1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phối Hợp Các Lực Lượng Tuyên Truyền Về Khai Thác Thủy Sản Cho Ngư Dân Vùng Vịnh Bắc Bộ Việt Nam Hiện Nay

114 580 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận án chính trị ĐỘC QUYỀN gồm 115 trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo bằng phần mềm Adobe Pro DC. MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN KHAI THÁC THỦY SẢN………………………………. 10 1.1. Tuyên truyền và tuyên truyền khai thác thủy sản 10 1.2. Lực lượng tuyên truyền và phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản 15 1.3. Vai trò sự phối hợp các lực lượng trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân 32 Chương 2: THỰC TRẠNG PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN KHAI THÁC THỦY SẢN CHO NGƯ DÂN TRONG VÙNG VỊNH BẮC BỘ 37 2.1. Những yếu tố tác động đến sự phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân Vịnh Bắc Bộ hiện nay 37 2.2. Phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân Vịnh Bắc Bộ hiện nay: Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân 43 Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TUYÊN TRUYÈN KHAI THÁC THỦY SẢN CHO NGƯ DÂN VỊNH BẮC BỘ HIỆN NAY…………………………………………. 81 3.1. Những vấn đề đặt ra trong phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân Vịnh Bắc Bộ hiện nay 81 3.2. Giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân Vịnh Bắc Bộ hiện nay 86 KẾT LUẬN 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC 113 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phối hợp trong công tác tuyên truyền là một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền. Trong công tác tuyên truyền, có nhiều nội dung phối hợp, trong đó phối hợp các chủ thể, các lực lượng nhằm tạo ra sự thống nhất, tạo sự đồng tâm, nhất trí, sự tác động cùng chiều là một trong những vấn đề quan trọng. Ở nước ta hiện nay, công tác phối hợp trong tuyên truyền chưa được thường xuyên, chặt chẽ, do đó hiệu quả tuyên truyền thường không cao. Đó là chưa kế đến có những lĩnh vực, những thời điểm, công tác tuyên truyền còn chồng chéo nhau, cản trở và gây ra tình trạng hạn chế kết quả lẫn nhau. Việt Nam là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2, tiếp giáp biên giới trên biển với 6 nước trong khu vực Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Camphuchia. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước. Chính vì vậy, việc phát huy lợi thế của một quốc gia có biển, kết hợp phát triển kinh tế biển với an ninh, quốc phòng phải trở thành một chiến lược lâu dài của nước ta nhằm xây dựng quốc gia Việt Nam mạnh về biển và phát triển kinh tế biến thành một bộ phận mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những nhiệm vụ bức bách đang đặt ra cho dân tộc ta trước những thời cơ mới cũng như thách thức mới. Dựa trên truyền thống lịch sử đó, cả trước mắt cũng như lâu dài, mục tiêu tổng quát của Chiến lược biển Việt Nam chỉ rõ: “Đen năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh” 15, tr.76. Đe thực hiện mục tiêu trên, một trong những nhiệm vụ rất quan trọng là công tác tuyên truyền, hoạt động phối hợp tuyên truyền cần đi trước một bước để giáo dục sâu rộng, có hệ thống nhằm nâng cao và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của tất cả các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ngư dân những người trực tiếp tham gia các hoạt động thủy sản trên biển hiểu rõ về vị trí, vai trò chiến lược của biển đảo. Vịnh Bắc Bộ nước ta cũng là một trong những Vịnh lớn ở Đông Nam Á, có vị trí chiến lược đối với Việt Nam và Trung Quốc cả về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, ở khu vực này cũng đang đối mặt với những hạn chế trong công tác phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản hiệu quả. Trước và sau khi Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá giữa Việt Nam Trung Quốc được ký kết ngày 25122000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 3062004, tình hình tranh chấp ngư trường khai thác thủy sản giữa ngư dân Trung Quốc và trong khu vực Vịnh Bắc Bộ vẫn diễn biến phức tạp, dẫn đến gây thiệt hại về kinh tế và con người cho ngư dân, ngư trường bị xâm lấn nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến an ninh, chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, nhận thức và chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền về phối hợp tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân còn hạn chế, thể hiện ở chất lượng, hiệu quả tuyên truyền chưa cao, nội dung cũng như cách thức tuyên truyền chưa thực sự đa dạng, phong phú, thiếu sức hấp dẫn và ấn tượng; Thông tin tuyên truyền về khai thác thủy sản chưa thực sự được quan tâm, chú trọng, chưa phân rõ, xác định nội dung và phương thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng và ở từng địa phương, cơ sở; Việc triển khai các hoạt động phối hợp tuyên truyền về khai thác thủy sản trên Vịnh Bắc Bộ chưa thường xuyên, liên tục; Đội ngũ cán bộ chuyên trách tuyên truyền về thủy sản còn thiếu và yếu, hoạt động chưa hiệu quả; Sự phối hợp hoạt động giữa các bộ, ban, ngành và các tổ chức chính trị xã hội trong tuyên truyền về khai thác thủy sản tuy đã có nhưng thiếu đồng bộ, còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ nên chưa thực sự hiệu quả và đáp ứng yêu cầu đề ra.Vì vậy, đề tài “Phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân vùng Vịnh Bắc Bộ Việt Nam hiện nay” là một nội dung quan trọng, là vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu để từ đó tìm ra giải pháp phối hợp các lực lượng tuyên truyền hữu hiệu về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng Vịnh Bắc Bộ nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, nhận thức và trách nhiệm của ngư dân đối với việc khai thác thủy sản hiệu quả, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường biển và an ninh, chủ quyền biển đảo Tổ quốc. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong những năm qua, đã có những công trình nghiên cứu có liên quan đến sự phối hợp các phương tiện, phối hợp lực lượng trong tuyên truyền và tuyên truyền về thủy sản, khai thác thủy sản trên Vịnh Bắc Bộ, trong đó có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: 2.1. Các công trình nghiên cứu về tuyên truyền và phối hợp phương tiện, phối hợp lực lượng trong tuyên tuyền Các công trình nghiên cứu tiêu biểu và trực tiếp liên quan đến hoạt động tuyên truyền như: Tỉêp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng văn hóa trong tình hình mới của Hữu Thọ Đào Duy Quát; Đối mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng của PGS. Hà Ngọc Hợi TS. Ngô Văn Thạo; Một số vấn đề về công tác tư tưởng của đồng chí Đào Duy Tùng; Truyền thông đại chúng của PGS.TS. Tạ Ngọc Tấn; Cơ sở lý luận công tác tư tưởng của PGS,TS. Lương Khắc Hiếu chủ biên (2014); Góp phần đôi mới hình thức, phương pháp công tác tư tưởng hiện nay của TS. Trần Thị Anh Đào, đăng trên Tạp chí Báo chí về tuyên truyền, số 21999; “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới của Nguyễn Khoa Điềm, đăng trên Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 72013; Các công trình nghiên cứu có liên quan về phối hợp tuyên tuyền và phối hợp phương tiện trong tuyên truyền như: Luận văn thạc sỹ khoa học chính trị, Học Viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội “Hiệu quả tuyên truyền biển đảo cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Hưng Yên hiện nay ” của tác giả Nguyễn Đình Việt đã nêu ra vấn đề hiệu quả tuyên truyền biển đảo cho học sinh chưa tương xứng với mục đích đề ra và đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình hiện nay, trong đó có nêu ra một trong những nguyên nhân là sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, ban, nghành và các đoàn thể chính trị xã hội trong tuyên truyền biển đảo tuy đã có nhưng chưa đồng bộ, hoạt động chưa hiệu quả, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; các luận văn thạc sỹ khoa học chính trị, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội về “Tăng cường phối hợp các phương tiện công tác tư tưởng ở Hoà Bình hiện nay và Phối hợp các phương tiện giáo dục chính trị tư tưởng cho thanh niên tỉnh Kiên Giang hiện nay ” đã đặt ra vấn đề nội dung phối hợp chưa thật sự khoa học, nội dung chưa thực sự sâu sát, phương thức phối hợp vẫn còn nghèo nàn, đơn giản, sơ lược, đôi khi chồng chéo, kém hiệu quả và phải tiếp tục nghiên cứu để bổ sung nội dung, phương thức phối hợp. 2.2. Các công trình nghiên cứu về ngư dân, về khai thác thủy sản trên Vịnh Bắc Bộ và nghiên cứu về tuyên truyền khai thác nguồn lợi thủy sản cho ngư dân Từ trước đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về điều tra nguồn lợi hải sản trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ, quy hoạch về khai thác hải sản xa bờ trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ và nhiều công trình nghiên cứu khác nghiên cứu tổng thể về phát triển thủy sản và các vùng biển Việt Nam trong đó có đề cập đến Vịnh Bắc Bộ, có thể nêu một số công trình nghiên cứu như : Nguyễn Chu Hồi (2004): “Một số vấn đề về phát triển bền vững đổi với ngành Thủy sản Việt Nam ”. Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về phát triển bền vững, Hà Nội. Trong cuốn “Kinh tế Quy hoạch phát triển thủy sản, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ” (2009), tác giả PGS. TS Nguyễn Chu Hồi, PGS. TS Lê Tiêu La đã đánh giá ngành thủy sản Việt Nam 50 năm phát triển, phân tích bản chất và định hướng phát triển ngành thủy sản Việt Nam. Luận văn thạc sỹ khoa học: “Đánh giá tiềm năng nguồn lợi cá nổi vùng biển Vịnh Bắc Bộ” (2012) của tác giả Nguyễn Thị Hương Thảo đánh giá về trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Vịnh Bắc Bộ và các phân vùng trong vịnh. Luận văn thạc sỹ khoa học: “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về khai thác hải sản trong Vịnh Bắc Bộ” (2014), tác giả Nguyễn Phú Quốc đã nghiên cứu và phân tích thực trạng nội dung quản lý nhà nước về khai thác thủy sản trong Vịnh Bắc Bộ và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về khai thác thủy sản trên địa bàn, trong đó có đề cập đến giải pháp tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức cho ngư dân trong việc khai thác và bảo vệ tái tạo nguồn lợi thủy sản bền vững; Xây dựng và thực hiện kế hoạch truyền thông về nghề cá Vịnh Bắc Bộ, tuyên truyền về vị trí, vai trò nghề cá trong sự nghiệp phát triển. Đề tài cấp bộ: “Sinh kể bền vững cho cư dân ven bờ Vịnh Bắc bộ Thực trạng và giải pháp” (2015) của đồng tác giả TS. Nguyễn Đức Chính, PGS.TS Trần Thị Minh Ngọc, TS. Hoàng Việt Anh, trong đó có nêu vai trò của công tác tuyên truyền khai thác thủy sản là một trong những công tác quan trọng góp phần tạo sinh kế bền vững cho cư dân ven bờ Vịnh Bắc Bộ. 2.3. Công trình nghiên cứu về phối hợp các lực lượng trong tuyên truyền khai thác nguồn lợi thủy sản cho ngư dân Các công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan về phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngu dân nhu: “Hợp tác khai thác chung trong luật biển quốc tế, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS,TS. Nguyễn Bá Diến chủ biên, “Năm mươi năm Thủy sản Việt Nam” của Ngô Anh Tuấn (2014), “Cơ sở lý luận chuyên đổi cơ cấu kinh tế trong ngành thủy sản ” của Hà Xuân Thông, Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài “ Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản ” của Nguyễn Văn Kháng. Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp một số tư liệu, cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu và gợi mở những vấn đề có liên quan đến phối hợp các lực lượng trong tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngu dân. Tuy nhiên chua có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thế về vai trò, sụ cần thiết trong phối hợp, nội dung, phương thức phối hợp các lực lượng tuyên tuyền về khai thác thủy sản cho ngu dân trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Đặc biệt là tình hình phối hợp giữa các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngu dân sau khi Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc có hiệu lực kể từ ngày 3062004. Do đó, đề tài nghiên cứu về “Phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân vùng Vịnh Bắc Bộ Việt Nam hiện nay” là đề tài hoàn toàn mới, nghiên cứu độc lập, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng sự phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngu dân trong vùng Vịnh Bắc Bộ, đề xuất giải pháp nhằm tăng cuờng phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản hiệu quả, góp phần phát triển bền vững ngành thủy sản. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn có một số nhiệm vụ chính sau: Tổng quan, hệ thống và phát triển một bước một số vấn đề lý luận về phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản; Phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra về sự phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân phường vùng biển Vịnh Bắc Bộ thời gian vừa qua; Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự phối hợp của các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng Vịnh Bắc Bộ trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ. 4.2. Phạm vị nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu sự phối hợp của các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong phạm vi vùng biển Vịnh Bắc Bộ qua 11 tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế. Các chủ thể tham gia phối hợp là các chủ thế, các lực lượng tuyên truyền của nước ta. Do đây là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đề tài không nghiên cứu sự phối hợp các lực lượng tuyên truyền của Việt Nam với các lực lượng tuyên truyền của các nước khác hoạt động trên vùng Vịnh Bắc Bộ. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn dựa trên lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác tuyên truyền, phối hợp các lực lượng tuyên truyền về Thủy sản. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp nghiên cứu khoa học. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là: Phương pháp thu thập thông tin; Phương pháp nghiên cứu tổng hợp số liệu; Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương pháp so sánh và một số phương pháp khác. 6. Đóng góp mới của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn được thể hiện trong một số nội dung chính sau: Đề tài góp phần bổ sung, hoàn thiện một bước hệ thống lý luận về hiệu quả công tác tư tưởng và xây dựng mới cơ sở lý luận hoạt động phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng; Đề tài góp phần vào việc phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ hiện nay; Đề tài góp phần đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường sự phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ; 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao nhận thức về phối hợp tuyên truyền khai thác thủy sản và bảo vệ chủ quyền biển đảo cho ngư dân. Cung cấp các luận cứ khoa học cho các bộ, ban, ngành liên quan, các địa phương trong việc đề ra chủ trương, biện pháp phối hợp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập, trong hoạt động tuyên truyền và quản lý nhà nước về khai thác thủy sản. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc làm 3 chương và 7 tiết. Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN KHAI THÁC THỦY SẢN 1.1. Tuyên truyền và tuyên truyền khai thác thủy sản 1.1.1. Khái niệm tuyên truyền Thuật ngữ “tuyên truyền ” được ra đời từ rất lâu và cũng được tiếp cận theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo một số tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ “tuyên truyền ” đã được nhà thờ La Mã sử dụng từ khoảng gần bốn trăm năm về trước, dùng để chỉ hoạt động của các nhà truyền giáo với sứ mệnh thuyết phục, lôi kéo những người khác phấn đấu theo đức tin của đạo Kitô. về sau, thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng một cách rộng rãi nhằm biểu đạt các hoạt động cụ thế (như ngôn ngữ, hình ảnh, đạo cụ,...) nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng tình cảm của người khác, hướng họ hành động theo một khuynh hướng nhất định. Trong từ điển Chính trị của Liên Xô: “Tuyên truyền là giải thích phổ biến một tư tưởng, học thuyết, lý luận chính trị nhất định nào đó ” 47, tr.793. Theo từ điển tiếng Việt: “Tuyên truyền (chuyển đi, trao cho) là đem chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước phổ biến và giải thích cho đông đảo quần chúng biết và động viên mọi người ra sức thực hiện” 46, tr.791. Trong Hồ Chí Minh (2002), toàn tập, tập 5, khi bàn về “người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiếu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Neu không đạt được mục tiêu đó là tuyên truyền thất bại” 37, tr.162. Tuy có những cách lý giải khác nhau về thuật ngữ tuyên truyền, nhưng khái niệm mà các nhà khoa học đã nêu trên có những điểm chung là: Tuyên truyền là hoạt động truyền bá, phổ biến, giải thích của chủ thế về một tư tưởng, một học thuyết hay một vấn đề nào đó với đối tượng tuyên truyền. Tuyên truyền nhằm đạt tới mục đích là làm thay đổi nhận thức, hình thành một kiểu ý thức xã hội, xây dựng thế giới quan nhất định ở đối tượng cho phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền. Tuyên truyền phải đạt tới hiệu quả là kích thích, thúc đẩy đối tượng hành động theo quan điểm, đường lối, mục đích đặt ra. Từ những cách lý giải đã nêu trên, có thể rút ra khái niệm tuyên truyền như sau: Tuyên truyền là hoạt động truyền bá, phổ biến, giải thích của chủ thể tuyên truyền về một hệ tư tưởng, học thuyết hay một vấn đề chính trị xã hội nào đó trong đối tượng nhằm biến quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của đối tượng tuyên truyền và thúc đẩy tính tích cực hành động của họ. 1.1.2. Khái niệm thủy sản, hải sản Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường. Thủy sản là ngành kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, gồm các loài thủy sinh vật và các thành phần của môi trường nước, trong đó nuôi trồng và khai thác thủy sản là 02 hoạt động chính, tạo ra sản phẩm và nguyên liệu để chế biến các sản phẩm thủy sản. Đối tượng khai thác và nuôi trồng thủy sản rất đa dạng bao gồm rất nhiều loài cá, giáp xác, nhuyễn thể, rong biển...trong đó một số loài là cá trích, cá cơm, cá ngừ, cá bơn; các loài nhuyễn thể một và hai mảnh vỏ thường chiếm tỷ trọng sản lượng lớn. Ngoài hai lĩnh vực sản xuất chính là khai thác và nuôi trồng thủy sản còn có lĩnh vực chế biến và thương mại thủy sản với các hoạt động phụ trợ, dịch vụ, hậu cần, bao gồm: hệ thống cầu cảng, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; hệ thống cung cấp nhiên liệu, vật tu và các nhu yếu phẩm khác cho tàu và người hoạt động trên các vùng biển; các cơ sở đóng sửa tàu cá, ngư lưới cụ, nước đá; các cơ sở chế biến thức ăn và các chế phẩm sinh học phục vụ cho nuôi trồng thủy sản; các cơ sở chế biến, bảo quản các sản phẩm thủy sản và hoạt động thương mại thủy sản, trong đó có hệ thống chợ thủy sản đầu mối và xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản. Hình 1.1. Mô hình hoạt động thủy sản Hải sản hay thủy sản với nghĩa rộng hoặc thủy hải sản là bất kỳ sinh vật biển được sử dụng làm thực phẩm cho con người. Hải sản bao gồm các loại cá biến, động vật thân mềm (bạch tuộc, mực, tôm, nghêu, sò, ốc, hến, hàu...), động vật giáp xác (tôm, cua và tôm hùm), động vật da gai (nhím biển). Ngoài ra, các thực vật biển ăn được, chẳng hạn như một số loài rong biển và vi tảo. Hải sản được sử dụng làm thức ăn thông dụng trên thế giới, đặc biệt là ở châu Á. Tại Bắc Mỹ, ở Việt Nam hải sản là mặt hàng quý hiếm có giá trị kinh tế cao, một số loại sản phẩm như: Cá ngừ đại dương, cá thu, cá bò da, tôm hùm thường được chế biến và xuất khẩu trên khắp thế giới. 1.1.3. Khái niệm tuyên truyền khai thác thủy sản Khai thác thủy sản Khai thác thủy sản là tên gọi chung cho các hoạt động săn bắt các loài thủy hải sản ở các loại thủy vực (ngọt, lợ, mặn), bao gồm: các loài cá, giáp xác, nhuyễn thế hay còn gọi là thân mềm, động vật lưỡng cư. Đã có nhiều cách đế phân loại khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Phân theo các loại thủy vực, thông thường có 02 loại: (1) Khai thác nguồn lợi thủy sản nước ngọt, như: các loài thủy sản sống trong các sông, suối, ao, đầm, hồ trong đất liền và (2) khai thác biển, bao gồm các thủy sản sống ở nước mặn (biển, đại dương) và lợ (vùng nước sát bờ, nơi giao thoa giữa nước mặn và ngọt). Phân theo phương thức khai thác, sử dụng tàu thuyền hoặc không sử dụng tàu thuyền và trong thực tế còn gọi đơn vị thuyền nghề (tàu hoặc thuyền với một loại nghề hay một vài loại nghề kiêm). Phân loại theo đối tượng khai thác, như: lưới kéo cá, kéo tôm; câu cá song, mú, câu cá ngừ đại dương, câu mực, câu tôm...; rê cá, rê tôm, vây cá cơm. Phân loại theo nghề, phổ biến nhất gồm 6 nhóm: (1) lưới kéo; (2) lưới rê, (3) câu; (4) vây; (5) vó, mành và (6) các nghề khác, gồm: nhiều nghề và thường có quy mô nhỏ, như các nghề cố định (đăng, đáy, lồng, bẫy), te, xiệp, chụp mực, lặn... Phân loại theo công cụ hỗ trợ dụ các loài thủy sản tập trung đế khai thác như: sử dụng ánh sáng có các nghề: vó, mành, vây, chụp, pha xúc hoặc đặt chà rạo, sử dụng các vật liệu như tre, nứa, lá dừa... để dụ các loài thủy sản đến trú ngụ, đẻ hay ấn nấp, tránh kẻ thù. Phân theo cách thức khai thác, như: Lưới kéo đơn, trong trường hợp này, đế mở miệng lưới có thể dùng ván hoặc dùng khung hoặc dùng tăng gông, có thể kéo đến 4 lưới; lưới kéo đôi (hai tàu kéo một lưới); vây đuôi, vây mạn; rê trôi, rê tầng đáy, tầng mặt, rê ba lóp; câu tay, câu vàng. Khai thác thủy sản nước ngọt của Việt Nam hiện cho sản lượng nhỏ, mỗi năm khai thác được khoảng trên dưới 10% tổng sản lượng khai nguồn lợi thủy sản tự nhiên của cả nước. Quy mô khai thác nhỏ, đa phần do nông dân thực hiện với phương thức khai thác tự cung, tự cấp, kiếm thức ăn hàng ngày phục vụ cho gia đình, số lượng khai thác chuyên hầu như rất ít, tồn tại ở các sông lớn như Cửu Long, sông Hồng và các hồ lớn trong đó có các hồ thủy điện như Sơn La, Hòa Bình, Trị An... và phương tiện hồ trợ là các tàu thuyền (gỗ, tre, nhôm, composiz...) lắp máy có công suất trên dưới 20CV. Nghề sử dụng trong khai thác thủy sản nước ngọt thường là các nghề thuộc nhóm lưới kéo, rê (lưới bén), câu, đăng, đáy, lồng, bãy....Đối tượng thủy sản khai thác được chủ yếu các loài cá nhỏ, tôm các loại. Đối với khai thác thủy sản nước mặnlợ (biến), Việt Nam hiện sử dụng khoảng 130.000 tàu cá các loại với khoảng trên 40 loại ngư cụ khác nhau để khai thác thủy sản, trong đó có đủ các nhóm nghề: lưới kéo, chủ yếu kéo đáy chiếm khoảng trên dưới 20%; lưới rê, trên dưới 30%; câu khoảng trên dưới 20%, các nhóm nghề còn lại, như vây, vó, mành, nghề cố định... khoảng 20%. Trong 130.000 tàu cá tham gia khai thác thủy sản nước mặnlợ, có đến 67 nghìn tàu cá lắp máy có công suất từ 20CV trở lên đên 1.000 cv, số còn lại có khoảng trên dưới 7 nghìn chiếc không lắp máy và lắp máy dưới 20CV. Khai thác thủy sản là khai thác tài nguyên sinh vật có khả năng tái tạo. Các sinh vật sống dưới nước có khả năng sinh tồn, phát triển, tái tạo, diệt vong. Do vậy giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản có mối quan hệ tác động lẫn nhau, khăng khít và biện chứng. Trong quá trình vận động và phát triển ngành thủy sản hai mục tiêu khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản luôn đồng hành và luôn thu hút sự quan tâm quản lý và tuyên truyền giáo dục nhằm duy trì sự phát triển ổn định, bền vững. Như vậy, khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên biến, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác. Khái niệm khai thác thủy sản trong đề tài được hiểu là hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển. Tuyên truyền khai thác thủy sản Từ khái niệm về tuyên truyền và khái niệm về thủy sản, khai thác thủy sản, chúng ta có thể rút ra khái niệm về tuyên truyền khai thác thủy sản như sau: Tuyên truyền khai thác thủy sản là hoạt động có mục đích của chủ thể tuyên truyền nhằm truyền bá, phổ biến, giải thích những kiến thức, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về thủy sản và khai thác thủy sản đến đối tượng tuyên truyền nhằm biến các quan điểm, tư tưởng đó thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể và thúc đẩy tính tích cực hành động của đối tượng. 1.2. Lực lượng tuyên truyền và phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản 1.2.1. Lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản: Khái niệm và phân loại 1.2.1.1. Khái niệm lực lượng Lực lượng là tập họp những người, những tổ chức được sắp xếp, tổ chức lại và nhờ cách tổ chức, sắp xếp đó mà tạo nên sức mạnh chung của tập họp người, tổ chức đó. Sức mạnh này được sử dụng vào mục đích chung của toàn lực lượng. Vì vậy có thể hiểu: Lực lượng là tập hợp những người, tổ chức được sắp xếp, tổ chức nhau lại tạo nên sức mạnh chung của tập hợp người, tổ chức đó nhằm sử dụng vào các hoạt động có mục đích của chủ thể. 1.2.1.2. Phân loại lực lượng Theo chức năng Phân loại theo chức năng thì lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản gồm có lực lượng lãnh đạo, quản lý, lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiếm tra và lực lượng tác chiến. Trong đó mồi lực lượng có vai trò, chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Lực lượng lãnh đạo: Trong các lực lượng tuyên truyền nói chung và tuyên truyền về khai thác thủy sản nói riêng chỉ duy nhất có một lực lượng có chức năng lãnh đạo. Đó là Đảng ta, bao gồm các tổ chức Đảng, các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương, cơ sở. Trong hoạt động tuyên truyền về ngành thủy sản, Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác xây dựng các chủ trương, quan điểm và chính sách của Đảng về lĩnh vực thủy sản, trong đó có tuyên truyền về ngành thủy sản; Hướng dẫn, kiểm tra, định hướng nội dung tuyên truyền và bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động cho hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên, hệ thống cộng tác viên dư luận xã hội từ Trung ương đến cơ sở; Tổ chức biên soạn, phối hợp phát hành các tài liệu nội bộ phổ biến kiến thức và giáo dục về biển đảo nói chung và nghề cá nói riêng. Lực lượng quản lý: Đó là những lực lượng có chức năng quản lý nhà nước về công tác tuyên truyền, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản quản lý, hành chính, các chính sách liên quan đến hoạt động tuyên truyền thủy sản; Đồng thời ban hành các văn bản quản lý để chỉ đạo các lực lượng tham mưu, kiểm tra, giám sát, tác chiến trực tiếp về tuyên truyền khai thác thủy sản. Lực lượng quản lý về tuyên truyền khai thác thủy sản bao gồm các cơ quan, đơn vị như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Thông tin truyền thông, Tỉnh ủy, UBND các tỉnh, Thành phố, Sở Nông nghiệp PTNT các tỉnh, Thành phố. Lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra: Là các lực lượng trực thuộc lực lượng lãnh đạo, quản lý ở trung ương và địa phương; giúp các lực lượng lãnh đạo, quản lý trong xây dựng và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hành chính chuyên môn nghiệp vụ; trực tiếp ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ cho các lực lượng tác chiến triển khai; tổ chức triển khai kiếm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật hiện hành, thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo của các lực lượng cấp trên. Lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra bao gồm các cơ quan, đơn vị như Cục Kiêm ngư, Vụ Khai thác thủy sản thuộc Tổng cục Thủy sản, các Bộ tư lệnh Hải quân vùng, Cảnh sát biển vùng, Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố, Hội Nghề cá Việt Nam. Lực lượng tác chiến: Là lực lượng trực tiếp thực thi các hoạt động tuyên truyền khai thác thủy sản, triển khai các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hành chính, chuyên môn nghiệp vụ do các cơ quan nhà nước, các lực lượng cấp trên đã ban hành tới các ngư dân, các đối tượng liên quan trong hoạt động khai thác thủy sản, chịu sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn nghiệp vụ của các lực lượng quản lý và lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiếm tra. Lực lượng này tiến hành các hoạt động tuần tra, kiểm soát, tuyên truyền dưới nhiều hình thức về việc tuân thủ pháp luật, các cơ chế chính sách của nhà nước, trực tiếp hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động liên quan đến khai thác thủy sản trên biển. Trực tiếp xử lý các vi phạm theo thẩm quyền, tiếp nhận các kiến nghị, khiếu nại, đề xuất.. .từ ngư dân và các đối tượng khác để xử lý và trình cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định. Lực lượng tác chiến tuyên truyền về khai thác thủy sản bao gồm các cơ quan, tổ chức như các Chi cục Thủy sản, Chỉ cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, các Chi cục Kiêm ngư vùng, Bộ đội biên phòng cửa khẩu, các lực lượng và tàu Cảnh sát biến, các lực lượng và tàu Hải quân, Báo Nông nghiệp Việt Nam, Viện Nghiên cứu hải sản, Tạp chí Nông nghiệp PTNT, các Báo, Đài truyền hình Trung ương và địa phương, Hội, chỉ hội nghề cá tỉnh.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN KHAI THÁC THỦY SẢN……… 10

1.1 Tuyên truyền và tuyên truyền khai thác thủy sản 10

1.2 Lực lượng tuyên truyền và phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản 15

1.3 Vai trò sự phối hợp các lực lượng trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân 32

Chương 2: THỰC TRẠNG PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN KHAI THÁC THỦY SẢN CHO NGƯ DÂN TRONG VÙNG VỊNH BẮC BỘ 37 2.1 Những yếu tố tác động đến sự phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân Vịnh Bắc Bộ hiện nay 37

2.2 Phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân Vịnh Bắc Bộ hiện nay: Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân 43

Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TUYÊN TRUYÈN KHAI THÁC THỦY SẢN CHO NGƯ DÂN VỊNH BẮC BỘ HIỆN NAY……….81

3.1 Những vấn đề đặt ra trong phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân Vịnh Bắc Bộ hiện nay 81

3.2 Giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân Vịnh Bắc Bộ hiện nay 86

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 113

Trang 2

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phối hợp trong công tác tuyên truyền là một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền Trong công tác tuyên truyền, có nhiều nội dung phối hợp, trong đó

phối hợp các chủ thể, các lực lượng nhằm tạo ra sự thống nhất, tạo sự đồng tâm, nhất trí, sự tác động cùng chiều là một trong những vấn đề quan trọng

Ở nước ta hiện nay, công tác phối hợp trong tuyên truyền chưa được thường xuyên, chặt chẽ, do đó hiệu quả tuyên truyền thường không cao Đó là chưa kế đến có

những lĩnh vực, những thời điểm, công tác tuyên truyền còn chồng chéo nhau, cản trở

và gây ra tình trạng hạn chế kết quả lẫn nhau

Việt Nam là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2, tiếp giáp biên giới trên biển với 6 nước trong khu vực Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Camphuchia Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước Chính vì vậy, việc phát huy lợi thế của một quốc gia có biển, kết

hợp phát triển kinh tế biển với an ninh, quốc phòng phải trở thành một chiến lược lâu dài của nước ta nhằm xây dựng quốc gia Việt Nam mạnh về biển và phát triển kinh tế

biến thành một bộ phận mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những nhiệm vụ bức bách đang đặt ra cho dân tộc ta trước những thời cơ mới cũng như thách thức mới

Dựa trên truyền thống lịch sử đó, cả trước mắt cũng như lâu dài, mục tiêu tổng quát của Chiến lược biển Việt Nam chỉ rõ: “Đen năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở

thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh” [15, tr.76] Đe thực hiện mục tiêu

trên, một trong những nhiệm vụ rất quan trọng là công tác tuyên truyền, hoạt động phối

hợp tuyên truyền cần đi trước một bước để giáo dục sâu rộng, có hệ thống nhằm nâng cao và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của tất cả các cấp,

Trang 3

phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản hiệu quả Trước và sau khi Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá giữa Việt Nam - Trung

Quốc được ký kết ngày 25/12/2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 30/6/2004, tình hình tranh chấp ngư trường khai thác thủy sản giữa ngư dân Trung Quốc và trong khu vực Vịnh Bắc Bộ vẫn diễn biến phức tạp, dẫn đến gây thiệt hại về kinh tế và con người cho ngư dân, ngư trường bị xâm lấn nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến an ninh, chủ quyền biển đảo Bên cạnh đó, nhận thức và chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền về phối

hợp tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân còn hạn chế, thể hiện ở chất lượng,

hiệu quả tuyên truyền chưa cao, nội dung cũng như cách thức tuyên truyền chưa thực

sự đa dạng, phong phú, thiếu sức hấp dẫn và ấn tượng; Thông tin tuyên truyền về khai thác thủy sản chưa thực sự được quan tâm, chú trọng, chưa phân rõ, xác định nội dung

và phương thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng và ở từng địa phương, cơ sở; Việc triển khai các hoạt động phối hợp tuyên truyền về khai thác thủy sản trên Vịnh

Bắc Bộ chưa thường xuyên, liên tục; Đội ngũ cán bộ chuyên trách tuyên truyền về thủy

sản còn thiếu và yếu, hoạt động chưa hiệu quả; Sự phối hợp hoạt động giữa các bộ, ban, ngành và các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền về khai thác thủy sản tuy đã

có nhưng thiếu đồng bộ, còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ nên chưa thực sự hiệu quả và đáp ứng yêu cầu đề ra.Vì vậy, đề tài “Phối hợp các lực lượng tuyên truyền về

dung quan trọng, là vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu để từ đó tìm ra giải pháp phối hợp các lực lượng tuyên truyền hữu hiệu về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng

Vịnh Bắc Bộ nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, nhận thức và trách nhiệm của ngư dân đối với việc khai thác thủy sản hiệu quả, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường biển và an ninh, chủ quyền biển đảo Tổ quốc

Trang 4

3

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, đã có những công trình nghiên cứu có liên quan đến sự

phối hợp các phương tiện, phối hợp lực lượng trong tuyên truyền và tuyên truyền về thủy sản, khai thác thủy sản trên Vịnh Bắc Bộ, trong đó có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

phối hợp lực lượng trong tuyên tuyền

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu và trực tiếp liên quan đến hoạt động tuyên

truyền như: Tỉêp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng -

văn hóa trong tình hình mới của Hữu Thọ - Đào Duy Quát; Đối mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng của PGS Hà Ngọc Hợi - TS Ngô Văn Thạo; Một

số vấn đề về công tác tư tưởng của đồng chí Đào Duy Tùng; Truyền thông đại chúng

của PGS.TS Tạ Ngọc Tấn; Cơ sở lý luận công tác tư tưởng của PGS,TS Lương Khắc Hiếu chủ biên (2014); Góp phần đôi mới hình thức, phương pháp công tác tư tưởng

hiện nay của TS Trần Thị Anh Đào, đăng trên Tạp chí Báo chí về tuyên truyền, số

2/1999; “ Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong

giai đoạn mới của Nguyễn Khoa Điềm, đăng trên Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 7/2013;

Các công trình nghiên cứu có liên quan về phối hợp tuyên tuyền và phối hợp phương tiện trong tuyên truyền như: Luận văn thạc sỹ khoa học chính trị, Học Viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội “Hiệu quả tuyên truyền biển đảo cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Hưng Yên hiện nay ” của tác giả Nguyễn Đình Việt đã nêu ra vấn

đề hiệu quả tuyên truyền biển đảo cho học sinh chưa tương xứng với mục đích đề ra và đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình hiện nay, trong đó có nêu ra một trong những nguyên nhân là sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, ban, nghành và các đoàn thể chính trị - xã hội trong tuyên truyền biển đảo tuy đã có nhưng chưa đồng bộ, hoạt động chưa hiệu quả, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; các luận văn thạc

sỹ khoa học chính trị, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội về “Tăng cường phối hợp các phương tiện công tác tư tưởng ở Hoà Bình hiện nay và Phối hợp các phương tiện giáo dục chính trị - tư tưởng cho thanh niên tỉnh Kiên Giang hiện nay ” đã đặt ra

Trang 5

4

vấn đề nội dung phối hợp chưa thật sự khoa học, nội dung chưa thực sự sâu sát, phương

thức phối hợp vẫn còn nghèo nàn, đơn giản, sơ lược, đôi khi chồng chéo, kém hiệu quả

và phải tiếp tục nghiên cứu để bổ sung nội dung, phương thức phối hợp

Bắc Bộ và nghiên cứu về tuyên truyền khai thác nguồn lợi thủy sản cho ngư dân

Từ trước đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về điều tra nguồn lợi hải sản trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ, quy hoạch về khai thác hải sản xa bờ trong vùng

biển Vịnh Bắc Bộ và nhiều công trình nghiên cứu khác nghiên cứu tổng thể về phát triển thủy sản và các vùng biển Việt Nam trong đó có đề cập đến Vịnh Bắc Bộ, có thể nêu một số công trình nghiên cứu như :

- Nguyễn Chu Hồi (2004): “Một số vấn đề về phát triển bền vững đổi với ngành Thủy sản Việt Nam ” Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về phát triển bền vững,

Hà Nội

- Trong cuốn “Kinh tế - Quy hoạch phát triển thủy sản, Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn ” (2009), tác giả PGS TS Nguyễn Chu Hồi, PGS TS Lê Tiêu La đã đánh

giá ngành thủy sản Việt Nam 50 năm phát triển, phân tích bản chất và định hướng phát triển ngành thủy sản Việt Nam

- Luận văn thạc sỹ khoa học: “Đánh giá tiềm năng nguồn lợi cá nổi vùng biển

V ịnh Bắc Bộ” (2012) của tác giả Nguyễn Thị Hương Thảo đánh giá về trữ lượng và

khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Vịnh Bắc Bộ và các phân vùng trong vịnh

- Luận văn thạc sỹ khoa học: “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về khai thác hải sản trong Vịnh Bắc Bộ” (2014), tác giả Nguyễn

Phú Quốc đã nghiên cứu và phân tích thực trạng nội dung quản lý nhà nước về khai thác thủy sản trong Vịnh Bắc Bộ và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về khai thác thủy sản trên địa bàn, trong đó có đề cập đến giải pháp tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức cho ngư dân trong việc khai thác và bảo

vệ tái tạo nguồn lợi thủy sản bền vững; Xây dựng và thực hiện kế hoạch truyền thông

về nghề cá Vịnh Bắc Bộ, tuyên truyền về vị trí, vai trò nghề cá trong sự nghiệp phát

Trang 6

5

triển

- Đề tài cấp bộ: “Sinh kể bền vững cho cư dân ven bờ Vịnh Bắc bộ - Thực trạng

và giải pháp” (2015) của đồng tác giả TS Nguyễn Đức Chính, PGS.TS Trần Thị Minh

Ngọc, TS Hoàng Việt Anh, trong đó có nêu vai trò của công tác tuyên truyền khai thác

thủy sản là một trong những công tác quan trọng góp phần tạo sinh kế bền vững cho cư dân ven bờ Vịnh Bắc Bộ

khai thác nguồn lợi thủy sản cho ngư dân

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan về phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngu dân nhu: “Hợp tác khai thác chung trong luật

biển quốc tế, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS,TS Nguyễn Bá Diến chủ

biên, “Năm mươi năm Thủy sản Việt Nam” của Ngô Anh Tuấn (2014), “Cơ sở lý luận

chuyên đổi cơ cấu kinh tế trong ngành thủy sản ” của Hà Xuân Thông, Báo cáo tổng

hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài “ Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản ” của Nguyễn Văn Kháng

Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp một số tư liệu, cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu và gợi mở những vấn đề có liên quan đến phối hợp các lực lượng trong tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngu dân Tuy nhiên chua có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thế về vai trò, sụ cần thiết trong phối hợp, nội dung, phương

thức phối hợp các lực lượng tuyên tuyền về khai thác thủy sản cho ngu dân trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ Đặc biệt là tình hình phối hợp giữa các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngu dân sau khi Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc có hiệu lực kể từ ngày 30/6/2004 Do đó, đề tài nghiên

cứu về “Phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân

vùng Vịnh Bắc Bộ Việt Nam hiện nay” là đề tài hoàn toàn mới, nghiên cứu độc lập,

có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 7

Luận văn có một số nhiệm vụ chính sau:

- Tổng quan, hệ thống và phát triển một bước một số vấn đề lý luận về phối

hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản;

- Phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra về sự phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân phường vùng biển Vịnh Bắc Bộ thời gian vừa qua;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự phối hợp của các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng Vịnh Bắc Bộ trong thời gian

tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác

Trang 8

7

tuyên truyền, phối hợp các lực lượng tuyên truyền về Thủy sản

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp nghiên cứu khoa học

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là:

- Phương pháp thu thập thông tin;

- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp số liệu;

- Phương pháp thống kê;

- Phương pháp phân tích - tổng hợp;

- Phương pháp so sánh và một số phương pháp khác

6 Đóng góp mới của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn được thể hiện trong một số nội dung chính sau:

- Đề tài góp phần bổ sung, hoàn thiện một bước hệ thống lý luận về hiệu quả công tác tư tưởng và xây dựng mới cơ sở lý luận hoạt động phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ dưới góc

độ khoa học công tác tư tưởng;

- Đề tài góp phần vào việc phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt

ra trong phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ hiện nay;

- Đề tài góp phần đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường sự phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản cho ngư dân trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ;

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao nhận thức về phối hợp tuyên truyền khai thác thủy sản và bảo vệ chủ quyền biển đảo cho ngư dân

- Cung cấp các luận cứ khoa học cho các bộ, ban, ngành liên quan, các địa phương trong việc đề ra chủ trương, biện pháp phối hợp nâng cao hiệu quả tuyên truyền

về khai thác thủy sản cho ngư dân

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong

Trang 9

8

nghiên cứu, giảng dạy, học tập, trong hoạt động tuyên truyền và quản lý nhà nước về khai thác thủy sản

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc làm 3 chương và 7 tiết

Trang 10

9

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN KHAI THÁC THỦY SẢN

1.1 Tuyên truyền và tuyên truyền khai thác thủy sản

Thuật ngữ “tuyên truyền ” được ra đời từ rất lâu và cũng được tiếp cận theo

nhiều nghĩa khác nhau Theo một số tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ “tuyên truyền ” đã được nhà thờ La Mã sử dụng từ khoảng gần bốn trăm năm về trước, dùng để chỉ hoạt động của các nhà truyền giáo với sứ mệnh thuyết phục, lôi kéo những người khác phấn đấu theo đức tin của đạo Kitô về sau, thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng một cách

rộng rãi nhằm biểu đạt các hoạt động cụ thế (như ngôn ngữ, hình ảnh, đạo cụ, ) nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng tình cảm của người khác, hướng họ hành động theo

một khuynh hướng nhất định

Trong t ừ điển Chính trị của Liên Xô: “Tuyên truyền là giải thích phổ biến một

tư tưởng, học thuyết, lý luận chính trị nhất định nào đó ” [47, tr.793]

Theo t ừ điển tiếng Việt: “Tuyên truyền (chuyển đi, trao cho) là đem chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước phổ biến và giải thích cho đông đảo

quần chúng biết và động viên mọi người ra sức thực hiện” [46, tr.791]

Trong Hồ Chí Minh (2002), toàn tập, tập 5, khi bàn về “người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Tuyên truyền là đem một việc

gì đó nói cho dân hiếu, dân nhớ, dân theo, dân làm Neu không đạt được mục tiêu đó

là tuyên truyền thất bại” [37, tr.162]

Tuy có những cách lý giải khác nhau về thuật ngữ tuyên truyền, nhưng khái

niệm mà các nhà khoa học đã nêu trên có những điểm chung là:

- Tuyên truyền là hoạt động truyền bá, phổ biến, giải thích của chủ thế về một

tư tưởng, một học thuyết hay một vấn đề nào đó với đối tượng tuyên truyền

- Tuyên truyền nhằm đạt tới mục đích là làm thay đổi nhận thức, hình thành

một kiểu ý thức xã hội, xây dựng thế giới quan nhất định ở đối tượng cho phù hợp với

lợi ích của chủ thể tuyên truyền

- Tuyên truyền phải đạt tới hiệu quả là kích thích, thúc đẩy đối tượng hành

Trang 11

10

động theo quan điểm, đường lối, mục đích đặt ra

Từ những cách lý giải đã nêu trên, có thể rút ra khái niệm tuyên truyền như sau:

Tuyên truyền là hoạt động truyền bá, phổ biến, giải thích của chủ thể tuyên truyền về một hệ tư tưởng, học thuyết hay một vấn đề chính trị - xã hội nào đó trong đối tượng nhằm biến quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của đối tượng tuyên truyền và thúc đẩy tính tích cực hành động của họ

Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho

con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử

dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường Thủy sản là ngành kinh

tế dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, gồm các loài thủy sinh vật và các thành

phần của môi trường nước, trong đó nuôi trồng và khai thác thủy sản là 02 hoạt động chính, tạo ra sản phẩm và nguyên liệu để chế biến các sản phẩm thủy sản Đối tượng khai thác và nuôi trồng thủy sản rất đa dạng bao gồm rất nhiều loài cá, giáp xác, nhuyễn

thể, rong biển trong đó một số loài là cá trích, cá cơm, cá ngừ, cá bơn; các loài nhuyễn

thể một và hai mảnh vỏ thường chiếm tỷ trọng sản lượng lớn Ngoài hai lĩnh vực sản xuất chính là khai thác và nuôi trồng thủy sản còn có lĩnh vực chế biến và thương mại

thủy sản với các hoạt động phụ trợ, dịch vụ, hậu cần, bao gồm: hệ thống cầu cảng, bến

cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; hệ thống cung cấp nhiên liệu, vật tu và các nhu yếu phẩm khác cho tàu và người hoạt động trên các vùng biển; các cơ sở đóng sửa tàu cá, ngư lưới cụ, nước đá; các cơ sở chế biến thức ăn và các chế phẩm sinh học phục

vụ cho nuôi trồng thủy sản; các cơ sở chế biến, bảo quản các sản phẩm thủy sản và

hoạt động thương mại thủy sản, trong đó có hệ thống chợ thủy sản đầu mối và xuất

khẩu, nhập khẩu thủy sản

Hình 1.1 Mô hình hoạt động thủy sản Hải sản hay thủy sản

với nghĩa rộng hoặc thủy hải sản là bất kỳ sinh vật biển được sử dụng làm thực phẩm cho con người Hải sản bao gồm các loại cá biến, động vật thân mềm (bạch tuộc, mực, tôm, nghêu, sò, ốc, hến, hàu ), động vật giáp xác (tôm, cua và tôm hùm), động vật da gai (nhím biển) Ngoài ra, các thực vật biển ăn được, chẳng hạn như một số loài rong

Trang 12

11

biển và vi tảo Hải sản được sử dụng làm thức ăn thông dụng trên thế giới, đặc biệt là

ở châu Á Tại Bắc Mỹ, ở Việt Nam hải sản là mặt hàng quý hiếm có giá trị kinh tế cao, một số loại sản phẩm như: Cá ngừ đại dương, cá thu, cá bò da, tôm hùm thường được

chế biến và xuất khẩu trên khắp thế giới

Khai thác thủy sản

Khai thác thủy sản là tên gọi chung cho các hoạt động săn bắt các loài thủy hải

sản ở các loại thủy vực (ngọt, lợ, mặn), bao gồm: các loài cá, giáp xác, nhuyễn thế hay còn gọi là thân mềm, động vật lưỡng cư Đã có nhiều cách đế phân loại khai thác nguồn

lợi thủy sản tự nhiên

Phân theo các loại thủy vực, thông thường có 02 loại: (1) Khai thác nguồn lợi

thủy sản nước ngọt, như: các loài thủy sản sống trong các sông, suối, ao, đầm, hồ trong đất liền và (2) khai thác biển, bao gồm các thủy sản sống ở nước mặn (biển, đại dương)

và lợ (vùng nước sát bờ, nơi giao thoa giữa nước mặn và ngọt) Phân theo phương thức khai thác, sử dụng tàu thuyền hoặc không sử dụng tàu thuyền và trong thực tế còn gọi đơn vị thuyền nghề (tàu hoặc thuyền với một loại nghề hay một vài loại nghề kiêm)

Phân loại theo đối tượng khai thác, như: lưới kéo cá, kéo tôm; câu cá song, mú, câu cá ngừ đại dương, câu mực, câu tôm ; rê cá, rê tôm, vây cá cơm

Phân loại theo nghề, phổ biến nhất gồm 6 nhóm: (1) lưới kéo; (2) lưới rê, (3) câu; (4) vây; (5) vó, mành và (6) các nghề khác, gồm: nhiều nghề và thường có quy

mô nhỏ, như các nghề cố định (đăng, đáy, lồng, bẫy), te, xiệp, chụp mực, lặn

Phân loại theo công cụ hỗ trợ dụ các loài thủy sản tập trung đế khai thác như:

sử dụng ánh sáng có các nghề: vó, mành, vây, chụp, pha xúc hoặc đặt chà rạo, sử dụng các vật liệu như tre, nứa, lá dừa để dụ các loài thủy sản đến trú ngụ, đẻ hay ấn nấp, tránh kẻ thù

Phân theo cách thức khai thác, như: Lưới kéo đơn, trong trường hợp này, đế mở

miệng lưới có thể dùng ván hoặc dùng khung hoặc dùng tăng gông, có thể kéo đến 4 lưới; lưới kéo đôi (hai tàu kéo một lưới); vây đuôi, vây mạn; rê trôi, rê tầng đáy, tầng

mặt, rê ba lóp; câu tay, câu vàng

Trang 13

12

Khai thác thủy sản nước ngọt của Việt Nam hiện cho sản lượng nhỏ, mỗi năm khai thác được khoảng trên dưới 10% tổng sản lượng khai nguồn lợi thủy sản tự nhiên của cả nước Quy mô khai thác nhỏ, đa phần do nông dân thực hiện với phương thức khai thác tự cung, tự cấp, kiếm thức ăn hàng ngày phục vụ cho gia đình, số lượng khai thác chuyên hầu như rất ít, tồn tại ở các sông lớn như Cửu Long, sông Hồng và các hồ lớn trong đó có các hồ thủy điện như Sơn La, Hòa Bình, Trị An và phương tiện hồ

trợ là các tàu thuyền (gỗ, tre, nhôm, composiz ) lắp máy có công suất trên dưới 20CV Nghề sử dụng trong khai thác thủy sản nước ngọt thường là các nghề thuộc nhóm lưới kéo, rê (lưới bén), câu, đăng, đáy, lồng, bãy Đối tượng thủy sản khai thác được chủ

yếu các loài cá nhỏ, tôm các loại

Đối với khai thác thủy sản nước mặn/lợ (biến), Việt Nam hiện sử dụng khoảng 130.000 tàu cá các loại với khoảng trên 40 loại ngư cụ khác nhau để khai thác thủy

sản, trong đó có đủ các nhóm nghề: lưới kéo, chủ yếu kéo đáy chiếm khoảng trên dưới 20%; lưới rê, trên dưới 30%; câu khoảng trên dưới 20%, các nhóm nghề còn lại, như vây, vó, mành, nghề cố định khoảng 20% Trong 130.000 tàu cá tham gia khai thác

thủy sản nước mặn/lợ, có đến 67 nghìn tàu cá lắp máy có công suất từ 20CV trở lên đên 1.000 cv, số còn lại có khoảng trên dưới 7 nghìn chiếc không lắp máy và lắp máy dưới 20CV

Khai thác thủy sản là khai thác tài nguyên sinh vật có khả năng tái tạo Các sinh vật sống dưới nước có khả năng sinh tồn, phát triển, tái tạo, diệt vong Do vậy giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản có mối quan hệ tác động lẫn nhau, khăng khít

và biện chứng Trong quá trình vận động và phát triển ngành thủy sản hai mục tiêu khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản luôn đồng hành và luôn thu hút sự quan tâm

quản lý và tuyên truyền giáo dục nhằm duy trì sự phát triển ổn định, bền vững

Như vậy, khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên biến, sông,

hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác Khái niệm khai thác thủy sản trong đề tài được hiểu là hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển

Từ khái niệm về tuyên truyền và khái niệm về thủy sản, khai thác thủy sản,

Trang 14

13

chúng ta có thể rút ra khái niệm về tuyên truyền khai thác thủy sản như sau:

Tuyên truyền khai thác thủy sản là hoạt động có mục đích của chủ thể tuyên truyền nhằm truyền bá, phổ biến, giải thích những kiến thức, đường lối, chính sách

ph áp luật của Đảng và Nhà nước về thủy sản và khai thác thủy sản đến đối tượng tuyên truyền nhằm biến các quan điểm, tư tưởng đó thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể và thúc đẩy tính tích cực hành động của đối tượng

1.2 Lực lượng tuyên truyền và phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản

loại

1.2.1.1 Khái niệm lực lượng

Lực lượng là tập họp những người, những tổ chức được sắp xếp, tổ chức lại và

nhờ cách tổ chức, sắp xếp đó mà tạo nên sức mạnh chung của tập họp người, tổ chức

đó Sức mạnh này được sử dụng vào mục đích chung của toàn lực lượng

Vì v ậy có thể hiểu: Lực lượng là tập hợp những người, tổ chức được sắp xếp,

tổ chức nhau lại tạo nên sức mạnh chung của tập hợp người, tổ chức đó nhằm sử dụng vào các hoạt động có mục đích của chủ thể

1.2.1.2 Phân loại lực lượng

Phân loại theo chức năng thì lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản gồm có

lực lượng lãnh đạo, quản lý, lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiếm tra và lực lượng tác chiến Trong đó mồi lực lượng có vai trò, chức năng và nhiệm vụ khác nhau

truyền về khai thác thủy sản nói riêng chỉ duy nhất có một lực lượng có chức năng lãnh đạo Đó là Đảng ta, bao gồm các tổ chức Đảng, các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương, cơ sở

Trong hoạt động tuyên truyền về ngành thủy sản, Ban Tuyên giáo Trung ương

là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác xây dựng các chủ trương, quan điểm và chính sách

Trang 15

14

của Đảng về lĩnh vực thủy sản, trong đó có tuyên truyền về ngành thủy sản; Hướng

dẫn, kiểm tra, định hướng nội dung tuyên truyền và bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động cho hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên, hệ thống cộng tác viên dư luận xã hội từ Trung ương đến cơ sở; Tổ chức biên soạn, phối hợp phát hành các tài liệu nội bộ phổ

biến kiến thức và giáo dục về biển đảo nói chung và nghề cá nói riêng

về công tác tuyên truyền, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản quản

lý, hành chính, các chính sách liên quan đến hoạt động tuyên truyền thủy sản; Đồng

thời ban hành các văn bản quản lý để chỉ đạo các lực lượng tham mưu, kiểm tra, giám sát, tác chiến trực tiếp về tuyên truyền khai thác thủy sản

Lực lượng quản lý về tuyên truyền khai thác thủy sản bao gồm các cơ quan, đơn vị như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Thông tin truyền thông, Tỉnh ủy, UBND các tỉnh, Thành phố, Sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh, Thành phố

lượng lãnh đạo, quản lý ở trung ương và địa phương; giúp các lực lượng lãnh đạo, quản

lý trong xây dựng và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hành chính chuyên môn nghiệp vụ; trực tiếp ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ cho các lực lượng tác chiến triển khai; tổ chức triển khai kiếm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật hiện hành, thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo của các lực lượng cấp trên

Lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra bao gồm các cơ quan, đơn vị như Cục Kiêm ngư, Vụ Khai thác thủy sản thuộc Tổng cục Thủy sản, các Bộ tư lệnh Hải quân vùng, Cảnh sát biển vùng, Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố, Hội Nghề cá Việt Nam

truyền khai thác thủy sản, triển khai các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hành chính, chuyên môn nghiệp vụ do các cơ quan nhà nước, các lực lượng cấp trên đã ban hành tới các ngư dân, các đối tượng liên quan trong hoạt động khai thác thủy sản, chịu

Trang 16

15

sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn nghiệp vụ của các lực lượng quản lý và lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiếm tra Lực lượng này tiến hành các hoạt động tuần tra, kiểm soát, tuyên truyền dưới nhiều hình thức về việc tuân thủ pháp luật, các cơ chế chính sách của nhà nước, trực tiếp hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động liên quan đến khai thác

thủy sản trên biển Trực tiếp xử lý các vi phạm theo thẩm quyền, tiếp nhận các kiến nghị, khiếu nại, đề xuất từ ngư dân và các đối tượng khác để xử lý và trình cấp có

thẩm quyền xử lý theo quy định

Lực lượng tác chiến tuyên truyền về khai thác thủy sản bao gồm các cơ quan,

tổ chức như các Chi cục Thủy sản, Chỉ cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, các Chi cục Kiêm ngư vùng, Bộ đội biên phòng cửa khẩu, các lực lượng và tàu Cảnh sát biến, các lực lượng và tàu Hải quân, Báo Nông nghiệp Việt Nam, Viện Nghiên cứu hải sản, Tạp chí Nông nghiệp & PTNT, các Báo, Đài truyền hình Trung ương và địa phương, Hội, chỉ hội nghề cá tỉnh

Phân loại theo mức độ chuyên môn hóa, lực lượng tuyên truyền khai thác thủy

sản gồm có lực lượng chuyên trách và lực lượng bán chuyên trách (không chuyên)

về tuyên truyền các hoạt động liên quan đến khai thác thủy sản, có các chức năng, nhiệm vụ như xây dựng văn bản, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về

thủy sản, trong đó có khai thác thủy sản

về nhiệm vụ, hoạt động, các lực lượng này sẽ trực tiếp xây dựng và trình cấp trên ban hành các văn bản, ấn phẩm tuyên truyền về khai thác thủy sản dưới các hình

thức nhu văn bản hành chính, kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ, sách, báo, tạp chí, tờ

r ơ i T ổ chức triển khai, hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo của nhà nước, cấp trên về tuyên truyền hoạt động khai thác thủy sản; Giám sát, kiếm tra, tiếp nhận đế xử lý các thông tin liên quan đến hoạt động tuyên truyền khai thác thủy sản; Phối hợp giữa các lực lượng liên quan trong công tác tuyên truyền

về khai thác thủy sản

Các lực lượng chuyên trách bao gồm các cơ quan, đơn vị như Tổng cục Thủy

Trang 17

16

sản, Báo Nông nghiệp Việt Nam, các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục

Thủy sản, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản các tỉnh, các Vụ, cơ quan chuyên môn thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương

+ Tong c ục Thủy sản (Vụ Khai thác thủy sản, Cục Kiêm ngư và Các chỉ cục Kiêm ngư vùng): Xây dựng văn bản, ấn phẩm tuyên truyền; tổ chức tập huấn, hướng

dẫn về khai thác thủy sản, về thực thi pháp luật; chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động

của các cơ quan cấp dưới, của ngư dân và các cơ quan chuyên môn địa phương theo ngành dọc quản lý

+ Báo Nông nghi ệp Việt Nam: Tuyên truyền thông qua các bài báo, ấn phẩm

về hoạt động nghề cá, pháp luật trong lĩnh vực khai thác thủy sản, các chính sách nghề cá ; tiếp nhận thông tin phản ánh qua kênh báo chí để đề xuất, kiến nghị các cơ quan

quản lý nhà nước chuyên trách xử lý, trả lời

+ Các S ở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các Chi cục Thủy sản, Chỉ cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản các tỉnh: tổ chức triển khai chỉ đạo của các cơ

quan chuyên trách chuyên môn cấp trên; Xây dựng văn bản, ấn phẩm tuyên truyền; Tổ

chức tập huấn, hướng dẫn về khai thác thủy sản, về thực thi pháp luật; Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan cấp dưới và các cơ quan chuyên môn địa phương theo ngành dọc quản lý

+ Các V ụ, cơ quan chuyên môn thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương (Vụ Tuyên truyền, Cục báo chí xuất bản ): Tham mưu chỉ đạo, kiếm tra, giám sát các cơ quan

báo chí xuất bản; định hướng công tác tuyên truyền thông qua việc chỉ đạo các cơ quan báo chí xuất bản, các bài báo, ấn phẩm về hoạt động nghề cá, pháp luật trong lĩnh vực khai thác thủy sản, các chính sách nghề cá ; Tiếp nhận thông tin phản ánh qua kênh báo chí để đề xuất, kiến nghị các cơ quan quản lý nhà nước chuyên trách xử lý, trả lời

các lực lượng chuyên trách trong công tác tuyên truyền hoạt động khai thác thủy sản,

lồng ghép các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thủy sản, khai thác thủy sản trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao

Trang 18

17

Lực lượng bán chuyên trách bao gồm có các cơ quan, tổ chức như Viện nghiên cứu Hải sản (thuộc Bộ Nông nghiệp & Phát trỉên nông thôn)', Tạp chí Nông nghiệp & phát triển nông thôn (thông tin về nghiên cứu, khoa học, thông tin khuyến ngư, tuyên truyền biển đảo )', Hội Nghề cá Việt Nam và các Hội, Chi hội nghề cá tỉnh, huyện, xã; Uỷ ban nhân dân các tỉnh', Các Vụ, cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Ngoại giao', Hải quân vùng, Cảnh sát biến vùng, Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố

Ngoài ra, lực lượng bán chuyên trách (không chuyên) còn là đông đảo các tầng lớp nhân dân, ngư dân, những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động khai thác

thủy sản và phối hợp tuyên truyền nghề cá trên biển

Theo phân loại tính chất nghiệp vụ, lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản

gồm có lực lượng dân sự và lực lượng an ninh, quốc phòng

nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp Các lực lượng này bao gồm cả chuyên trách và bán chuyên trách Thực hiện công tác tuyên truyền liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản, bao gồm cả lực lượng lãnh đạo, lực lượng quản lý và lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra, tác chiến trực tiếp Đóng vai trò chính trong triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về thủy sản và khai thác thủy sản

về nhiệm vụ, hoạt động, lực lượng dân sự chủ trì trong công tác tham mưu xây

dựng các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản hợp pháp; tổ chức triển khai, hướng dẫn thực hiện pháp luật và về chuyên môn nghiệp vụ khai thác

thủy sản; Tổ chức thực hiện cũng như phối hợp với các lực lượng khác trong công tác

chỉ đạo, tuần tra, kiểm soát hoạt động nghề cá trên biển; Chủ trì chỉ đạo triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho ngư dân; Kiểm tra, giám sát, xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động tàu thuyền nghề cá bất hợp pháp trong vùng biển Việt Nam;

phối hợp với các lực lượng phi dân sự trong công tác kiểm soát tàu thuyền ra vào vùng biển hoạt động nghề cá (với Bộ đội biên phòng), công tác cứu hộ cứu nạn (với Cảnh sát biến);

Trang 19

18

Lực lượng dân sự gồm có các cơ quan, đơn vị như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (trong đó có các đơn vị Tông cục Thủy sản, Báo Nông nghiệp Việt Nam, Tạp chí Nông nghiệp & Phát triên nông thôn, Viện Nghiên cứu hải sản)', UBND các tỉnh, thành pho (Văn phòng UBND, Các Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn); Ban Tuyên giáo Trung ương, các Ban Tuyên giáo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương; Bộ Ngoại giao; Hội Nghề cá Việt Nam, các Hội nghề cá tỉnh, thành phố, Chỉ

hội nghề cá huyện, xã; các báo, đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương

- Lực lượng an ninh, quốc phòng: Là các lực lượng thuộc các cơ quan phi dân

sự, tham gia công tác tuyên truyền về pháp luật, về khai thác thủy sản nhằm mục tiêu đảm bảo pháp luật và đảm bảo an ninh, quốc phòng Các lực lượng này hoạt động bán chuyên trách lực lượng này bao gồm cả lực lượng lãnh đạo, lực lượng quản lý và lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra, tác chiến trực tiếp Đóng vai trò phối hợp trong triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; không có nhiệm vụ hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về khai thác thủy sản

Các nhiệm vụ, hoạt động chủ yếu của lực lượng an ninh, quốc phòng là tham gia công tác xây dựng pháp luật liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản hợp pháp; tham gia, phối hợp trong công tác chỉ đạo, tuần tra, kiếm soát hoạt động nghề cá trên

biển, trong đó có các lực lượng trực tiếp thực hiện công tác kiểm soát tàu thuyền ra vào vùng biển hoạt động nghề cá (như Bộ đội biên phòng), công tác cứu hộ cứu nạn (như Cảnh sát biến,); tham gia phối hợp công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho ngư dân

Lực lượng an ninh, quốc phòng bao gồm các cơ quan, đơn vị như: Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Hải quân, Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng, Cảnh sát Biến Việt Nam; Các quân khu, Hải quân các vùng, Ban chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố, lực lượng Cảnh sát biển vùng

Tham gia tuyên truyền về biển đảo nói chung và khai thác thủy sản nói riêng không chỉ có lực lượng tuyên tuyền của một quốc gia mà còn có lực lượng tuyên truyền

của các quốc gia láng giềng và các nước chung lãnh hải Phân loại theo mối quan hệ

Trang 20

19

này có lực lượng trong nước và lực lượng các nước khác

trên biến nói chung và tuyên truyền khai thác thủy sản nói riêng đã đề cập ở trên

lãnh hải, lãnh thố trên biến với Việt Nam như Trung Quốc, Philipin,

Thái Lan cùng thực hiện các hoạt động về khai thác thủy sản và bảo vệ chủ quyền

biển đảo

dung, phương thức

1.2.2.1 Khái niệm phối hợp

Phối hợp hiếu theo nghĩa chung nhất là “cùng hành động hoặc hoạt động hộ trợ

lẫn nhau”, chẳng hạn như phối hợp tác chiến, phối hợp Đông y và Tây y [48, tr.759]

về ngữ nghĩa, phối hợp là “cùng hành động hoặc hoạt động hồ trợ nhau” [62, tr.786] Gần nghĩa với phối hợp, hợp tác có nghĩa cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm mục đích chung Có thể thấy, khác

với hợp tác, phối hợp nhấn mạnh đến “hành động hỗ trợ nhau” giữa các chủ thể, không

đề cập đến đối tượng, mục đích Theo nghĩa giản đơn nhất, phối hợp trong cơ quan, đơn vị là sự kết họp, gắn kết hoạt động của hai hay nhiều chủ thể trong cùng cấp cấu thành nên tổ chức bộ máy của cơ quan, đơn vị đế hỗ trợ nhau trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được phân công cho một chủ thế

Các chủ thể cùng cấp bao gồm: giữa các phó thủ trưởng cơ quan; các cơ cấu tổ chức cùng cấp, có cùng vị trí (giữa các phòng, ban với nhau hoặc giữa các phòng trực thuộc Ban ); các nhóm chuyên viên, hoặc chuyên viên trong một cơ cấu tổ chức

Trong phối hợp, chủ thể phối hợp được phân chia làm hai loại là bên chủ trì và bên phối hợp, và bao giờ trong phối hợp cũng có một bên chủ trì, trong khi đó có thể

có nhiều bên phối hợp trong cùng một vấn đề, mỗi một đơn vị tham gia phối hợp bao

giờ cũng tham gia trên một khía cạnh nhất định của vấn đề mà bên chủ trì đề nghị được phối hợp

Trong phối hợp không có việc cùng một khía cạnh của vấn đề lại có nhiều đơn

Trang 21

lợi ích chủ yếu cho bên chủ trì, còn bên phối hợp có trách nhiệm tham gia phối hợp theo yêu cầu của bên chủ trì hoặc theo chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan hoặc mệnh lệnh

của thủ trưởng cơ quan, đơn vị

Có thể nói, trong phối hợp không có sự tự nguyện và chia sẻ lợi ích Ngược lại,

phối hợp luôn được thực hiện trong khuôn khổ quy chế (quy chế làm việc, chế độ công tác của một cơ quan, đơn vị do thủ trưởng quyết định) hoặc dựa trên các mệnh lệnh hành chính của thủ trưởng cơ quan, đơn vị

Từ những luận điểm trên, xét từ khía cạnh phối hợp các lực lượng tuyên truyền thì: “phối hợp là một phương thức, một hình thức, một quy trình kết họp hoạt động của các cơ quan, tổ chức lại với nhau đe bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức này thực hiện được đầy đủ, hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, nhằm đạt được các lợi ích chung”

Có nhiều hình thức phối hợp trong một cơ quan, đơn vị: phối hợp thông qua các hình thức trao đổi thông tin như gửi văn bản xin ý kiến phổi họp; trao đối ý kiến qua điện thoại, mạng máy tính Phối hợp thông qua các cuộc họp của lãnh đạo cơ quan để

xử lý những công việc thuộc phạm vi xử lý của lãnh đạo cơ quan (tức là những việc vượt quá phạm vi thấm quyền của một tổ chức, đơn vị trực thuộc); Phối hợp thông qua một tổ chức lâm thời do Thủ trưởng cơ quan thành lập ra (Taskíorce - Tổ đặc nhiệm)

để giúp thủ trưởng cơ quan nghiên cứu, đề xuất giải quyết một vấn đề vượt quá khả năng giải quyết của một đơn vị trực thuộc; Phối hợp thông qua cách làm việc theo nhóm (Team working) trong từng tổ chức, đơn vị trực thuộc

Các cấp độ phối hợp các lực lượng, có nhiều cấp độ thực hiện sự phối hợp trong

Trang 22

21

cùng một cơ quan, đơn vị: Phối hợp giữa các phó thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc

thực hiện những mặt công tác được phân công để giúp Thủ trưởng quản lý, điều hành công việc của cơ quan; Phối hợp giữa các tổ chức, đơn vị trực thuộc trong việc thực

hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; Phối hợp giữa các chuyên viên hoặc nhóm chuyên viên trong cùng một hoặc giữa các tổ chức, đơn vị trực thuộc

1.2.2.2 Nguyên tắc phối hợp

Phối hợp các lực lượng trong tuyên truyền về khai thác thủy sản cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Một là, phối hợp giữa các lực lượng phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

và sự quản lý của Nhà nước

Phối hợp giữa các lực lượng phải được thực hiện để xác định một cách rõ ràng

những ưu tiên, những trọng tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý bảo đảm tính thống

nhất trong nội dung, các mặt hoạt động phải chịu sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý của các cấp chính quyền Phối hợp là một mặt của quá trình quản lý đối với

bất kỳ một tổ chức cơ quan, đơn vị nào Cơ quan, đơn vị dù có tính chất và ở bất cứ quy mô nào đều là một tiểu hệ thống được điều khiển bởi một quá trình lãnh đạo bao gồm các chức năng dự toán, điều tra nghiên cứu, ra quyết định, thực hiện quyết định

và tổ chức phối hợp, kiểm tra hoạt động Phối hợp chính là nhân tố gắn kết các yếu tố

cấu thành, các quy trình hoạt động của cơ quan, đơn vị

Điều hòa, phối hợp là một nội dung thuộc chức năng lãnh đạo, điều hành và

quản lý của thủ trưởng cơ quan Do vậy, cho dù phân cấp thẩm quyền đến mức độ nào cho cấp dưới, cho dù có quy định cụ thể đến mức nào đi nữa về nội dung phối hợp giữa các cơ cấu trực thuộc, thì không vì thế mà Thủ trưởng cơ quan mất đi vai trò điều phối

hoạt động giữa các cơ cấu trực thuộc trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của

cơ quan

Phối hợp tồn tại trong suốt quá trình thực hiện các nhiệm vụ của các chủ thể

phối hợp và là phương thức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ

thể trong việc tuyên truyền cho từng đối tượng cụ thể Mục tiêu cuối cùng của phối

hợp các lực lượng là tạo ra sự thống nhất, đồng thuận, đảm bảo chất lượng và hiệu quả

Trang 23

22

trong công tác tuyên truyền và phải đặt dưới sự lãnh đạo, chịu sự lãnh đạo của các cấp

ủy Đảng, sự quản lý của các cấp chính quyền trong các hoạt động phối hợp

Hai là, phối hợp phải phát huy được sức mạnh tông họp của các lực lượng tuyên truyền

Trong công tác tuyên truyền khai thác thủy sản, lực lượng được xem như yếu

tố có cấu trúc đa dạng và phong phú, được tạo bởi nhiều chủ thể hoạt động họp thành

Mỗi lực lượng có những ưu thế, đặc điểm, chức năng, phương thức tác động riêng và

hiệu quả tác động khác nhau Có lực lượng tác động trực tiếp bằng hành vi, hành động,

có lực lượng tác động gián tiếp vào lý trí, nhận thức, tình cảm; có lực lượng có thể thấy ngay được hiệu quả tác động, có lực lượng phải trải qua một thời gian nhất định mới thấy rõ Việc phối hợp giữa các lực lượng đã phát huy được ưu thế, đồng thời giảm thiểu các hạn chế của mỗi lực lượng Ưu thế của lực lượng này sẽ bù đắp cho những

hạn chế của lực lượng khác, từ đó tạo ra sức mạnh tống hợp trực tiếp tác động vào lý trí, tình cảm của đối tượng, khiến họ dễ dàng nhận thức và nhanh chóng thay đối hành

vi theo hướng tích cực và định hướng của chủ thế tuyên truyền Bởi lẽ, trong công tác

tư tưởng, ngoài việc tác động trực tiếp vào các yếu tố của cả hệ thống như nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện, môi trường xã hội khách quan, thì việc tăng cường phối hợp các lực lượng tuyên truyền nhằm tạo ra sự tác động tổng hợp và nhiều chiều đến đối tượng là hết sức quan trọng

Thực tế cho thấy, trong bất kỳ hoạt động nào cũng vậy, nếu có sự phối hợp nhịp nhàng, đều đặn và hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động thì bao giờ kết quả công việc sẽ cao hơn, hiệu suất lớn hơn Trong hoạt động tuyên truyền khai thác thủy sản cũng vậy, sự

phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và thường xuyên giữa các lực lượng góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả cho mỗi hoạt động do nhiều lực lượng tiến hành và tạo

ra sức mạnh tổng họp của các lực lượng ấy

Tuy nhiên trong quá trình phối hợp, các chủ thể phối hợp cần đề ra yêu cầu

phối hợp đồng thời khuyến khích tính tư duy độc lập và đề cao vai trò, trách nhiệm, của từng tổ chức, cá nhân trực thuộc trong công tác phối hợp các hoạt động; phân định

rõ ràng chức năng nhiệm vụ của từng chủ thể phối hợp đế từ đó sẽ phát huy được sức

Trang 24

23

mạnh của từng lực lượng, tránh bị trùng lặp hoặc chồng chéo trong quá trình phối hợp

thực hiện các hoạt động tuyên truyền nhằm phát huy được sức mạnh tổng hợp và mang lại hiệu quả cao nhất

1.2.2.3 Nội dung phối hợp - phối hợp trong công

tác lãnh đạo, chỉ đạo

Lãnh đạo, chỉ đạo trong việc phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác

thủy sản là hình thức phối hợp gắn chức năng, nhiệm vụ, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của

chủ thể, của một hoặc nhiều cơ quan, ban ngành thành một chỉnh thể thống nhất Thông qua vai trò lãnh đạo, chỉ đạo việc phối hợp, các nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức được trao đổi hoạt động và thông tin với nhau, không chỉ đơn giản hỗ trợ cho nhau trong việc thực hiện các chức năng, thẩm quyền của từng yếu tố mà quan trọng hơn là giúp cho việc thực hiện tốt các chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan phối hợp, từ đó tạo

ra sức mạnh tổng hợp của việc phối hợp hoạt động

Bên trong một cơ cấu, nếu sự phối hợp có chất lượng, hiệu quả giữa các lãnh đạo, giữa các chuyên viên với nhau thông qua những hình thức và cách thức thích họp thì không chỉ tạo dựng sự đoàn kết, đồng thuận, hỗ trợ nhau giữa các chuyên viên cùng hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, mà còn có thế phát huy dân chủ, khai thác năng lực,

sở trường của từng chuyên viên trong công tác để cùng hướng vào thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác của đơn vị mình

Thông qua việc thực hiện tốt công tác phối hợp vói bên ngoài, tức là với các cơ

cấu khác, có thể cho phép một cơ cấu tổ chức khắc phục được những phiến diện trong hoạt động chuyên môn do sự chia tách các chức năng, nhiệm vụ chung của cơ quan thành những nhóm chức năng, nhiệm vụ nhỏ để giao cho từng cơ cấu đảm nhiệm, cũng như việc thông tin cần thiết khi xử lý công việc

Từ những yêu cầu trên, các cấp ủy Đảng, bộ phận lãnh đạo các chủ thể phối

hợp cần nhận thức đúng đắn về vai trò và ý nghĩa to lớn của việc lãnh đạo, chỉ đạo các

hoạt động phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, qua đó sẽ tạo sự phối hợp chặt chẽ, đồng

bộ trong tổ chức thực hiện các nội dung phối hợp

- Ph ối hợp trong tham mưu và công tác triển khai tổ chức thực hiện + Trong

Trang 25

24

công tác tham mưu: Công tác tham mưu có vai trò quan trọng đặc biệt, giúp cho cán

bộ lãnh đạo nắm bắt được tình hình, xử lý thông tin đa chiều và định hướng thông tin

đế giúp lãnh đạo đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn Cán bộ tham mưu nắm bắt tình hình sai hoặc một chiều dẫn đến tham mưu sai thì lãnh đạo sẽ giải quyết công việc không đúng, không trúng Cho nên lực lượng làm công tác tham mưu phải nắm chắc tình hình, phải có sự phối hợp từ ý kiến đa chiều của nhiều lực lượng mới có thể tham mưu đúng, giúp lãnh đạo ban hành được các văn bản, chính sách đúng phục vụ tốt cho các hoạt động phối hợp tuyên truyền

Phối hợp trong công tác tham mưu đó là cùng nghiên cứu, cùng đánh giá, cùng bàn, cùng làm và cùng chịu trách nhiệm Các lực lượng tham mưu phải kịp thời thông báo, trao đổi cho nhau biết các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp lãnh đạo đế thống

nhất, đánh giá tình hình thuận lợi, khó khăn ở thực tiễn; trên cơ sở đó, cùng đề xuất

chủ trương, giải pháp, báo cáo cấp lãnh đạo quyết định, rồi xây dựng kế hoạch, phân công tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện Quá trình đó phải được tiến hành trên tinh thần phối hợp đoàn kết, dám chịu trách nhiệm về những quyết định đã được trao đổi, bàn bạc thống nhất Sự phối hợp như thế sẽ nhịp nhàng, ăn khớp và mang lại hiệu quả

+ Trong công tác triển khai tổ chức thực hiện: Việc triển khai, thực hiện phối

hợp các nội dung có hiệu quả không chỉ cho phép các chủ thế, tổ chức giải quyết tốt các nhiệm vụ thuộc các chức năng, thẩm quyền của mình, mà còn có thể giải quyết được những vấn đề khó khăn, phức tạp vượt quá khả năng và thẩm quyền của mình,

những vấn đề đột xuất, cấp bách, những trọng tâm, ưu tiên đòi hỏi phải huy động nhiều nguồn lực bên ngoài mới có thể giải quyết được một cách có hiệu quả Tuy nhiên, không phải lúc nào và ở đâu, công tác triển khai tổ chức thực hiện trong phối hợp cũng phát huy tác dụng tích cực Nếu phối hợp vượt quá nhu cầu cần thiết, đến mức bị lạm

dụng thì sự phối hợp tổ chức triển khai thực hiện lúc đó sẽ trở nên phản tác dụng, làm

nảy sinh những vấn đề tiêu cực trong lãnh đạo, chỉ đạo, dẫn đến việc hạn chế sự phát triên và hoàn thiện các năng lực chỉ đạo của cơ quan, tổ chức, đùn đây công việc và trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ

Trang 26

25

Thông thường đối với việc phối hợp giữa các chủ thể, các cơ chế, nội dung, phương pháp phối hợp điều chỉnh lẫn nhau, chuẩn hóa các quy trình và chuẩn hóa đầu

ra được thống nhất áp dụng

Mặt khác, nếu thẩm quyền, trách nhiệm phối hợp được quy chế hóa triển khai

thực hiện một cách quá mức, không điều chỉnh lẫn nhau, quá nhấn mạnh nhu cầu phối hợp mà không tính đến việc phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm cụ thể của từng

cơ quan, đơn vị thì khi đó phối hợp có thể bị lạm dụng, tạo ra sự áp đặt đối với cơ quan,

tổ chức có trách nhiệm phối hợp (với cơ quan, tổ chức chủ trì)

- Phổi hợp trong công tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết

Để kiểm tra, đánh giá sự phối hợp giữa các chủ thể thực hiện các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, chúng ta có thể xem xét, tùy

từng cấp độ phối hợp, có thể áp dụng các hình thức kiểm tra, đánh giá khác nhau Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa to lớn của công tác phối hợp, các cấp ủy cần thường xuyên quan tâm chỉ đạo và giám sát đối với hoạt động này Sau mỗi tháng, quý, mỗi giai đoạn, tùy theo nội dung và hình thức phối hợp cần tổ chức họp để đánh giá, tổng kết quá trình phối hợp thực hiện của các chủ thể phối hợp Việc kiểm tra, đánh giá và tổng kết phải luôn đảm bảo tính khách quan, dân chủ, không theo lối “phô trương”, “hình

thức” Các cấp ủy Đảng cần căn cứ vào kết quả tống kết, đánh giá đe có các hình thức khen, chê và từ đó đề ra những biện pháp uốn nắn kịp thời

Ngoài ra, các chủ thể, các cơ quan phối hợp cũng cần thường xuyên tổng kết, đánh giá hoạt động của cơ quan mình phối hợp với các cơ quan, đơn vị khác để cùng thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến về những nội dung thực hiện tốt và chưa tốt, những

ưu điểm và hạn chế, từ đó cùng nhau tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đạt được hiệu quả cao nhất Trong mỗi cuộc họp như vậy phải

có sự tham dự, chỉ đạo của các cơ quan chuyên môn trong công tác tuyên truyền khai thác thủy sản như Tổng cục Thủy sản (Vụ Khai thác thủy sản, Cục Kiểm ngư), các Chi

cục thủy sản, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản và Chi cục Kiểm ngư vùng, cơ quan tuyên giáo các cấp, v.v

1.2.2.4 Phương thức phổi hợp

Trang 27

26

Trong công tác tuyên truyền có nhiều phương thức phối hợp đa dạng, phong phú, tuy nhiên phối hợp tuyên truyền về khai thác thủy sản có các phương thức chủ yếu sau đây:

- Ph ổi hợp theo chiều ngang: Là sự phối hợp giữa các cơ quan, các lực lượng

tuyên truyền khai thác thủy sản ở trong cùng một cấp Đó là sự phối hợp giữa các cơ quan cấp Trung ương có mối quan hệ cùng thực hiện về một nội dung tuyên truyền nào đó về khai thác thủy sản như: Tổng cục Thủy sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Biên giới Chính phủ - Bộ Ngoại giao, Bộ

Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biến ; giữa các Chi cục thủy sản, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản các tỉnh, Chi cục Kiểm ngư vùng, ; giữa các báo, đài phát thanh, đài truyền hình cùng cấp Trung ương,

hoặc cấp tỉnh, huyện, xã, v.v

- Phối hợp theo chiều dọc: Là sự phối hợp giữa các lực lượng của một cấp nào

đó vói cấp trên và cấp dưới tương ứng Chẳng hạn trong quá trình hoạt động diễn ra sự

phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương với Ban Tuyên giáo tỉnh hoặc Ban Tuyên giáo huyện; phối hợp giữa hệ thống lực lượng chuyên trách quản lý về thủy sản theo ngành dọc ở các cơ quan ở Trung ương như Tổng cục Thủy sản (Vụ Khai thác thủy

sản, Cục Kiếm ngư) với cơ quan các tỉnh như các Chi cục Thủy sản, Chi cục Khai thác

và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Chi cục Kiểm ngư vùng, Trong sự phối hợp dọc này, ngoài việc định hướng về chuyên môn, các lực lượng này ở các cấp có sự phối hợp

chặt chẽ với nhau đe cùng triển khai các nội dung tuyên truyền về khai thác thủy sản

- Phổi hợp song phương: Là sự phối hợp giữa hai lực lượng cùng cấp hoặc

khác cấp nào đó về tuyên truyền khai thác thủy sản Các lực lượng này thường phối

hợp với nhau dựa trên việc cùng nhau xây dựng và ký kết các chương trình, quy chế phối hợp và phân rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các bên trong việc thực hiện chương trình, quy chế phối hợp đó

Chẳng hạn như sự phối hợp giữa Bộ Nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, với Bộ Ngoại giao trong việc xử lý ngư dân vi phạm, ngư dân khai thác thủy sản bị nước ngoài bắt giữ, Trong phạm vi lãnh thổ, đất nước thì sự

Trang 28

27

phối hợp song phương được thể hiện ở việc ký kết các thỏa thuận, Hiệp định, Dự án như: Thỏa thuận khai thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam - Malaixia (1992), Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ

giữa Việt Nam và Trung Quốc (ngày 25/12/2000), Dự án nghiên cứu khoa học biển

Việt Nam - Philippin, Mô hình tuần tra chung Hải quan Việt Nam - Thái Lan,

ngành khác nhau trong việc thực hiện các hoạt động về khai thác thủy sản Trong sự

phối hợp này sẽ phân rõ trong kế hoạch tổ chức thực hiện, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp thực hiện, vai trò, nhiệm vụ của từng lực lượng Đó là sự phối hợp của các

bộ, ngành liên quan như: Tổng cục Thủy sản, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Biên giới Chính phủ, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, các Chi cục thủy sản, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản các

tỉnh, Chi cục Kiểm ngư vùng, các báo, đài phát thanh và truyền hình để cùng thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền khai thác thủy sản đặt ra

phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản có nội dung, phương

thức phong phú, có tính khoa học và tính mục đích cao Đê đảm bảo việc phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân mang lại hiệu quả cao đòi hỏi

có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ và lâu dài Tùy vào mục đích, nội dung, nhiệm vụ

và đặc điểm của từng đối tượng để lựa chọn cách thức và phương pháp phối hợp sao cho phù hợp, có thể lựa chọn phối hợp ngang, phối hợp dọc, phối hợp song phương

hoặc phối hợp đa phương

Các phương thức phối hợp trên được thực hiện thông qua việc xây dựng và ký

kết các đề án, quy chế, chương trình, kế hoạch tuyên truyền cụ thể trong từng thời gian nhất định và tình hình thực tế yêu cầu

1.3 Vai trò sự phối hợp các lực lượng trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân

huy sức mạnh và tạo ra sức mạnh tổng họp của các lực lượng

Phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản là hoạt động hiệp đồng,

Trang 29

28

có kế hoạch, có mục đích của các chủ thể tư tưởng với mong muốn tạo ra sức mạnh

tống hợp từ đó phát huy ưu thế, nâng cao hiệu quả của các lực lượng Tăng cường phối hợp sẽ tạo ra sự liên tục, thường xuyên trong quá trình tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân

Đối tượng của công tác tuyên truyền khai thác thủy sản là mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội có trình độ, khả năng nhận thức và điều kiện tiếp nhận nội dung tuyên truyền thủy sản khác nhau Vì vậy, khi phối hợp nhịp nhàng, đều đặn, thường xuyên, liên tục sẽ tạo cho đối tượng đễ dàng tiếp cận và nắm bắt các nội dung Các hình thức tác động đa dạng, phong phú dễ phù hợp với khả năng tiếp nhận của từng đối tượng

Mặt khác, nội dung tuyên truyền thủy sản qua nhiều kênh tác động đến được với mọi đối tượng ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi điều kiện hoàn cảnh

Trong các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản, mỗi lực lượng đều có chức năng, nhiệm vụ gắn với tính đặc thù nhất định, trong đó bao hàm cả những ưu thế, hạn chế Đặc điếm của mỗi lực lượng the hiện qua vai trò, nhiệm vụ, hình thức, phương pháp và hiệu quả tác động tư tưởng Chức năng, cơ chế tác động của mồi lực lượng cũng không giống nhau, kéo theo hiệu quả tác động khác nhau Mặc dù đều tác động vào lĩnh vực tinh thần, trí óc của con người với mục đích làm cho người dân hiểu, nhận

thức đúng để có hành động đúng trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, mang

lại hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo phát triển bền vững ngành thủy sản và bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc Song mỗi lực lượng ở từng vai trò, nhiệm vụ khác nhau, cấp

độ khác nhau sẽ gây ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau

Với lực lượng lãnh đạo đóng vai trò định hướng vĩ mô trong công tác tuyên truyền về khai thác thủy sản và nghành thủy sản Vai trò của các lực lượng này là giúp Trung ương, Chính phủ chỉ đạo, đề ra chính sách, định hướng về tuyên truyền biển đảo

và hoạt động nghề cá trên biển; tham mưu để Chính phủ ban hành các văn bản quy

phạm pháp luật, ban hành các văn bản quản lý, hành chính liên quan đến hoạt động tuyên truyền nghề cá Các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trực tiếp tác động, ảnh hưởng đến lợi ích của ngư dân và sự phát triển của toàn ngành thủy

sản

Trang 30

29

Đối với lực lượng quản lý lại có vai trò tham mưu đế lực lượng lãnh đạo ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng các định hướng, chính sách tuyên truyền nghề cá Đồng thời ban hành các văn bản quản lý để chỉ đạo các lực lượng tham mưu, kiểm tra, giám sát, tác chiến trực tiếp về tuyên truyền khai thác thủy sản

Các lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra lại có nhiệm vụ giúp các lực lượng quản lý trong xây dựng và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hành chính chuyên môn nghiệp vụ; trực tiếp ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn

về chuyên môn nghiệp vụ cho các lực lượng tác chiến triển khai; tổ chức triển khai kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật hiện hành, thực hiện các văn bản văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo của các lực lượng lãnh đạo và lực lượng quản lý

Trong tuyên truyền biển đảo nói chung và tuyên truyền về khai thác thủy sản không thể thiếu lực lượng tác chiến, đây là lực lượng trực tiếp thực thi các hoạt động tuyên truyền khai thác thủy sản, triển khai các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hành chính, chuyên môn nghiệp vụ do các cơ quan nhà nước, các lực lượng cấp trên đã ban hành tới các ngư dân, các đối tượng liên quan trong hoạt động khai thác

thủy sản, chịu sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn nghiệp vụ của các lực lượng quản lý

và lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra Lực lượng này tiến hành các hoạt động tuần tra, kiểm soát, tuyên truyền dưới nhiều hình thức về việc tuân thủ pháp luật, các cơ chế chính sách của nhà nước, trực tiếp hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động liên quan đến khai thác thủy sản trên biển Trực tiếp xử lý các vi phạm theo thẩm quyền, tiếp nhận các kiến nghị, khiếu nại, đề xuất từ ngư dân và các đối tượng khác để xử lý và trình

cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định

Bên cạnh đó, các phương tiện truyền thông đại chúng như các báo, đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương có vai trò to lớn, với tính nhanh, nhạy, kịp thời, các loại hình này đã trực tiếp tác động vào nhận thức và nhanh chóng làm

biến đổi hành vi của ngư dân trong khai thác hiệu quả và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, góp phần xây dựng và phát triển ngành thủy sản

Từ việc đánh giá đặc điếm, chức năng, nhiệm vụ của mỗi lực lượng, có thể

khẳng định mỗi lực lượng đều có vai trò và những thế mạnh riêng Việc phối hợp chặt

Trang 31

30

chẽ giữa các lực lượng đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, nhanh nhạy và kịp thời trong hoạt động, đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với hoạt động tuyên truyền khai thác thủy sản trong mỗi giai đoạn, đặc biệt là trong tình hình biển đông đang có những diễn biến phức tạp như hiện nay

Trong thực tiễn hoạt động tuyên truyền khai thác thủy sản và tuyên truyền biển đảo cho thấy, nếu chỉ có một lực lượng tác động thì nội dung tuyên truyền không thế được truyền tải một cách có hệ thống, thường xuyên, liên tục, và kịp thời hoặc người dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nắm bắt các chủ trương, đường lối, chính sách

và các quy định pháp luật trong các hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Vì vậy, khi có sự phối hợp cùng tác chiến của các lực lượng sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, tính đồng bộ, hệ thống và linh hoạt cao, giúp cho mọi đối tượng nhanh chóng

nắm bắt nội dung tuyên tuyền về khai thác thủy sản trong tất cả các điều kiện hoàn

cảnh

hiệu quả tuyên truyền khai thác thủy sản

Phối hợp các lực lượng là giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, tình hình biển đông diễn biến phức

tạp, gây ảnh hưởng rất lớn đến tình hình chính trị - tư tưởng của cán bộ đảng viên và

quần chúng nhân dân Công tác tuyên truyền về khai thác thủy sản và biển đảo đã được chú trọng Tuy nhiên chưa thường xuyên và sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân Nhận

thức của một bộ phận ngư dân về quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển chưa cao, thiếu ý thức công dân trong việc phối hợp với các

cơ quan chức năng bảo vệ chủ quyền biển đảo, tạo điều kiện thuận lợi cho các tàu cá nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam, gây ảnh hưởng đến công tác khai thác, bảo vệ nguồn lợi hải sản và an ninh chủ quyền biển đảo Vì vậy, việc phối hợp các lực lượng thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền khai thác thủy sản đòi hỏi càng cấp thiết hơn, nhất là triển khai có hiệu quả các nội dung của Đe án tuyên truyền về biển, đảo cho cán bộ trong ngành thủy sản và ngư dân khai thác hải sản Chúng ta biết rằng

mỗi lực lượng có vai trò, nhiệm vụ và chức năng khác nhau, nếu chỉ có một lực lượng

Trang 32

31

hoặc thiếu đi các lượng lượng phối hợp thì các nhiệm vụ tuyên truyền đặt ra không mang lại hiệu quả Ngược lại nếu các lực lượng đó được phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, nhịp nhàng, phát huy được vai trò, nhiệm vụ của mỗi lực lượng sẽ đảm bảo hoạt động tuyên tuyền khai thác thủy sản mang lại chất lượng và hiệu quả cao hơn

Tiểu kết Chương 1

Phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân hiện nay

là vấn đề quan trọng, là đòi hỏi khách quan xuất phát từ thực tiễn phát triển của ngành

thủy sản và quá trình hội nhập của đời sống kinh tế - xã hội, từ diễn biến phức tạp của tình hình biển đông về tranh chấp ngư trường khai thác, về chủ quyền biển đảo và từ chính nhu cầu của ngư dân hiện nay

Phải xác định rõ các lực lượng phối hợp truyền truyền theo các tiêu chí khác nhau như

lực lượng lãnh đạo, quản lý, lực lượng tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra, lực lượng tác chiến (theo chức năng, nhiệm vụ) hay lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách (không

từng lực lượng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các chủ thể trên, tạo nên sự tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến nhận thức và hành động của ngư dân trong khai thác thủy sản

Đa dạng hoá các nội dung phối hợp, phong phú hoá các phương thức phối hợp cũng là một trong những vấn đề quan trọng để nâng cao hiệu quả tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân trên địa bàn Vịnh Bắc Bộ hiện nay

phối hợp các lực lượng tuyên truyền có nội dung phong phú, có tính khoa học

và tính mục đích cao Đe đảm bảo việc nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ và dài hạn

Tuỳ theo mục đích, nội dung, nhiệm vụ, đặc điểm đối tượng và tình hình thực tế ở địa phương để lựa chọn phương thức phối hợp sao cho phù hợp, có thể lựa chọn phối hợp

dọc, phối hợp ngang, phối hợp song phương, phối hợp đa phương

Trang 33

Vịnh Bắc Bộ là vịnh nhỏ, nằm ở phía Tây Bắc Biến Đông, phạm vi từ 17°00’N

- 21°50’N và 105°40’E - 110°00’E, có diện tích 126.250 km2 (36.000 hải lý vuông) Chiều ngang của vịnh khoảng 310km (176 hải lý), nơi hẹp nhất khoảng 220km (119

hải lý) Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi bờ biến của Việt Nam (763km) chạy dọc qua

11 tỉnh từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế về phía Trung Quốc, dài khoảng 695km, chạy dọc theo tỉnh Quảng Tây và Hải Nam Vịnh Bắc Bộ thông với biến Đông qua eo

biến Quỳnh Châu ở phía Đông Bắc, còn ở phía Nam thông với biển Đông qua cửa

vịnh, về phía Việt Nam, bờ biến khúc khuỷu, lồi lõm, có nhiều sông lớn đố ra biến như: sông Bạch Đằng, sông Lạch Tray, sông Văn úc, sông Thái Bình, sông Hồng, sông Đáy, sông Mã, sông Lam, Từ Quảng Ninh đến Vĩnh Linh có 41 cửa lạch lớn nhỏ Các vùng cửa sông là nơi chuyến tiếp sông biến và trở thành hệ sinh thái rất độc đáo

và phức tạp, nhưng giàu có về tài nguyên thiên nhiên Hàng năm vào mùa mưa, hệ

thống sông Hồng và các sông khác đã đổ vào vịnh một lượng nước ngọt lớn làm nhạt hóa toàn bộ vùng cửa sông, đồng thời cung cấp một lượng lớn nước phù sa, mang theo nguồn dinh dưỡng đáng kể cho vùng Vịnh Phía Tây và Tây Bắc có nhiều đảo và quần đảo như: Bái Tử Long, Cô Tô, Cát Bà, Hòn Mê, Hòn Ngư, Hòn Mắt với hàng nghìn đảo lớn nhỏ, tạo một cảnh quan biển đẹp, trong đó Vịnh Hạ Long, mới được công nhận

là một trong 7 kỳ quan của thế giới

về chế độ khí tượng hải văn, vùng biển chịu tác động của cả 02 loại gió mùa Đông Bắc và Tây Nam, trong đó Đông Bắc thường có cường độ mạnh, kéo dài Anh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới không lớn Do hình thế bờ biển kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam nên trong vụ Nam sóng gió nhỏ Ngược lại trong vụ Bắc, gió mùa Đông Bắc thổi vuông góc với bờ biển nên sóng to, các nghề đều khó hoạt động

Vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của hai mùa gió chính: Đông Bắc và Tây Nam; gió mùa

Trang 34

33

Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thịnh hành nhất từ tháng 12 đến tháng 1 Gió mùa Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào khoảng tháng 9, thịnh hành nhất vào tháng 7 - 8 Tháng 4 và tháng 10 là các tháng chuyển tiếp giữa các mùa gió Thời gian hoạt động tối đa của loại tàu cá lắp máy từ 90CV trở lên có thế 180 - 200 ngày/năm

Vùng biển Vịnh Bắc Bộ đặc trưng bởi các hệ sinh thái vùng triều cửa sông với các bãi bồi rộng lớn, hàng năm tiến ra biển có khi tới hàng trăm mét Có thế chia ra 3 khu vực đặc trưng:

- Khu vực 1: Từ Quảng Ninh đến Thái Bình, bờ biển chạy theo hướng Đông

Bắc - Tây Nam, có nhiều đảo và quần đảo, ít bãi ngang, nhiều cửa sông và luồng lạch, đường đắng sâu 3Om cách bờ có nơi tới 40 hải lý Phía Nam khu vực này tuy đảo ít hơn, nhưng có các cửa sông lớn thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình lại phân

bố dày

- Khu vực 2: Từ Nam Định đến Nghệ An, là vùng biển nông, ít luồng lạch, nhiều bãi ngang, chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai hệ thống gió mùa Đông Bắc và Tây Nam

- Khu vực 3: Từ Hà Tĩnh trở vào, là vùng biển sâu, độ dốc lớn, cửa sông tương đối nhiều và lắm bãi ngang, nước chảy xiết, bờ biển có nhiều núi, ảnh hưởng đến cư trú và di chuyển của cá

Vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của hai mùa gió chính: Đông Bắc và Tây Nam; gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thịnh hành nhất từ tháng 12 đến tháng 1 Gió mùa Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào khoảng tháng 9, thịnh hành nhất vào tháng 7, tháng 8 Tháng 4 và tháng 10 là các tháng chuyển tiếp giữa các mùa gió

Nhìn chung, Vịnh Bắc Bộ được coi là nơi có tầm quan trọng về giao thông cũng như tài nguyên thiên nhiên, trong đó đặc biệt là hải sản và dầu khí về hải sản, đại bộ

phận các ngư trường chính ở Vịnh Bắc Bộ là nằm ở khu vực ven bờ và xung quanh đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam Theo cấu trúc địa chất, đáy Vịnh Bắc Bộ là nơi có triển vọng dầu khí, đặc biệt là khí, nhưng trữ lượng và phân bố chưa được xác minh

Trang 35

34

cụ thể Khu vực giữa vịnh và cửa vịnh có bồn trũng Sông Hồng có triển vọng chứa nhiều khí

Vịnh Bắc Bộ có ý nghĩa quan trọng về an ninh, quốc phòng, kinh tế đối với cả

Việt Nam và Trung Quốc Riêng với Việt Nam, vịnh có ý nghĩa chiến lược mang tính toàn cục

Bắc Bộ

2.1.2.1 Đặc điếm các lực lượng truyên truyền

Lực lượng tuyên truyền về biển đảo nói chung và tuyên truyền khai thác thủy

sản trên Vịnh Bắc Bộ nói riêng là những cán bộ làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc bộ, ban, ngành liên quan từ Trung ương đến địa phương

Hầu hết lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản là những cán bộ, đảng viên có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có tri thức, trình độ chuyên môn, am hiểu

về đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; hiểu về vị trí, vai trò,

tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc; hiểu về các quan điểm, chủ trương của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước ta về biển, đảo; có kinh nghiệm thực tiễn, năng động, tự chủ

và sáng tạo trong phối hợp hoạt động Sự năng động, tự chủ, sáng tạo của cán bộ, đảng viên được thể hiện ở tính cách, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Họ là những người có bản lĩnh chính trị và sự nhạy cảm về chính trị khá tốt Trong các hoạt động

phối hợp, họ rất nhạy bén trước những vấn đề chính trị, luôn có ý thức cảnh giác đối với những âm mưu thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, có ý thức giác ngộ cách mạng cao, trung thành với lý tưởng cách mạng, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Bên cạnh đó, họ còn có tư duy kinh tế nhanh nhạy, nắm bắt kịp thời, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, năng động, sáng

tạo trong mọi hoạt động, luôn có ý thức giáo dục, động viên hướng dẫn quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở địa phương cơ sở

Tuy nhiên, lực lượng tuyên truyền về khai thác thủy sản hiện nay còn mỏng,

vừa thiếu, vừa yếu, nhiều cán bộ làm việc chưa đúng với chuyên ngành, thiếu cán bộ

Trang 36

35

chuyên trách, hiểu sâu về ngành thủy sản mà chủ yếu là các cán bộ kiêm nhiệm hoặc được thuyên chuyển Chính vì thế kỳ năng về chuyên ngành cũng như năng lực phối hợp của cán bộ chưa cao, chưa thường xuyên và có nơi chưa được quan tâm đúng mức

Bên cạnh đó, một số ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo trình độ lý luận chính trị, chuyên môn còn hạn chế, việc thực

hiện công việc thường là dựa vào kinh nghiệm bản thân Do trình độ, nhận thức còn

hạn chế nên đứng trước những thời cơ thách thức lớn còn rất bỡ ngỡ, tư tưởng hay dao động, giảm sút ý chí chiến đấu, bàng quan trước thời cuộc, ngại đấu tranh chống những

biểu hiện sai trái, âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, tinh thần trách nhiệm đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền chưa cao, thiếu mạnh dạn, còn nể nang, thậm chí còn có tâm trạng băn khoăn, lo lắng vào tiền đồ của chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh đạo của Đảng

Một số ít cán bộ thiếu tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống, chạy theo kinh tế đơn thuần, bỏ sinh hoạt, bỏ công tác Một bộ phận còn thờ ơ với chính trị, bảo thủ, suy nghĩ giản đơn với tình hình hiện nay, chạy theo lối sống thực dụng, mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu và tình hình phức tạp của biển đông, của các thế lực thù địch, tư tưởng vọng ngoại, sùng bái chủ nghĩa tư bản, biểu hiện cụ thể là kết sui, kết hôn với

việt kiều và người nước ngoài vì mục đích vật chất, sùng bái hàng ngoại.v v

2.1.2.2 Đặc đỉêm ngư dân

Xuất phát từ những đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa -

xã hội và hoàn cảnh sống, ngư dân vùng Vịnh Bắc Bộ có những đặc điểm sau đây:

Đa phần ngư dân sống ở miền biển có đặc tính và phẩm chất đáng quý như yêu nước, thật thà, đoàn kết, nhân hậu, giàu lòng nhân ái của con người Việt Nam Thể

hiện trước hết là tình cảm anh em thân tộc, tình làng xóm láng giềng luôn bảo ban, đùm bọc lẫn nhau; tâm lý quý khách, trọng nghĩa tình, trọng học vấn Cung cách ứng

xử bộc trực, thẳng thắn, chí tình, không chịu khuất phục trước bất kỳ sự đàn áp bất công nào, tinh thần luôn xả thân bảo vệ người thân và lẽ phải, bảo vệ to quốc Ngư dân

Vịnh Bắc Bộ luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thể hiện được tính tích cực, năng động trong lao động sản xuất,

Trang 37

36

thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào hành động cách mạng, giữ gìn và bảo vệ các giá trị truyền thống văn hóa, hướng tới những hành vi chuẩn mực đạo đức và lối sống văn minh, tiến bộ

Hầu như, ngư dân sống chủ yếu bằng nghề khai thác thuỷ hải sản, trình độ học vấn thấp, chủ yếu khai thác gần bờ, khai thác bằng kinh nghiệm là chính, ít được đào

tạo bài bản; khó tiếp cận và chuyến đối sang nghề khác; thiếu đất sản xuất; Ngư dân khai thác hải sản thường cư trú ở vùng tách biệt và khó khăn, thường xuyên phải đối mặt với môi trường dễ bị tốn thương với nhiều rủi ro, nguy hiểm Họ là đối tượng nghèo, sống chủ yếu dựa vào nguồn lợi tự nhiên; khó khăn trong việc mua sắm tàu thuyền, ngư cụ khai thác do vốn đầu tư lớn, họ khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước

Ngư dân vùng biển Vịnh Bắc Bộ tham gia hoạt động khai thác hải sản tập trung

ở độ tuổi từ 31 - 50 tuổi, chiếm 66,4%; độ tuổi dưới 18 tuổi chiếm 1,3% và độ tuổi trên 60 chỉ chiếm 0,4% Trong tổng số 114.098 ngư dân (năm 2015), tỷ lệ ngư dân không biết chữ chiếm 2,7%; ngư dân có trình độ sơ cấp trở lên chiếm 5% Ngư dân thuộc nhóm tàu có công suất dưới 20CV có tỷ lệ không biết chữ cao nhất, ngư dân thuộc nhóm tàu có công suất trên 90CV được đánh giá là tốt hơn Hoạt động khai thác

của ngư dân chủ yếu theo kinh nghiệm “cha truyền, con nối”, hạn chế trong ứng dụng công nghệ hiện đại; tỷ lệ ngư dân được qua đào tạo chuyên môn chỉ chiếm khoảng 29,7%

Chỉ có 26,6% ngư dân có điều kiện đầu tư mua sắm, sở hữu tàu thuyền khai thác Trong tổng số 43.830 tàu thuyền của toàn Vịnh Bắc Bộ (năm 2015), số tàu có công suất từ 90CV trở lên chỉ chiếm 12,6% Phần lớn tàu thuyền của ngư dân có chất lượng kém, chủ yếu sử dụng máy cũ; các trang thiết bị phục vụ cho khai thác và an toàn hàng hải còn rất thiếu, đặc biệt là với tàu khai thác gần bờ; khoảng 90% tàu thuyền được đóng không có thiết kế; 61,1% tàu vỏ gỗ, còn lại là tàu vỏ nan, nhựa, khả năng chịu sóng gió trên biến rất hạn chế

Theo kết quả nghiên cứu, chỉ có 26,6% ngư dân có điều kiện mua sắm tàu thuyền, còn lại là đi làm thuê Tùy theo sức khỏe, trình độ mà ngư dân đi làm thuê

Trang 38

37

được các chủ tàu xa bờ hay gần bờ thuê mướn Tùy theo là tàu xa bờ hay gần bờ mà các chủ tàu có cách thức tổ chức hoạt động khai thác khác nhau Với chủ tàu xa bờ, thông thường họ đều phải đi thuê lao động, thậm chí có một số trường hợp chủ tàu giao cả tàu cho thuyền trưởng chủ động tổ chức khai thác Đối với chủ tàu gần bờ, nhất

là với tàu dưới 20 cv, hầu hết đều tận dụng lao động gia đình là chính, chỉ với các chủ tàu từ 50 - dưới 90 cv, các chủ tàu mới thuê thêm lao động Có đến 73,4% ngư dân lựa

chọn chiến lược khai thác ven bờ, chỉ có 26,6% ngư dân lựa chọn khai thác xa bờ Lý

do phần lớn ngư dân lựa chọn khai thác gần bờ chủ yếu là ngư dân thiếu vốn đầu tư,

hoặc do sức khỏe, kinh nghiệm khai thác yếu

2.2 phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân Vịnh Bắc Bộ hiện nay: Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân

2.2.1.1 Những thành tựu đạt được

Trong những năm qua, việc phối hợp các lực lượng tuyên truyền về khai thác

thủy sản cho ngư dân trên Vịnh Bắc Bộ đã được những thành tựu bước đầu, kết quả đạt được biểu hiện trên các mặt sau:

* về nội dung phối hợp

Thứ nhất: công tác phối hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng truyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân được quan tâm chỉ đạo thường xuyên và được thực hiện tập trung, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở

Qua thực tiễn hoạt động phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân trên Vịnh Bắc Bộ, các cấp ủy Đảng, bộ phận lãnh đạo các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và đặc biệt là đội ngũ cán

bộ làm công tác tuyên truyền, phối hợp làm công tác tuyên truyền về thủy sản đã có nhận thức đúng đắn về vai trò và ý nghĩa to lớn của việc phối hợp hoạt động giữa các

cơ quan, tổ chức trong hoạt động tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân Trước đây, nhận thức của một số cấp ủy Đảng, chính quyền chưa nhận thấy hoặc chưa thực

sự thấy rõ khả năng tạo ra sức mạnh tổng họp của việc phối hợp hoạt động, nên chưa

thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, công tác này còn giao khoán cho các

Trang 39

Khác với trước đây, do chưa thấy hết vai trò, ý nghĩa quan trọng của việc phối

kết hợp trong hoạt động tuyên truyền, cho nên việc phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân chỉ được thực hiện “rải rác” từng đơn vị, từng cấp,

từng ngành theo kiểu “việc ai nấy làm”, và thiếu sự đồng bộ, nhất quán, thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, hiệu quả Đến nay, trong quá trình tổ chức thực hiện

đã có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, tổ chức, tất cả các kế hoạch, nội dung chương trình, quy chế phối hợp hoạt động đều có sự giám sát, chỉ đạo chặt chẽ của các

cấp ủy cơ quan, đơn vị

Do nhận thức đúng tầm quan trọng của việc phối hợp hoạt động và giá trị của

nó trong việc phối hợp các lực lượng tuyên truyền khai thác thủy sản cho ngư dân, nên trong quá trình phối hợp tổ chức thực hiện đã khắc phục được một phần tình trạng

“khoán trắng” hoạt động này cho chủ thể phối hợp là Ban Tuyên giáo các cấp và một

số cơ quan, đơn vị chuyên ngành về thủy sản

Trong những năm gần đây tình hình biển đông với nhiều diễn biến phức tạp, công tác phối hợp tuyên truyền về khai thác thủy sản, về nghề cá, về chủ quyền biển đảo tổ quốc không còn là nhiệm vụ của mỗi một cơ quan, hay một tổ chức, cá nhân

mà được xem là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi cán bộ, đảng viên và đặc

biệt là của cả hệ thống chính trị, của các cơ quan, các cơ sở giáo dục và đào tạo, các

cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình, văn hóa, văn nghệ,

Điều dễ nhận thấy nhất là sự chủ động phối hợp cùng thực hiện nhiệm vụ chung,

từ chỗ trong hoạt động còn có sự “đùn đẩy”, “né tránh”, đến nay các đề án, quy chế, các chương trình, kế hoạch đã được phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ, ngành liên quan

từ Trung ương đến địa phương để cùng xây dựng và thực hiện đồng bộ, quy cũ hơn Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị căn cứ vào nội dung phối hợp cần triển khai, nhiệm vụ

Trang 40

39

đặt ra ở cơ quan, đơn vị mình đã chủ động đề xuất, phối hợp cùng các cơ quan, đơn vị khác nhanh chóng thực hiện, đảm bảo chất lượng và hiệu quả nội dung, chương trình phối hợp Mọi hoạt động được diễn ra mang tính tự giác, phát huy tinh thần trách nhiệm và nhiệm vụ đã được phân công

Thứ hai: công tác tham mưu và tổ chức triển khai thực hiện các đề án, quy chế, chương trình, kế hoạch tuyên truyền được phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, nhịp nhàng, phù hợp với đặc đỉêm của đối tượng và tình hình thực tế ở từng địa phương

Xác định được công tác phối phợp tuyên truyền, tập huấn cho ngư dân khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên các vùng biển là nhiệm vụ chính trị hết sức quan

trọng, liên quan đến hàng triệu ngư dân thường xuyên sản xuất trên biến, Tổng cục thủy sản cùng các cơ quan, ban, ngành liên quan đã khấn trương tham mưu, xây dựng

đề án đế thực hiện Ngày 16/8/2011, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 1866/QĐ-BNN-TCTS về việc phê duyệt đề án thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền biển đảo trong lĩnh vực thủy sản giai đoạn 2010 - 2015 Qua 4 năm triển khai thực hiện, Tổng cục Thủy sản đã chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan như: Bộ Tư lệnh bộ đội Biên phòng, Cục Cảnh sát biển, Cục Cảnh sát đường thủy, Ban Tuyên giáo Trung ương, ủy ban Biên giới quốc gia - Bộ Ngoại giao, Đài tiếng nói Việt Nam, Tạp chí Thủy sản, Tạp chí Biển Việt Nam và các địa phương triển khai tổ chức thực hiện tuyên truyền, tập huấn cho ngư dân với nhiều nội dung như sau:

Thủy sản đã chủ trì phối hợp với các cơ quan, ban nghành liên quan tham mưu, xây

dựng, trình Chính phủ ban hành các văn bản, chính sách đê làm cơ sở thực hiện và tổ

chức tuyên truyền, phổ biến cho ngư dân như Quyết định 1690/QĐ-TTg ngày 16/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển ngành Thủy sản Việt nam đến năm 2020; Quyết định số 1445/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 về phê duyệt quy

hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020 tầm nhìn đến 2030; Quyết định 2760 phê duyệt đề án tài cơ cấu ngành thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; Nghị định số 32/2010-NĐ-CP ngày 30/3/2010 của Chính phủ về việc

Ngày đăng: 24/05/2017, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w