đến với nhà tư vấn, TVV ?

Giới thiệu thông tin: người tư vấn/TVV chỉ cung cấp những thông tin cần và đủ,

không cung cấp quá nhiều thông tin trong một lần tư vấn khiến NĐTV hoang mang, lo sợ

Giúp đỡ: để NĐTV đối tượng tư vấn hiểu rõ hơn hoàn cảnh của bản thân, từ đó

cùng nhau TVV thảo luận và lựa chọn những giải pháp giải quyết phù hợp

Giải thích: giúp NĐTV hiểu rõ hơn vấn đề họ gặp phải và giải pháp mà họ đã lựa

chọn cũng như, cũng như những điều họ cần cân nhắc trước khi lựa chọn giải pháp này

Gặp lại: việc tư vấn không bó hẹp trong một lần gặp gỡ, vì vậy sau mỗi buổi gặp gỡ

tư vấn, người tư vấn cần tóm tắt nội dung cơ bản đã trao đổi, nhắc nhở NĐTV suy nghĩ, hành động và nếu cần thiết phải gặp lại thì cần nói rõ thông tin của buổi hẹn sắp tới (thời gian, địa điểm và nội dung trao đổi) để NĐTV yên tâm hơn

2 TƯ VẤN XÉT NGHIỆM HIV

2.1 Một số khái niệm

Theo Điều 2 của Luật phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và các hướng dẫn hiện hành của Bộ Y tế, thì tư vấn về HIV/AIDS và xét nghiệm HIV được giải thích như sau:

Tư vấn về HIV/AIDS: là quá trình trao đổi, cung cấp các kiến thức, thông tin cần

thiết về phòng, chống HIV/AIDS giữa TVV và NĐTV nhằm giúp NĐTV tự quyết định, giải quyết các vấn đề liên quan đến dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV

Xét nghiệm HIV: là việc thực hiện các kỹ thuật chuyên môn nhằm xác định tình

trạng nhiễm HIV trong mẫu máu, mẫu dịch sinh học của cơ thể người

Tư vấn xét nghiệm HIV (TVXN HIV:): là một bộ phận của tư vấn về HIV/AIDS, bên

cạnh việc cung cấp các kiến thức và thông tin về HIV/AIDS, TVXN HIV cũng còn cung cấp cả những lợi ích và quy trình làm xét nghiệm HIV, đánh giá hành vi nguy cơ cá nhân, khuyến khích NĐTV làm xét nghiệm HIV, hiểu ý nghĩa của kết quả xét nghiệm HIV; chấp nhận kết quả xét nghiệm “dương tính”; hỗ trợ tâm lý xã hội và tạo điều kiện thuận lợi để NĐTV thực hiện các hành vi dự phòng lây nhiễm HIV cho bản thân, gia đình và cộng đồng TVXN HIV bao gồm tư vấn trước xét nghiệm, tư vấn sau xét nghiệm và tư vấn hỗ trợ tiếp tục (xem chi tiết dưới đây)

Trang 30

2.2 Lợi ích của tư vấn xét nghiệm HIV

TVXN HIV được chứng minh là một trong những can thiệp có hiệu quả trong việc ngăn chặn dịch HIV/AIDS Nó vừa đóng vai trò góp phần vào việc dự phòng, vừa góp phần vào chăm sóc, và hỗ trợ và điều trị kịp thời cho người nhiễm HIV/AIDS Trên thực tế cho thấy, TVXN HIV mang lại những lợi ích thiết thực trên tất cả các góc độ: cá nhân, gia đình

và xã hội

2.2.1 Lợi ích đối với cá nhân

TVXN HIV nhằm khuyến khích NĐTV tự nguyện làm xét nghiệm HIV để sớm biết tình trạng huyết thanh nhiễm HIV của mình và nhận được các can thiệp, chăm sóc và hỗ trợ điều trị kịp thời

Đối với những người nhiễm HIV, TVXN HIV giúp họ biết cách phòng bội nhiễm HIV cũng như các bệnh lây nhiễm khác cho bản thân và tránh làm lây nhiễm HIV cho người khác Ngoài ra, TVXN HIV cũng giúp họ người nhiễm HIV có thể sống khỏe mạnh trong nhiều năm bằng việc cung cấp kiến thức cơ bản về lây và phòng lây HIV/AIDS, tư vấn cách chăm sóc, chế độ dinh dưỡng và được theo dõi sức khỏe cho bản thân tốt TVXN HIV hỗ trợ NĐTV (là người nhiễm HIV/AIDS) kết nối, giới thiệu chuyển tiếp, chuyển tuyến tới các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là cho những người có biểu hiện bệnh để quản lý Hệ thống chuyển tiếp, chuyển tuyến có thể đảm bảo cho những người nhiễm HIV nhận được các chăm sóc y tế thích hợp (phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, sàng lọc và điều trị lao, chăm sóc tại nhà và chăm sóc giảm nhẹ) TVXN HIV cũng có vai trò quan trọng trong việc

hỗ trợ về tinh thần cho người nhiễm HIV đương đầu với kết quả xét nghiệm, tiết lộ tình trạng nhiễm HIV của bản thân trong những mối quan hệ gia đình, xã hội; thuyết phục vợ/chồng/bạn tình xét nghiệm HIV khi NĐTV gặp khó khăn và yêu cầu hỗ trợ TVXN HIV cũng giúp người nhiễm HIV xây dựng kế hoạch cho tương lai của họ và tương lai của những người phụ thuộc bằng việc trang bị kiến thức về và kết nối họ với các dịch vụ luật pháp, xã hội sẵn có để họ có những quyết định phù hợp

Đối với những người chưa nhiễm HIV, tư vấn viên TVXN HIV sẽ tư vấn giúp họ có nhận thức đầy đủ hơn về HIV/AIDS; về hành vi nguy cơ (nếu có) của bản thân; giúp họ lập kế hoạch thay đổi hành vi nguy cơ để NĐTVcó khả năng tự phòng lây nhiễm HIV cho bản thân

2.2.2 Lợi ích đối với cặp vợ chồng và gia đình

 Hỗ trợ những mối quan hệ an toàn hơn, đề cao sự chung thủy

 Giúp cặp vợ chồng/gia đình có người nhiễm HIV chấp nhận thực tại, thông cảm chia sẻ với thành viên nhiễm HIV và lập kế hoạch cho tương lai

 TVXN HIV khuyến khích và hỗ trợ người nhiễm HIV thông báo tình trạng nhiễm HIV của mình cho người thân và gia đình một cách có hiệu quả nhất, vừa giúp phòng lây nhiễm HIV cho các thành viên khác trong gia đình, vừa giúp cho gia đình và cộng đồng xung quanh người nhiễm HIV hiểu, chấp nhận, giúp đỡ và chăm sóc người nhiễm HIV Từ

đó, giảm kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và các thành viên trong gia đình họ Đây là một trong các yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của

Trang 31

2.2.3 Lợi ích đối với cộng đồng

Cải thiện sự tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc y tế và xã hội: TVXN HIV giúp mọi

người dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế và xã hội khi có nhu cầu, sớm tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc và điều trị HIV/AIDS, dự phòng và điều trị lao, làm giảm tử vong và gánh nặng y tế liên quan đến HIV/AIDS

Tập trung nguồn lực và tăng độ bao phủ của các chương trình can thiệp dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS: phát hiện sớm tình trạng nhiễm HIV của mỗi cá nhân và

các nhóm quần thể sẽ giúp tập trung nguồn lực và sự quản lý của các cơ quan y tế để có các biện pháp dự phòng, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc và điều trị kịp thời Giúp tăng

độ bao phủ của các chương trình chăm sóc và điều trị HIV tại cộng đồng

Giảm sự lây truyền HIV, giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và người thân của họ: TVXN HIV giúp các cá nhân, gia đình, cộng đồng hiểu rõ và hiểu đúng

về HIV/AIDS Từ đó, sẽ có những hành vi an toàn để bảo vệ bản thân và những người xung quanh khỏi nguy cơ lây nhiễm HIV cũng như có những cái nhìn thiện cảm hơn, chấp nhận,

hỗ trợ và chăm sóc những người nhiễm HIV và những người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trong cộng đồng

Tác động đến những chuẩn mực của cộng đồng, giúp cộng đồng có nhận thức toàn diện hơn về HIV và phòng lây truyền HIV: coi xét nghiệm HIV như một xét nghiệm thường

quy, các cá nhân sẽ thoải mái, sẵn sàng tiết lộ và chia sẻ tình trạng nhiễm HIV của mình với bạn tình, người thân và cộng đồng, ý thức sử dụng bao cao su đúng cách và thường xuyên mỗi khi QHTD, không sử dụng chung bơm kim tiêm để phòng lây nhiễm HIV

2.3 Nguyên tắc chung của tư vấn xét nghiệm HIV

2.3.1 Bảo đảm bí mật thông tin

Tất cả các thông tin của đối tượng tư vấn liên quan tới việc tư vấn, xét nghiệm HIV và kết quả xét nghiệm HIV của NĐTV đều được giữ bí mật và chỉ được tiết lộ khi NĐTV đồng

ý Chỉ những nhân viên trực tiếp quản lý và điều trị (và những người được quy định tại điều

30, Luật Phòng, chống HIV/AIDS) mới được tiếp cận hồ sơ bệnh án của NĐTV, đặc biệt là khi họ có kết quả xét nghiệm “dương tính” với HIV

Theo quy định hiện hành, NĐTV có thể chọn hình thức tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện vô danh hoặc ghi tên Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, kết quả xét nghiệm HIV

“dương tính” đều phải bảo các quy định về bảo mật (nêu trên)

2.3.2 Tự nguyện

 Chỉ thực hiện việc tư vấn khi NĐTV đồng ý;

 Chỉ thực hiện xét nghiệm HIV khi NĐTV đã được tư vấn trước xét nghiệm và được

sự đồng ý của NĐTV Nghĩa là việc xét nghiệm HIV phải được thông báo rõ ràng cho NĐTV đối tượng tư vấn và do NĐTV tự nguyện quyết định đồng ý làm xét nghiệm này

Trang 32

2.3.3 Tuân thủ quy định của pháp luật về xét nghiệm HIV

Việc xét nghiệm HIV và thông báo kết quả xét nghiệm HIV phải tuân thủ theo quy định hiện hành của Luật Phòng, chống HIV/AIDS và của Bộ Y tế

2.3.4 Giới thiệu chuyển tiếp, chuyển tuyến

Tiến hành giới thiệu chuyển tiếp, chuyển tuyến NĐTV tới các dịch vụ phù hợp về dự phòng, chăm sóc, điều trị liên quan đến HIV/AIDS, cũng như tới các dịch vụ hỗ trợ tâm lý,

xã hội liên quan đến HIV/AIDS

Lựa chọn dịch vụ khác mà NĐTV có nhu cầu

Đối tượng tư vấn có thể chọn hình thức tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện vô danh hoặc ghi tên

2.4 Quy trình và nội dung tư vấn xét nghiệm HIV

2.4.1 Quy trình thực hiện tư vấn và xét nghiệm HIV

Tư vấn xét nghiệm HIV là một quá trình bao gồm tư vấn trước xét nghiệm, tư vấn sau xét nghiệm và tư vấn hỗ trợ tiếp tục Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, quy trình thực hiện tư vấn và xét nghiệm HIV gồm có các bước sau:

Hình 9.1 Quy trình tư vấn xét nghiệm HIV

Trang 33

2.4.2 Nội dung tư vấn xét nghiệm HIV

2.4.2.1 Tư vấn trước xét nghiệm

 Tính bí mật thông tin của dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV

 Thông tin cơ bản về HIV/AIDS

 Đánh giá các nguy cơ đối tượng tư vấn

 Các biện pháp giảm nguy cơ lây nhiễm HIV

 Lý do và lợi ích của việc xét nghiệm HIV

 Các bước tiến hành xét nghiệm HIV

2.4.2.2 Tư vấn sau xét nghiệm

 Tư vấn cho người có kết quả xét nghiệm HIV âm tính

 Thông báo kết quả xét nghiệm HIV âm tính

 Tư vấn giúp đối tượng hiểu đúng về ý nghĩa của kết quả xét nghiệm và ý nghĩa của giai đoạn cửa sổ

 Tư vấn về nguy cơ lây nhiễm HIV và biện pháp dự phòng: xác định về hành vi nguy

cơ lây nhiễm HIV của NĐTV và hướng dẫn họ thực hiện các biện pháp giảm nguy cơ dự phòng lây nhiễm HIV

 Tính cần thiết của việc xét nghiệm lại, đặc biệt là đối với nhóm có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV

 Giới thiệu chuyển tiếp, chuyển tuyến

 Tư vấn cho người có kết quả xét nghiệm HIV dương tính:

 Thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính

 Tư vấn sâu để đối tượng hiểu đúng về kết quả xét nghiệm

 Tư vấn hỗ trợ tinh thần, tâm lý cho NĐTV

 Hướng dẫn các biện pháp tránh bội nhiễm HIV, nhiễm thêm các bệnh lây truyền qua đường máu, đường tình dục cho bản thân NĐTV

 Hướng dẫn các biện pháp phòng lây nhiễm HIV cho vợ/chồng/bạn tình, bạn tiêm chích, người thân và cộng đồng

 Trao đổi với NĐTV cách tiết lộ kết quả HIV dương tính cho vợ/chồng/bạn tình, bạn chích

 Giới thiệu NĐTVđến các dịch vụ chăm sóc, điều trị và hỗ trợ xã hội dành cho người nhiễm HIV

 Tư vấn cho người có kết quả xét nghiệm không xác định:

 Giải thích giúp NĐTV hiểu ý nghĩa của kết quả xét nghiệm HIV không xác định;

Trang 34

 Tư vấn hỗ trợ tinh thần, tâm lý cho NĐTV;

 Đối tượng tư vấn về các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV;

 Giải thích và hẹn NĐTV lấy mẫu máu để làm xét nghiệm HIV lần 2 sau 2-4 tuần kể

từ ngày lấy mẫu máu làm xét nghiệm HIV lần thứ nhất Nếu kết quả xét nghiệm HIV lần 2 tiếp tục là không xác định thì tiến hành tư vấn cho NĐTV để lấy máu làm xét nghiệm HIV lần 3 sau 2 tuần kế tiếp Nếu lần 3, kết quả vẫn là không xác định thì chuyển mẫu máu hoặc giới thiệu NĐTV đến phòng xét nghiệm HIV của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương hoặc Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh để làm xét nghiệm

2.4.2.3 Tư vấn hỗ trợ tiếp tục

Sau khi đã được tư vấn trước và sau xét nghiệm, NĐTV vẫn có nhu cầu được tư vấn

hỗ trợ thì cán bộ tư vấn có thể tiến hành tư vấn hỗ trợ tiếp tục họ

Nội dung của tư vấn hỗ trợ tiếp tục sẽ tập trung vào các điểm sau:

 Hỗ trợ NĐTV tư vấn giải quyết các băn khoăn, lo lắng liên quan tới HIV/AIDS;

 Tư vấn theo yêu cầu của NĐTV;

 Giới thiệu chuyển tiếp, chuyển tuyến NĐTV tới các dịch vụ hỗ trợ khác

2.5 Tư vấn cho một số đối tượng cụ thể

2.5.1 Phụ nữ mang thai

Tư vấn trước xét nghiệm: các cơ sở sản khoa có thể tổ chức tư vấn nhóm hoặc cá

nhân cho các thai phụ về các nội dung sau:

 Nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con;

 Lợi ích, sự cần thiết của việc làm xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai;

 Các biện pháp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trong trường hợp mẹ nhiễm HIV

Tư vấn sau xét nghiệm: nếu kết quả xét nghiệm HIV âm tính, thực hiện việc tư vấn

theo nội dung tại mục 2.4.2.2 (trên đây) Trường hợp kết quả xét nghiệm HIV dương tính cần nhấn mạnh thêm các vấn đề sau:

 Khả năng lây truyền HIV cho con và các biện pháp giảm nguy cơ lây truyền HIV từ

mẹ sang con;

 Lợi ích, phác đồ và tác dụng phụ của thuốc phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con;

 Sự cần thiết phải tiếp cận các cơ sở y tế có dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trong quá trình mang thai, khi chuyển dạ đẻ và chăm sóc sau sinh;

 Lợi ích và sự cần thiết để trẻ sơ sinh uống thuốc dự phòng lây nhiễm HIV và các biện pháp theo dõi chăm sóc sau sinh;

 Giới thiệu các dịch vụ và địa điểm cung cấp các dịch vụ chăm sóc điều trị, hỗ trợ cho mẹ và trẻ sau sinh

Trang 35

2.5.2 Người có hành vi nguy cơ cao

2.5.2.1 Người tiêm chích ma túy

 Khả năng lây nhiễm HIV khi dùng chung dụng cụ tiêm chích;

 Các biện pháp giảm nguy cơ lây nhiễm HIV qua tiêm chích ma túy và quan hệ tình dục;

 Cai nghiện và dự phòng tái nghiện;

 Vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc giúp đỡ làm thay đổi hành vi, tìm kiếm việc làm và hòa nhập với gia đình, cộng đồng

2.5.2.2 Phụ nữ bán dâm và khách hàng người mua dâm của họ

 Nguy cơ lây nhiễm HIV khi quan hệ tình dục không an toàn, đặc biệt khi có các nhiễm trùng đường sinh dục;

 Các biện pháp giảm nguy cơ lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục;

 Tác dụng của bao cao su nam/nữ và hướng dẫn sử dụng bao cao su đúng cách;

 Lây nhiễm HIV khi có sử dụng ma túy, đặc biệt trong trường hợp sử dụng ma túy qua đường tiêm chích;

 Vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc giúp đỡ làm thay đổi hành vi, tìm kiếm việc làm và hòa nhập với gia đình, cộng đồng

2.5.2.3 Nam quan hệ tình dục đồng giới với nam (MSM)

 Nguy cơ lây nhiễm HIV qua các hình thức quan hệ tình dục đồng giới nam;

 Các hình thức tình dục an toàn và các biện pháp giảm nguy cơ lây nhiễm HIV bao gồm dùng bao cao su và sử dụng chất bôi trơn;

 Tác dụng của bao cao su nam và hướng dẫn sử dụng bao cao su đúng cách

2.5.3 Bệnh nhân trong các cơ sở phòng chống lao, khám chữa bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục và trong các cơ sở y tế khác

Đối với bệnh nhân lao: tư vấn về nguy cơ đồng nhiễm lao, điều trị lao đối với người

nhiễm HIV, khuyến khích bệnh nhân lao xét nghiệm HIV

Đối với bệnh nhân mắc các bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STD):

tư vấn về khả năng lây nhiễm HIV đối với bệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc mắc STD làm xét nghiệm HIV

Đối với các bệnh nhân trong các cơ sở y tế khác: ngoài các trường hợp được quy

định tại Điều 28 của Luật phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), nếu thấy bệnh nhân có dấu hiệu nghi nhiễm HIV, thầy thuốc cần khuyến cáo bệnh nhân đến các cơ sở tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện để được tư vấn

và xét nghiệm HIV

Trang 36

2.6 Các hình thức tư vấn xét nghiệm HIV hiện đang áp dụng tại Việt Nam

Kể từ khi những trường hợp nhiễm HIV/AIDS lần đầu tiên được phát hiện năm 1981,

tư vấn và xét nghiệm HIV được xem là phần không thể thiếu được trong việc mở đầu cho những tiếp cận chăm sóc để duy trì cuộc sống cho người nhiễm HIV.Hiện nay trên thế giới,

có 3 loại mô hình tư vấn xét nghiệm HIV chính được hình thành và phát triển trên nhu cầu thực tiễn, bao gồm:

 Loại hình thứ nhất là TVXN HIV tự nguyện dựa trên nhu cầu của NĐTV/khách hàng (gọi tắt là VCT)

 Loại hình thứ hai là TVXN HIV dựa trên đề xuất của cán bộ y tế (gọi tắt là PICT)

 Loại hình thứ ba bên cạnh TVXN HIV tự nguyện và PICT là TVXN HIV bắt buộc cũng được đề cập Đây là mô hình TVXN HIV phục vụ cho những yêu cầu đặc biệt trong những bối cảnh đặc biệt Ví dụ tư vấn xét nghiệm HIV bắt buộc cho nhóm những người tham gia đăng tuyển vào quân đội, ngành nghề đặc thù, hiến máu, phụ nữ trước sinh, bệnh nhân trước khi làm thủ thuật), trong các vụ án liên quan đến HIV

Ở Việt Nam, có nhiều mô hình tư vấn xét nghiệm HIV khác nhau hiện đang được triển khai với mục đích tăng sự tiếp cận với các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV nhằm phát hiện sớm người nhiễm HIV để có các biện pháp dự phòng, chăm sóc và điều trị kịp thời, như:

 Tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện (VCT) phục vụ chủ yếu cho các nhóm người có hành vi nguy cơ cao (như người bán dâm, người tiêm chích ma túy, nam có quan hệ tình dục đồng giới với nam; vợ/bạn tình người nhiễm HIV và người tiêm chích ma túy );

 Tư vấn xét nghiệm HIV lưu động (MVCT) phục vụ người lao động nhập cư di biến động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, các bến xe và các nhà hàng khách sạn; người có hành vi nguy cơ cao ở các vùng sâu, vùng xa , các tụ điểm nóng trên địa bàn thành phố;

 Tư vấn xét nghiệm HIV do cán bộ y tế đề xuất (PITC) phục vụ cho các bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt là tại các cơ sở sản khoa, các phòng khám lao, da liễu;

 Tư vấn xét nghiệm HIV bắt buộc, trong các trường hợp có trưng cầu giám định tư pháp hoặc quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Toà án nhân dân hoặc trong một số trường hợp cần thiết để chẩn đoán và điều trị cho người bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế

Hiện nay, hai hình thức tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện (VCT) và tư vấn xét nghiệm HIV do cán bộ y tế đề xuất (PITC) là được áp dụng phổ biến nhất ở Việt Nam:

2.6.1 Tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện (VCT)

Là hình thức kết hợp giữa tư vấn và xét nghiệm HIV, trong đó NĐTV hoàn toàn tự nguyện sử dụng và toàn quyền lựa chọn dịch vụ tư vấn, xét nghiệm HIV vô danh hoặc tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện ghi tên

Tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện vô danh: là tư vấn xét nghiệm tự nguyện, trong đó

NĐTV không cần cung cấp tên, địa chỉ để tham gia vào quá trình tư vấn, xét nghiệm HIV

Trang 37

Tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện ghi tên: là tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện, trong

đó NĐTV tự nguyện cung cấp tên, tuổi, địa chỉ để tham gia vào quá trình tư vấn và xét nghiệm HIV Đây là loại hình tư vấn đang được khuyến khích áp dụng vì dễ dàng giúp cho cán bộ y tế thông báo kết quả, quản lý và chuyển tiếp NĐTV có kết quả xét nghiệm “dương tính” với HIV đến các dịch vụ chăm sóc, điều trị y tế và xã hội cần thiết một cách kịp thời

2.6.2 Tư vấn xét nghiệm HIV do cán bộ y tế đề xuất (PITC)

Là hình thức người cung cấp dịch vụ chủ động đề xuất với bệnh nhân đến khám tại cơ

sở y tế về tư vấn và xét nghiệm HIV, như là một nội dung của dịch vụ chăm sóc y tế nhằm khuyến khích họ làm xét nghiệm HIV

Về nguyên lý, cả hai hình thức VCT và PITC đều tuân theo lợi ích, nguyên tắc, nội dung và quy trình chung của tư vấn xét nghiệm HIV nhưng sử dụng các cách tiếp cận khác nhau để phù hợp cho từng nhóm đối tượng đích của chương trình

Trong bối cảnh hiện nay, nhằm tăng cường việc tiếp cận với xét nghiệm HIV thì việc phối hợp thực hiện cả hai chương trình VCT và PITC là biện pháp hiệu quả nhằm tăng cường việc phát hiện sớm người nhiễm HIV ngoài cộng đồng để đưa họ vào chăm sóc và điều trị kịp thời

Sau đây là một số điểm khác nhau cơ bản của hai hình thức tư vấn xét nghiệm HIV này

Bảng 6.1 So sánh hai hình thức TVXN HIV tự nguyện và TVXN HIV

- Bạn tình của người nhiễm HIV

Bệnh nhân đến khám tại các cơ sở y tế và thuộc một trong các đối tượng sau:

- Người bệnh có các dấu hiệu và triệu chứng nghi ngờ nhiễm HIV

- Người bệnh mắc lao hoặc có các dấu hiệu và triệu chứng nghi mắc lao

- Trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV

- Phụ nữ mang thai

- Người bệnh mắc hoặc có các triệu chứng nghi mắc các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục

- Người bệnh chạy thận nhân tạo, mổ tim hở

cơ sở phòng, chống HIV/AIDS hoặc cơ sở y

tế dự phòng (thường tách biệt hoàn toàn hoặc từng phần so với dịch vụ y tế khác)

Các cơ sở khám chữa bệnh tại các bệnh viện và phòng khám: khoa sản, các phòng khám lao, da liễu (Không tách biệt mà được lồng ghép vào các dịch vụ chăm sóc y

tế liên quan) Cán bộ,

Cán bộ của các cơ sở y tế trong từng chuyên khoa liên quan được tập huấn để đảm nhận chức năng tư vấn xét nghiệm HIV

Trang 38

Nội dung Tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện (VCT) Tư vấn xét nghiệm HIV do cán bộ y tế đề xuất (PITC)

NĐTV đến khám chữa bệnh khác, được cán bộ y tế chủ động tư vấn và đề xuất xét nghiệm HIV, đặc biệt là như một xét nghiệm thường qui cho những bệnh nhân đến khám, điều trị tại các cơ sở y tế khi bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh có thể nghĩ tới do nhiễm HIV Tuy vậy, bệnh nhân vẫn có quyền có quyền từ chối xét nghiệm HIV

mật về nguy cơ nhiễm HIV của bản thân và

để biết được kết quả xét nghiệm HIV của mình Từ đó cán bộ tư vấn có thể giúp họ xây dựng kế hoạch thay đổi hành vi nguy

cơ dự phòng lây nhiễm HIV hoặc kế hoạch điều trị và chăm sóc cho bản thân đối với những trường hợp phát hiện nhiễm HIV

- Phát huy tính chủ động của các nhân viên

y tế trong việc phát hiện những người có nguy cơ và chủ động tư vấn, đề xuất họ làm xét nghiệm HIV

- Tăng cường độ bao phủ của tư vấn xét nghiệm HIV và số người có nguy cơ được làm xét nghiệm HIV

- Xác định sớm tình trạng nhiễm HIV của các bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại các

cơ sở y tế để cán bộ y tế có thể giúp xây dựng kế hoạch thay đổi hành vi nguy cơ phòng lây nhiễm HIV và cũng lấy đó làm cơ

sở cho các quyết định lâm sàng, giới thiệu chuyển tiếp kịp thời tới các dịch vụ y tế và

hỗ trợ xã hội phù hợp

có hành vi nguy cơ cao

Đặc biệt là hình thức tư vấn xét nghiệm HIV

tự nguyện vô danh cũng góp phần khuyến khích được sự tham gia của các NĐTV đến xét nghiệm HIV

Tiếp cận phổ cập đại chúng được cho bất

kể đối tượng bệnh nhân nào có triệu chứng tiềm ẩn liên quan đến nhiễm trùng HIV

Hạn chế và

rào cản - Tính bao phủ không đầy đủ và tính chủ động tiếp cận dịch vụ của NĐTV là không

cao do họ không nhận thức được nguy cơ lây nhiễm HIV của bản thân, hoặc họ có nhận thức được nguy cơ nhiễm HIV nhưng

sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử nên không tiếp cận

- Dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện hiện nay đang được tổ chức theo một hệ thống riêng, gồm địa chỉ các bàn dịch vụ tư vấn VCT với số lượng cơ sở còn hạn chế nên nhiều lúc không thuận tiện cho NĐTV

sử dụng khi họ có nhu cầu tiếp cận

- Cơ sở vật chất còn hạn chế, nhiều cơ sở y

tế chưa bố trí được phòng riêng, kín đáo để

sử dụng cho hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV cho đối tượng bệnh nhân nên tính bí mật còn chưa được đảm bảo

- Các cán bộ y tế không làm việc trong lĩnh vực điều trị HIV/AIDS và chưa được tập huấn nên thường không phát hiện được các trường hợp nghi nhiễm để chỉ định xét nghiệm và còn gặp nhiều lúng túng trong việc triển khai quy trình tư vấn xét nghiệm HIV

- Số lượng bệnh nhân tại nhiều cơ sở y tế còn quá tải nên thời gian để tư vấn xét nghiệm HIV cho NĐTV còn hạn chế

- Tỷ lệ NĐTV từ chối làm xét nghiệm HIV còn cao do:

+ Kiến thức và nhận thức của nhiều người dân về HIV và xét nghiệm HIV còn hạn chế + Kỹ năng tư vấn của cán bộ y tế còn hạn chế nên nhiều trường hợp vẫn chưa thuyết phục được NĐTV đồng ý làm xét nghiệm HIV + Chi phí xét nghiệm còn cao nên nhiều trường hợp NĐTV không thể hoặc không

Trang 39

3 CÁC KỸ NĂNG TƯ VẤN CƠ BẢN

Tư vấn là một quá trình trao đổi giữa tư vấn viên (TVV) và người được tư vấn (NĐTV)/khách hàng, do đó người tư vấn viên cần có những kỹ năng tư vấn cơ bản để hỗ trợ cuộc tư vấn có hiệu quả

Các kỹ năng tư vấn cơ bản bao gồm:

3.1 Tham gia cùng

Khái niệm tham gia cùng ở đây được hiểu là việc TVV đồng hành cùng NĐTV, trong

đó TVV viên chủ động theo dõi và dẫn dắt câu chuyện của NĐTV Tham gia cùng ở đây cũng có nghĩa là TVVcần luôn biểu hiện sự lắng nghe đầy đủ những thông tin mà NĐTV chia sẻ

Những kỹ năng thể hiện sự đồng hành có thể vận dụng dưới đây thường là:

 Đối diện và thể hiện sự kết nối với NĐTV qua những cử chỉ, điệu bộ Ví dụ: vị trí ngồi đối diện không ngăn cách và không có sự khác biệt về tư thế, ghế ngồi

 Cử chỉ cởi mở: TVV không nên ngồi bắt chéo chân hoặc khoanh tay vì đó là những

tư thế không thể hiện rằng TVV sẵn sàng đón nhận NĐTV

 Hướng tới NĐTV ở những thời điểm nhất định để NĐTV nhận thức được rằng TVV vẫn đang quan tâm tới câu chuyện của khách hàng Nếu TVV hướng đi nơi khác cũng đồng nghĩa với thông điệp là TVV không chú ý, không tập trung vào vấn đề của NĐTV

 Nhìn vào mắt NĐTV để thể hiện sự quan tâm, lắng nghe những điều NĐTV nói Nếu như bạn TVV thấy rằng trong quá trình tư vấn bạn mình không tập trung nhìn vào NĐTV thường xuyên thì cần đặt câu hỏi tại sao bạn mình lại khó có thể tập trung cùng khách hàng đó hoặc tại sao bạn mình thấy không thoải mái khi có sự có mặt của người NĐTV đó Cũng cần lưu ý rằng, ở một số địa phương, việc nhìn vào mắt người khác là không phù hợp thuần phong mỹ tục thì tư vấn viên không áp dụng kỹ năng này

 Tạo sự thoải mái và tự nhiên với NĐTV bằng việc không nên biểu cảm nét mặt căng thẳng khi tiếp xúc với khách hàng NĐTV có thể e ngại rằng có phải bản thân họ làm

tư vấn viên căng thẳng không? Thoải mái được thể hiện bằng việc tư vấn viên thấy tự nhiên trong các cử chỉ, lời nói giúp bản thân NĐTV cũng thấy tự nhiên và thoải mái

Việc tham gia cùng với NĐTV sẽ giúp tư vấn viên nghe được đầy đủ và hiểu được những điều NĐTV nói ra hoặc chưa nói ra

3.2 Lắng nghe

Kỹ năng lắng nghe đề cập tới kĩ năng nắm bắt được và hiểu được những thông điệp mà NĐTV muốn chuyển tải khi họ nói về câu chuyện của họ dưới ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời

Trang 40

3.2.1 Yêu cầu của kỹ năng lắng nghe này gồm

 Lắng nghe và hiểu được các thông điệp được chuyển tải bằng lời nói của NĐTV Khi một người NĐTV nói với bạn TVV câu chuyện của họ, thường đó là một phức hợp của những trải nghiệm (điều gì đã xảy ra với anh/chị ta), những hành vi (anh/chị ta đã làm gì hoặc đã bị thất bại khi làm gì) và những ảnh hưởng tới bản thân NĐTV (cảm nhận, cảm xúc của khách hàng về trải nghiệm hoặc hành vi đó) Tư vấn viên cần phải lắng nghe câu chuyện phức tạp này của NĐTV để có thể hiểu được đầy đủ vấn đề của họ? Lắng nghe cũng giúp tư vấn viên hiểu được cả những điều NĐTV không nói ra

 Lắng nghe và cũng giúp phiên giải được những thông điệp từ ngôn ngữ không lời

Do vậy tư vấn viên cần học kĩ năng lắng nghe và đọc được những thông điệp từ các ngôn ngữ không lời gồm cử chỉ, động tác, biểu cảm nét mặt, biểu cảm giọng nói, biểu cảm ánh mắt, thay đổi tâm sinh lý của NĐTV một cách khách quan mà không bị yếu tố chủ quan làm thay đổi thực chất của thông điệp mà NĐTV muốn chuyển tải

 Lắng nghe và để hiểu được NĐTV trong từng bối cảnh môi trường xã hội của họ

Tư vấn viên nên đặt mình vào bối cảnh, vị trí xã hội của NĐTV Lắng nghe câu chuyện của họ

 Kỹ năng lắng nghe với sự thông cảm còn thể thể hiện ở sự đồng cảm không thờ ơ, lãnh cảm khi lắng nghe câu chuyện của NĐTV Tư vấn viên cần đặt các công việc, mối bận tâm của bản thân ra ngoài cuộc tư vấn để có thể tập trung toàn bộ thời gian của cuộc tư vấn cho vấn đề mà NĐTV trao đổi

3.2.2 Những yếu tố cản trở kỹ năng lắng nghe

Kỹ năng lắng nghe chủ động không phải là một kỹ năng dễ thực hiện Tư vấn viên cần nhận thức được những trở ngại dưới đây tới việc thực hiện kỹ năng lắng nghe chủ động (Egan, 1998):

 Việc lắng nghe bị gián đoạn khi có công việc khác xen vào làm cho tư vấn viên sao nhãng, không tập trung vào dành nhiều thời gian tư duy về vấn đề được phát hiện ra trong câu chuyện của NĐTV và bỏ sót các thông tin khác mà NĐTV trình bày

 Phán xét trong quá trình lắng nghe sẽ làm NĐTV cảm thấy không thoải mái, không

tự nhiên và không chủ động trình bày nốt câu chuyện của họ

 Chỉ sàng lọc những thông tin nhất định trong quá trình lắng nghe sẽ dẫn đến sai số thông tin làm méo mó bản chất vấn đề mà NĐTV đưa ra

 Có những thái độ khác nhau khi lắng nghe các NĐTV khác nhau Ví dụ: tư vấn viên

có thể có thái độ lắng nghe, thông cảm với NĐTV là người phụ nữ có nhiễm HIV, nhưng ngược lại có thể có thái độ không thông cảm với NĐTV là nam giới nghiện chích ma túy nhiễm HIV Điều này có thể làm giảm kết quả của tư vấn

Ngày đăng: 25/05/2017, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w