1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật việt nam

102 353 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như luận văn cao học luật với đề tài “Đương sự trong vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Triều Dương bảo vệ tại

Trang 1

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀM THỊ HOA

QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN

SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016

Trang 2

ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀM THỊ HOA

QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS BÙI THỊ HUYỀN

Hà Nội – 2016

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất

cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đàm Thị Hoa

Trang 4

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 5

1.1 Khái niệm, ý nghĩa của quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự 7

1.1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định pháp luật về quyền tự do khởi

1.2 Lược sử các quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể 241.3.1 Quy định của pháp luật – yếu tố ảnh hưởng có tính chất quyết định quyền tự

1.3.2 Nhận thức của chủ thể - yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thực hiện quyền

1.3.3 Trách nhiệm của Toà án, cơ quan trực tiếp thụ lý giải quyết các vụ án – yếu

tố ảnh hưởng tích cực đến thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể 281.3.4 Hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác – yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể 29

2.1 Các quy định của pháp luật nội dung về quyền tự do khởi kiện 32

Trang 6

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự 753.1.1 Về kết quả đạt được trong việc thực hiện các quy định về quyền tự do khởi

3.1.2 Về những bất cập, vướng mắc nảy sinh trong việc thực hiện các quy định

về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam 763.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tự do khởi kiện vụ án

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là một trong những quyền dân sự cơ bản, một quyền năng mà pháp luật thừa nhận đối với các chủ thể trong giao lưu dân sự Hiến pháp năm 2013 được kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 28/11/2013 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014 Một trong các bước tiến quan trọng của Hiến pháp năm 2013 là đề cao nhân quyền như tổng hoà quyền con người và quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm

2013, cùng với chuyên ngành pháp luật khác, pháp luật dân sự, cụ thể Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật dân sự sửa đổi năm 2015 với tư cách là luật chung, là cơ sở để luật chuyên ngành xây dựng và thực hiện, hai bộ luật này có hiệu lực thi hành toàn bộ bắt đầu từ ngày 01/01/2017 đã đặc biệt đề cao quyền con người, quyền dân sự trong đó quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự của chủ thể pháp luật được thể hiện khá rõ nét

Có thể nói, sau hơn 10 năm Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 và Bộ luật Dân sự 2005

và một số luật chuyên ngành khác có hiệu lực thi hành, các quy định về quyền tự do khởi kiện đã bộc lộ những hạn chế nhất định, quyền khởi kiện của chủ thể chưa được đảm bảo triệt để do quy định của pháp luật tố tụng còn chung chung hoặc do thiếu vắng các quy định của luật nội dung nên các cơ quan tài phán chưa làm hết trách nhiệm của mình dẫn đến quyền dân sự của chủ thể chưa đảm bảo triệt để Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và cơ bản sẽ khắc phục được phần lớn những khiếm khuyết của Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Tố tụng dân sự

2004, đề cao quyền tự do khởi kiện của các chủ thể, trách nhiệm của cơ quan tài phán trong xử lý vụ việc, tranh chấp dân sự Tuy nhiên những quy định về quyền tự do khởi kiện của chủ thể pháp luật dân sự trong pháp luật dân sự hiện nay, cụ thể là trong Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực một phần vào ngày 01/7/2016 và hiệu lực toàn bộ vào ngày 01/01/2017 và một số luật chuyên ngành khác như Luật Doanh nghiệp, Luật hôn nhân

và gia đình, luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em chưa thực sự đảm bảo trọn vẹn cho việc thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể trong giao lưu dân sự? Nội dung Bộ luật

Trang 8

2

Dân sự, với các văn bản luật chuyên ngành và Bộ luật Tố tụng dân sự có đảm bảo sự thống nhất hay vẫn còn những quy định về quyền tự do khởi kiện còn chồng chéo? Chính từ thực trạng đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và đầy đủ về chế định Quyền tự do khởi kiện trong pháp luật dân sự Việt Nam nhằm góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật dân sự, đảm bảo quyền tự do khởi kiện của chủ thể mỗi khi quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm Với những lý

do đó, việc nghiên cứu đề tài " Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam" có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là một đề tài thu hút khá nhiều sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu vì nó có tính ứng dụng trong thực tiễn đời sống

xã hội Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như luận văn cao học luật với đề tài

“Đương sự trong vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Triều Dương (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005); luận văn “Thụ lý vụ

án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Liễu Thị Hạnh (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009); luận văn “ Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004” của tác giả Nguyễn Thị Hương ( bảo vệ tại Khoa Luật Trường Đại học quốc gia Hà Nội năm 2011) hay luận văn “ Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thu Hiền ( bảo vệ tại khoa Luật trường Đại học quốc gia Hà Nội năm 2012) Tuy nhiên các công trình này cũng chỉ đề cập đến một nội dung cụ thể nào đó của quyền khởi kiện hoặc nghiên cứu một cách gián tiếp về quyền khởi kiện của đương

sự và chỉ nghiên cứu tập trung vào các quy định của luật tố tụng dân sự ( luật hình thức) mà không đi sâu nghiên cứu quyền tự do khởi kiện dưới góc độ luật nội dung và

tố tụng, các đề tài trên đều nghiên cứu trên cơ sở quy định BLTTDS năm 2004, BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 Ngoài ra, cũng có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về một nội dung nào đó của quyền khởi kiện hoặc bình luận về các vụ việc cụ thể liên quan đến quyền khởi kiện Chẳng hạn như bài viết “Vấn đề khởi kiện

và thụ lý vụ án dân sự” của ThS Lê Thị Bích Lan đăng tải trên Tạp chí Luật học của

Trang 9

3

Trường Đại học Luật Hà Nội (Số Đặc san về Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005); bài viết

“Xây dựng quy định pháp lý đảm bảo quyền khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh tại toà án” của tác giả Lê Thế Phúc (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6 năm 2007); “Bàn về điều kiện khởi kiện của các tổ chức tín dụng có tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay” của tác giả Trịnh Huy Tân (Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao số 9/2008); “Về việc rút đơn khởi kiện của đương sự trong tố tụng dân sự” của ThS Nguyễn Triều Dương (Tạp chí Toà án nhân dân số tháng 11/2009); “Về điều kiện khởi kiện tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án trong một vụ

án cụ thể” của tác giả Ngô Đình Quyến (Tạp chí Toà án nhân dân số tháng 3/2008);

"Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia tố tụng” của tác giả Trần Anh Tuấn (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 23/2008), “Thời hạn giao nộp chứng cứ của đương

sự và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Bùi Thị Huyền ( Tạp chí Kiểm sát số 10/2016)

Các công trình nghiên cứu nhìn nhận, giải quyết vấn đề quyền khởi kiện ở một góc độ khác nhau và chủ yếu tập trung nghiên cứu trên cơ sở Luật tố tụng dân sự ( luật hình thức) mà chưa có công trình nghiên cứu nào toàn diện, chuyên sâu cả về Luật nội dung đến Luật hình thức về chế định quyền khởi kiện, đặc biệt hiện nay khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành, nội dung đặc biệt đề cao quyền con người, đòi hỏi các ngành luật phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, thống nhất với các quy định trong Hiến pháp Pháp luật dân sự không phải là một ngoại lệ, đặc biệt là Bộ luật Tố tụng dân sự,

Bộ luật dân sự 2015 đã được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015 và sẽ có hiệu lực thi hành toàn bộ kể từ ngày 01/01/2017 và nhiều luật chuyên ngành khác cũng đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành như Luật hôn nhân và gia đình Trước tình

hình đó, tôi đã chọn đề tài "Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ của mình Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu,

toàn diện và có hệ thống về quyền khởi kiện vụ án dân sự của chủ thể trong pháp luật dân sự

Trang 10

4

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài

* Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp lý, chưa thống nhất trong các quy định hiện hành của pháp luật về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng nhằm làm sáng rõ phạm vi quyền tự do khởi kiện của chủ thể khởi kiện, trách nhiệm cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do khởi kiện của chủ thể Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do khởi kiện vụ

án dân sự nhằm đảm bảo quy định thống nhất quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự của

cá nhân, cơ quan, tổ chức khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại theo quy định của pháp luật Việt Nam

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tự do khởi kiện vụ

án dân sự, phạm vi quyền khởi kiện và thực thi quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Toà

án Từ đó chỉ ra những điểm bất cập, thiếu hợp lý, chưa thông nhất trong các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tự do khởi kiện Vụ án dân sự;

- Đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền

tự do khởi kiện Vụ án dân sự

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là quyền tự do khởi kiện Vụ án dân sự của chủ thể và trách nhiệm của Tòa án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể trong thực thi giải quyết nội dung khởi kiện Vụ án dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức dưới góc nhìn lý luận, luật thực định và thực tiễn Do vậy, việc nghiên cứu đề tài

sẽ được giới hạn trong phạm vi sau đây:

Trang 11

2004 và BLDS 2005 sắp hết hết hiệu lực thi hành trong khi BLTTDS và BLDS 2015

đã được Quốc hội thông qua và đã có hiệu lực hoặc có hiệu lực một phần Do vậy luận văn sẽ đi sâu phân tích , đánh giá khoa học, có sự so sánh giữa các quy định của luật cũ

và mới, trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành luật BLDS 2005 và BLTTDS năm 2004

để tìm ra những điểm bất cập trong quy định của BLDS và BLTTDS năm 2015 Vấn

đề thực thi quyền khởi kiện đang áp dụng thông qua các hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án theo BLTTDS năm 2004 và BLDS năm 2005 và những ngành luật chuyên ngành khác, đề xuất giải pháp kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề tài trên, tác giả tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của

đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê v.v

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về quyền tự do khởi kiện trong đó tập trung nghiên cứu nội dung quyền tự do khởi kiện, chủ thể thực hiện quyền khởi kiện và chủ thể trực tiếp giải quyết nội dung khởi kiện theo pháp luật dân sự Việt Nam Với việc nghiên cứu quyền khởi kiện một cách có hệ thống và toàn diện cả về lý luận, luật thực định và thực tiễn thực hiện lần đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về các quy định của pháp luật quyền khởi kiện ở cả luật hình thức và luật nội dung nhằm chỉ

Trang 12

6

ra thực trạng thực thi quyền khởi kiện cũng như những bất cập, vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền khởi kiện trong pháp luật dân sự, nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền tự

do khởi kiện trên thực tế Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, nếu luận văn được bảo vệ thành công thì sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho cơ quan tư pháp trong thực thi Bộ luật Tố tụng dân sự , Bộ luật dân sự năm 2015 và một số luật chuyên ngành

6 Địa điểm nghiên cứu:

Luận văn được giới hạn phạm vi nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cầu bởi 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

Chương 2: Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành Chương 3: Thực tiễn thực thi quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Trang 13

7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, ý nghĩa của quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

1.1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự

“ Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự „ [3, tr 230] Thống nhất với quan điểm trên, theo TS Hoàng Ngọc Thỉnh

thì “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể…Việc

thực hiện quyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện vụ án dân sự” và “Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tố chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác ”[4, tr238]. Khởi kiện trước hết

là quyền dân sự của các chủ thể, là phương thức mà các chủ thể yêu cầu toà án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nứớc hoặc người khác Quyền dân sự này được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện nó được thể hiện bằng việc toà án xem xét, thụ lý

và giải quyết

Khi Nhà nước ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được ghi nhận bằng pháp luật của Nhà nước và bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập Theo đó, quyền khởi kiện của cơ quan tổ chức, cá nhân đã được pháp luật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy định bảo

vệ quyền, lợi hợp pháp của mình

Trong cổ luật La Mã, đã có những quy định đầu tiên về quyền khởi kiện của công dân La Mã Theo đó khi có hành vi xâm phạm quyền tư pháp của cá nhân thì người có quyền lợi bị xâm phạm bên cạnh việc sử dụng hình thức tự trấn áp, họ còn có quyền khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình Người bị vi phạm có thực

Trang 14

Theo các nhà nghiên cứu về tố tụng của Pháp thì “tố quyền” là khả năng được thừa nhận đối với cá nhân được yêu cầu sự can thiệp của công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của mình Theo từ điển thuật ngữ luật học của Pháp thì tố quyền trước công lý là khả năng được thừa nhận đối với các chủ thể được cầu viện tới công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng Theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự mới của Pháp thì thuật ngữ “action” – “tố quyền” được dịch là quyền tham gia tố tụng theo đó “quyền tham gia tố tụng đối với người có yêu cầu là quyền được trình bày về nội dung yêu cầu của mình để Thẩm phán quyết định xem xét yêu cầu như vậy là có căn cứ hay không có căn cứ; đối với bên bị kiện quyền tham gia tố tụng là quyền được tranh luận về căn cứ của yêu cầu do bên kia đưa ra”[4, tr23]

Ở Việt Nam, về phương diện lý luận thì nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh cho rằng

“tố quyền tức là có quyền đi kiện”[6, tr23] TS Hoàng Ngọc Thỉnh đã khẳng định trong Giáo trình Luật tố tụng dân của trường Đại học Luật Hà Nội 1994 rằng “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của tập thể của Nhà nước hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm”[7, tr109-110] Khái niệm này dường như không đề cập tới các việc không có tranh chấp nhưng nghiên cứu về khái niệm vụ án dân sự trong Giáo trình này” [7,tr6-7], Điều 1 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 và thực tiễn tố tụng tại Toà án thì có thể khẳng định trong khái niệm trên quyền khởi kiện được thực hiện đối với cả các việc dân sự không có tranh chấp

Trang 15

9

Trong lịch sử pháp lý nước ta, có thời kỳ khái niệm quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa rất rộng và đồng nhất với quyền yêu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo BLTTDS hiện nay Theo đó, quyền khởi kiện được hiểu là khả năng Nhà nước cho phép công dân được yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi cho rằng quyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Tuy nhiên, trên cơ sở kế thừa BLTTDS 2004, BLTTDS năm 2015 đã tách thủ tục giải quyết vụ án dân sự trước đây thành hai thủ tục tố tụng riêng biệt là thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự nên khái niệm quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa hẹp hơn trước đây, quyền khởi kiện vụ án dân sự không còn bao hàm cả quyền yêu cầu xem xét về việc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý hoặc các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động như trước đây nữa mà quyền khởi kiện vụ án dân sự được hiểu là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp trong vụ án dân sự TheoTS Phan Chí Hiếu thì: “quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của

cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc bị vi phạm” [7, tr305] Như vậy, quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi quyền hạn của mình yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực cơ quan, tổ chức của mình phụ trách khi quyền, lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc có tranh chấp Các phân tích ở trên cho thấy rằng xét về bản chất thì quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm

Theo những kết quả nghiên cứu trên thì bản chất của quyền khởi kiện vụ án dân

sự là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm Ở đây cần phân biệt khái niệm vụ án dân sự và việc dân sự

Trước khi BLTTDS 2004 được ban hành đã tồn tại ba khái niệm vụ án dân sự, vụ

án kinh tế và vụ án lao động Khái niệm vụ án dân sự không bao gồm các tranh chấp phát sinh từ quan hệ lao động, kinh doanh, thương mại, Vụ án dân sự chỉ bao gồm

Trang 16

10

những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình như: tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những việc tranh chấp khác; việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết mà được tòa án thụ lý giải quyết

BLTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2015 đều không đưa ra khái niệm về vụ án dân sự mà chỉ liệt kê những loại việc nào được xác định là vụ án dân sự, loại việc nào

được xác định là yêu cầu dân sự, cụ thể tại điều 1 BLTTDS năm 2015 quy định “Bộ

luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án;”

Như vậy, có thể hiểu, Vụ án dân sự là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan,

tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nội dung khởi kiện vụ án dân

sự mà không nghiên cứu về yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự

Chủ thể của quyền khởi kiện là ai? Hay ai là người có thể thực hiện quyền khởi kiện? Có 2 quan điểm khác nhau về chủ thể của quyền khởi kiện

Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ

quyền lợi của nguyên đơn Điều 68 khoản 2 BLTTDS năm 2015 quy định:

“ Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ

án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm

Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa

án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng

là nguyên đơn.”

Trang 17

11

Quyền khởi kiện của nguyên đơn là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của chủ thể có quyền lợi hợp pháp bị tranh chấp hay bị vi phạm và việc thực hiện quyền này sẽ làm phát sinh vụ án dân sự tại Toà án Xét về thực chất thì đây là quyền của chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm trong việc bắt đầu việc kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, thông qua việc đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vụ án dân sự Đó là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng thuộc lĩnh vực mình phụ trách Chính việc khởi kiện của của nguyên đơn là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, không có hành vi khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự thì không

có quá trình tố tụng tiếp theo Như vậy, việc xác định quyền khởi kiện của nguyên đơn

có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách của các đương sự khi họ tham gia tố tụng tại Tòa án

Quan điểm thứ hai cho rằng quyền khởi kiện là ngoài quyền yêu cầu Toà án bảo

vệ quyền lợi của nguyên đơn còn quyền phản tố (kiện ngược lại) của bị đơn và quyền yêu cầu độc lập Toà án bảo vệ quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do

họ đã không thực hiện quyền yêu cầu của mình trước khi nguyên đơn khởi kiện vụ án Nguyên đơn có quyền khởi kiện và bị đơn có quyền phản bác việc khởi kiện của nguyên đơn Bên cạnh đó, quyền phản tố của bị đơn cũng cần được pháp luật ghi nhận Điều này xuất phát từ sự bình đẳng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Trong những vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp có mối liên quan đến nhau thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có yêu cầu độc lập và yêu cầu này có thể được Toà án xem xét giải quyết trong cùng vụ án với yêu cầu của nguyên đơn và người có yêu cầu độc lập khi thoả mãn những điều kiện nhất định Thực chất của phản tố là một việc kiện ngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn và người có yêu cầu độc lập nhưng được xét cùng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có liên quan chặt chẽ với nhau Như vậy, xét theo nghĩa rộng về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện thì có thể xem quyền phản tố cũng là quyền khởi kiện nhưng là quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn và người có yêu cầu độc lập do các yêu cầu này có mối liên hệ nhất định

Trang 18

12

Cũng theo góc nhìn về sự bình đẳng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có quyền đưa ra yêu cầu độc lập của mình trong vụ án đã được thiết lập giữa nguyên đơn

và bị đơn Yêu cầu tố tụng này có thể chống nguyên đơn, bị đơn hoặc chống cả nguyên đơn và bị đơn Bản chất của yêu cầu độc lập này là một yêu cầu tố tụng của người thứ

ba nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đang bị tranh chấp hay vi phạm trong một vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn Khi nghiên cứu về vấn đề này TS Nguyễn Công Bình cho rằng: “Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn và

bị đơn Thông thường người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập

có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ án dân sự nhưng do vụ án dân sự đã xuất hiện giữa nguyên đơn và bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ sau đó sẽ gặp khó khăn” [2, tr108]

Xét về bản chất thì quyền phản tố của bị đơn có thể hiểu là quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn, quyền yêu cầu của người có quyền nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là quyền khởi kiện chống lại cả nguyên đơn và bị đơn hoặc chỉ chống lại nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án dân sự

Nhất trí với quan điểm thứ hai về chủ thể quyền khởi kiện, luận văn nghiên cứu chủ thể quyền khởi kiện bao hàm quyền khởi kiện của nguyên đơn, quyền phản tố hay quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn, quyền có yêu cầu độc lập hay quyền khởi kiện chống lại nguyên đơn, bị đơn hay chống cả nguyên đơn, bị đơn của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình khi mà vụ án giữa nguyên đơn và bị đơn đã được thiết lập

Như vậy theo pháp luật Việt Nam, khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ

quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước

Trang 19

13

1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

Wikipedia tiếng Việt “ Quyền tự do „hoặc “ tự do „ là một khái niệm dùng trong triết học chính trị mô tả tình trạng khi một cá nhân không bị sự ép buộc, có cơ hội để lựa chọn, hành động theo đúng ý chí và nguyện vọng của chính mình [10] Có thể hiểu, tự do gồm có hai thành tố quan trọng nhất là tự do nhận thức và tự do hành động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, Ở phương Tây, người ta cho rằng, tự do là một quyền tự nhiên, là không gian vốn có của mỗi con người, và do đó, Nhà nước dân chủ

là kết quả của sự nhượng bớt một phần tự do cá nhân cho chính phủ để nhà nước có vốn liếng điều hành xã hội Từ đó, có thể khẳng định, sự tự nguyện nhượng bớt một phần tự do cá nhân cho chính phủ như một hình thức góp vốn chính là bản chất khế ước xã hội Điều hành đất nước bằng pháp luật, hay các khế ước xã hội chính là điểm

ưu việt của phương thức quản lý theo mô hình dân chủ

Russeau viết “Với khế ước xã hội, con người mất đi cái tự do thiên nhiên và hạn chế cái quyền được làm những điều muốn làm mà làm được; nhưng mặt khác, con người thu lại quyền tự do dân sự và quyền sở hữu những cái mà anh ta có” [1, tr46] Hết thảy con người khi sinh ra đều bình đẳng, và được tự nhiên ban cho những quyền không thể phủ nhận, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Để đảm bảo những quyền này, các nhà nước được hình thành trên cơ sở sự đồng thuận của các thành viên trong một xã hội Nếu hiểu theo nghĩa này thì tự do là một khái niệm rất nhân văn, nó gắn liền với cái Tự nhiên (nói chung) và con người (nói riêng) [1, tr46] Điều này được thể hiện trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (đoạn 1 lời nói đầu) đã ghi rõ rằng: thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại

Ở góc độ quốc gia, bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 ghi rằng:“ mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có hể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự

do và quyền mưu cầu hạnh phúc „ những quyền này còn được thể hiện trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 và Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Việt Nam Có thể hiểu quyền tự do của con người là quyền tự nhiên, vốn có nhưng trong khuôn khổ pháp luật của mỗi nhà nước

Trang 20

14

Quyền tự do khởi kiện có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất: Quyền tự do khởi kiện được thể hiện ở quyền tự quyết định có khởi

kiện hay không khởi kiện khi quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc tranh chấp Giáo sư Serge Guinchard – một tố tụng gia đầu ngành của Pháp cho rằng, cần phân biệt các bên đương sự trong vụ kiện với chủ thể của tố quyền, những chủ thể có tố quyền chỉ trở thành đương sự trong tố tụng, kể từ ngày họ thực hiện quyền đi kiện của mình bằng một đơn kiện; ngược lại, người ta có thể là một bên đương sự trong vụ kiện mà không

là chủ thể của tố quyền, đó là trường hợp nguyên đơn kiện nhưng sau đó bị phủ nhận quyền khởi kiện bằng một bản án, do không có lợi ích trong việc kiện, hoặc trường hợp người bị đòi ra toà với tư cách là bị đơn trong vụ kiện, nhưng vụ kiện này kết thúc bởi một phán quyết bác bỏ tư cách bị đơn của họ[8, tr506]

Để thực hiện được quyền tự do khởi kiện của mình, chủ thể quyền khởi kiện phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định Điều kiện đầu tiên phải được kể đến đó là điều kiện về chủ thể Chủ thể muốn thực hiện việc khởi kiện thì phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự (NLPLTTDS) và năng lực hành vi tố tụng dân sự (NLHVTTDS) NLPLTTDS là khả năng pháp luật quy định cho cá nhân, cơ qua, tổ chức có những quyền và nghĩa vụ trọng TTDS NLPLTTDS được coi là điều kiện đầu tiên đồng thời

là điều kiện cần để một chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự, từ đó một chủ thể chỉ có quyền tham gia tố tụng dân sự khi được pháp luật thừa nhận có NLPLTTDS Năng lực hành vi tố tụng dân sự là một phạm trù có liên quan đến yếu tố chủ quan như khả năng nhận thức, khả năng hành động, ý chí và lý trí, là khả năng của đương sự trong việc tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng

Đối với cá nhân thì năng lực hành vi tố tụng của họ được xác định trên cơ sở khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân trong việc tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Việc quy định điều kiện về năng lực hành vi của cá nhân để họ có thể tự mình thực hiện việc khởi kiện là nhằm bảo đảm cho người có quyền lợi có thể thể hiện ý chí đích thực của mình trong việc bảo vệ quyền lợi trước Toà án Tuy nhiên, đối với những đương sự có đủ năng lực hành vi để thực hiện quyền khởi kiện nếu vì những lý do khác nhau mà họ không thể thực hiện được quyền khởi

Trang 21

Thứ hai, quyền tự do khởi kiện là quyền năng của chủ thể mà không ai có quyền

quyết định hay hạn chế một cách tùy tiện kể cả nhà nước Trong giao lưu dân sự, khi quyền và lợi ích bị coi là xâm phạm hoặc có tranh chấp các chủ thể có quyền khởi kiện

mà không bị bất kỳ một cá nhân, tổ chức hay cơ quan nhà nước nào được phép cản trở hoặc hạn chế một cách tùy tiện

Thứ ba, quyền tự do khởi kiện thể hiện ý chí tự nguyện của chủ thể, ý chí này

được thể hiện trong nhận thức và hành động, không bị ai ép buộc

Thứ tư, chủ thể có quyền tự do khởi kiện nhưng quyền khởi kiện đó không vi

phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Quyền tự do của chủ thể được đặt trong mối quan hệ với quyền và lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội để đảm bảo một điều rằng, chủ thể có thể tự do thực hiện quyền khởi kiện nhưng không phải lúc nào chủ thể cũng có thể kiện và kiện bất kỳ điều gì Suy cho cùng, quyền tự do khởi kiện bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật, những quy định này được xây dựng trên cơ sở xem xét đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội

Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự có thể được hiểu là chủ thể được tự quyết

định thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự

để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay bảo vệ lợi ích công cộng , lợi ích Nhà nước theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự

1.1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định pháp luật về quyền tự do khởi kiện

Quyền và lợi ích của các chủ thể là động lực để các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội Trong giao lưu dân sự, quyền và lợi ích của các bên được xem như là tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự“ Tranh chấp pháp lý sẽ không thể xuất hiện, nếu

Trang 22

16

không có yêu cầu khởi kiện của các bên „ Như vậy quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể là cơ sở để các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện Các quyền và lợi ích này có thể là các quyền về tài sản hoặc quyền nhân thân Tự do khởi kiện vụ án dân sự chính

là công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ các quyền dân sự của chủ thể Cơ sở để pháp luật quy định khởi kiện vụ án xuất phát từ nguyên tắc quyền dân sự của cá nhân được tôn trọng và bảo vệ Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 có ghi “Mọi người đều có quyền được bảo vệ bằng các Tòa án quốc gia có thẩm quyền với phương tiện pháp lý có hiệu lực chống lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản đã được Hiến pháp và pháp luật công nhận” Như vậy, quyền khởi kiện được ghi nhận trong pháp Luật quốc tế và là cơ sở vững chắc cho việc ghi nhận quyền này trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, nếu như Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt Nam, quyền khởi kiện được ghi nhận gián tiếp tại Điều 50: “Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” thì đến Hiến Pháp 2013 quyền con người, quyền dân sự được đề cao, khẳng định trực tiếp, rõ nét hơn tại điều 14 Hiến pháp 2013:

“ 1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo

vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật

2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng „

Tuy nhiên, dù là đạo luật cơ bản nhưng để Hiến pháp đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng thì cần phải có một hệ thống văn bản luật và dưới luật thực sự đồng bộ, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp Các quy định của Hiến pháp cũng chỉ là quy định “ treo „ nếu không được luật hóa một cách chính xác và cụ thể Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, một loạt các văn bản Luật và dưới luật đã được sửa đổi bổ sung

đã được Quốc hội thông qua, quyền khởi kiện của các chủ thể được ghi nhận cụ thể trong các văn bản pháp luật về nội dung và pháp luật về tố tụng Trên cơ sở quy định

Trang 23

Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình; Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; Buộc xin lỗi, cải chính công khai; Buộc thực hiện nghĩa vụ; Buộc bồi thường thiệt hại; Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan,

tổ chức, người có thẩm quyền; Yêu cầu khác theo quy định của luật

Việc ghi nhận quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự chính là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền dân sự của chủ thể trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan Có thể nói khởi kiện là“ phương thức luật định mở rộng cho hết thảy những ai muốn cầu cứu đến công lý, để xin che chở quyền lợi lâm nguy „[30, tr109]

Tuy nhiên để thực hiện quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự, chủ thể của quyền khởi kiện phải chứng minh giữa chủ thể và người bị kiện trước đó đã tồn tại quan hệ pháp luật dân sự mà theo quan hệ pháp luật này chủ thể quyền khởi kiện bị ảnh hưởng, xâm phạm về quyền và lợi ích.Việc chứng minh được thể hiện ở việc cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên Điều này được quy định trong các luật về nội dung như Bộ luật dân sự; Luật Doanh nghiệp, Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Luật hôn nhân và gia đình

Ngoài điều kiện chứng minh quyền và lợi ích bị xâm phạm thì điều kiện tư cách pháp lý của chủ thể có cho phép chủ thể được đứng đơn khởi kiện hay không? Bộ luật

tố tụng dân sự 2015 được ban hành trên cơ sở kế thừa các quy định Bộ luật tố tụng dân

sự 2005 đã quy định cụ thể về chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự Thông thường chủ thể của quyền khởi kiện là nguyên đơn, người có quyền và lợi ích hợp pháp bị coi là xâm phạm hoặc có tranh chấp Để thực hiện được quyền tự do khởi kiện,

Trang 24

18

chủ thể phải có đủ NLPLTTDS và NLHVTTDS Để thực hiện quyền tự do khởi kiện, chủ thể phải đảm bảo độ tuổi do luật định, từ 18 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, không bị mất năng lực hành vi dân sự Đối với những người mất năng lực hành vi dân sự hoặc dưới 15 tuổi việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trược tòa phải do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Đối với người

từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi, trong điều kiện nhất định như đã tham gia độc lâp quan

hệ dân sự trước đó, có tài sản riêng vẫn có thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự với tư cách chủ thể độc lập

Ngoài ra yêu cầu, vụ việc được khởi kiện chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nươc có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật, trừ các trường hợp đặc biệt; việc thực hiện quyền tự do khởi kiện phải tuân thủ các điều kiện khác như đúng thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ, thẩm quyền xét xử và các điều kiện về hình thức khởi kiện Tất cả những điều kiện trên được quy định cụ thể trong Bộ LTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2015

1.2 Lược sử các quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong pháp luật dân sự Việt Nam

Quyền khởi kiện của chủ thể có thể nói được thể hiện rõ nét, cụ thể nhất trong hệ thống pháp luật về tố tụng và một số quy định trong pháp luật dân sự, do vậy luận văn tập trung nghiên cứu kỹ quyền khởi kiện qua các thời kỳ chủ yếu trong pháp luật tố tụng dân sự

1.2.1 Thời kỳ Nhà nước phong kiến Việt Nam

Quyền khởi kiện được ghi nhận một cách gián tiếp trong Bộ Luật Hồng Đức và

Bộ Luật Gia Long Tuy nhiên, những quy định trong các Bộ luật này thể hiện quyền khởi kiện không có sự phân biệt các vụ kiện về dân sự hay hình sự, tất cả các hành vi

vi phạm pháp luật đều bị các chế tài về hình sự kể cả những vụ việc mà ngày nay chúng ta coi chỉ có tính chất dân sự

Căn cứ để khởi kiện là các hành vi phạm tội được ghi nhận trong luật Hồng Đức

và Luật Gia Long Người đứng đơn khởi kiện được gọi là nguyên cáo, là người có quyền lợi bị xâm phạm phải chứng minh được quyền khởi kiện của mình bằng việc đưa

Trang 25

19

ra những bằng chứng và chứng cứ để chứng minh về cơ sở của việc kiện Chẳng hạn, khởi kiện về điền thổ phải có văn tự, về tài sản phải có chúc thư, về nợ phải có giấy tờ ghi nhận nợ

Người bị nguyên cáo kiện được gọi là bị cáo, cũng có quyền phản đối yêu cầu của nguyên cáo bằng hình thức tương tự, đưa ra bằng chứng chứng minh làm cơ sở cho việc phản đối nộp cho nha môn Như vậy, Cổ luật Việt Nam đã có những quy định cơ bản về điều kiện khởi kiện Tuy nhiên, Cổ luật cũng có những quy định hạn chế quyền khởi kiện của các thành viên trong gia đình Cụ thể là cấm con cháu kiện ông bà, cha

mẹ, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng (Điều 511 Luật Hồng Đức, Điều 306 Luật Gia Long); con cháu cũng không được tố cáo ông bà cha mẹ, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng (Điều 504 Bộ Luật Hồng Đức, Điều 304 Bộ luật Gia Long) v.v Chính các quy định này đã hạn chế quyền khởi kiện của công dân

Trong thời kỳ Pháp thuộc thì các Bộ luật dân sự được áp dụng riêng rẽ cho ba kỳ Các bộ luật quan trọng ta phải kể đến đến đó là Bộ Luật Dân sự Nam Kỳ giản yếu ra đời năm 1883, Bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm 1936 Các Bộ luật trên đều ghi nhận quyền công dân trong lĩnh vực dân sự

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989

Trong thời kỳ đầu của cách mạng Tháng 8 năm 1945 Nhà nước ta chủ yếu ban hành các sắc lệnh như Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 cho giữ tạm thời những luật

lệ hiện hành của chế độ cũ Sau đó, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các sắc lệnh trong lĩnh vực dân sự quyền dân sự, quyền khởi kiện đã được ghi nhận cụ thể, trong đó phải

kể đến Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950“ Sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật „ có một ý nghĩa đặc biệt đặt cơ sở, những nguyên tắc cho sự hình thành và phát triển của dân luật Đó là nguyên tắc“ Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành xử nó đúng với quyền lợi của nhân dân „ ( Điều 1) hoặc như“ người ta chỉ được hưởng dụng và sử dụng các vật thộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân „ ( Điều 12) Trong lĩnh vực

tố tụng Nhà nước ban hành các Sắc lệnh cho phép Tòa án áp dụng thủ tục tố tụng để

Trang 26

20

giải quyết tranh chấp dân sự như: Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa

án và ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh 52/SL ngày 17/04/1946 quy định thẩm quyền của các Tòa án; Sắc lệnh 112/SL ngày 28/06/1946 bổ sung Sắc lệnh 51; Sắc lệnh 130/SL ngày 19/07/1946 quy định về thể thức thi hành án; Sắc lệnh 85/SL ngày 22/05/1950 cải cách bộ máy tư pháp và tố tụng; Sắc lệnh 159/SL ngày 07/11/1950 quy định về vấn đề

ly hôn Tuy nhiên, trong điều kiện kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1954 các Sắc lệnh do Nhà nước ban hành chủ yếu quy định chung quyền dân sự, về thủ tục tố tụng

mà không có quy định cụ thể về quyền khởi kiện

Sau khi Hiến pháp 1959 được ban hành, Điều 22 Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận nguyên tắc “ Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều bình đẳng trước pháp luật” các BLDS của phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc hết hiệu lực thi hành bởi Chỉ thị số 772/TATC ngày 10/7/1959 “ Về vấn đề đình chỉ áp dụng luật pháp cũ của phong kiến đế quốc”, trong giai đoạn này các văn bản pháp luật được ban hành dưới dạng Nghị định của Chính phủ , Quýet định của thủ tướng chính phủ về kinh tế, không

có văn bản dưới luật mang tính dân sự, các quy định này mang nặng tính chất hành chính, không có quy định điều chỉnh vấn đề thừa kế Việc giải quyết các vụ án căn cứ chủ yếu vào các Thông tư, chỉ thị, nghị quyết của TAND tối cao

Trong lĩnh vực tố tụng Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định các nguyên tắc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật như Luật Tổ chức Tòa án, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát đã ghi nhận và đảm bảo đầy đủ nguyên tắc đó

Để cụ thể hóa nguyên tắc trên Tòa án nhân dân tối cao cũng đã có hướng dẫn về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự tạo cơ sở cho việc áp dụng trên thực tế quyền này của công dân Các văn bản tố tụng được ban hành thời kỳ này trực tiếp hoặc gián tiếp quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện

Đó là công văn số 1111/NCLP ngày 13/07/1963 của Tòa án nhân dân tối cao về thủ tục

xử chia tài sản ly hôn đối với người mất trí; công văn số 05/NCLP ngày 29/06/1966 của Tòa án nhân dân tối cao về tư cách bị đơn; Thông tư số 39/NCLP ngày 21/01/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về thụ lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình và tranh chấp dân sự; Công văn số 96/NCLP ngày 08/02/1977

Trang 27

21

của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự Sau này Công văn số 546/DS ngày 07/07/1989 về quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức vì lợi ích của Nhà nước có quy định khi Viện kiểm sát khởi tố vụ kiện thì cần đưa cơ quan Nhà nước hoặc hợp tác đứng vào vai trò nguyên đơn trong vụ kiện vì họ là đương sự chính trong vụ kiện Tiếp đến là công văn số 05/NCLP ngày 29/06/1986 của Tòa án nhân dân tối cao về tư cách của bị đơn trong vụ kiện dân sự; Nghị quyết 01/NQ/H ĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 20/01/1988

Có thể nhận xét trong giai đoạn từ năm 1945 đến 1989, vấn đề quyền khởi kiện tiếp tục được ghi nhận và củng cố Tuy nhiên để xác định chủ thể có quyền khởi kiện thì cần phải căn cứ vào pháp luật nội dung, trong đó sẽ xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia các quan hệ cụ thể, từ đó mới xác định được chủ thể mang quyền và chủ thể có nghĩa vụ Các văn bản này cũng đề cập đến việc thực hiện quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện Theo đó, nguyên đơn có đủ tư cách để đi kiện phải là người có năng lực hành vi dân sự và có quyền lợi bị xâm phạm

Trong lĩnh vực tố tụng dân sự Nhà nước đã ban hành ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng Đó là Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) ngày 29/11/1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) ngày 06/03/1994, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ) ngày 11/04/1996 Đây là những văn bản pháp luật quan trọng về tố tụng dân sự, trong

đó có những quy định liên quan đến quyền khởi kiện của chủ thể

PLTTGQCVADS 1989 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc thực thi quyền khởi kiện của công dân trên thực tế Điều 1 Pháp lệnh này quy định: “Công dân,

Trang 28

và không phát sinh tranh chấp đều được giải quyết theo một thủ tục chung

PLTTGQCVAKT 1994 và PLTTGQTCLĐ 1996 đã tách hai mảng kinh tế và lao động ra khỏi trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự theo quy định của PLTTQGCVADS năm 1989 Hai Pháp lệnh này về cơ bản được xây dựng trên cơ sở PLTTGQCVADS năm 1989 nên các quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện về cơ bản tương tự như trong PLTTGQCVADS PLTTQGCVAKT năm

1994 không quy định quyền khởi tố vụ án kinh tế của Viện kiểm sát nhân dân Tuy nhiên, theo Điều 28 PLTTQGCTCLĐ 1996 thì “đối với những vi phạm pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là người chưa thành niên, người tàn tật và các vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác, nếu không có ai khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố”

Có thể nói pháp luật tố tụng thời gian này với ba pháp lệnh riêng rẽ với các thủ tục khác nhau, đã gây rất nhiều khó khăn cho các chủ thể khi thực hiện quyền khởi kiện bởi người dân vốn hạn chế về kiến thức pháp luật nay lại phải chịu sự phức tạp của các quy định nên quyền tự do khởi kiện của chủ thể còn nhiều hạn chế

1.2.4 Từ năm 2005 đến nay

Quyền khởi kiện của chủ thể trong giao lưu dân sự đã được ghi nhận tương đối rõ nét đồng bộ trong cả lĩnh vực luật nội dung và luật tố tụng BLTTDS năm 2004 có hiệu lực từ ngày 1/1/2005 đã thay thế ba pháp lệnh PLTTGQCVADS PLTTQGCVAKT, PLTTGQCTCLĐ cùng với nó là BLDS năm 2005 được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006 đã ghi nhận quyền khởi kiện của các tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại và lao động Trong lĩnh vực luật nội dung, Bộ luật dân sự năm 2005 đã có quy định có tính nguyên tắc bảo đảm quyền khởi

Trang 29

Trong quá trình thực thi BLTTDS 2005, Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn các quy định của BLTTDS Cụ thể là Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “Chứng minh và chứng cứ”; Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ

án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS; Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 8-2006 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Thủ tục giải quyết các

04-vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS; Thông tư liên tịch số VKSNDTC-TANDTC ngày 01-9-2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của Kiểm sát viên trong việc giải quyết các vụ việc dân sự; Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28-12-2007 Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng Các văn bản trên đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hoá BLTTDS, hướng dẫn áp dụng thống

Trang 30

BLTTDS và BLDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật trong thời gian tới được kỳ vọng là khắc phục được những lỗ hổng, những tồn tại mà BLTTDS năm 2004 và BLDS năm 2005 Quyền dân sự trong đó Quyền khởi kiện của chủ thể được khẳng định mạnh mẽ, cụ thể có tính nguyên tắc trong cả luật nội dung và luật tố tụng, quyền dân sự của chủ thể không chỉ được“tôn trọng „,“ bảo vệ „ mà còn được“ công nhận „ và“ bảo đảm „ theo Hiến pháp và pháp luật, cùng với nó là quy định trong BLTTDS

2015 “ Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật

để áp dụng.” Đối với những vụ việc chưa có luật áp dụng, BLDS năm 2015 quy định

áp dụng giải quyết theo tập quán pháp, tương tự luật và lẽ công bằng

Qua việc nghiên cứu khái quát về quá trình hình thành và phát triển của các quy định của pháp luật dân sự về quyền khởi kiện có thể thấy Quyền khởi kiện của các chủ thể qua các thời kỳ ngày càng được ghi nhận rõ ràng, tiến bộ hơn Đặc biệt BLTTDS năm 2015 ra đời đã đánh dấu một bước phát triển và ngày càng hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng dân sự về quyền tự do khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể

Quyền tự do của con người nói chung, quyền tự do khởi kiện nói riêng chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố trong đó phải kể đến như các quy định của pháp luật về quyền khởi kiện; Trình độ hiểu biết hay khả năng nhận thức của chủ thể; Trách nhiệm của cơ quan tài phán là TAND; Hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước

Trang 31

25

Việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do khởi kiện của các chủ thể một cách chính xác là cơ sở để các nhà nghiên cứu và thi hành pháp luật đưa ra được những quyết sách đúng đắn

1.3.1 Quy định của pháp luật – yếu tố ảnh hưởng có tính chất quyết định quyền

tự do khởi kiện của chủ thể

Giả thiết quyền và lợi ích của mình bị tranh chấp hay vi phạm, chủ thể có quyền khởi kiện nhưng không có nghĩa là họ có quyền khởi kiện bất kỳ ai, kiện đến bất kỳ cơ quan nào, trong một số trường hợp chủ thể có thể không thực hiện được quyền khởi kiện vì lợi ích an ninh quốc gia, cộng đồng xã hội hay còn gọi là giới hạn quyền khởi kiện Việc kiện của chủ thể phải dựa trên cơ sở một quan hệ pháp luật nhất định, căn cứ vào các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật này để xác định người mà họ

có quyền đi kiện và kiện đến cơ quan nào, theo trình tự thủ tục nhất định Điều này chính là sự phản ánh mối quan hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng dân sự, chính những quy định này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ phù hợp với thực tế, một yếu tố có tính chất quyết định thực hiện quyền công dân nói chung, quyền tự do khởi kiện của chủ thể nói riêng

Sau hơn 10 năm thi hành BLTTDS năm 2004 và BLDS năm 2005 các quy định

về quyền tự do khởi kiện của chủ thể chưa được đảm bảo trên thực tế Nhiều vụ việc đã không được cơ quan tòa án thụ lý giải quyết do thiếu vắng các quy định về luật nội dung hoặc để được tòa án thụ lý chủ thể quyền khởi kiện phải trải qua rất nhiều các thủ tục, tốn nhiều thời gian và công sức Ví dụ: đối với tranh chấp đất đai, theo quy định của BLTTDS năm 2004 trước khi nộp đơn khởi kiện lên tòa án có thẩm quyền, chủ thể đơn khởi kiện phải nộp đơn tại UBND xã, phường nơi cư trú hoặc nơi có bất động sản, sau khi hòa giải, có biên bản hòa giải ở địa phương thì chủ thể mới được quyền khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền và khi đó tòa án mới thụ lý, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể Hoặc như do không có pháp luật điều chỉnh nên khi có tranh chấp xảy ra tòa án không biết xử lý vụ việc thế nào do không có văn bản hướng dẫn, nhiều vụ việc đã không thể thụ lý giải quyết như việc tranh chấp

Trang 32

26

mồ mả điều này đã gây mất lòng tin của nhân dân vào một nền công lý Điều này

có thể thấy các quy định của pháp luật ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện quyền tự

do khởi kiện của chủ thể

Tuy nhiên, quyền dân sự trong đó quyền tự do khởi kiện của chủ thể được đặt trong mối liên hệ với quyền và lợi ích của chủ thể khác và lợi ích chung của cộng đồng

xã hội Chính vì vậy pháp luật dân sự đã quy định giới hạn của việc thực hiện quyền tự

do khởi kiện của chủ thể BLDS năm 2005 quy định có tính chất gián tiếp tại điều 10

“Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.” Đến BLDS năm 2015 đã quy định rõ ràng về giới hạn quyền dân sự, trong đó có quyền

khởi kiện theo đó “ Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong

trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.” Điều 10 BLDS năm 2015 quy định về Giới hạn

việc thực hiện quyền dân sự như sau:

“1 Cá nhân, pháp nhân không được lạm dụng quyền dân sự của mình gây thiệt hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đích khác trái pháp luật

2 Trường hợp cá nhân, pháp nhân không tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi

vi phạm mà có thể không bảo vệ một phần hoặc toàn bộ quyền của họ, buộc bồi thường nếu gây thiệt hại và có thể áp dụng chế tài khác do luật quy định.”

Như vậy, quyền dân sự, quyền tự do khởi kiện của chủ thể chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các quy định của pháp luật, bởi hành lang pháp lý cho phép chủ thể được thực hiện quyền gì và thực hiện như thế nào?

1.3.2 Nhận thức của chủ thể - yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thực hiện quyền tự do khởi kiện chủ chủ thể

Tự do và nhận thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong bài Biện chứng về

tự do của tác giả Nguyễn Trần Bạt, ông cho rằng“ tự do nhận thức là nền tảng để con

Trang 33

27

người đi tới tự do hành động Không có tự do nhận thức tức là không có tự do tinh thần, con người sẽ không thể có tự do hành động bởi luôn vấp phải các rào cản về mặt nhận thức, và do đó, con người sẽ cảm thấy bị hạn chế, bị mất tự do ngay từ trong ý nghĩ chứ không chỉ trong hành vi của mình.” [1, tr46]

Với khả năng nhận thức của mình chủ thể có thể xác định rõ quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm hay tranh chấp là cái gì? Ai là người bị coi là đã xâm phạm hay tranh chấp đối với chủ thể? Khởi kiện lên cơ quan nào? Theo trình tự thủ tục gì? Nếu

có khả năng nhận thức rõ được vấn đề trên thì chủ thể thực hiện quyền tự do khởi kiện một cách dễ dàng Tuy nhiên, trên thực tế do trình độ hiểu biết về pháp luật còn hạn chế nên người đi kiện đã xác định và khởi kiện không đúng người mà mình có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật Chẳng hạn, nguyên đơn kiện về hợp đồng ký kết với công ty nhưng lại không khởi kiện công ty – chủ thể có quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng mà khởi kiện chi nhánh của công ty ; chủ sở hữu kiện đòi động sản phải đăng ký quyền sở hữu đang bị người thứ ba chiếm hữu trái pháp luật nhưng lại không khởi kiện người đang chiếm hữu mà khởi kiện người được chủ sở hữu giao quản lý tài sản ; người bị thiệt hại kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng lại khởi kiện người không có trách nhiệm phải bồi thường…v.v Trong những trường hợp đặc biệt này, với tư cách là cơ quan bảo vệ công lý và cầm cân nảy mực thì vai trò đôn đốc và hướng dẫn thủ tục tố tụng của Toà án là hết sức cần thiết Căn cứ vào tiêu chí nhận thức của chủ thể, pháp luật dân sự đã có những quy định riêng đối với từng đối tượng, theo đó người từ đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức được coi là người có đầy đủ năng lưc hành vi dân sự và tố tụng dân sự, họ có quyền tự do thực hiện quyền khởi kiện của mình mà không phụ thuộc vào bất kỳ đối tượng nào khác Đối với những đối tượng khác như người mất năng lực hành vi dân sự ( không có khả năng nhận thức); người chưa đủ 18 tuổi ( người có năng lực hành vi chưa đầy đủ) hay người không có năng lực hành vi ( người dưới 6 tuổi) thì việc thực hiện quyền dân sự của họ bị phụ thuộc vào đối tượng khác, pháp luật dân sự gọi là người đại diện theo pháp luật, khi đó việc thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể phụ thuộc vào người đại diện theo pháp luật, vào trinh độ hiểu biết của họ

Trang 34

tế Sự độc lập của Toà án, sự vô tư, khách quan của người tiến hành tố tụng sẽ là bảo đảm cần thiết cho quyền khởi kiện được thực thi trên thực tế

Nếu như pháp luật đã có những quy định hợp lý và minh bạch hoá về điều kiện thụ lý, căn cứ trả đơn, chuyển đơn khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án nhằm bảo đảm

về mặt pháp lý quyền khởi kiện thì hoạt động tố tụng cụ thể của Toà án trong việc nhận đơn, xem xét, quyết định việc thụ lý hay không thụ lý yêu cầu của đương sự, chuyển đơn khởi kiện hay đình chỉ giải quyết vụ án lại có ý nghĩa bảo đảm trên thực tế quyền

tự do khởi kiện của đương sự Nếu như pháp luật đã quy định rõ ràng những trường hợp mà Toà án có quyền trả lại đơn khởi kiện thì Toà án chỉ có quyền từ chối thụ lý trong những trường hợp đã được quy định Ngoài những trường hợp đó thì Toà án phải xem xét thụ lý đúng thời hạn luật định Sự chậm trễ của Toà án trong việc thụ lý mà không có lý do chính đáng, việc chuyển đơn kiện lòng vòng mà không có cơ sở pháp lý hay đình chỉ giải quyết vụ án ngoài những trường hợp luật định cũng phải được coi là

đã xâm phạm đến quyền tự do khởi kiện của đương sự Do vậy, để đánh giá về quyền

tự do khởi kiện có được thực thi hay không thì ngoài việc căn cứ vào quy định của pháp luật cần phải xét đến hoạt động tố tụng cụ thể của Toà án trong việc thụ lý, trả đơn, chuyển đơn khởi kiện hay đình chỉ giải quyết vụ án Thực tế thi hành BLTTDS

Trang 35

29

hơn 10 năm qua có thể thấy, quyền tự do khởi kiện của chủ thể đã bị hạn chế một phần

do quy định của pháp luật hoặc do hoạt động tố tụng của toà án các cấp, nhiều vụ việc không được thụ lý giải quyết do có quy định của luật nội dung hướng dẫn giải quyết hoặc đùn đẩy trách nhiệm dẫn đến quyền khởi kiện của chủ thể bị ảnh hưởng Bên cạnh

đó việc Tòa án xem xét giải quyết vụ việc một cách chính xác khách quan cũng là yếu

tố đảm bảo thực hiện quyền khởi kiện của chủ thể, vì việc chấp nhận, xem xét thụ lý đơn khởi kiện mới chỉ là khởi đầu của quá trình bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện của đương sự Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện đó như thế nào mới là việc bảo vệ quyền khởi kiện

1.3.4 Hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác – yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể

Khi quyền và lợi ích của chủ thể bị coi là xâm phạm hoặc tranh chấp, đa phần chủ thể có thể trực tiếp thực hiện quyền khởi kiện của mình đến toà án có thẩm quyền, trong một số trường hợp các vụ việc theo quy định của pháp luật tố tụng hoặc dân sự phải có xác nhận của cơ quan nhà nước khác thì vụ việc mới được xem xét thụ lý giải quyết, chủ thể mới đươc thực hiện quyền khởi kiện của mình Điều này đã ảnh hưởng đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể Cụ thể như, đối với các việc tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất thì thủ tục tiền tố tụng bắt buộc phải được thực hiện trước khi khởi kiện ra toà án là phải tiến hành hoà giải ở cơ sở, cụ thể là vụ việc phải được tiến hành tại UBND cấp xã Khi tiếp nhận đơn nếu UBND cấp xã nhanh chóng xem xét, nắm bắt nội dung tranh chấp, hoạt động tiến hành hoà giải được thực hiện ngay sau

đó thì vụ việc được sớm xử lý Ngược lại, nếu vụ việc dậm chân tại chỗ ở UBND cấp

xã thì quyền tự do khởi kiện của chủ thể đương nhiên bị ảnh hưởng Thực tế chưa có một cơ chế nào quy định trình tự, thủ tục, thời hạn tiến hành việc hoà giải nên không có một cơ chế ràng buộc trách nhiệm của cán bộ, cơ quan nhà nước trong thực hiện hoà giải ở cơ sở hoặc trước đây luật doanh nghiệp 2005 quy định cổ đông trước khi khởi kiện ra cơ quan tài phán phải gửi đơn đến ban kiểm soát công ty trước, khi có kết quả giải quyết thì chủ thể mới được thực hiện quyền khởi kiện của mình Đối với các tranh

Trang 36

Vấn đề thi hành án dân sự cũng là vấn đề cần được quan tâm, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, những phán quyết trong bản án có được thực thi nghiêm túc trong thực tế ? Điều này ảnh hưởng đến niềm tin công lý của công dân Nếu bản án, quyết định có hiệu lực được thi hành trên thực tế, tạo niềm tin pháp lý, công dân khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp dân sự sẽ tìm đến pháp luât, tìm đến toà án để phân xử và ngược lại quyền tự do khởi kiện sẽ không có khả năng thực thi khi họ không tin vào công lý, vào hoạt động của cơ quan nhà nước

Trang 37

31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Để xây dựng cơ sở lý luận và góc nhìn cách khách quan, khoa học về vấn đề quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự, tại Chương này, luận văn đã cố gắng phân tích, xây dựng các khái niệm cơ bản về “Quyền khởi kiện”

và “quyền tự do khởi kiện” trên cơ sở tham khảo, kế thừa và phát triển các khái niệm

có liên quan của các nhà khoa học trước đó

Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự là quyền dân sự, tố tụng dân sự quan trọng của các chủ thể trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi hợp pháp Quyền này có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa hẹp, quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, là cơ sở làm phát sinh vụ án dân sự Theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện còn bao hàm cả quyền khởi kiện ngược lại (phản tố) của bị đơn và quyền đưa

ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Cơ sở của quyền tự do khởi kiện là dựa trên tính chất của quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp, trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận trong dân sự

và nguyên tắc về quyền bình đẳng, quyền định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện, có quyền phản tố hay có yêu cầu độc lập được dựa trên quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp mà Toà án cần phải giải quyết Việc kiện ai, kiện về vấn đề gì cũng phải dựa trên các quan hệ pháp luật nội dung này

để xác định

Thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể tại Tòa án là quá trình tố tụng phức tạp, để cho các chủ thể có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thì phải minh bạch hoá và quy định hợp lý các điều kiện thụ lý vụ án, có cơ chế

hỗ trợ đương sự thực hiện quyền khởi kiện, có cơ chế ràng buộc trách nhiệm, giám sát hoạt động tố tụng của Toà án, các cơ quan nhà nước, cá nhân, tổ chức và tạo cơ hội cho đương sự có thể chống lại sự lạm quyền hay vi phạm quyền này từ phía Toà án và các

cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân

Trang 38

32

CHƯƠNG 2

QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO

PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1 Các quy định của pháp luật nội dung về quyền tự do khởi kiện

Điều 14 Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”

Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.” Quyền dân sự, trong đó có quyền khởi kiện của chủ thể được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Đó là cơ sở quan trọng, là kim chỉ nam để các văn bản luật và dưới luật cụ thể hóa trong các quy định, trong đó cả các quy định trong luật nội dung cũng như luật tố tụng

2.1.1 Nội dung Quyền tự do khởi kiện trong pháp luật dân sự

Luật dân sự với vai trò là luật chung, điểu chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự, các quy định trong luật dân sự là cơ sở để các ngành luật chuyên ngành xây dựng phù hợp, thống nhất Trên cơ sở Hiến pháp 1992, BLDS năm 2005 cũng đã ghi nhận quyền tự do khởi kiện của chủ thể nhưng ở mức độ còn khá hạn chế Tại điều 9 BLDS năm 2005 quy định một trong những nguyên tắc của BLDS là nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự theo đó tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ, khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Công nhận quyền dân sự của mình; Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; Buộc xin lỗi, cải chính công khai; Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; Buộc bồi thường thiệt hại

Do quan hệ trong lĩnh vực dân sự rất rộng, đa dạng và phức tạp, nhiều sự kiện xảy

ra trên thực tế mà điều luật chưa thể lường hết trước được do vậy nhiều vụ việc tranh

Trang 39

án đền bù có 05 ngôi mộ cần di chuyển và được đền bù, Dự án đã đền bù được 04 ngôi

mộ, còn 01 ngôi mộ đã xảy ra tranh chấp giữa dòng họ Nguyễn và dòng họ Tạ Cả 2 bên đều cho rằng đó là ngôi mộ cụ tam đại dòng họ mình Ngày 10/11/2014, ông Nguyễn Văn An đại diện dòng họ Nguyễn có đơn kiện lên UBND phường Võ Cường

đề nghị xem xét giải quyết vụ việc UBND phường đã gọi 2 bên lên UBND tiến hành hòa giải nhưng không thành Ngày 10/12/2014 Ông Nguyễn Văn An tiếp tục làm đơn khởi kiện lên TAND thành phố Bắc Ninh TAND đã không thụ lý đơn của ông Nguyễn Văn An với lý do các tranh chấp về mồ mả chưa có văn bản hướng dẫn giải quyết Vụ việc đến nay bị bỏ lửng và dự án cũng gần như chưa có hướng giải quyết

Qua vụ việc trên có thể thấy, do không có văn bản luật hướng dẫn xử lý nên quyền tự do khởi kiện của chủ thể khi có tranh chấp hoặc bị xâm phạm quyền và lợi ích không có cơ chế pháp luật bảo đảm thực hiện Khắc phục những tồn tại của BLDS năm

2005, BLDS năm 2015 đã ghi nhận quyền dân sự trong đó có quyền khởi kiện một cách toàn diện và đầy đủ hơn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể Cụ thể tại điều 2 BLDS 2015 ghi nhận quyền dân sự được khẳng định rõ ràng:

“1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật

2 Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

Tiến bộ hơn so với BLDS năm 2005, Quyền dân sự của công dân không những được tôn trọng, bảo vệ mà còn được nhà nước công nhận và bảo đảm thực hiện Cùng với việc tiếp tục ghi nhận và khẳng định quyền con người, bảo đảm quyền dân sự, BLDS năm 2015 đã có quy định rõ ràng trong việc áp dụng luật dân sự để giải quyết các quan hệ xã hội, theo đó BLDS được xác định là luật chung điều chỉnh các quan hệ

Trang 40

34

dân sự, các ngành luật khác phải được xây dựng và thực hiện trên cơ sở của Bộ luật

này “Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể

áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.” ( Điều 5 BLDS năm 2015)

“1 Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự

mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự

2 Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng” ( Điều 6 BLDS năm 2015)

Như vậy có thể thấy BLDS năm 2015 đã ghi nhận quyền tự do khởi kiện của chủ thể một cách tuyệt đối, trong mọi trường hợp khi có tranh chấp xảy ra đều có hướng giải quyết theo thứ tự ưu tiên: quy định của BLDS; áp dụng tập quán pháp; áp dụng tương tự pháp luật và cuối cùng là áp dụng án lệ, lẽ công bằng Đây là điểm mới mạnh

mẽ nhất, tiến bộ nhất, lần đầu tiên đã được ghi nhận trong BLDS, làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp dân sự vốn vô cùng đa dạng và phức tạp, làm cơ sở để pháp luật

tố tụng có hướng giải quyết Theo Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 20/10/2015

của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì: “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong

bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm phán TAND tối cao lựa chọn và được Chánh án TAND tối cao công bố là

án lệ để các tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” Đến thời điểm hiện nay, Hội

đồng thẩm phán TAND tối cao đã công bố 06 Án lệ và bắt đầu hiệu lực thực hiện từ ngày 01/6/2016

Cùng với việc quy định nội dung pháp luật được áp dụng giải quyết các tranh chấp dân sự, BLDS năm 2015 quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp dân sự theo đó Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân Trường hợp quyền dân sự bị vi phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc Trọng tài Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong những trường hợp luật định Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành

Ngày đăng: 24/05/2017, 20:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Lê Thị Bích Lan (2005), “Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự”, Luật học, (Số đặc san về Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự
Tác giả: Lê Thị Bích Lan
Năm: 2005
10. Trang web Wikipedia Tiếng Việt , địa chỉ http://vi.wikipedia.org/Wikipedia_tiếng_Việt Link
14. Kiện phái sinh địa chỉ https://vietnamlawgate.wordpress.com/2015/11/03/kien-phai-sinh-phan-i/ Link
1. Nguyễn Trần Bạt (2005), Biện chứng của Tự do , Tạp chí Khoa học & Tổ quốc số 5/2005 Khác
2. Nguyễn Công Bình(2008), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND Khác
3. Đại học Luật Hà Nội(2005), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Khác
4. Đại học Luật Hà Nội (1998), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, , Nxb CAND Khác
5. Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình luật TTDS Việt Nam, NXB công an nhân dân Khác
6. Trần Thúc Linh (1964), Danh từ pháp luật lƣợc giải, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn Khác
9. Tòa án nhân dân tối cao (2015), Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Khác
11. Bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2015/DSST ngày 12/03/2015 của TAND thành phố Bắc Ninh Khác
12. Thông báo số 35/TB-TAND ngày 22 /10/2016 của TAND thành phố Bắc Ninh về việc Khác
13.TS. Quách Thúy Quỳnh (2012) Về chế định kiện phái sinh (Tạp chí Luật học số 3/2012) Khác
15. Quốc hội (2013)Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 Khác
16. Quốc hội (2004), Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Hà Nội Khác
17. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hà Nội Khác
18.Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự năm 2005, Hà Nội Khác
19.Quốc hội (2015), Bộ luật dân sự năm 2015, Hà Nội Khác
20. Quốc hội (2012), Bộ luật Lao động, Hà Nội Khác
21. Từ điển Tiếng Việt (2003), Nxb. Đà Nẵng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w