Trước thực tiễn đang đặt ra và trên cơ sở kinh nghiệm của các quốc gia có biển trên thế giới, Việt Nam đã có sự nhìn nhận lại và tập trung nâng caonăng lực quản lý biển theo định hướng p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA LÝ
HỌ VÀ TÊN NCS: DƯƠNG THỊ THANH XUYẾN
DỰ THẢO LUẬN ÁN NGHIÊN CỨU SINHĐánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên và môi trường cho quy hoạch định hướng không gian đới bờ tỉnh Bình Thuận
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và Môi trường
Mã số: 62850101 Giáo viên hướng dẫn: GS TS Trần Nghi
HÀ NỘI, 2017
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 9
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
Chương 2 22
ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ - XÃ HỘI, KHU VỰC ĐỚI BỜ TỈNH BÌNH THUẬN 22
Chương 3 82
NHỮNG MÂU THUẪN VÀ XUNG ĐỘT TRONG QUÁ TRÌNH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC ĐỚI BỜ TỈNH BÌNH THUẬN 82
Chương 4 100
QUY HOẠCH ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN ĐỚI BỜ TỈNH BÌNH THUẬN 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 128
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vùng đới bờ biển nước ta có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế
-xã hội của Việt Nam Đây cũng chính là nơi phục vụ sinh kế cho 50% dân sốcủa nước ta đang sinh sống ở vùng ven biển Tuy nhiên, một số công trìnhnghiên cứu cho thấy quá trình phát triển vùng đới bờ biển chưa tương xứng vớitiềm năng và đang làm phát sinh nhiều tiêu cực đe dọa đến sự phát triển bềnvững, tạo xung đột lợi ích giữa các thành phần kinh tế, làm ảnh hưởng lớn đến
sự sống của hàng triệu người dân vùng ven bờ biển trên suốt dải đất hình chữ Scủa nước ta
Trước thực tiễn đang đặt ra và trên cơ sở kinh nghiệm của các quốc gia
có biển trên thế giới, Việt Nam đã có sự nhìn nhận lại và tập trung nâng caonăng lực quản lý biển theo định hướng phát triển bền vững, hài hoà giữa kinh tế,
xã hội và môi trường theo phương thức quản lý tổng hợp tài nguyên và môitrường khu vực đới bờ (QLTHĐB) Chương trình QLTHĐB ra đời nhằm khắcphục những bất cập do phương thức quản lý đơn ngành, riêng rẽ đã tồn tại trongnhững năm vừa qua nhằm thoả mãn nhu cầu phải điều hoà, cân bằng giữa pháttriển kinh tế với các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường; giải quyết có hiệu quảcác vấn đề liên quan đến khai thác, sử dụng, phòng ngừa thiên tai; bảo vệ, duytrì những chức năng sinh thái học của đới bờ biển ở các tỉnh, thành phố trong cảnước Trước hết, nó gắn liền với việc sử dụng nguồn lợi tài nguyên, với việcphòng ngừa, giảm thiểu tác hại của thiên tai, với việc bảo vệ các quá trình vàchức năng sinh thái của đới bờ và tăng cường cơ chế quản lý đa ngành, đa mụctiêu với sự tham gia rộng rãi của cộng đồng dân cư
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đưanước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đưa ngành kinh tếbiển trở thành nguồn thu chính trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam;bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, gópphần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từmục tiêu đặt ra, đồng thời thực hiện cam kết với các chương trình phát triểnquốc tế liên quan về biển, Việt Nam đã tiến hành một loạt các hành động cụ thểnhư chuẩn bị các kế hoạch sử dụng biển và vùng ven biển; đánh giá tác độngmôi trường và triển khai các chương trình giám sát, lập kế hoạch phòng ngừanhững tai biến thiên nhiên và tai biến do con người gây ra; bảo tồn và phục hồicác hệ sinh thái quan trọng
Việt Nam cũng đang nỗ lực đưa ra những chính sách chỉ đạo quốc gia đểduy trì đa dạng sinh học và năng suất của các loài và các hệ sinh thái biển ở BiểnĐông Mặt khác, chú trọng đưa những kiến thức sinh thái và sự hiểu biết về các
hệ thống giá trị xã hội và văn hóa truyền thống vào quản lý đới bờ và đưa các
Trang 4cộng đồng địa phương cùng tham gia vào quá trình quản lý Nhà nước Việt Namcũng đã ban hành gần 50 văn bản khung pháp lý bảo vệ môi trường biển vàphòng chống ô nhiễm biển Một loạt chương trình trong nước và hợp tác quốc tế
về QLTHĐB giữa Việt Nam với Thuỵ Điển, Ấn Độ, Hà Lan… đã được triểnkhai Trong chính sách của mình, Việt Nam đang tăng cường nỗ lực để giảiquyết vấn đề ô nhiễm biển do các nguồn ô nhiễm từ cả nội địa ra và ngoài biểnvào Việt Nam đang coi trọng phương pháp phòng ngừa hơn là biện pháp phảnứng để ngăn chặn suy thoái môi trường biển
Các lĩnh vực được ưu tiên là tăng cường quy hoạch phát triển và quản lý,phòng chống ô nhiễm: kiểm soát nước thải, quản lý các lưu vực sông, đới ven bờ,kiểm soát ô nhiễm từ các nguồn thải nội địa và kiểm soát các nguồn thải chất hóahọc do con người, kiểm soát các hoạt động quá mức như nghề cá, nuôi trồng hảisản, du lịch biển, bảo vệ đa dạng sinh học, chú trọng sử dụng hợp lý tài nguyênthiên nhiên, thích ứng với bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu Đặc biệt, ViệtNam cũng đã ban hành và thực hiện tốt Chương trình quản lý tổng hợp dải venbiển vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung bộ theo Quyết định số158/2007/QĐ-TTg ngày 9/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu đượcđặt ra là tăng cường năng lực quản lý, bảo vệ, sử dụng và khai thác tài nguyên,môi trường, phục vụ phát triển bền vững các tỉnh, thành phố vùng Bắc Trung bộ
và Duyên hải Trung bộ thông qua áp dụng phương pháp quản lý tổng hợp đới bờ
Vậy, khái niệm về quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường đới bờ làgì? Quá trình hình thành và áp dụng quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trườngđới bờ trên thế giới như thế nào sẽ được tổng hợp, nghiên cứu trong phạm viluận văn này Trên cơ sở đó, tác giả cũng nghiên cứu, tổng hợp về quản lý tổnghợp tài nguyên và môi trường của vùng đới bờ của Việt Nam nói chung và ứngdụng kết quả vào quản lý cho một vùng cụ thể là vùng đới bờ tỉnh Bình Thuậnnói riêng Đó cũng chính là mục tiêu, nội dung nghiên cứu của luận văn “Đánhgiá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên và môi trường cho quy hoạchđịnh hướng không gian đới bờ tỉnh Bình Thuận”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên
và môi trường của đới bờ tỉnh Bình Thuận, từ đó chỉ ra những thuận lợi và khókhăn trong phát triển kinh tế đối với việc bảo vệ môi trường
- Phát hiện các mâu thuẫn và xung đột giữa khai thác khoáng sản Titanvới bảo vệ tài nguyên du lịch, đề xuất giải pháp khắc phục đảm bảo phát triểnkinh tế bền vững cho tỉnh Bình Thuận
- Xác lập được cơ sở khoa học về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế
xã hội định hướng quy hoạch không gian đới bờ tỉnh Bình Thuận theo quanđiểm phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường
Trang 53 Nhiệm vụ nghiên cứu
a) Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên vàmôi trường và thể chế quản lý khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận, gồm:
- Điều kiện tự nhiên (tổng hợp các thông tin về điều kiện địa chất; đặcđiểm địa mạo - địa hình và xu thế biến động; đặc điểm khí hậu; các đặc trưngđịa hệ các hệ sinh thái và xu hướng biến động)
- Điều kiện kinh tế - xã hội (thực trạng phát triển công nghiệp; thực trạngphát triển nông nghiệp, lâm nghiệp; thực trạng phát triển thuỷ sản; thực trạngvăn hóa và du lịch)
- Tài nguyên và môi trường (tài nguyên địa chất và khoáng sản; tàinguyên đất; tài nguyên rừng; tài nguyên sinh thái; ngư trường nước trồi và tàinguyên thuỷ sản; tài nguyên vị thế; tài nguyên du lịch)
b) Nghiên cứu, đánh giá các xung đột giữa phát triển du lịch và khai tháckhoáng sản khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận gồm:
- Xác định hiệu quả kinh tế giữa việc phát triển du lịch và việc khai tháckhoáng sản tại khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận theo quan điểm phát triển bềnvững
- Những xung đột giữa bảo vệ cảnh quan du lịch và khai thác khoáng sảnlàm mất cảnh quan tự nhiên và suy thoái môi trường
c) Định hướng quy hoạch không gian đới bờ tỉnh Bình Thuận theo quanđiểm phát triển bền vững kinh tế và đảm bảo chất lượng môi trường
Xây dựng bản đồ quy hoạch định hướng không gian đới bờ tỉnh Bình Thuận.d) Đề xuất các cơ chế chính sách và các giải pháp quản lý
- Chính sách quản lý giải quyết xung đột giữa phát triển du lịch và pháttriển khai thác khoáng sản titan
- Chính sách về môi trường: Đề xuất hoàn thiện hoặc xây dựng mới cácchính sách tổng thể về bảo vệ và từng bước cải thiện chất lượng môi trường,ngăn chặn và đẩy lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm tại khu vực nghiên cứu
- Chính sách về đầu tư các dự án: Trên cơ sở kết quả đánh giá mức chịu tải
về môi trường, đề xuất các chính sách về đầu tư các dự án phù hợp mức độ chịutải của môi trường nhưng vẫn đảm bảo phát triển kinh tế tại khu vực nghiên cứu
- Chính sách về quản lý tổng hợp đới bờ: theo quan điểm phát triển bềnvững nhằm hài hoà giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường tại khu vựcnghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận án nghiên cứu trong phạm vi đới bờ tỉnh Bình Thuận gồm:
4.1 Vùng đất liền: trong phạm vi đã từng xảy ra quá trình tương tác lục
địa-biển bao gồm 6 huyện/thị và thành phố có biển gồm các huyện: Tuy Phong,
Trang 6Bắc Bình, Hàm Thuận Nam và Hàm Tân, huyện đảo Phú Quý, thị xã La Gi vàthành phố Phan Thiết Một số khu vực không nằm trong vùng tập trung nghiêncứu lập Kế hoạch phân vùng, nhưng thuộc đới bờ quan tâm, như Khu Bảo tồnthiên nhiên Núi Ông, cũng được đề cập đến trong sơ đồ phân vùng.
4.2.Vùng ngập nước ven biển: là vùng biển ven bờ của Tỉnh cách bờ
không quá 6 hải lý Tuy nhiên, phạm vi trên mang tính tương đối; phụ thuộc vàohoạt động kinh tế - xã hội, có thể là một phần của đới bờ và cũng có thể vượt rakhỏi ranh giới đới bờ để đảm bảo tính tương hỗ và thống nhất của hệ sinh thái
5 Luận điểm bảo vệ
5.1.1 Luận điểm thứ nhất
Quá trình phát triển kinh tế xã hội khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận theoquan điểm phát triển bền vững sẽ nảy sinh 4 xung đột cơ bản: 1) xung đột giữakhai thác khoáng sản với phát triển du lịch; 2) xung đột giữa khai thác khoángsản với bảo vệ môi trường bền vững; 3) xung đột giữa phát triển du lịch với taibiến thiên nhiên (xói lở bờ biển, sa mạc hóa, cồn cát di động, ) Các xung độtnày sẽ được giải quyết thông qua bài toán chi phí-lợi ích hiện tại và lâu dài làm
cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế bền vững
5.1.2 Luận điểm thứ hai
Trên cơ sở tích hợp 5 hệ sinh thái, giải quyết xung đột trong quá trìnhphát triển kinh tế- xã hội và tính toán chi phí lợi ích khai thác các dạng tàinguyên đặc thù có thể xây dựng mô hình quy hoạch định hướng phát triển bềnvững đới bờ tỉnh Bình Thuận gồm 10 đơn vị kinh tế xếp theo mức độ ưu tiênnhư sau: Kinh tế du lịch (45%); Kinh tế Thủy sản (38%); Công nghiệp chế biến(7%); Trồng cây ăn quả (7%); Nông nghiệp và trồng cây ăn quả (9%); Nănglượng (gió, mặt trời, sóng và thủy triều) (5%); Các đơn vị kinh tế còn lại (6%)
6 Điểm mới của luận án
6.1.1 Đánh giá được nguồn gốc, tuổi và điều kiện thành tạo của 3 loại cát ven biển Bình Thuận: cát đỏ, cát vàng đỏ loang lổ, cát vàng rơm và cát trắng
- Cả 3 loại cát có nguồn gốc biển (m) thuộc tướng đê cát ven bờ (sandbarier bar) thành tạo trong pha biển tiến động lực chủ yếu là sóng ven bờ
- Cát đỏ có tuổi Pleistocen sớm (Q11) đến Pleistocen giữa (Q12), cát vàng
đỏ loang lổ có tuổi Pleistocen muộn phần sớm (Q13a) Cát vàng rơm có tuổiPleistocen muộn phần muộn (Q13b), cát trắng có tuổi Holocen sớm- giữa (Q21-2)
- Cát có nguồn gốc biển-gió tuổi Pleistocen muộn-Holocen có địa hình
gò đồi lượn sóng do gió tái tạo cát biển trong pha biển thoái do ảnh hưởng củabăng hà Wurm 2
6.1.2 Xác định được các lợi thế và hạn chế trong định hướng quy hoạch phát triển kinh tế bền vững tỉnh Bình Thuận
Trang 7Ba lợi thế: (1) Môi trường nước trồi tạo một ngư trường lớn trên biển; (2)Cao nguyên cát đỏ kỳ vĩ là tài nguyên du lịch có giá trị kinh tế lớn và bền vững
và (3) Trữ lượng khổng lồ về sa khoáng ilmenit là tiềm năng lớn cho phát triểncông nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản
Ba hạn chế: (1) Xói lở bờ biển mạnh làm biến động và giảm chất lượngbãi tắm; (2) Khí hậu khô nóng sa mạc hóa, cát bay, cát chảy, cát lấn đồng ruộng;(3) Thiếu nước cho sinh hoạt và hoạt động kinh tế
6.1.3 Xác định cơ chế, nguyên nhân và tốc độ xói lở bờ biển những khu đang khai thác làm bãi tắm chất lượng cao, đề xuất các giải pháp giảm thiểu
năng lượng sóng từ xa như làm các đê ngầm nhân tạo song song với bờ và các
mỏ hàn dạng tombolo chuyển xói lở sang bồi tụ
6.1.4 Phát hiện một số nhóm xung đột trong định hướng quy hoạch phát triển kinh tế bền vững và đề xuất giải pháp quản lý
- Xung đột giữa khai thác chế biến khoáng sản ilmenit và suy thoái môitrường: thu hẹp đất nông nghiệp, biến động địa hình, phá hủy lớp phủ cây xanh,cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước
- Xung đột giữa việc bảo vệ cao nguyên cát đỏ và môi trường du lịch vớiviệc khai thác khoáng sản
- Xung đột giữa các nhóm lợi ích: Cộng đồng dân cư, Doanh nghiệp và Nhànước
6.1.5 Phát hiện sự xung đột giữa các nhóm lợi ích do khai thác khoáng sản:
giữa Doanh nghiệp với cộng đồng dân cư, giữa Nhà nước với doanh nghiệp
- Xây dựng hệ phương pháp nghiên cứu về đánh giá sức chịu tải vàphương pháp lập bản đồ quy hoạch không gian đới bờ lấy phát triển du lịch làmtrọng tâm
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá đúng giá trị tài nguyên du lịch và khai thác khoáng sản trongcác chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bình Thuận
- Các hệ sinh thái ven bờ (Đồng bằng vũng vịnh; Thềm cát, cồn cát và đê
cát ven bờ; Bãi triều; Trầm tích đáy; Nước trồi) có khả năng chịu tải cao đối với
Trang 8hoạt động kinh tế-xã hội.
- Các hệ sinh thái đó có mối quan hệ tác động qua lại hết sức chặt chẽ Vìvậy, rất thuận lợi cho việc đề xuất các giải pháp và mô hình quản lý tổng hợp
- Đề xuất được định hướng quy hoạch không gian đới bờ của vùng nghiêncứu làm cơ sở để xây dựng bản đồ quy hoạch định hướng không gian đới bờ tỉnhBình Thuận
8 Bố cục của luận án
Mở đầu
Chương 1: Tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên môi trường khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận
-Chương 3: Những vấn đề xung đột trong quá trình khai thác tài nguyên vàphát triển kinh tế-xã hội
Chương 4: Quy hoạch định hướng không gian đới bờ tỉnh Bình ThuậnKết luận, kiến nghị
Trang 9Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về quy hoạch định hướng không gian và quản lý môi trường đới bờ biển trên thế giới
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng và đem lại
sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cho toàn nhân loại Tuy nhiên cùng với đó lànhững vấn đề môi trường nghiêm trọng mà chúng ta đang phải đối mặt Đứngtrên bờ vực của sự sống còn, mỗi quốc gia đã đi tìm những quyết sách riêng chomình Từ đó, quản lý tổng hợp đới bờ biển (QLTHĐB) và quy hoạch không gianbiển (QHKGB) được nghiên cứu và áp dụng ngày càng phổ biến Thực hiện tốthai công cụ này sẽ phát huy được một cách có hiệu quả tính quản lý đa ngành,
đa chiều, góp phần làm ổn định và bảo vệ môi trường bền vững cho khu vực đới
bờ, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia giáp biển trênthế giới
Quy hoạch môi trường đới bờ biển là khái niệm đã được manh nha tại Mỹvào những năm 60 của thế kỷ 19, đó là khi các quốc gia bắt đầu quan tâm đếncác thông số môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển Lýthuyết về quy hoạch môi trường được phát triển liên tục từ nhà xã hội học ngườiPháp, Le Play đến nhà quy hoạch Scotlen, Sir Patrick Geddes và sau đó là ngườihọc trò của ông, Lewis Mumford người Mỹ và sau này là Ian McHarg [3] Dân
cư dần trở nên đông đúc hơn thúc đẩy hoạt động khai thác tài nguyên thiênnhiên ven biển để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt hàng ngày Giữa thế kỉ 19cũng là thời điểm bắt đầu của cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu, vùng venbiển bị khai thác một cách mạnh mẽ, trở thành các khu đô thị hoặc đất sản xuấtnông nghiệp Dưới sức ép của việc tìm kiếm lợi nhuận kinh tế trước mắt, cácvấn đề môi trường và sự khan hiếm tài nguyên không phải là vấn đề mà thịtrường quan tâm Do đó, vai trò của khoa học môi trường và các nhà quy hoạchlúc bây giờ ít gây được sự chú ý của công chúng
Đến thế kỷ 20, khi nền công nghiệp đạt được sự tăng trưởng nhất định, conngười bắt đầu nghiên cứu, nhận thức được tiềm năng có hạn của khu vực đới bờbiển và các vấn đề ô nhiễm môi trường nảy sinh Từ thập kỷ 40 đến 60, các yếu tốmôi trường được đưa vào trong quy hoạch phát triển vùng ven biển của các quốcgia: Úc (1941), Mỹ (1945) Ở châu Á, quy hoạch phát triển vùng phát triển nhất làtại Nhật Bản (1957), điển hình là quy hoạch phát triển cho các vùng nông thônkém phát triển nhằm đạt được việc sử dụng hiệu quả đất và các nguồn tài nguyên
Trang 10Một số quy hoạch vùng ở các nước châu Á khác xuất hiện muộn hơn, có thể kểđến như: Chương trình phát triển tài nguyên nước của Ủy ban phát triển Gal Oya(1949), Quy hoạch phát triển thống nhất tài nguyên nước lưu vực sông Mekong(1957) tại Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, chương trình di cư (1950 –1987) và các nghiên cứu quy hoạch lưu vực sông ở Indonesia [34].
Hiện nay một số tổ chức quốc tế như WB, ADB,… đã ban hành nhiều tàiliệu giới thiệu kinh nghiệm, cung cấp thông tin và hướng dẫn về QHMT ở nhiềunước trên thế giới Trong thời gian qua, ADB đã xuất bản các tài liệu liên quan đếnquản lý và QHMT, tài nguyên thiên nhiên tại khu vực châu Á – Thái Bình Dươngnhư “Hướng dẫn quy hoạch thống nhất phát triển kinh tế kết hợp với môi trườngvùng – Tổng quan về các nghiên cứu quy hoạch phát triển môi trường vùng tạichâu Á”; “Hướng dẫn quy hoạch thống nhất phát triển kinh tế kết hợp với môitrường vùng” và “Quy hoạch xây dựng quy hoạch môi trường vùng” [34]
Cuối thế kỉ 19, QHMT có những bước tiến mới, thể hiện ở việc một sốnước đã thực hiện các đạo luật và quy định về QHMT, như ở Hồng Kông,
“Hướng dẫn quy hoạch môi trường” có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho cácdạng sử dụng đất thích hợp cho các quy hoạch phát triển Tại Úc, đạo luậtQHMT và đánh giá tác động môi trường đã được ban hành năm 1997 Từ đó chođến nay, QHMT dần trở thành một trong những nội dung quan trọng trong cácchương trình quản lý ven biển
Quy hoạch không gian biển (QHKGB) được phát triển từ ý tưởng quản lýcông viên biển quốc tế “Dải san hô lớn – Great Barrier Reef” theo phân vùngchức năng (function zoning) ở Australia cách đây khoảng 30 năm Theo đó, cácnhà quy hoạch chia không gian biển ở đây thành 07 phân khu để quản lý, sửdụng hiệu quả và thích ứng với bản chất tự nhiên của từng phân khu, bao gồm:(1) Phân khu sử dụng chung; (2) Phân khu bảo tồn nơi cư trú; (3) Phân khu bảotồn cửa sông; (4) Phân khu công viên bảo tồn; (5) Phân khu đệm; (6) Phân khuvườn quốc gia; (7) Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Các hoạt động khai thác tàinguyên biển sẽ được quy định được phép hay không được phép tùy theo phânkhu Nhờ những hiệu quả đem lại, những năm sau đó, phân vùng chức năngđược áp dụng rộng rãi trong các hoạt động quản lý hệ thống các khu bảo tồnbiển (Marine Protected Area) toàn cầu, khu vực và các quốc gia ([35]; tr 39, 40,41) Trong suốt tiến trình phát triển, QHKGB cũng đã được xác định bằng cácvăn bản pháp lý đầu tiên tại Mỹ Năm 1972, Chính phủ Mỹ thông qua Bộ luật vềvùng bờ trong đó áp dụng phân vùng vùng bờ trong sử dụng đa ngành Sau đó,vào năm 1982, Công ước Luật biển được xác lập đã đưa ra cách tiếp cận quản lýbiển và đại dương theo không gian mang tầm quốc tế ([35]; tr 41) QHKGB từđây đã có những bước phát triển mới về phương pháp luận và ứng dụng thựctiễn trên toàn thế giới Tháng 12/2004, Cục Môi trường, Thực phẩm và các Vấn
Trang 11đề nông thôn Vương Quốc Anh (DEFRA) đã nghiên cứu lựa chọn xây dựng và
áp dụng QHKGB tại vùng ven biển và vùng biển ven bờ của Anh ([35], tr.14).Đáp ứng vấn đề được quan tâm rộng khắp, UNESCO cũng đã tổ chức một Hộithảo quốc tế lần thứ nhất bàn về QHKGB vào tháng 11 năm 2006 và liên tục hỗtrợ, phát triển QHKGB trở thành phương thức khả thi để quản lý biển trong lâudài ([35], tr 42)
Ngày 28 tháng 5 năm 2008, Thống đốc Bang đã ký Bộ luật Biển của BangMassachusetts để phát triển thêm một kế hoạch quản lý toàn diện cho việc pháttriển bền vững tài nguyên biển, trong đó QHKGB là một trong 9 nội dung củaluật Hai năm sau đó, vào tháng 7 năm 2010, nhóm đặc trách về Chính sách Đạidương liên ngành Hoa Kỳ đã kiến nghị lên Thượng viện thông qua Các khuyếnnghị về quản trị đại dương trong đó có chương riêng về “Khuôn khổ QHKGB vàvùng bờ hiệu quả” ([35], tr 41) Tiếp sau Hoa Kỳ, các nước thuộc cộng đồngchâu Âu cũng đã có những nghiên cứu riêng biệt về QHKGB, làm cơ sở cho việc
áp dụng trong thực tiễn có thể kể đến như: Nhóm nghiên cứu của KGB FannyDouvere (2006) đã giới thiệu vai trò của QHKGB trong quản lý biển thông quatrường hợp thử nghiệm ở Bỉ, giới thiệu tầm quan trọng của QHKGB trong việctăng cường quản lý sử dụng biển dựa vào hệ sinh thái; Fanny Douvere và Charles
N Ehler (2008) đề cập những triển vọng mới về quản lý sử dụng biển với nhữngphát hiện ban đầu từ kinh nghiệm QHKGB ở châu Âu; Hay Henio O Fock (2008)thuộc Viện Nghệ cá biển, Hamburg, Đức đã bàn về nghề cá trong bối cảnhQHKGB trên cơ sở xác định các vùng cơ bản cho hoạt động nghề cá trong phạm
vi vùng đặc quyền kinh tế của Đức ([35], tr.44)…
Ở Đông Á, QHKGB vùng ven bờ là một hoạt động thực tế đã có từkhoảng 20 năm trước tại các quốc gia thành viên Kế hoạch phân vùng đã được
áp dụng thành công tại thành phố Hạ Môn (Trung Quốc), Batangas của Philipin
và Đã Nẵng (Việt Nam) Tuy nhiên đây mới chỉ là thành công bước đầu, các vấn
đề môi trường xảy ra ở đới bờ ngày càng nghiêm trọng do biến đổi khí hậu làmcho mực nước biển dâng lên, vì vậy, công tác QHKGB cần phải nhận được sự
nỗ lực, hợp tác hơn nữa giữa các quốc gia Đông Á Trên cơ sở đó, Cơ quan pháttriển quốc tế Thụy Điển (Sida), Cơ quan Điều phối các biển Đông Á (COBSEA)cùng với sự hỗ trợ của Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc đã xúc tiến
đề tài QHKGB cho các quốc gia khu vực biển Đông Á (2011 – 2013) với 03 giaiđoạn: (1) Xây dựng “Hướng dẫn Quy hoạch không gian vùng bờ khu vực biểnĐông Á: Tích hợp các vấn đề nổi bật và cách tiếp cận quản lý hiện đại”; (2) Xin
ý kiến góp ý của các quốc gia thành viên của COBSEA về dự thảo bản hướngdẫn; (3) Chuyển sang văn bản hướng dẫn quốc gia về QHKG biển và vùng bờbiển Đây là một trong những tài liệu quan trọng cung cấp khung pháp lý chocác nước tại khu vực biển Đông Á để điều chỉnh quy hoạch không gian liên
Trang 12vùng, liên quốc gia ([35], tr 43, 44).
Đến nay, QHKGB đã được nghiên cứu và ứng dụng sâu rộng ở khắp cácquốc gia trên thế giới Theo Ủy ban Hải dương học Liên Chính phủ củaUNESCO (Ehler & Douvere 2007), quy hoạch không gian biển (QHKGB) đượcđịnh nghĩa là “một quá trình phân tích và phân bổ các phần của không gian biển
ba chiều cho các mục đích sử dụng cụ thể, để đạt được các mục tiêu sinh thái,kinh tế và xã hội thường được xác định thông qua tiến trình chính trị; kết quảcủa quá trình QHKGB thường là một kế hoạch tổng thể toàn diện cho một vùngbiển QHKGB là một phần của quản lý sử dụng biển” Đây là định nghĩa được
sử dụng nhiều nhất trong chiến lược quản lý biển của nhiều quốc gia (CharlesN.Ehler, [32], tr.11)
Quy hoạch không gian biển là công cụ quan trọng của quản lý dựa trên hệsinh thái Nó bao gồm những vai trò chủ yếu sau ([32], tr 12):
- Xem xét mức độ quan trọng và yêu cầu bảo tồn của các phân vùng khácnhau để có phương pháp khai thác và sử dụng tài nguyên biển có hiệu quả
- Thay đổi dần nhận thức và hành vi của con người trong việc đảm bảohài hòa với môi trường biển, vì chúng ta không thể kiểm soát được tự nhiên
- Cung cấp phương pháp luận, cơ sở pháp lý cho hệ thống thông tin khoahọc hiện đại như viễn thám, công nghệ theo dõi và định vị toàn cầu… để làm cơ
sở cho việc ra quyết định
- Quản lý đa ngành, đa chiều, đưa ra các quyết định tổng hợp thay choquản lý đơn ngành như trước
- Thiết lập được quy hoạch dài hạn với sự minh bạch trong việc lập kếhoạch và phân bổ nguồn lực đối với cả nhà phát triển và nhà quản lý môi trường,đảm bảo thực hiện tốt các cam kết quốc tế đối với các quốc gia chung vùng biển
Để có hiệu quả, QHKGB cần được thực hiện như một quá trình liên tục, lặp
đi lặp lại, thích ứng và bao gồm ít nhất ba giai đoạn diễn ra liên tục ([32], tr.14):
(1) Quy hoạch và phân tích: Xây dựng và áp dụng một hoặc nhiều quyhoạch không gian tổng thể cho việc bảo vệ, tăng cường và sử dụng bền vữngcho việc phát triển biển và tài nguyên biển Giai đoạn này dựa trên một tập hợpcác sáng kiến nghiên cứu (có cả vẽ bản đồ) nhằm giải quyết các quá trình củamôi trường và con người;
(2) Thực hiện: Thông qua tổ chức triển khai các đầu tư hoặc công việctheo chương trình, tạo điều kiện cho sự thay đổi, khuyến khích cải thiện hoặcthông qua các quy định, ưu đãi và thực thi những thay đổi đã đề xuất và các hoạtđộng đang diễn ra ở đáy biển, trong cột nước biển và bề mặt biển phù hợp vớicác kế hoạch đã đề ra;
(3) Giám sát và đánh giá: Đánh giá hiệu quả của các kế hoạch, khung thời
Trang 13gian và cơ chế thực hiện, xem xét các phương thức cần để cải thiện và xây dựngcác quy chế đánh giá và điều chỉnh Các kết quả đánh giá sẽ được phản hồi và sửdụng trong giai đoạn quy hoạch và phân tích và quá trình lại lặp lại từ đầu.
Cùng với quy hoạch môi trường, quản lý môi trường đới bờ biển(QLĐBB) cũng được hình thành song song và phát triển qua các giai đoạn lịch
sử QLĐBB bắt đầu được quan tâm khi con người nhận thức được sự khan hiếm
và sức chịu tải của môi trường biển QLĐBB lúc này dưới hình thức quản lýsinh thái ven biển được đánh dấu bằng việc thành lập các công viên biển ở châu
Âu vào năm 1930 Đến thập kỷ 70 của thế kỉ 20, khái niệm QLĐBB chính thứcđược đề cập với sự ra đời của Bộ luật quản lý đới bờ biển của Mỹ vào năm
1972 Tiếp sau Mỹ, chính phủ các nước cũng xây dựng những chương trìnhquản lý tài nguyên biển, quản lý ô nhiễm môi trường, bảo vệ đa dạng sinh thái,
… Kể từ năm 1983, thông qua sự hỗ trợ của Tổ chức Phát triển Quốc tế của Mỹ(USAID), mô hình quản lý vùng bờ của Mỹ đã được ứng dụng ở nhiều nướcđang phát triển tại châu Mỹ La tinh và Đông Á Các quỹ hỗ trợ của Mỹ đã chọnEcuado, Sri Lanka và Thái Lan là các nước thực hiện thí điểm Hội thảo đầu tiên
về Quản lý tài nguyên vùng đới bờ ở Nam và Trung Mỹ được tổ chức tại Mardel Plata (Argentina) vào năm 1984 QLĐBB trong thời gian này mang tính chấtđơn lẻ, tách biệt giữa các ngành, do đó, nó không phát huy được hiệu quả mongmuốn cho các nhà quản lý chính sách Do đó, QLTHĐBB đã ra đời nhằm khắcphục những nhược điểm của quản lý môi trường nói chung, công cụ này đã nhậnđược sự hưởng ứng của nhiều nước, trước hết là các quốc gia giáp biển
Định nghĩa về quản lý tổng hợp đới bờ được đề cập nhiều hơn kể từ sauHội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp quốc (UNCED) được tổchức vào năm 1992 Định nghĩa về QLTHĐB là phần tổng hợp của Chương 17(chương về đại dương và bờ biển) của Chương trình Nghị sự 21, đây là kế hoạchhành động bao quát do UNCED xây dựng Việc chấp thuận Chương trình Nghị
sự 21, sự ủng hộ cao của các nhà tài trợ, các cơ quan chính phủ và các cơ quanLiên Hợp quốc trong hai thập kỷ qua là nhờ sự gia tăng nhanh của các dự ánquản lý tài nguyên và môi trường vùng đới bờ ở các nước đang phát triển Kể từ
đó, QLTHĐB ngày càng được ứng dụng rộng khắp trên thế giới Các hướng dẫn
về QLTHĐB được mở rộng và cập nhật năm 1993 tại Hội thảo ĐBB, tổ chức tại
Hà Lan Kết quả là năm 1993 chỉ có 217 điểm áp dụng QLTHĐB, con số này đãtăng lên gấp 3 lần chỉ trong vòng 9 năm, đạt 700 điểm áp dụng QLTHĐB vàonăm 2002 (Sorensen, 2002) Con số này bao gồm cả cấp quốc gia, khu vực vàquốc tế Các điểm áp dụng này bao gồm toàn bộ các vùng trên thế giới, các cấpchính phủ, các thành phần kinh tế, các chế độ chính trị và các vấn đề của vùngđới bờ Có khoảng 100 quốc gia trên thế giới hiện nay đang áp dụng QLTHĐB
Cho đến nay, có rất nhiều chương trình lớn về QLTHĐB được xây dựng
Trang 14và thực hiện, như Chương trình khung QLTHĐB của Cộng đồng châu Âu;Chương trình quản lý tài nguyên biển châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê; Chươngtrình QLTH biển Hắc Hải; Chương trình đới bờ của Mỹ; Chương trình khungquản lý đới bờ Vương Quốc Anh; Chương trình QLTHĐB của các nước Cộnghòa Tanzania, Maldives, Liên bang Đức; Chương trình QLTHĐB vùng Victoria(Úc), Cape Town (Nam Phi); Chương trình Các biển Đông Á Các chương trìnhnêu trên nói chung đều đề cập đến những vấn đề chính tại đới bờ, bao gồm:Giảm thiểu các mâu thuẫn sử dụng đa ngành, đa mục tiêu tại đới bờ; Bảo tồn vàbảo vệ tính đa dạng sinh học và các tài nguyên thiên nhiên; Phục hồi, duy trì cáctài nguyên và các giá trị lịch sử, văn hoá tại đới bờ; Hỗ trợ phát triển bền vững,đặc biệt là các ngành kinh tế liên quan đến biển; Giảm đói nghèo, cải thiện đờisống các cộng đồng cư dân ven biển.
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tổng hợp tài nguyên và môitrường đới bờ Tiếp cận từ khái niệm tổng quát, Bower, Ehler, và Bastar chorằng: “Quản lý tổng hợp được xem là một quá trình liên tục, tương tác, có sựtham gia, và đồng thuận thực hiện các nhiệm vụ quản lý đặt ra nhằm đạt đượccác mục đích và mục tiêu quản lý ở các cấp độ khác nhau” Hay khái niệm củaCicin-Saint và Knecht: “Quản lý tổng hợp vùng bờ có thể được định nghĩa làmột tiến trình liên tục và năng động mà thông qua đó các quyết định sẽ đượcthông qua nhằm hướng đến sử dụng bền vững, phát triển, và bảo vệ vùng bờ, đạidương và nguồn tài nguyên của chúng” (Hồ Nhân Ái, 2009) [37] Tuy nhiên,khái niệm được nhiều người công nhận và sử dụng là của TS Chua Thia - Eng.Theo Chua Thia - Eng, quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường đới bờ là
"một khung quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên sử dụng cách tiếp cậnmang tính toàn diện, tổng hợp và một quá trình lập kế hoạch tương tác để giảiquyết các vấn đề quản lý phức tạp tại vùng đới bờ"
QLTHĐB là phương thức quản lý nhằm đạt hiệu quả cao trong sử dụngtài nguyên và giá trị chung tại đới bờ, giảm thiểu các tác động có hại đến conngười và môi trường, trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa các ngành, cơ quan và cácbên liên quan QLTHĐB hướng đến mục tiêu phát triển bền vững với ba trụ cộtlớn: kinh tế, xã hội và môi trường Nó vừa đảm bảo khi thác tài nguyên đem lạigiá trị kinh tế, vừa tạo sinh kế ổn định cho người dân địa phương vùng bờ, đồngthời ngăn chặn, phòng ngừa các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.Chính vì thế, cùng với QHKGB, QLTHĐB ngày càng có vai trò quan trọng đốivới chiến lược phát triển kinh tế trong dài hạn của các quốc gia
Trang 151.2 Tổng quan về nghiên cứu quy hoạch định hướng không gian và quản lý môi trường đới bờ biển Việt Nam và tỉnh Bình Thuận
1.2.1 Đối với đới bờ Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia giáp biển với đường bờ biển trải dài 3260 km,
có tổng diện tích biển gấp khoảng ba lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệukm2) và đây là khu vực sinh sống, nguồn sinh kế cho hàng triệu người dân Vìthế biển luôn được đặt trong vị trí quan trọng đối với chiến lược phát triển kinh
tế của đất nước trong dài hạn Để đạt được mục tiêu bền vững cho quốc gia thìphát triển kinh tế biển bền vững là điều kiện không thể thiếu trong các chínhsách, chiến lược của các nhà quản lý Trong thời gian gần đây, quy hoạch môitrường (QHMT) (tập trung vào quy hoạch định hướng không gian) và quản lýmôi trường đới bờ biển là công cụ hàng đầu để đáp ứng mục tiêu nêu trên
Ở Việt Nam, quy hoạch môi trường là khái niệm do Cục môi trường thuộc
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đưa ra trong tài liệu hướng dẫn vềPhương pháp luận quy hoạch môi trường (12/1998), đó là “quá trình sử dụng có
hệ thống các kiến thức khoa học để xây dựng các chính sách và biện pháp trongkhai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm định hướngcác hoạt động phát triển trong khu vực, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững”.QHMT tập trung vào việc phân vùng chức năng để quản lý môi trường theokhông gian lãnh thổ QHMT xuất hiện ở nước ta từ những năm 70 của thế kỷ 20,khi nhà nước bắt đầu quan tâm vào việc nghiên cứu, đánh giá các điều kiện tựnhiên, kinh tế - xã hội theo các vùng trên cả nước (Đông Nam Bộ, Đồng bằngsông Hồng, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung) Đến thập kỷ 80, QHMT đượclồng ghép trong các kế hoạch môi trường quốc gia, báo cáo hiện trạng môitrường, quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội như: Chiến lược bảo vệ môi trườngquốc gia (1985), Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững(1991), Kế hoạch hành động Lâm nghiệp nhiệt đới (1991)…
Từ sự đánh giá phân vùng trên đất liền, nhà nước ta tiến tới nghiên cứu và
áp dụng quy hoạch môi trường cho khu vực đới bờ biển, gọi là quy hoạch địnhhướng không gian biển (QHKGB) QHKGB ở Việt Nam mặc dù xuất hiện muộnhơn so với các quốc gia khác trên thế giới nhưng cũng đã đạt được những thànhtựu quan trọng bước đầu Năm 2009, UNESCO đã phối hợp với Tổng cục Biển
và Hải đảo Việt Nam tổ chức các hội thảo kỹ thuật tại Việt Nam để góp ý hoànthiện dự thảo cuốn “Quy hoạch không gian biển: Tiếp cận từng bước, hướng tớiquản lý dựa vào hệ sinh thái” ([33], tr 45) Cũng tương tự như phân vùng chứcnăng cho khu bảo tồn công viên biển quốc tế “Dải san hô lớn – Great BarrierReef”, QHKGB ở Việt Nam cũng áp dụng phân vùng cho các Khu bảo tồn biển
từ năm 2000, điển hình là Khu bảo tồn biển Hòn Mun (Khánh Hòa) được chia
Trang 16thành 4 vùng: vùng lõi, vùng phục hồi sinh thái, vùng chuyển tiếp và vùng pháttriển; tiếp đó là phân vùng phục vụ cho Kế hoạch hành động QLTHĐBB ở thànhphố Đà Nẵng (2004) ([32], tr 18, 19) Trong giai đoạn 2011 – 2013, dự án doCOBESEA về QHKGB đã triển khai ở 6 quốc gia trong đó có Việt Nam ([33],tr.46) Cũng trong giai đoạn này, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Tổng cục Biển
và Hải đảo Việt Nam) cùng với sự quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ đãchủ trì thực hiện dự án sử dụng vốn đối ứng hợp tác với NOAA (Hoa Kỳ) để ápdụng QHKGB ở hai vùng trọng điểm là vùng biển quần đảo Cát Bà và lận cận(Hải Phòng) và khu vực biển Móng Cái (Quảng Ninh) Đây là dự án đầu tiên ápdụng thử nghiệm QHKGB ở vùng bờ của Việt Nam trên cơ sở bài học từ môhình của bang Massachusetts ([33], tr 45) Tiếp đó, trong giai đoạn 2011 –
2015, Việt Nam cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ của bạn bè thế giới trong việchoàn chỉnh hệ thống phương pháp luận và kinh nghiệm cho QHKGB Tháng9/2012, Việt Nam đã tham gia Hội thảo APEC về QHKGB tại Hạ Môn, TrungQuốc [33]; đồng thời tiến hành các chuyến tham quan thực hành và các diễn đàn
ở Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Philipin, Trung Quốc [32],… Bên cạnh đó, Ngân hàngThế giới cũng đã hỗ trợ ngành Thủy sản Việt Nam thực hiện dự án “Nguồn lợiven biển vì sự phát triển bền vững” cho 8 tỉnh ven biển, bao gồm cả việc lồngghép QHKGB vào các kế hoạch đầu tư nguồn lợi thủy sản ven biển ([32], tr 20,21)
Nghiên cứu, học tập và áp dụng QHKGB chính là quá trình tích hợpQHKGB với quản lý môi trường để thực hiện chương trình quản lý tổng hợp đới
bờ biển (QLTHĐBB) ở nước ta hiện nay Đới bờ biển (ĐBB) ở đây được hiểu là
“một vùng chuyển tiếp mà ở đó môi trường biển và môi trường lục địa tương táclẫn nhau và hình thành một môi trường thống nhất” Theo phạm vi không gian,ĐBB Việt Nam có thể xác định là toàn bộ vùng biển thuộc chủ quyền của ViệtNam phù hợp với Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, gồm vùng nội thủy,lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và baogồm cả một dải đất liền ven biển Khu vực ĐBB ở Việt Nam nhiều tiềm năng vềkinh tế (thủy sản, du lịch) và đa dạng hệ sinh thái (cỏ biển, san hô, các sinh vậtbiển quý hiếm…), vì thế ĐBB luôn được nhà nước đặc biệt coi trọng trong côngtác quản lý khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường
Trước năm 1995, QLTHĐBB chưa được xây dựng ở cả cấp trung ương vàđịa phương Sau năm 1995, các đề tài và dự án về quản lý môi trường, bảo vệ và
sử dụng hợp lý về tài nguyên ven biển đã được triển khai rộng khắp [32]
Ban đầu là các dự án có liên quan đến QLTHĐBB như: Dự án bảo vệ vàquản lý cá ngựa (1995-1997); Dự án xây dựng năng lực quản lý môi trường, đadạng sinh học, chăm sóc sức khỏe cho cá trong các khu nuôi trồng thủy sản và
Trang 17quản lý ven biển; Dự án quan trắc sự phân bố đất ngập triều và sự thay đổi của
nó ở ĐBB Bắc Việt Nam (1996-1998); Dự án của Cộng đồng châu Âu về khảosát về khôi phục cỏ biển (1999-2000),…
Tiếp sau đó, các đề tài dự án tập trung trực tiếp vào QLTHĐBB, đó là: Dự
án quốc gia về nghiên cứu xây dựng kế hoạch QLTHVB nhằm duy trì an toàn hệsinh thái và bảo vệ môi trường (1996-2000) [32]; Dự án Việt Nam – Hà Lan vềQuản lý Tổng hợp Đới bờ (ICZM) từ 2000-2005 với sự hỗ trợ tài chính củaChính phủ Hà Lan và đã tổ chức được 3 nghiên cứu trình diễn ở các tỉnh venbiển: Nam Định (Miền Bắc), Thừa Thiên Huế (Miền Trung) và Bà Rịa – VũngTàu (Miền Nam) [32]; Dự án Việt Nam – Hoa Kỳ về xây dựng năng lựcQLTHVB cho Việt Nam tại Vịnh Bắc Bộ, do NOAA-Hoa Kỳ và IUCN tài trợ[32]; Dự án Việt Nam – Trung tâm nghề Cá Thế giới về hỗ trợ QLTHVB choViệt Nam (2005-2006), tập trung vào việc xây dựng cẩm nang tập huấn vềQLTHVB cho các tỉnh duyên hải [32]; Dự án PEMSEA – Việt Nam về ô nhiễmbiển và quản lý vùng bờ biển tổng hợp: Khu vực thử nghiệm của dự án là thànhphố Đà Nẵng [32]; Đề tài nghiên cứu sự phát triển của một số mẫu QLTHĐBB
ở Việt Nam của Nguyễn Chu Hồi, quan tâm nhiều đến vấn đề chính sách và thayđổi cơ cấu quản lý với 2 nghiên cứu hình mẫu ở Hạ Long – Cát Bà và Đà Nẵng;
Đề án quốc gia về QLTHVB ở 14 tỉnh miền Trung Việt Nam tới năm 2010 (từThanh Hóa tới Bình Thuận) Đề án đang được thúc đẩy ở cấp địa phương, sửdụng nguồn hỗ trợ từ Chính phủ theo Quyết định số 158/2007/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ tháng 10 năm 2007 [32]
Bên cạnh đó, ở Việt Nam cũng có một số dự án đào tạo nhân lực như: dự
án xây dựng năng lực QLTHĐBB ở Quảng Ninh (2011), dự án xây dựng nănglực về QLTHĐBB cho cán bộ của Viện Hải dương học do Trung tâm phát triểnquốc tế Thụy Điển (SIDA) kết hợp với Cục Môi trường tổ chức (1996-2003); dự
án hỗ trợ đào tạo QLTHĐBB của Ấn Độ (2000-2003); dự án giáo dục và đào tạoQLTHĐBB do AIT-DANIDA tổ chức tại Việt Nam (2001-2004) Ngoài ra còn
có dự án “Xây dựng và ban hành chính sách và hướng dẫn kỹ thuật về quản lýtổng hợp đới bờ” Trong khuôn khổ dự án, tại Đà Nẵng, Trung tâm Quy hoạch –Điều tra – Đánh giá Tài nguyên Môi trường biển và hải đảo (Tổng cục biển vàhải đảo Việt Nam) đã tổ chức lớp tập huấn về 05 chính sách và 12 hướng dẫn kỹthuật QLTHĐB cho cán bộ làm công tác quản lý tài nguyên môi trường biển đảotrực thuộc một số tỉnh ven biển
Về mặt pháp lý, nhà nước Việt Nam cũng tiến hành hoàn thiện hệ thốngcác văn bản pháp luật trong nước và thực hiện các cam kết quốc tế Theo đó,QLTHĐB của Việt Nam phải được xác định dựa trên Công ước Liên Hợp Quốc
về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) [1] Ở cấp quốc gia, Việt Nam cũng
Trang 18ban hành Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 tập trung vào phát triển kinh
tế biển trong bối cảnh ngành [32], Thông tư số 22/2012/TT-BTNMT ngày 26tháng 12 năm 2012 về Quy định việc lập và thực hiện Kế hoạch quản lý tổnghợp tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, Luật Biển Việt Nam2012… Đặc biệt tháng 12 năm 2014 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyếtđịnh số 2295/QĐ-TTg về Phê duyệt chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ ViệtNam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Mục tiêu chủ chốt của Chiến lược
là khai thác, sử dụng hợp lý các tài nguyên và bảo vệ môi trường đới bờ ViệtNam, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững Từ đó nhiệm vụ cầnthực hiện là xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp đớibờ; khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên và
đa dạng sinh học; phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, giảm thiểu tổn thất do thiêntai và ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng; đào tạo tăng cường năng lựcquản lý tổng hợp đới bờ cấp quốc gia và tỉnh Hiện nay, ở Việt Nam có 15 bộngành liên quan đến quản lý nhà nước về biển, vùng bờ biển và hải đảo theongành, dẫn đến sự ra đời của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI) thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) với chức năng quản lý tổng hợp vàthống nhất [32]
Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia, chức năng chính của quá trìnhQLTHĐB cho điều kiện cụ thể ở Việt Nam là [36]: Quy hoạch vùng nhằm tậndụng tối đa các nguồn lợi ven biển để phát triển kinh tế xã; Thúc đẩy phát triểnkinh tế, tăng thu nhập cho các tỉnh ven biển, từ đó tăng thu nhập quốc dân; Quản
lý các nguồn lợi: bảo vệ các hệ sinh thái vùng biển và ven bờ, bảo tồn đa dạngsinh học và đảm bảo tính bền vững trong việc sử dụng nguồn lợi ven bờ; Đảmbảo mục tiêu phát triển bền vững, điều hòa và cân đối việc sử dụng nguồn lợihiện có và giải quyết các xung đột về sử dụng nguồn lợi vùng biển và ven bờ;Bảo vệ môi trường tại các khu vực biển và ven bờ, hạn chế thiệt hại do biến đổikhí hậu và con người gây ra; Xác định quyền sở hữu vùng đất ngập nước vàvùng nước: quản lý hiệu quả các khu vực và nguồn lợi do nhà nước nắm giữ vàthu được lợi ích kinh tế chung
1.2.2 Đối với khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận
a) Tổng quan về các công trình nghiên cứu
Trước năm 1975 nghiên cứu điều kiện địa chất, địa mạo khu vực tỉnhBình Thuận còn ít được quan tâm ngoại trừ Fontaine (1972) có một công trìnhnghiên cứu về các thành tạo Đệ tứ miền Duyên hải Nam Trung Bộ Trong côngtrình này Fontaine đã phát hiện ra cát kết vôi tuổi Neogen và thềm biển cao 15m
ở bờ biển Khánh Hoà
Từ năm 1975 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên đề và đo
Trang 19vẽ bản đồ địa chất Đệ tứ tỷ lệ 1/50.000 khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận.Năm 1978 Lê Đức An đã nghiên cứu địa chất, địa mạo khu vực Phan Thiết vàtìm thấy Tectit có tuổi 700.000 năm BP Đồng thời, Lê Đức An cũng đã xác lập
hệ tầng Phan Thiết có tuổi Pleistocen giữa (Q12 pt)
Nghiên cứu đánh giá sa khoáng ilmenit ở Bình Thuận đã có nhiều tác giảnhư Đào Thanh Bình (1983), Nguyễn Thanh Bình (1988), Nguyễn Kim Hoàn,Nguyễn Biểu (1985) Tuy nhiên, phải đến sau năm 1990 công tác đo vẽ bản đồđịa chất Đệ tứ tỷ lệ 1/50.000 và các nghiên cứu chuyên đề mới được triển khaimột cách đồng bộ Nguyễn Văn Cường và nnk (2001) đo vẽ bản đồ địa chất1/50.000 và tìm kiếm khoáng sản nhóm từ Hàm Tân đến Côn Đảo HoàngPhương, Ma Công Cọ, Trần Nghi (1977) đã thực hiện phương án đo vẽ bản đồđịa chất tỷ lệ 1/50.000 tờ Phan Thiết Cả Nguyễn Văn Cường và Hoàng Phươngđều thành lập cột địa tầng cát đỏ Phan Thiết không có Pleistocen sớm (Q11) Hệtầng Phan Thiết có tuổi (Q12-3) pt là mang tính chất quy ước trong khi chưa cótuổi tuyệt đối
Năm 2000 – 2001 Trần Nghi, Colin Wallace, Brian Jone (Australia) trong
đề tài hợp tác quốc tế “Nghiên cứu tuổi nhiệt huỳnh quang thạch anh, nguồn gốc
và điều kiện thành tạo cát đỏ Phan Thiết” đã có những kết quả mới hơn so vớinhững nghiên cứu trước đó Các tác giả đã phát hiện được một chu kỳ cát đỏtuổi Pleistocen sớm (Q11) nằm dưới lớp “mũ sắt” chứa tectit sắc cạnh có tuổi700.000 năm PB
Nghiên cứu về nước trồi (upwelling) và ngư trường vùng biển Phan Thiết
có các chuyên gia như Võ Văn Lành, Phan Văn Huấn, Hà Xuân Hùng (2005),Bùi Hồng Long và nnk (2006) Những kết quả nghiên cứu về bản chất và cơ chếhoạt động của nước trồi là hiện tượng bù trừ theo chiều đứng của 2 khối nước.Khối nước tầng mặt ven bờ bị đốt nóng mùa hè có độ muối thấp luôn bị đẩy vềphía Nam và ra khơi, để bù lại khối nước này sẽ có một khối nước lạnh ở tầngsâu có độ muối cao hơn trồi lên Đây là hiện tượng “trồi lạnh ven bờ”
Nước trồi là hiện tượng dịch chuyển hoàn lưu của khối nước lạnh dướisâu lên bờ mặt thay chỗ cho khối nước ấm bề mặt bị dịch chuyển về phía Nam
và ra ngoài khơi Khối nước lạnh dưới sâu giàu chất dinh dưỡng gồm các yếu tố
vi lượng nitrat, photsphat, chlorophylla, axit silicic có nguồn gốc từ vật chất hữu
cơ Khi mang lên bề mặt các chất dinh dưỡng này sẽ nuôi các loại tảo bề mặt vàgiúp phân giải CO2 trong quá trình quang hợp, thực vật phù du có kích thướcnano (tảo cầu vôi), động vật phù du và trứng cá – cá bột
b) Những tồn tại, hạn chế chưa được giải quyết
Theo nhận thức của NCS cả về vấn đề quy hoạch tổng thể không gian đới
Trang 20bờ và quản lý tổng hợp đới bờ tỉnh Bình Thuận là chưa được giải quyết Hiệnnay tỉnh Bình Thuận mới hoàn thiện dự thảo “Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đấtđến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ cuối (2016-2020) tỉnhBình Thuận”.
Riêng đối với đới bờ (coastal zone) tỉnh Bình Thuận quy hoạch địnhhướng tổng thể cần phải tiếp cận từ 5 hệ sinh thái: (1) Hệ sinh thái đồng bằngvũng vịnh; (2) Hệ sinh thái thềm cát, cồn cát và đê cát ven bờ; (3) Hệ sinh tháibãi triều; (4) Hệ sinh thái trầm tích đáy (0-30m nước); (5) Hệ sinh thái nước trồi
1.3 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Hướng tiếp cận
- Tiếp cận hệ thống: Hệ thống lãnh thổ được cấu thành bởi nhiều phân hệkhác nhau về bản chất, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Tiếp cận hệthống giúp chúng ta nắm bắt và điều khiển được hoạt động của mỗi phân hệ nóiriêng và toàn bộ hệ thống lãnh thổ nói chung
- Tiếp cận sinh thái: Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường là một
bộ phận không thể thiếu của chính sách sinh thái toàn vẹn Mục tiêu của pháttriển bền vững theo quan điểm tổng hợp đới bờ là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
và môi trường, tăng cường bảo tồn và đóng góp lợi ích ngày càng nhiều chocộng đồng
- Tiếp cận lịch sử: Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động, biến đổi hayphát triển theo quá trình của nó Nghiên cứu quá khứ, làm cơ sở đánh giá đúng đắnhơn về hiện tại Nghiên cứu hiện tại và quá khứ trên cơ sở phân tích nguồn gốcphát sinh, phát triển và có cơ sở, sẽ dự báo tương đối chính xác về xu hướng pháttriển trong tương lai
- Tiếp cận liên ngành: Mỗi khu vực lãnh thổ đều tồn tại các địa hệ tựnhiên và các ngành phát triển kinh tế khác nhau, chúng có mối quan hệ mật thiếtvới nhau Để xây dựng được mô hình quy hoạch tổng thể không gian đới bờ cầndựa trên cơ sở tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên-môi trường và phân tíchlợi ích và chi phí của mỗi ngành
1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp khảo sát, nghiên cứu ngoài trời
- Đới bờ tỉnh Bình Thuận gồm một phần diện tích đất liền ven biển vàphần ngập nước đến độ sâu 30m nước Vì vậy, công tác nghiên cứu thực địa baogồm cả những vấn đề địa chất trầm tích Đệ Tứ và địa hình địa mạo Các lộ trìnhkhảo sát theo tuyến vuông góc với đường bờ từ khu vực đồng bằng thấp bêntrong đến khu vực thềm cát, cồn cát, bãi triều và trầm tích đáy biển ven bờ Đối
Trang 21với phần đất liền các thao tác nghiên cứu bao gồm quan sát cảnh quan, địa hình– địa mạo chụp ảnh, lấy mẫu trầm tích tầng mặt và khoan và đào phẫu diện lấymẫu theo độ sâu, lấy mẫu ở vách cồn cát, đê cát bằng ống nhựa bịt nilong đen đểphân tích tuổi tuyệt đối theo phương pháp nhiệt huỳnh quang (TL) Các trạmkhảo sát phải ghi nhật ký, mô tả và chụp ảnh theo quy trình hướng dẫn Đối vớitrầm tích đáy biển (0-30m nước) và khối nước trồi phải lấy mẫu theo mạng lưới
và cột nước và cột mẫu thẳng đứng, xác định tốc độ và hướng dòng chảy theomùa
- Phương pháp nghiên cứu các hệ sinh thái: Các hệ sinh thái là cơ sở đểphân vùng quy hoạch Vì vậy, ngoài trời cần chụp ảnh, lấy mẫu và mô tả đểcung cấp thông tin cho phân loại các địa hệ và hệ sinh thái
b) Phương pháp nghiên cứu phân vùng sinh thái
Cơ sở khoa học để phân vùng hệ sinh thái là dựa trên tích hợp các tiêuchí: địa chất – trầm tích, địa hình – địa mạo, thảm thực vật, đặc điểm hải văn vàsinh vật Trên cơ sở đó có thể phân chia đới bờ tỉnh Bình Thuận thành 5 hệ sinhthái: (1) HST đồng bằng lagun; (2) HST cồn cát gồm: thềm cát (m), cồn cát dogió (mv), đê cát ven bờ (m); (3) HST bãi triều; (4) HST trầm tích đáy (0-30mnước); (5) HST nước trồi
c) Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn là phương pháp nhận được nhiều thông tin quan trọng cả vấn
đề xung đột môi trường, xói lở bờ biển, quy hoạch tổng thể, xung đột giữa cácnhóm lợi ích, giải pháp thân thiện với môi trường Các thông tin này phải đượccoi là tài liệu tham khảo và cần xử lý lựa chọn đúng đắn
d) Phương pháp viễn thám
Phương pháp viễn thám được sử dụng để hỗ trợ phân vùng hệ sinh thái:các đối tượng vật lý khác nhau sẽ có tôn ảnh khác nhau Trên cơ sở đó có thểminh giải chi tiết và khoanh vùng các đối tượng: cồn cát, đồng bằng, rừng, bãitắm
đ) Phương pháp thành lập bản đồ định hướng quy hoạch tổng thể
Nguyên tắc thành lập là: Tích hợp hệ sinh thái với giá trị tài nguyên đểphân vùng thành các đơn vị kinh tế bền vững
Theo nguyên tắc đó tỉnh Bình Thuận có thể phân thành 10 đơn vị: (1)Nông nghiệp: (2) Trồng cây ăn quả (Thanh Long, Nho, ); (3) Khu dự án; (4)Khu phát triển rừng: (5) Khu khai thác sa khoáng titan; (6) Khu nghỉ dưỡng vàdịch vụ du lịch; (7) Bãi tắm; (8) Bãi cư trú động vật thân mềm; (9) Đới sakhoáng đường bờ cổ 25-30m; (10) Ngư trường (nước trồi)
Trang 22Chương 2 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KINH TẾ - XÃ HỘI, KHU VỰC ĐỚI BỜ TỈNH BÌNH THUẬN 2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên đới bờ tỉnh Bình Thuận
2.1.1 Phần đất liền
2.1.1.1 Jura hạ, các bậc Sinemur - Toar Hệ tầng Đắc Krong (J1s-t đk)
Các trầm tích hệ tầng Đắc Krong lộ ra ở vùng Tân Thuận với tổng diệntích khoảng 2 km2 Chưa quan sát được quan hệ địa tầng trên và dưới của hệtầng Với đặc điểm có chứa carbonat trong mặt cắt nên tuổi của trầm tích nàycũng được xếp vào tuổi Jura sớm, hệ tầng Đắc Krong
Trang 232.1.1.2 Jura trung Hệ tầng La Ngà (J2ln): Các trầm tích hệ tầng La Ngà
phân bố khá rộng Chúng lộ ra ở vùng phía bắc Phan Dũng, vùng Gia Bang, CàGiây, Phan Tiến, Đồng Tiến, Thuận Hòa, phần phía bắc Hàm Thuận Nam dọc lưuvực Sông Phan và rải rác ở một số nơi khác
2.1.1.3 Kreta hạ Hệ tầng Đèo Bảo Lộc (K1đbl): Hệ tầng Đèo Bảo Lộc
phân bố ở lưu vực Suối Ca Tô thuộc địa phận các xã Hàm Phú, Đông Tiến,Đông Giang, Hàm Cần với diện lộ khoảng 300 km2 Ngoài ra chúng còn lộ ra ởkhu vực sông Lũy - núi Chai với diện tích chừng 60 km2 tạo khối hình méo mó,kéo dài theo phương Đông Bắc - Tây Nam Thành phần thạch học các đá của hệtầng bao gồm: andesit, andesitobazan, andesitodacit, dacit, ryodacit, ryolit, ryolitporphyr và tuf của chúng Một số nơi có sự tham gia của các trầm tích nguồn núilửa (cuội kết, sạn kết tuf, cát kết tuf, bột kết tuf) dưới dạng các lớp xen kẹp hoặccác thấu kính mỏng
2.1.1.4 Kreta Hệ tầng Nha Trang (Knt): Hệ tầng Nha Trang phân bố ở
Bắc Ga Lăng và rải rác ở vùng ven biển từ núi Nhọn đến Vĩnh Hảo Mặt cắt của
hệ tầng ở khu vực núi Nhọn (Hàm Tân) từ dưới lên gồm 4 tập với tổng bề dàykhoảng 300 - 500m: Tập 1: Andesit porphyrit màu đen, xám đen xen lớp mỏngtuf vụn tinh thể andesit porphyrit màu xám xanh; dày 180m Tập 2: Cuội kết tufxen kẽ andesit porphyrit màu xám xanh, xám đen;dày 35m Tập 3: Andesitporphyrit màu xám xanh, xám đen xen tuf vụn tinh thể andesit porphyrit, dacitporphyr; dày 85m Tập 4: Andesitodacit porphyr, andesit porphyrit, dacitporphyr màu xám xanh, xám lục;dày 265m Ở khu vực Sông Lòng Sông pháttriển các đá thành phần felsic, felsic á kiềm có cấu tạo spherolit dạng hạt cầu tỏa tiavới các hạt cầu có đường kính 0,5 - 1,5cm
2.1.1.5 Miocen thượng Phun trào bazan (B/N1 3 ): Trong phạm vi Bình
Thuận các phun trào bazan Miocen thượng chỉ gặp ở dạng những chỏm nhỏ kiểunhững lớp phủ mỏng còn sót lại trên các đường phân thủy với tổng diện tích 3 -
4 km2; chúng phân bố rải rác trong vùng Hàm Phú, Phan Sơn, Phan Dũng… Cácphun trào này được Nguyễn Xuân Bao (1994) liên hệ với hệ tầng Di Linh, tuổiMiocen muộn - Pliocen sớm
2.1.1.6 Pliocen Hệ tầng Liên Hương (N2lh): Các trầm tích Hệ tầng Liên
Hương lộ ra ở khu vực hạ lưu sông Lòng Sông, các đồng bằng Vĩnh Hảo, MaLâm, các khu vực Sông Lũy, suối Tiên Ngoài ra còn gặp trong các lỗ khoan ởkhu vực Phan Thiết, Bàu Thiêu, Giếng Triềng, Chí Công… Các trầm tích của hệtầng Liên Hương phủ bất chỉnh hợp trên bề mặt bào mòn của các thành tạoMesozoi, bị phủ bởi các trầm tích hệ tầng Tuy Phong (aQ11-2tp), hệ tầng Mũi Né(mQ12.1mn), chứa di tích Tảo có tuổi Neogen Bề dày của hệ tầng thay đổi từ 5mđến trên 30m Tuổi của hệ tầng được xếp vào Pliocen
Trang 242.1.1.7 Pliocen “Sét kết Tiến Thành” (N2): Các trầm tích này bị lớp cát
pha bột màu xám loang lổ, gắn kết chặt của hệ tầng Mũi Né (mQ12.1mn) phủ lên,quan hệ dưới chưa rõ Bề dày của mặt cắt này trên 16,5m Trầm tích này đượcxếp giả định vào Pliocen (N2) ngang với mức địa tầng của hệ tầng Liên Hương
và được gọi là “Sét kết Tiến Thành”
2.1.1.8 Pliocen Hệ tầng Suối Tầm Bó (N2(?)stb): Hệ tầng Suối Tầm Bó
phân bố ở Tân Minh, dọc theo tả ngạn sông Dinh, các trầm tích cũng được xếpvào hệ tầng Suối Tầm Bó lộ ra khoảng 8km2 Thành phần là cát thạch anh chọnlựa tốt, đôi chỗ lẫn ít sạn sỏi (1 - 9%) Bề dày thay đổi từ 1,7 - 3,7m, trung bình2,5m Trầm tích này nằm phủ trên các thành tạo Mesozoi và bị phủ bởi bazan hệtầng Túc Trưng (B/N2-Q11tt)
2.1.1.9 Pliocen - Pleistocen hạ Phun trào bazan (B/N2 - Q1 1 ): Thành tạo
này lộ ra những diện lộ nhỏ ở khu vực Đá Bàn - Giếng Xó (Hồng Liêm) Thànhphần thạch học các đá gồm bazan olivin, bazan olivin - augit, bazan olivin -pyroxen Các đá bazan dạng bọt, đặc sít, màu xám tro, xám tối, có nhiều tinhhốc chứa olivin Bazan lộ ra ở dạng lớp phủ mỏng nằm trên bề mặt bào mòn củacác đá xâm nhập và phun trào Kreta Bazan ở khu vực Đá Bàn - Giếng Xó bịphủ bởi cát đỏ hệ tầng Phan Thiết (mbQ12-3pt) và sản phẩm phá hủy của chúngđược tích đọng trong thành phần cuội dăm của thành tạo sườn tích - lũ tích tuổiPleistocen sớm - giữa (dpQ11-2) có chứa tectit và saphir, zircon Thành tạo bazannày tương đương với hệ tầng Túc Trưng Chiều dày của lớp phủ bazan Pliocen -Pleistocen hạ trong phạm vi Bình Thuận dao động trong khoảng vài mét đến 10
- 30m…
2.1.1.10 Pleistocen hạ - trung (Q1 1 ): Các trầm tích Pleistocen hạ được chia
thành 2 kiểu nguồn gốc như sau: Hệ tầng Tuy Phong, trầm tích sông (aQ11tp) Hệtầng Tuy Phong phân bố ở khu vực Bắc Tuy Phong, phía Tây Nam Phan Thiết.Thành phần trầm tích của hệ tầng gồm cát sạn, sạn sỏi đa khoáng bị laterit hóa,kết tảng cứng chắc, màu nâu vàng, nâu đỏ loang lổ; cát pha bột - sét màu trắngđục Các trầm tích này còn thấy trong các lỗ khoan ở Chí Công, Phan Thiết ở độsâu 30,5 - 31,3m hoặc độ sâu 76 - 77,1m, dọc thung lũng sông Phan, Đồi 82.Các trầm tích này phủ bất chỉnh hợp trên các trầm tích của hệ tầng Liên Hương(N2lh) và bị các trầm tích hệ tầng Mũi Né (mQ12.1mn) phủ bất chỉnh hợp lên.Trên bề mặt bào mòn của hệ tầng còn thấy ghim tectit nguyên dạng, sắc cạnh
Bề dày của hệ tầng tại mặt cắt này là 1 - 2m
Trang 252.1.1.11 Pleistocen trung, phần thấp Hệ tầng Mũi Né, trầm tích biển (mQ1 2a mn):
Hệ tầng Mũi Né phân bố khá rộng, bắt gặp ở các khu vực Vĩnh Hảo, LiênHương, Sông Lũy, núi Giếng Xó, Hàm Phú, Mũi Né, sân bay Phan Thiết và rảirác ở khu vực Hàm Tân Thành phần trầm tích là cát bột, cát pha bột sét lẫn sạnmàu xám, xám loang lổ nâu vàng, gắn kết cứng chắc Các trầm tích của hệ tầngphủ trên bề mặt phong hóa của bazan Pliocen - Pleistocen sớm (B/N2-Q11), phủtrên bề mặt bào mòn của hệ tầng Tuy Phong (aQ11-2tp) Bề dày trầm tích của hệtầng thay đổi từ 1 - 2m đến 21,6m với xu thế tăng dần bề dày từ rìa chân núi vềphía biển
2.1.1.12 Pleistocen trung, phần trên Trầm tích sông - lũ (apQ1 2b ): Thành
tạo này phân bố thành các dải từ khu vực sân bay Sông Mao đi Ka Lon, ở độ cao
25 - 50m Ngoài ra còn gặp ở các khu vực Gia Le - Thuận Hòa, Văn Lâm Thànhphần trầm tích của thành tạo này là cuội, sỏi, từ đơn khoáng đến đa khoáng, màuxám vàng, nâu vàng gắn kết bởi xi măng là cát bột sét Ở khu vực sông Cà Giâythành phần cuội chủ yếu là thạch anh, ở các khu vực khác ngoài thạch anh còn có
đá phun trào, cát kết, đá phiến, đá xâm nhập và tectit (kích thước 2 - 3cm) mài tròn
Bề dày của các thành tạo cuội này thay đổi từ 1 - 3m đến 6 - 8m
2.1.1.14 Pleistocen thượng (Q1 3a )
a) Pleistocen thượng, phần thấp Phun trào bazan (B/Q1 3a ): Trong phạm vi Bình Thuận ở phần lục địa loại bazan này phân bố dọc thung lũng sông Lũy, trên diện rộng khoảng 45km 2 Ngoài ra còn gặp một diện hẹp ở vùng Văn Kê Thành phần chủ yếu
là bazan olivin, ít bazan olivin - plagioclas Bazan vùng Sông Lũy nằm phủ lên tập cuội sỏi, cát bột của hệ tầng Liên Hương (N2 lh) và tầng cuội sỏi xếp vào tuổi Pleistocen giữa (apQ1 2b ), hoặc trực tiếp trên bề mặt bóc mòn của các đá trước Kainozoi Chúng bị phủ bởi trầm tích sông - biển có tuổi Pleistocen muộn, thời muộn (amQ1 3b ) và trầm tích sông tuổi Holocen sớm - giữa (aQ2 1-2 ) Chiều dày dao động từ vài mét đến 20 - 30m.
b) Pleistocen thượng, phần trên (Q1 3b ): Các thành tạo Pleistocen thượng, phần trên phân thành 5 kiểu nguồn gốc:
- Trầm tích biển, tướng đê cát ven bờ (mbQ1 3b ): Thành tạo này phân bố
chủ yếu ở khu vực dọc bờ biển Tuy Phong (từ Cà Ná qua Vĩnh Hảo, Phước Thểđến Chí Công), tạo thềm biển cao 15 - 20m Thành phần trầm tích là cát hạt vừađến thô lẫn sạn chứa vụn sinh vật biển màu xám vàng, dính kết chắc Thành tạonày có quan hệ dưới không rõ, chúng thường bị phủ bởi các trầm tích gió tuổiHolocen giữa - muộn
- Trầm tích biển, tướng vũng vịnh - ven bờ (mQ1 3b ): Các trầm tích này
phân bố khá phổ biến dạng bậc thềm biển ở độ cao 20 - 40m viền quanh chânđồi cát đỏ, tạo thành các dải cát trắng ở các khu vực Bình Thạnh, Chí Công,Phan Rí, Hồng Thái, Lương Sơn, Hòa Thắng, Bình Tân, Hồng Liêm, Hồng Sơn,Hàm Đức, Tây Tà Kou, Hàm Tân và Tân Thắng Các trầm tích tướng vũng vịnh
Trang 26- ven bờ tuổi Pleistocen muộn, thời muộn nằm phủ trên trầm tích hệ tầng PhanThiết (mbQ12 -3pt), trên bề mặt bào mòn của hệ tầng Mũi Né (mQ12.1mn) và bị phủ
bởi các thành tạo trầm tích gió tuổi Holocen giữa (vQ22) và Holocen giữa - muộn(vQ22-3)
- Trầm tích sông (aQ1 3b ): Các trầm tích sông thềm bậc II được thành tạo
trong pha biển thoái do ảnh hưởng của băng hà W2 phân bố dọc theo một số consông như sông La Ngà, sông Cà Tốt, sông Ca Tô,… tạo bậc thềm cao tương đối
10 - 20m Thành phần trầm tích là cát sạn, cuội, sỏi, tướng lòng sông chuyển lên
là tướng cát pha bột sét màu nâu vàng, bị laterit hóa Bề dày chung 1,5 - 2,5m
Trang 272.1.1.15 Holocen hạ - trung (Q2 1-2 ): Trầm tích sông và sông- biển (amQ2
1-2): Các trầm tích sông - biển tuổi Holocen sớm - giữa được thành tạo trong phabiển tiến Fladrian phân bố ở độ cao từ 5 - 10m đến 20 - 30m trong khu vực cácđồng bằng Vĩnh Hảo, Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, sông Phan, sôngDinh, suối Đu Đủ,… Tập trầm tích phía dưới là cát, ít sạn sỏi tướng lòng sôngbiển tiến (at), chuyển lên trên là bột, sét bột, sét màu xám vàng, nâu vàng bãibồi Các trầm tích này bị các trầm tích biển tuổi Holocen giữa (amQ22 ) phủ lên Bềdày của thành tạo này thay đổi từ 2m đến 10m, trung bình 4 - 5m
2.1.1.16 Holocen giữa (Q2 2 ): Các thành tạo Holocen trung trong phạm vi
Bình Thuận được chia làm 3 kiểu nguồn gốc như sau: Các trầm tích biển tuổiHolocen giữa lộ ra các thềm biển tích tụ có độ cao tuyệt đối từ 4 - 6m đến 10m,phân bố ở khu vực ven biển và đến độ cao 10 - 20m ở rìa sau các khối cát đỏ,hoặc tạo nên các dải đồng bằng cao trung bình 10 - 20m ở khu vực Hàm Tân,Tân Thành, Tân Hải,…Thành phần trầm tích là cát thạch anh, chọn lọc tốt, màuxám, xám trắng, đốm vàng, nâu; cuội sỏi đa khoáng mài tròn tốt (ven biển khuvực chùa Hang) Ngoài mặt cắt ở khu vực chùa Hang, Vĩnh Long, trầm tích biểnHolocen giữa trong phạm vi Bình Thuận có thành phần tương đối ổn định, chọnlọc tốt Bề dày thay đổi từ một vài mét đến 16m
2.1.1.17 Holocen giữa – trên (Q2 2-3 ): Trầm tích Holocen giữa – trên
(khoảng từ 5.000 năm đến nay) được thành tạo trong pha biển thoái sau biển tiếncực đại 5.000 năm B.P được đặc trưng bởi 3 tướng trầm tích: (1) Tướng bột sétsông – biển biển thoái; (2) Tướng cuội sạn cát aluvi biển thoái;(3) Trầm tíchbiển - gió (mvQ22-3) Các thành tạo trầm tích gió tuổi Holocen giữa – muộn (Q22-
3) có độ cao phân bố không ổn định (từ 10 - 15 đến 50 - 60 m) ở khu vực RừngTối, Bàu Me - Thiện ái, Bàu Sen, Hàm Tân (từ cầu Cô Kiều đến phía tây đồi82), Thuận Quý, Tân Thành, v.v Thành phần chủ yếu là cát thạch anh, nhưngnhiều màu khác nhau: màu xám, vàng, hồng nhạt Trầm tích biển - gió nằm phủtrên trầm tích có tuổi Pleistocen muộn và cổ hơn tạo nên một địa hình lượn sóng gòđồi hiện đại
Trang 282.1.1.18 Holocen muộn (Q2 3 ), bao gồm: (1) Trầm tích biển - gió (mvQ2 3 ).
Các thành tạo biển gió tuổi Holocen muộn tạo thành các dãy cồn cát cao từ 10 30m đến 50m, rộng từ 100 - 200m đến 1 - 3 km, dài vài km đến 10 - 20 km dọctheo bờ biển hiện đại Thành phần trầm tích chủ yếu là cát thạch anh hạt nhỏ đếnvừa, màu xám, vàng nhạt, xám trắng, chọn lọc tốt Bề dày từ 2 - 3m đến 10 - 30m;
-(2) Trầm tích sông - biển (amQ 2 3 ) Các trầm tích sông - biển tuổi Holocen muộn
tạo nên các đồng bằng thấp có độ cao tuyệt đối dưới 2m, phân bố ở các khu vựccửa sông Phan, sông Cà Ty, sông Cái, sông Lũy Thành phần trầm tích gồm cát, cátpha bột sét, bột sét pha cát chứa mảnh vụn Mollusca, mùn thực vật Trầm tích dínhkết yếu, có màu xám nhạt, loang lổ nâu vàng do nhiễm phèn Tại khu vực cửa sôngPhan, sông Cà Ty, sông Cái phát triển các dạng thực vật ngập mặn, bề mặt bị lầy
hóa Bề dày khoảng 2 - 3m; (3) Trầm tích sông (aQ 2 3 ).Các trầm tích sông tướng
lòng và bãi bồi thấp phát triển dọc theo thung lũng các sông, suối lớn, có độ caotương đối dưới 2m Chúng tạo thành các dải hẹp rộng vài chục mét Thành phầngồm cuội tảng, cuội sỏi, cát sạn sa khoáng, cát bột màu xám nâu, nâu vàng Bềdày khoảng 1 - 2m đến 2 - 3m
2.1.1.19 Trầm tích Holocen sớm (Q21) Trầm tích Holocen sớm gồm sạncát chọn lọc mài tròn tốt, phân bố theo độ sâu 25 – 30 m nước tương ứng vớiđới bờ cổ khoảng 13.000 – 12.000 năm BP Đới này là dấu ấn của một giai đoạnngưng – nghỉ của một pha biển tiến Flandian được đánh dấu bởi các tướng trầmtích tiêu biểu do tác động của sóng vỗ ven bờ Tướng sạn cát bãi triều cổ(mtfQ21) và tướng đê cát ven bờ cổ tàn dư (mbr Q21)
2.1.1.20 Trầm tích Holocen giữa muộn (Q2 2-3 ): Trầm tích Holocen giữa –
muộn gồm các tướng cát hạt nhỏ, cát hạt trung lẫn sạn phân bố từ 0 – 20 mnước Có thể chia ra 2 pha đối lập nhau: (1) từ 12 – 10 m nước chủ yếu là trầmtích Holocen muộn và trầm tích hiện đại do xói lở bờ biển và tái trầm tích Vìvậy, mặt cắt trầm tích của bãi triều bờ biển Bình Thuận có cấu tạo phủ chờmbiển tiến (onlap) do xói lở bờ
2.1.2 Lịch sử phát triển địa chất Đệ tứ đới bờ tỉnh Bình Thuận
Đới bờ tỉnh Bình Thuận có thể phân chia thành 4 đới theo chiều ngang(vuông góc với đường bờ hiện đại):
(1) Các đồng bằng hẹp có nguồn gốc sông – biển: Các đồng bằng hẹp cónguồn gốc sông – biển tuổi Holocen muộn (am Q21-2) phân bố dọc chân núiTrường Sơn và kế cận với các cồn cát Các đồng bằng này có nhiều tuổi khácnhau và phân bố ở các bậc địa hình khác nhau: (i) Thềm bậc I và bậc II của sôngQuao, sông Luỹ, sông Cái và sông Cà Ti có tuổi Pleistocen – Holocen sớm –giữa; (ii) Bãi bồi cao và bãi bồi thấp của các sông nói trên có tuổi Holocenmuộn Các bậc thềm và bãi bồi hiện đại có cấu trúc chu kỳ không đầy đủ Mởđầu các chu kỳ là trầm tích cuội sạn và cát lòng sông biển thoái thuộc miền hệ
Trang 29thống trầm tích biển hệ thấp (LST), kết thúc chu kỳ là miền hệ thống trầm tíchbiển tiến và biển cao (TST, HST) Đặc trưng của trầm tích Đệ tứ có nguồn gốcsông – biển của tỉnh Bình Thuận là có bề mặt dầy, rất mỏng (1- 20 m) phủ trên
đá Móng trước Đệ tứ có địa hình gồ ghề và nổi cao gần bề mặt của đồng bằng.Đây là nguyên nhân trực tiếp giải thích tại sao tỉnh Bình Thuận lại không có bồnthu nước Đệ tứ Nguyên nhân sâu sa là do các đứt gẫy tạo nên các dòng sông rấtnông, thung lũng sông bị sụt lún yếu trong bối cảnh kiến tạo nâng là chủ yếu
(2) Địa hình của cồn cát ven biển: Cát đỏ rất dễ dàng nhận ra nhờ màu đỏrượu vang đặc trưng, đã tạo nên một ấn tượng mạnh về mặt địa chất Dọc venbiển từ Tuy Phong, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, thành phố Phan Thiết,Hàm Tân và đảo Phú Quý cát đỏ phân bố với diện lộ khác nhau và có độ caokhác nhau từ 0m đến 200m Từ các bãi triều khu vực Nam thành phố PhanThiết, đến các cao nguyên trùng điệp như ở sông Lũy, Mũi Né rồi đến các bậcthềm biển phân bậc rõ ràng, cát đỏ có sự phân bố khá đa dạng
Như vậy, nói đến cát đỏ xưa nay ai cũng hiểu đó là cát có màu đỏ có tuổikhác với khối cát không phải màu đỏ Thực chất không phải đơn giản như vậybởi lẽ bản thân các khối cát đỏ này lại rất phức tạp, có sự thay đổi cả về màu sắc
và độ hạt, thành phần và cấu tạo của trầm tích theo mặt cắt thời gian và theokhông gian Sự phân bố của cát đỏ trên các độ cao lớn và khối lượng khổng lồ
và cấu tạo khối đã trở thành một hiện tượng địa chất khó hiểu mà nhiều người đã
có nhận thức khác nhau, có người đã cho rằng cát đỏ nguồn gốc do gió hoặc dosông Trầm tích ven lục địa giàu sắt và màu đỏ được sinh ra từ vật liệu trầm tích
có tác giả cho rằng màu đỏ của cát là màu nguyên thủy do cát lắng đọng trongmột bể ven lục địa giàu oxy hóa Những ý kiến khác nhau nảy sinh trong quátrình nghiên cứu và tranh luận cũng hết sức dễ hiểu vì hầu như các ý kiến đókhông phải là của các chuyên gia trầm tích Những mặt cắt trầm tích cát đỏ điểnhình như sau:
- Mặt cắt ở sân bay Phan Thiết: Khối cát đỏ sân bay Phan Thiết phân bố
sát biển với độ cao 100m Lỗ khoan 1-PT sâu 79m cho thấy bề dày của tầng cátnày cũng đạt tới 79m phủ trên một tầng trầm tích sạn cát đa khoáng chọn lọc vàmài tròn kém
Trang 30Hình 2.1 Cột địa tầng trầm tích LK1.PT Sân bay Phan Thiết
Hình 2.2 Cột địa tầng trầm tích Hòn Rơm, Bắc Mũi Né
Thành phần mật độ hạt thay đổi từ thô (0,14-0,15mm) đến mịn 0,1mm) tương ứng với vị trí đầu và cuối mỗi nhịp (xem hình 2.1) Các nhịp cátnói trên có độ chọn lọc từ tốt đến trung bình (So= 1,4 – 1,8) Hàm lượng thạchanh khá cao, chiếm 89 - 95% Kết quả phân tích rơnghen của cấp hạt nhỏ hơn
Trang 31(0,09-0,1mm cho hàm lượng hematite và gơthit chiếm 5 - 8% (xem hình 2.1).
Nhận xét:
- Cát đỏ sân bay Phan Thiết có nguồn gốc biển, thuộc tướng đê cát ven bờ cổ
- Có 3 thế hệ đê cát phủ lên nhau tương ứng với 3 nhịp màu, ranh giớigiữa chúng là các mặt bào mòn của đê cát được thành tạo trước cổ hơn
- Các đê cát được thành tạo trong chu kỳ biển tiến (gian băng) gối lên các
gờ nâng của móng tạo nên một lagun lớn ở phía tây (Văn Lâm – Mương Mán)phát triển từ Pleistocen sớm đến Holocen (xem hình 2.6)
- Sự thay đổi màu từ vàng đến đỏ của mỗi nhịp cát là biểu hiện của vỏphong hóa thấm đọng
- Mặt cắt ở khu vực Hòn Rơm (Bắc Mũi Né): Từ dưới lên gặp các nhịp cát
sau:
+ Nhịp cát đỏ sẫm có bề mặt laterit cứng chắc tương tự mũ sắt Lớp vỏlaterit dày 5 – 15cm do quá trình tích tụ keo sắt trên bề mặt xâm thực theo phươngthức thấm đọng lâu dài của nước ngầm và nước mặt luân phiên giữa chế độ khử(Fe2+) và ôxy hóa (Fe2+→Fe3+) Tectit sắc cạnh cắm vào bề mặt laterit nói trên chophép xác định tầng cát đỏ này có tuổi hơn 700.000 năm (Pleistocen sớm)
+ Nhịp cát thứ 2 (dày 60m) có phân nhịp từ dưới lên Cát trắng loang lổvàng, hạt vừa xen hạt lớn phân lớp ngang song song, dính kết tốt có thể bócthành từng tấm mỏng Trên bề mặt giàu vụn vỏ sò và mica Năm 1997, NgôQuang Toàn và nnk đã tìm thấy cuội, sỏi tectit nửa mài tròn nằm trong lớp cáttrắng này Cát màu vàng loang lổ đỏ phân lớp ngang và sóng ngang Cát màu đỏđồng nhất cấu tạo khối xen cấu tạo xiên chéo do sóng Có hai lớp màu: Cát màutrắng loang lổ đỏ; Cát màu đỏ tươi, đỏ sẫm cấu tạo phân lớp ngang, sóng ngang
và xiên chéo mỏng xen kẽ trong khối cát khổng lồ có cấu tạo khối
- Nhịp cát thứ 3 (dày 10 - 154cm) hạt nhỏ màu vàng rơm, vàng nghệ,chọn lọc tốt, cấu tạo khối phân bố ở độ cao từ 75 - 80m, chứa nhiều cuội andesitmài tròn tốt (xem hình 2.2)
Đây là mặt cắt vỏ phong hóa theo phương thức thấm đọng điển hình cótính phân đới cho mỗi nhịp cát: từ đới cát loang lổ (dưới) chuyển lên đới cát đỏ
bị laterit hóa trên bề mặt hoặc màu đỏ sẫm đồng nhất
Có 3 nhịp cát tương ứng với 3 thế hệ đê cát ven bờ được tạo thành trong 3chu kỳ biển tiến: Cuối Pleistocen sớm (Q1b); Cuối Pleistocen giữa – muộn (Q2-
31b); Cuối Pleistocen muộn (Q32b)
- Mặt cắt ở suối Tiên (Mũi Né): Suối Tiên (Mũi Né) bắt nguồn từ chân các
núi cát đỏ đổ vào biển làm sụt lở liên tục các sườn vách để lộ ra những rãnh xóicát trắng dạng “caru” rất kỳ dị chuyển lên các tập cát phía trên đặc trưng cho
Trang 32nhiều giai đoạn của một lịch sử phát triển địa chất lâu dài trong Đệ tứ.
Kết hợp cả lỗ khoan trên thềm 1m và vết lộ cát đỏ bên phải suối Tiên cóthể thành lập cột địa tầng trầm tích như hình 3 Từ trên độ cao 70m xuống dướigặp các tầng trầm tích như sau:
+ Từ 70 – 15m: cát đỏ tươi đồng nhất hạt nhỏ, chọn lọc tốt, cấu tạo khốichuyển xuống đới cát màu vàng rơm (dày 5m) và cuối cùng là đới cát trắng hạtnhỏ, chọn lọc rất tốt (dày 2m) Tầng này có tuổi tuyệt đối 73.000 năm
+ Từ 15 - 5m: cát màu xám chứa sỏi tectit dính kết chắc, nhìn mặt thườngtương tự cát kết, độ chọn lọc trung bình, đa khoáng Dưới kính hiển vi phân cựcgặp 3% plagioclase và 2% felspat kali Vật chất gắn kết các hạt vụn chủ yếu làkeo silit carbonat và sulfat calci dạng ẩn tinh Tầng này có tuổi tuyệt đối trên181.000 năm
+ Từ 5 - 1m: sạn cát màu xám trắng dạng bê tông Hạt vụn được gắn kếttương đối tốt bởi keo vôi và silic song chưa trải qua giai đoạn thành đá Trầmtích này được thành tạo trong môi trường chuyển tiếp kiểu proluvi ven biển cổ
+ Từ độ sâu 0 - 2,7m gặp một tầng cuội sạn màu xám lót đáy Đệ tứ phủtrên mặt bào mòn phong hóa của bazan
Như vậy, mặt cắt này có 2 nhịp trầm tích điển hình: Nhịp 1 có tuổiPleistocen sớm bắt đầu cuội - sạn (biển lùi), kết thúc bằng cát xám (biển tiến);dày 27 m Nhịp 2 bắt đầu nhịp là cát xám trắng kết thúc là cát đỏ và đều thuộc
đê cát ven bờ cổ có tuổi cuối Pleistocen giữa - muộn (biển tiến); dày 70 m Màutrắng - vàng đỏ của nhịp cát thứ 2 là sản phẩm phân đới của 2 quá trình phonghóa theo phương thức thấm đọng
- Mặt cắt ở Chí Công: Phủ trực tiếp trên granit là một thành tạo cát dày
14m có thành phần và màu sắc thay đổi từ dưới lên Nhịp 1 gồm cát trắng dày 2
- 3m dính kết tốt, hạt nhỏ chọn lọc từ trung bình đến tốt, chuyển dần lên phầntrên là cát màu loang lổ đỏ chứa tectit nửa mài tròn và kết thúc là màu đỏ, đồngnhất ở độ cao 5,1m Chúng có tuổi Q2-31 Nhịp 2 gồm cát màu đỏ dày 8,5m, cấutạo khối có độ hạt thay đổi từ thô, đến mịn (0,39 - 0,22mm) thuộc một nhịp cátthứ hai của Pleistocen giữa-muộn Bề mặt của tầng cát này bị laterit hóa tạothành nhiều kết vón cát màu đỏ sẫm rắn chắc do Fe2O3 gắn kết các hạt vụn thạchanh lại với nhau Nhịp 3 gồm cát màu vàng phân bố trên bậc thềm 16m dày 2,5 -3,5m phủ trên mặt cắt bào mòn của cát đỏ bị laterit hóa dạng kết vón tròn.Chúng có nguồn gốc biển tuổi Pleistocen muộn (mQ32) (xem hình 2.4)
Trang 33Hình 2.3 Cột địa tầng trầm tích Suối Tiên, Mũi Né
Từ góc độ trầm tích học ta thấy các chu kỳ trầm tích cát đỏ và vị trí địatầng Sự chồng gối của các thế hệ đê cát ven bờ cổ lên nhau đã tạo nên 3 chu kỳtrầm tích không đầy đủ Trầm tích đệ tứ Việt Nam được phân ra làm 5 chu kỳtrầm tích, mỗi chu kỳ được cấu thành bởi một phức tập trầm tích (1sequence).Mỗi phức tập hay một chu kỳ gồm 3 tập trầm tích: Tập dưới là cát gió(mv) Tập giữa là cát đê cát ven bờ (m) Tập trên là cát do gió (mv)
Màu sắc và quá trình tiến hóa, có thể nói vấn đề màu sắc, địa hình và độcao phân bố của cát đỏ Phan Thiết là những trang sử vô cùng sinh động ghi nhậnbiết bao đổi thay của thành tạo Đệ tứ trong mối quan hệ với kiến tạo trẻ, sự daođộng mực nước biển và cổ khí hậu
Trang 34Hình 2.4 Cột địa tầng tổng hợp trầm tích cát Đệ tứ ven biển tỉnh Bình Thuận
Hình 2.5 Sơ đồ khái quát mối quan hệ giữa thềm mài mòn tích tụ và các hệ
đê cát ven bờ vùng Phan Thiết
Trang 35Hình 2.6 Mặt cắt trầm tích cát đỏ Mường Mán (Bổ sung sửa chữa theo
Trần Nghi, 2000)
Hình 2.7 Mặt cắt sông Lũy (Bổ sung sửa chữa theo Trần Nghi, 2000)
Nếu tách màu sắc của cát đỏ ra khỏi cơ chế thành tạo, lịch sử phát triểnđịa chất và điều kiện cổ khí hậu, v.v… thì không thể hiểu được bản chất vànguyên lý tạo màu đỏ của cát Nói cách khác màu đỏ của cát là hàm số của hangloạt các biến số như là tổ hợp các yếu tố phong hóa thấm đọng: Biển thoái; Địahình dạng gò, đồi thoải; Nước ngầm và nước mặt; Cổ khí hậu khô nóng xen mưa(dry-hot-wet) Cả bốn điều kiện đó có quan hệ khăng khít với nhau và quy địnhcác mối tương quan cặp như sau:
- Biển thoái xảy ra vào các thời kỳ băng hà và cũng tương ứng với các phanâng kiến tạo trên phần đất liền Do vậy có thể khẳng định rằng trong vùng trầmtích cát Phan Thiết hầu như không có các thực thể trầm tích biển thoái Trongthời kỳ này chỉ xảy ra xâm thực bóc mòn và phong hóa các đê cát vừa đượcthành tạo trong pha biển tiến trước đó Nghĩa là các đê cát vừa bị chia cắt xâmthực, xói mòn giảm độ cao vừa tạo nên một vỏ phong hóa thấm đọng suốt trongquá trình chúng chưa bị ngập biển trở lại
- Chúng ta có thể hình dung địa hình của miền đê cát trong pha kiến tạonâng, lúc biển rút và biển tiến trở lại như là một kiểu đồi thấp yên ngựa ở vùngtrung du, thích hợp cơ chế phong hóa thấm đọng Địa hình cát đỏ hiện nay ở
Trang 36sông Lũy, Tuy Phong, sân bay Phan Thiết… là kết quả của quá trình nâng kiếntạo mạnh mẽ trong Đệ tứ và đã tạo ra các độ cao phân bậc có quy luật tương ứngvới thềm mài mòn tích tụ ở thượng nguồn song Mao, Gia Lê và Mương Mán(xem hình 2.6, 2.7) Dựa vào độ cao và tuổi tuyệt đối cát đỏ có thể tính được tốc
độ nâng kiến tạo theo công thức: H= (h-ho)/T Trong đó: H là độ cao bậc thềmthực (đã hiệu chỉnh), h là độ cao tuyệt đối hiện tại, T là thời gian thành tạo, ho là
độ cao mực nước biển dâng Kết quả cho thấy tốc độ nâng trung bình trong Đệ
tứ ở Phan Thiết là 1,2 mm/năm
Theo quy luật và địa hình cát đỏ càng cao thì tuổi càng cổ và ngược lại.Tuy nhiên cần lưu ý đến phân biệt địa hình của đê cát biển và địa hình của cácđụn cát do gió để không nhầm lẫn độ cao và xác định tuổi của cát Ví dụ trênthềm 100m ở song Lũy xuất hiện nhiều đụn cát 120 - 150m Những thể trầm tíchbiển gió này được thành tạo trẻ hơn và không xác định được tuổi chính xác
- Nước ngầm và nước mặt là nguyên nhân trực tiếp tạo nên màu vàng vàmàu đỏ của cát Trong khi địa hình đang thấp, gương nước ngầm dao động lênxuống có chu kỳ Khi nước dâng mùa mưa các keo sắt Fe(OH)2 hòa tan mạnhkhông màu được mang đến môi trường cát có chế độ khử Mùa khô, mực nướcngầm hạ thấp môi trường cát thông thoáng chế độ oxy hóa thống trị
Fe(OH)2 + O2 → Fe2O3.nH2O (limonit) màu vàng
Vỏ sắt này được bồi đắp thêm sau mỗi mùa mưa và dần dần sự luân phiênoxy hóa khử đã chuyển Fe2+ ở trạng thái dễ tan không màu thành Fe3+ không tanmàu vàng hoặc nâu đỏ Fe2O3.nH2O + To → Fe2O3 (hematit) màu đỏ rượu vang.Nước mặt đóng một vai trò quan trọng thứ hai trong việc mang nguồn Fe2+ đến
Ở vùng địa hình thấp vào mùa mưa địa hình bị ngập lụt, lúc đó nước mặt vànước ngầm liên thông với nhau Còn vùng địa hình cát đã nâng cao nước mặt làcác dòng chảy tạm thời có vai trò vận chuyển Fe2+ đến làm thấm ướt cát tầngmặt, đến mùa khô Fe2+ → Fe3+ tương tự như ở đới nước ngầm
- Cổ khí hậu là yếu tố phong hóa hóa học quan trọng song cổ khí hậu khônóng (hot-dry) xem mưa nhiệt đới (wet) của đặc thù Phan Thiết là nguyên nhântrực tiếp độc nhất ở Việt Nam để tạo màu đỏ của cát thạch anh Mùa hè ở vùngPhan Thiết cát bị đốt nóng dữ dội, lượng nước trong cát và nước trong keo sắt(Fe2O3.nH2O) thấm đọng trong các hạt sét (<0,01mm) và keo sắt bọc ngoài cáchạt thạch anh bị bốc hơi triệt để nhưng không được hoàn bù do không khí rấtkhô không mang đặc tính nhiệt đới ẩm (humid) mà là nhiệt đới khô Đó là bíquyết để limonit – màu vàng (Fe2O3.nH2O) biến thành hematite (Fe2O3) màu đỏrượu vang tồn tại dưới dạng đất và dạng sợi ẩn tinh (xem bảng 2.1) đến đâychúng ta dễ dàng thừa nhận với nhau rằng, màu nguyên thủy của cát tuổiPleistocen Phan Thiết là màu trắng tuân thủ nguyên lý địa chất cơ bản và màu
Trang 37đỏ lại gắn liền với các giai đoạn phong hóa và đó là màu thứ sinh.
Hình 2.8 Vết lộ cát đỏ ở suối Tiên (mũi Né) Theo mặt cắt thấy rõ trầm tích cát
có 2 tầng: (1) Tầng duới màu trắng xám, cát có tuổi Pleistocen giữa (Q12)(>204±50 ka); (2) Tầng trên màu đỏ, cát có tuổi Pleistocen muộn (Q13)
2.1.3 Tiến hóa trầm tích và địa mạo đáy biển ven bờ (0-30m nước)
Trong mối quan hệ với sự thay đổi mực nước biển, tiến hóa trầm tích vàđịa mạo đáy biển ven bờ (0-30m nước) được tiếp cận từ quan điểm địa hình địamạo có thể chia đáy biển ven bờ (0-30m nước) thành các đơn vị như sau:
(1) Địa hình bãi triều nghiêng thoải (0,5-10) độ sâu 0-3m rộng từ 50-150mđược thành tạo do tái trầm tích của cồn cát ven bờ bị xói lở Thành phần trầmtích gồm cát thạch anh hạt nhỏ (md = 0.08-0.2mm, Q = 90-95%), độ chọn lọc và
độ mài tròn tốt (So = 1.3-1.6; Ro = 0.5-0.7) Động lực thành tạo bãi triều cát làsóng, thủy triều và dòng chảy ven bờ
(2) Địa hình đáy biển ven bờ (3-25m nước) nghiêng thoải (1-20) dưới tácdụng của đới sóng tan và đới sóng lan truyền, dòng chảy ven bờ và dòng chảyđáy Trầm tích chủ yếu là cát hạt nhỏ tái vận chuyển và tái lắng đọng từ pha biểntiến Flandrian đến pha biển thoái Holocen muộn và pha biển dâng hiện đại Vì
Trang 38vậy cả thành phần trầm tích và thành phần độ hạt vẫn đang giai đoạn phân dị vàphân bố do dòng chảy đáy liên tục chuyển động từ bắc đến nam.
(3) Địa hình đường bờ cổ (25-30m nước)
Địa hình đường bờ cổ Pleistocen muộn (khoảng 13000 năm) khá đa dạng:lượn sóng, dạng đê cát ngầm chạy song song với đường đẳng sâu và các bãitriều cổ tàn dư nghiêng thoải về phía biển Đây là kết quả của đới sóng vỗ ven
bờ khi bờ biển ngưng nghỉ trong một thời gian dài
Bảng 2.1 Tổng hợp các tham số trầm tích cát đỏ Phan Thiết
2.2 Đặc điểm địa chất thủy văn
Trên cơ sở nghiên cứu các đơn vị ĐCTV và các dạng tồn tại khác nhaucủa nước ngầm thì trong phạm vi khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận gồm các tầngchứa nước chính sau: tầng chứa nước lỗ hổng, tầng chứa nước khe nứt và cácthành tạo địa chất rất nghèo nước hoặc không chứa nước
2.2.1 Nước lỗ hổng
Trong các trầm tích bở rời hệ Đệ Tứ, nước lỗ hổng mang đặc điểm thuỷlực của nước chảy tầng và phần lớn hình thành những tầng chứa nước không có
áp lực, về thực chất các trầm tích bở rời Đệ tứ là một hệ thống thuỷ lực ngầmliên tục trong toàn tỉnh Đó là một thực thể chứa nước bất đồng nhất bao gồmnhững vật liệu thấm và cách nước xen kẽ nhau Mực nước ngầm trong các trầm
tích này thường không sâu (<2 m hoặc từ 2 - 5 m) Tuy nhiên, trong những đụn
cát, đồi cát ven biển độ sâu mực nước ngầm có thể đạt từ 10 - 20 m, thậm chí có nơi tới 25 - 50 m Độ nghiêng của mặt nước ngầm (gradien thuỷ lực) thường
nhỏ, vào khoảng I = 0,005 - 0,01 Bề dày các tầng chứa nước thường vào
Trang 39khoảng 5 - 15 m, đôi chỗ đạt đến 30 - 40 m.
Về chất lượng nước lỗ hổng thường là nhạt (độ tổng khoáng hoá M = 0,1
-1 g/l) Ở ven biển cũng gặp loại nước hơi lợ (-1<M<-1,5) và đặc biệt ở các vùngcửa sông lớn (sông Phan, sông Dinh, sông Cà Ty, sông Luỹ, sông Lòng Sông)nước ngầm bị nhiễm mặn do sự xâm nhập của nước biển Do mực nước ngầmkhông sâu nên nước lỗ hổng rất dễ bị nhiễm bẩn
Nguồn cung cấp cho nước ngầm là nước mưa và nước từ các dòng chảy bắtnguồn từ các dãy núi phía Bắc, Tây Bắc trong phạm vi địa bàn tỉnh hoặc các tỉnhlân cận Các đứt gãy kiến tạo khu vực cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bổsung nước từ các tỉnh lân cận (phía cao nguyên) cho các tầng chứa nước này Miềnthoát dọc theo các đoạn hạ lưu của các sông về mùa khô và dọc theo bờ biển
Động thái của nước lỗ hổng thuộc kiểu động thái biến đổi theo mùa vàđộng thái ven bờ Các cực trị của mực nước thường đến chậm hơn so với nướcmưa và nước trên mặt khoảng 1 tháng
2.2.1.1 Tầng chứa nước Holocen (qh)
Tầng chứa nước này phân bố khá rộng lớn ở đồng bằng Hiệp Hoà, PhanThiết, chúng phân bố dọc theo thềm bậc I các sông: sông Phan, sông Dinh, sôngLoăng Quăng, sông Cái, sông Cà Ty, sông Luỹ, ven biển Hoà Thắng, Mũi Né,bao gồm các thành tạo bồi tích, lũ tích và các thành tạo sông, biển, gió, bề dàytầng chứa nước thay đổi trong khoảng từ 2,00m đến 43,0m; giá trị trung bìnhthường gặp khoảng 11 - 14 m, chiều sâu mực nước tĩnh thay đổi trong khoảng từ0,40m đến 7,00m giá trị thường gặp nằm trong khoảng từ 1,00 đến 4,00m Hệ sốthấm cũng biến thiên rất mạnh theo không gian với khoảng giá trị thường gặp từ0,4 - 10 m/ngày Thành phần đất đá chứa nước bao gồm: Cát, cát sạn sỏi, cátpha, sét pha, ở phần ven biển, trong các thành tạo mQ23cóchứa các di tích vỏ sò
Các tầng chứa nước lỗ hổng Holocen (qh) có mức độ chứa nước khácnhau, dựa vào sự phân bố các thành tạo địa chất và kết quả bơm nước thínghiệm lỗ khoan, giếng đào trong vùng, có thể phân chia chúng ra các tầng chứanước có mức độ chứa nước khác nhau từ nghèo đến tương đối giàu Nước trongtrầm tích này thường có mặt thoáng tự do, đôi chỗ xuất hiện áp lực cục bộ Vềchất lượng, nước thường thuộc loại nhạt, đôi chỗ là siêu nhạt (M<0,1 g/l và M =0,1 - 1 g/l) Loại hình hoá học của nước chủ yếu là Clorua, Bicacbonat - Canxi -Natri, ở vùng cửa sông (ven biển) nước ngầm bị nước biển xâm nhập làm cho độtổng khoáng hoá của nước tăng lên > 1,5 g/l và chuyển sang loại nước Clorua -Natri, Canxi Động thái của tầng chứa nước biến đổi theo mùa, giá trị mực nướccao nhất vào tháng 10, giá trị mực nước thấp nhất vào tháng 7, biên độ dao độngkhông quá 1,5m Động thái ven bờ với biên độ dao động mực nước hàng năm từ
0,5 - 3 m
Trang 40Như vậy, tầng chứa nước Holocen trên địa bàn đới bờ tỉnh Bình Thuận có
sự phân chia thành các khu vực có độ giàu nước khác nhau, từ nghèo nước đếntrung bình Tầng chứa nước có thể cung cấp nước quy mô nhỏ gồm thành tạo
aQ22-3, tuy nhiên trong quá trình khai thác cần có một chế độ khai thác rất hợp lí
vì tầng chứa nước này ở nhiều khu vực trong vùng chỉ tồn tại nước nhạt dướidạng các thấu kính, ở độ sâu rất nhỏ (< 5,0m) Ở những vùng địa hình thấpthuộc đồng bằng Phan Thiết hoặc gần các cửa sông Cái, sông Luỹ, sông Phannước bị nhiễm mặn, có thể quy hoạch để nuôi trồng thuỷ sản
2.2.1.2 Tầng chứa nước Pleistocen (qp)
Tầng chứa nước lỗ hổng các thành tạo Pleistocen phân bố rất phổ biếntrong vùng, do có sự khác biệt đa dạng về thành phần đất đá chứa nước, độ caophân bố nên khả năng chứa nước của tầng cũng khác biệt nhau, dựa vào quy luậtphân bố các thành phần độ hạt và kết quả bơm nước thí nghiệm lỗ khoan, giếngđào trong vùng, có thể phân chia ra các tầng chứa nước có mức độ chứa nướckhác nhau như sau:
Tầng chứa nước Pleistocen có mức độ chứa nước tương đối giàu phân bố
ở phần trung tâm của vùng, ở đồng bằng Phan Thiết, đồi cát Hàm Minh và rảirác ở ven rìa các đồi cát đỏ, chúng không lộ ra trên mặt địa hình mà bị phủ bởicác trầm tích trẻ hơn, chiều sâu thế nằm thường gặp của chúng từ 6 đến > 20m,vùng cồn cát phân bố từ độ sâu > 50,0m Thành phần thạch học của chúng baogồm cát cuội sỏi, cát đỏ, cát pha lẫn sạn, bề dày chứa nước khoảng 20 - 50m.Nước trong tầng là nước ngầm, độ sâu mực nước ngầm thay đổi trong khoảngrất rộng và phụ thuộc vào độ cao địa hình phân bố chúng Ở khu vực lầu ÔngHoàng (Phan Thiết), dốc Hầm (Hoà Thắng) chúng có mực nước ngầm nằm khásâu có nơi phát hiện mực nước ở độ sâu 45,70 m, ở các khu vực khác mực nướcngầm khoảng từ 1,0 đến 5,5m
Loại hình hoá học của nước trong tầng này thuộc loại clorur - Natri, ở khuvực cồn cát mẫu nước phân tích lấy tại các Lỗ khoan có độ tổng khoáng hoáM<1g/l Ở khu vực đồng bằng mẫu nước lấy tại Phan Thiết M= 44,25g/l Theokết quả công tác địa vật lý ở khu vực đồng bằng giá trị tham số điện trở suấtthấp, ứng với giá trị M khá cao, nước bị nhiễm mặn (M>1g/l) Nguồn cung cấpnước cho tầng chứa nước này là do nước mưa rơi trực tiếp trên diện phân bố, ởphạm vi bị phủ chúng nhận được nguồn cung cấp do tầng trên ngấm trực tiếpxuống bổ sung Động thái tầng chứa nước đã được nghiên cứu riêng biệt tại một số
lỗ khoan trong khu vực cho thấy động thái biến thiên theo mùa, mực nước thấpnhất vào tháng 4, 5; mực nước cao nhất vào tháng 10, 11; biên độ dao động mựcnước giữa hai mùa từ 0,4 - 0,5m Thành phần hoá học của nước biến đổi theo mùakhá rõ, M tăng về mùa khô và ngược lại