Điều tra vụ án là hoạt động do CQĐT thông qua Điều tra viên trực tiếp tiến hành ĐTV ĐTV cũng là người sớm tiếp cận thông tin về tội phạm, được quan sát hậu quả do tội phạm gây ra thông q
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THÀNH NAM
HOạT ĐộNG KIểM SáT THU THậP, ĐáNH GIá CHứNG Cứ
TRONG GIAI ĐOạN ĐIềU TRA Vụ áN HìNH Sự
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên)
LUẬT VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THÀNH NAM
HOạT ĐộNG KIểM SáT THU THậP, ĐáNH GIá CHứNG Cứ
TRONG GIAI ĐOạN ĐIềU TRA Vụ áN HìNH Sự
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên)
Chuyờn ngành: Luật Hỡnh sự và Tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬT VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN LUYỆN
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thành Nam
Trang 4THẬP, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 10 1.1 Khái niệm hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự 10
1.1.1 Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự 10 1.1.2 Khái niệm thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra VAHS 12 1.1.3 Khái niệm hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự 16
1.2 Nội dung, nguyên tắc, biện pháp thu thập, đánh giá chứng cứ
trong giai đoạn điều tra VAHS 17
1.2.1 Nội dung thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự 17 1.2.2 Nguyên tắc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự 18 1.2.3 Biện pháp thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự 21
1.3 Kiểm sát thu thập, đánh giá chứng trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự 21
1.3.1 Khái niệm kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự 21
Trang 51.3.2 Nội dung, biện pháp hoạt động kiểm sát trong việc thu thập, đánh
giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 25
1.4 Cơ sở pháp lý về hoạt động kiểm sát thu thập, đánh giá chứng
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 26
1.4.1 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong Luật
tổ chức VKSND 26 1.4.2 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong pháp
luật tố tụng hình sự 27 1.4.3 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong pháp
lệnh về tổ chức Cơ quan điều tra hình sự 28 1.4.4 Mục đích của hoạt động kiểm sát điều tra việc thu thập, đánh giá
và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự: 28
1.5 Nội dung và mối quan hệ giữa VKS và CQĐT trong hoạt
động kiểm sát điều tra, thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 29 Kết luận chương 1 33 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM
SÁT THU THẬP, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN 34 2.1 Qui định của pháp luật về hoạt động kiểm sát thu thập, đánh
giá và chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 34
2.1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động kiểm sát thu
thập chứng cứ ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự 34 2.1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động kiểm sát
đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự 52
2.2 Thực trạng công tác hoạt động kiểm sát thu thập, đánh giá
chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Thái Nguyên 59
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Thái Nguyên có liên
Trang 62.2.2 Kết quả hoạt động kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố của CQĐT 61
2.2.3 Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi 62
2.2.4 Kiểm sát việc thu thập vật chứng trong giai đoạn điều tra 65
2.2.5 Kiểm sát việc lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án 68
2.2.6 Kiểm sát hoạt động khám xét 70
2.2.7 Kiểm sát việc trưng cầu giám định và kết luận giám định 71
2.2.8 Kiểm sát các hoạt động điều tra và lập biên bản về hoạt động điều tra 73
2.3 Công tác phối hợp giữa VKS và CQĐT trong thực hiện kiểm sát thu thập, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra của Thái Nguyên 74
2.4 Thực trạng đội ngũ cán bộ của ngành Kiểm sát tỉnh Thái Nguyên thực hiện kiểm sát thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra 75
2.5 Nhận xét đánh giá 76
2.5.1 Những ưu điểm chính 76
2.5.2 Những hạn chế, vướng mắc trong hoạt động kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ 76
2.5.3 Những nguyên nhân khách quan 79
2.5.4 Những nguyên nhân chủ quan 81
Kết luận chương 2 84
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC THU THẬP, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 85
3.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 85
Trang 73.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả về hoạt động kiểm sát việc thu
thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự 89
3.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 89
3.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự tại VKS tỉnh Thái Nguyên 97
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra
CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng ĐTV: Điều tra viên
KSĐT: Kiểm sát điều tra TTHS: Tố tụng hình sự VAHS: Vụ án hình sự VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tố tụng hình sự là một quy trình, thủ tục chặt chẽ mà Nhà nước quy định để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành phát hiện, điều tra, truy tố, xét
xử tội phạm Tố tụng hình sự có nhiều giai đoạn bao gồm: giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, trong đó giai đoạn điều tra là giai
đoạn đặc biệt quan trọng, ở giai đoạn này CQĐT phải dựng lại “bức tranh toàn cảnh” về vụ án đã xảy ra trong quá khứ trên cơ sở thu thập, kiểm tra
đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án Việc dựng lại vụ án qua tài liệu nếu được thu thập đúng đắn, xác thực và có căn cứ, hợp pháp sẽ đưa ra đường lối xử lý vụ án đúng đắn, khách quan, toàn diện, đúng người đúng tội, không
bỏ lọt tội phạm hoặc ngược lại nếu hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra có sai lầm, thiếu sót sẽ đưa ra kết luận sai lầm, làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm, gây mất lòng tin vào công lý
Điều tra vụ án là hoạt động do CQĐT (thông qua Điều tra viên) trực tiếp tiến hành ĐTV (ĐTV) cũng là người sớm tiếp cận thông tin về tội phạm, được quan sát hậu quả do tội phạm gây ra thông qua hoạt động khám nghiệm hiện trường, tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể người… nên phần nào bị ảnh hưởng đến tâm lý, chủ quan khi thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ, dễ dẫn đến nóng vội, chủ quan, dễ sai lầm… Vì thế, BLTTHS quy định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân (VKS) mà cụ thể là kiểm sát viên (KSV) được giao kiểm sát điều tra có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án của CQĐT và ĐTV bảo đảm cho hoạt động điều tra kịp thời khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật
Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS là một hoạt động thực hiện chức năng của VKS được Hiến pháp và BLTTHS quy định
Trang 10Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS có phạm vi rất rộng tính từ khi tiếp nhận tin báo về tội phạm đến khi giải quyết xong vụ án, trong
đó hoạt động kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra là một phần của hoạt động thực hiện chức năng Theo quy định tại các Điều 20
và Điều 166 BLTTHS năm 2015 thì hoạt động này có nhiệm vụ: “Để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình điều tra vụ án; đảm bảo mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện, xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội”
Hoạt động điều tra của CQĐT và ĐTV trong quá trình điều tra vụ án hình sự, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự tùy theo tính chất và mức
độ mà tiến hành các hoạt động phù hợp, nhìn chung các hoạt động điều tra rất
đa dạng và phong phú; nội dung của các hoạt động cụ thể phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định nhằm chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Đó là những hoạt động thu thập vật chứng, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấy lời khai người biết sự việc phạm tội, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định và giám định Để những quy định trên được tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS, VKS
có thẩm quyền và trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hành vi
và quyết định của CQĐT, có quyền yêu cầu CQĐT phải thực hiện các yêu cầu điều tra để chứng minh tội phạm và người phạm tội Đó là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ vụ án hình sự ở giai đoạn điều tra
Theo qui định của BLTTHS và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự nay
là Luật tổ chức hoạt động của CQĐT hình sự năm 2015, hoạt động thu thập đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra chủ yếu thuộc về trách nhiệm của
Trang 11cơ quan điều tra Tuy nhiên, là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, VKS phải sử dụng các quyền năng cho phép theo qui định của pháp luật để yêu cầu CQĐT tiến hành thu thập, đánh giá chứng
cứ một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác, phục vụ cho việc chứng minh tội phạm, đồng thời cũng là căn cứ vững chắc để xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của CQĐT đề nghị cũng như các quyết định đơn phương mà BLTTHS quy định cho VKS Phải nhận thức khách quan rằng quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS không phải là quy định gây khó khăn cho hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, ĐTV mà đây thực chất là hoạt động phối hợp giúp cho CQĐT và ĐTV tiến hành tố tụng đúng pháp luật, khắc phục kịp thời các sai sót dẫn dễ đến vi phạm tố tụng Đồng thời là cơ sở để VKS thực hành quyền công tố ngay trong chính giai đoạn điều tra và các giai đoạn sau của tố tụng hình sự
Thực tiễn thi hành BLTTHS thời gian qua cho thấy hàng vạn vụ án hình sự mỗi năm được khởi tố, điều tra ở đâu CQĐT, ĐTV và VKS, KSV phối hợp tốt trong thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ của CQĐT thì vụ án
đó có chất lượng tố tụng tốt, tránh được việc phải điều tra bổ sung, điều tra lại, tránh được oan sai, lọt tội phạm Cũng qua thực tế thấy rằng hàng năm
có hàng nghìn vụ án hình sự mà công tác phối hợp giữa cơ quan điều tra, VKS chưa tốt trong thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ thì vụ án đã dẫn đến
tỷ lệ hoàn hồ sơ khá cao, cá biệt có hàng trăm vụ án bị đình chỉ điều tra do không phạm tội… Tìm hiểu nội dung này có nhiều nguyên nhân là quy định, pháp luật còn chưa đồng bộ, thiếu hướng dẫn thực hiện, là trình độ, năng lực của KSV chưa đạt yêu cầu luật đinh; công tác lãnh đạo, chỉ dạo của VKS cấp trên vẫn còn thiếu sót Trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn
Trang 12được giao KSV đã không tiếp cận vụ án ngay từ ban đầu, không kiểm sát chặt chẽ, xem xét kỹ lưỡng; chỉ đạo sát sao, yêu cầu CQĐT thực hiện những công việc cần thiết về thu thập, củng cố chứng cứ trước khi phê chuẩn các lệnh, quyết định tố tụng của CQĐT …
Mặt khác, hiện nay chúng ta đang tiến hành sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền trong xu thế toàn cầu hoá hội nhập quốc tế thì cần phải đẩy mạnh cải cách tư pháp nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong
xã hội, đảm bảo quyền bị can, bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử
vụ án hình sự, đảm bảo và mở rộng quyền tham gia bào chữa, quyền tranh tụng của người bào chữa, luật sư; đặc biệt là thực hiện Luật bồi thường Nhà nước để đảm bảo quyền được bồi thường thiệt hại do cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và VKS nói riêng gây ra cho người bị oan Vì vậy, vấn đề đặt
ra yêu cầu KSV của VKS ngày càng phải thận trọng hơn, chặt chẽ hơn, nâng cao tinh thần trách nhiệm hơn nữa khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật đối với hoạt động điều tra nói chung và hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ nói riêng
Nhằm góp một phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá chứng
cứ vụ án hình sự theo tiến trình cải cách tư pháp, tác giả lựa chọn đề tài “Hoạt động kiểm sát thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nội dung nghiên cứu về vấn đề này không mới, có nhiều tác giả đề cập
ở cả phần nghiên cứu lý luận và nghiên cứu ứng dụng, cụ thể như sau:
2.1 Nghiên cứu dưới giác độ lý luận
Liên quan đến đề tài, có một số công trình nghiên cứu, các bài báo viết
Trang 13trên các tạp chí về chứng cứ trong TTHS: sách chuyên khảo có cuốn “Chế định chứng cứ trong Luật TTHS Việt Nam” của Tiến sĩ Trần Quang Tiệp, NXB Chính trị Quốc gia năm 2010; Sách “Chứng cứ trong luật TTHS Việt Nam” của Thạc sĩ Nguyễn Văn Cừ, NXB Tư pháp năm 2004; Sách “Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự” của tiến sĩ Đỗ Văn Đương, NXB Công an nhân dân năm 2005 Các bài báo khoa học: Bài “Nguyên tắc thu thập, đánh giá chứng cứ trong TTHS Việt Nam” của Tiến sĩ Đỗ Văn Đương, Tạp chí Kiểm sát
số 5/2005; “Một số vấn đề về các loại nguồn chứng cứ trong BLTTHS Việt Nam năm 2003” của Trịnh Tiến Việt - Trần Thị Quỳnh, Tạp Kiểm sát số 03/2000 Luận án Tiến sĩ luật học của Đỗ Văn Đương, HN năm 2001, “Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự”
Đặc biệt ngành Kiểm sát có nhiều tác giả đã nghiên cứu về nội dung này:
Bài “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” của Phạm Mạnh Hùng, Tạp chí kiểm sát 21/2005; Bài “Công tác thực hành quyền công
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong tình hình mới và một số vấn đề
về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm” của Trần Công Phàn, Báo cáo chuyên đề tại Hội nghị cán bộ ngành Kiểm sát, VKSNDTC năm 2011; Bài “Viện kiểm sát các cấp cần tập trung làm tốt việc tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra” của Trần Công Phàn, Tạp chí Kiểm sát, số 16/ 2012;
2.2 Nghiên cứu dưới giác độ thực tiễn
Các tác giả gắn liền nghiên cứu quy định của BLTTHS năm 2003 với thực tiễn thi hành ở địa phương cụ thể và giai đoạn nhất định, tiêu biểu là
Sách “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của tác giả Lê Hữu Thể, NXB Tư pháp 2013; Bài “Một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên”
Trang 14của tác giả Nguyễn Quang Thành, Tạp chí Kiểm sát số 16/2011; Bài“Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra, hạn chế việc đình chỉ vì bị can không phạm tội, khắc phục việc đình chỉ sai” của Phạm Mạnh
Hùng, Tạp chí kiểm sát 3/2002;
Về đề tài khoa học có các công trình: “Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện khoa học Kiểm sát, HN năm 2005; “Một số vấn đề góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” Đề tài khoa học của trường Đại học Kiểm sát HN năm 2013; Luận văn Thạc sĩ “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của VKSND trên cơ sở
số liệu của địa bàn TP Hà Nội” của Cao Việt Cường, năm 2013
Các công trình nghiên cứu trên về mặt lý luận và thực tiễn đã rút ra các kết luận rất quan trọng để nâng cao hiệu lực hiệu quả của hoạt động tiến hành
tố tụng của CQĐT và ĐTV trong thu thập, đánh giá và sử dụng vụ án, góp phần quan trọng tạo cơ sở pháp lý để VKS, kiểm sát viên thực hiện tốt chức năng công tố tại tòa; chỉ ra phương diện lý luận để VKS nâng cao vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS đối với hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, bảo đảm tốt nhất quyền con người, quyền công dân, đẩy mạnh khám phá các vụ án hình sự
Tuy nhiên, các công trình trên chưa có một công trình và tác giả nào đề cập đến chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ giác độ phân tích thực tiễn địa phương qua các vụ án cụ thể Do vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống để làm sáng tỏ chức năng của VKS và vai trò của KSV trong hoạt động kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ vụ án hình sự nói chung ở phương diện lý luận và tổng kết từ thực
Trang 15tiễn nói riêng Từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về vai trò của KSV, về chức năng, hệ thống tổ chức và hoạt động của VKS, nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống những vấn
đề lý luận pháp lý về kiểm sát điều tra trong hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ vụ án hình sự, qua thực tiễn kiểm sát các hoạt động trên của CQĐT nói chung và địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng, đối chiếu với những qui định của luật, để thấy những bất cập của luật định, những thiếu sót cần khắc phục trong thực tiễn về hoạt động điều tra, kiểm sát điều tra Từ đó đề xuất biện pháp hoàn thiện pháp luật, các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng của VKS trong giai đoạn điều tra
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để làm sáng tỏ kết quả hướng đến của mục
đích nghiên cứu, Luận văn tập trung nghiên cứu những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ lý luận chung về kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá chứng
cứ trong giai đoạn điều tra của CQĐT trong tố tụng hình sự
- Phân tích những quy định pháp luật hiện hành về kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong pháp luật TTHS Việt Nam
- Làm rõ thực trạng kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ ở Việt Nam hiện nay qua thực tiễn tỉnh Thái Nguyên;
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động điều tra của VKS đối với CQĐT ở giai đoạn điều tra
vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ của VKS, đối với CQĐT ở giai đoạn
Trang 16điều tra vụ án hình sự; chức năng này được thể hiện ở những qui định của pháp luật hiện hành về nhiệm vụ để thực hiện chức năng của VKS, về vai trò của KSV đối với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ vụ án hình sự không nghiên cứu kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ theo thẩm quyền của cơ quan được giao một số hoạt động điều tra
Phạm vi nghiên cứu là hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ của VKS thuộc ngành Kiểm sát tỉnh Thái Nguyên, đối với CQĐT trong điều tra vụ án hình sự giai đoạn 2010 – 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận của việc nghiên cứu luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, về việc xây dựng hệ thống tổ chức hoạt động và chức năng của VKS trong TTHS cụ thể giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng
- Ngoài phương pháp nêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, chứng minh, tổng hợp, hệ thống, đối chiếu, so sánh, thống kê… để giải quyết vấn đề đặt ra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn trình bày kết quả nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện
về chức năng của VKS, vai trò KSV trong hoạt động thu thập, đánh giá chứng
cứ vụ án hình sự của cơ quan điều tra Nêu lên những đóng góp mới về phương pháp tiếp cận, mối quan hệ phối hợp của KSV và ĐTV trong hoạt động điều tra vụ án hình sự để hướng tới chân lý khách quan vụ án
Tác giả Luận văn phân tích những điểm mới liên quan đến chức năng kiểm sát điều tra và vai trò KSV của VKS về hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ vụ án hình sự trong BLTTHS năm 2015 hướng tới mục tiêu chung
Trang 17mà công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay đặt ra, để bảo đảm công lý, bảo đảm sự công bằng; người có hành vi phạm tội thì phải bị trừng phạt, nhưng phải thận trọng không được làm oan người vô tội
Trên cơ sở đó, Luận văn nêu ra và phân tích những phương pháp, những kinh nghiệm, những vướng mắc và biện pháp khắc phục trong thực tiễn giúp cho KSV thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
7 Kết cấu của Luận văn
Chương 1: Lý luận chung về kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá
chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Chương 2: Quy định của pháp luật về kiểm sát thu thập, đánh giá chứng
cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự
Trang 181.1.1 Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các quan hệ xã hội ở mức độ nguy hiểm nhất được pháp luật hình sự quy định bảo vệ Hành
vi đó gây ra hoặc đe dọa gây ra các thiệt hại ở mức độ cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS Vì vậy phải kiên quyết đấu tranh làm rõ xử lý, trừng trị và qua đó giáo dục mọi người ý thức pháp luật mang lại công lý, công bằng Để làm rõ được hành vi phạm tội cần phải khám phá, điều tra Hoạt động khám phá tội phạm đặt ra cho các cơ quan bảo vệ pháp luật phải làm rõ các yếu tố như có hành vi phạm tội hay không, ai là người gây ra hành vi đó; mức độ lỗi, hậu quả thiệt hại; nguyên nhân điều kiện và các yếu tố khác phải chứng minh trong vụ án hình sự Theo Điều 63 BLTTHS năm 2003 thì những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự:
- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm
và những tình tiết khác của hành vi phạm tội
- Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội
- Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo
- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Trang 19Để chứng minh các nội dung trên thì phải dựa vào chứng cứ, chứng cứ được coi là phương tiện chứng minh trong vụ án hình sự; theo pháp luật TTHS Việt Nam trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về CQTHTT trong hoạt động điều tra trách nhiệm thu thập, đánh giá chứng cứ chủ yếu thuộc về CQĐT và cơ quan này thực hiện hoạt động điều tra thông qua hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự BLTTHS quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về CQĐT Bị can, bị cáo có quyền nhưng không bắt buộc chứng minh mình vô tội vì thế CQĐT phải tìm cho được những chứng cứ để làm rõ yêu cầu trên, đó chính là hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự Nói cách khác: hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong hoạt động điều tra vụ án hình sự là hoạt động của CQĐT bằng các hành vi tố tụng hợp pháp khám phá tội phạm, làm rõ bức tranh toàn cảnh chân thực về vụ án đã xảy ra, để từ đó xử lý vụ án hình sự theo quy định của pháp luật TTHS (TTHS)
Hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra vụ án hình
sự là hoạt động tố tụng của CQĐT trong giai đoạn điều tra, giai đoạn điều tra với ý nghĩa là giai đoạn của TTHS được bắt đầu từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và căn cứ để khởi tố vụ án hình sự cho đến khi kết thúc điều tra theo quy định pháp luật TTHS Giai đoạn điều tra VAHS có mục đích khám phá sự thật khách quan vụ án để cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng tồn tại các quan điểm khác nhau về hoạt động điều tra Cách hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay cho rằng
điều tra là hoạt động của CQĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Quan
điểm này cho rằng điều tra là tổng hợp tất cả các hành vi thực hiện trong giai
đoạn điều tra và do một CQĐT thực hiện Từ điển Luật học giải thích "điều tra là hoạt động TTHS do người và cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ làm cơ
Trang 20Hoạt động TTHS để chứng minh sự thật vụ án là một quá trình liên tục,
kế tiếp nhau trải qua nhiều giai đoạn, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau, giai đoạn sau tiếp tục giải quyết nội dung vụ án trên cơ sở kết quả của giai đoạn trước Mỗi giai đoạn là một bước độc lập của chu trình tố tụng, lý luận về giai đoạn chỉ ra mỗi giai đoạn khác nhau bởi các yếu tố: Chủ thể và thẩm quyền
tố tụng khác nhau; nhiệm vụ quyền hạn tố tụng khác nhau; hành vi tố tụng và kết quả khác nhau; văn bản tố tụng và thời hạn tố tụng riêng biệt [31, tr.527] Trong cả chu trình đó theo BLTTHS thì giai đoạn khởi tố vụ án là giai đoạn thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án là giai đoạn hai Giai đoạn điều tra vụ án có trách nhiệm làm rõ tất cả các yếu tố phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 BLTTHS năm 2003 Giai đoạn điều tra có nhiệm vụ chính là
áp dụng mọi biện pháp điều tra tiến hành làm rõ và kết luận vụ án để giải quyết nhiệm vụ này phải tiến hành các hoạt động điều tra Như vậy giai đoạn điều tra
là khái niệm của luật TTHS chỉ một giai đoạn, chu trình của TTHS
Tóm lại, từ những nhận định trên có thể chỉ ra khái niệm của giai đoạn
điều tra vụ án hình sự là: Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự bắt đầu từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi kết luận điều tra vụ án Ở giai đoạn này CQĐT tiến hành các hoạt động theo quy định của BLTTHS để thu thập chứng cứ, bao gồm chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng, chứng cứ xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
bị can cũng như chứng cứ xác định các tình tiết khác của vụ án từ đó kết luận
Trang 21quyền của CQĐT đối với vụ án, nói cách khác hoạt động điều tra chính là hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án
Để giải quyết vụ án, ở giai đoạn điều tra là sự tiếp tục giả định của giai đoạn khởi tố với ý nghĩa là đã có hành vi phạm tội và hành vi đó có dấu hiệu
tội phạm cần phải điều tra ra Quyết định “khởi tố vụ án” Ở giai đoạn này
CQĐT phải dựa vào chứng cứ để khẳng định sự kiện tội phạm được giả định
Muốn có được chứng cứ thì CQĐT phải tiến hành các hoạt động thu thập nó, thu thập chứng cứ là khâu đầu tiên của quá trình chứng minh trong điều tra vụ án hình sự
Theo BLTTHS Việt Nam hiện hành thu thập chứng cứ trong TTHS
phải bảo đảm các đặc điểm sau đây: Một là, thu thập chứng cứ là hoạt động tố
tụng của CQĐT được quy định cụ thể trong BLTTHS về thẩm quyền, nội dung, hình thức, bị giới hạn trong thời gian nhất định (thời hạn điều tra vụ
án) Hai là, thu thập chứng cứ là việc phát hiện, ghi nhận phản ánh các thông
tin dấu vết, vật chứng từ vụ việc có dấu hiệu tội phạm vào tài liệu hồ sơ vụ án theo các quy định của pháp luật TTHS để làm cơ sở chứng minh trong giải quyết tin tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và giải quyết vụ án
hình sự Ba là, Thu thập chứng cứ trực tiếp do thủ trưởng CQĐT và ĐTV được giao điều tra vụ án thực hiện; Bốn là, việc tiến hành các hoạt động
TTHS ở giai đoạn điều tra (hoạt động phát hiện, thu thập chứng cứ) phải tuân
thủ đúng pháp luật (bảo đảm hợp pháp) Năm là, chứng cứ thu thập được là cơ
sở pháp lý để giải quyết vụ án hình sự
Tuy nhiên, xem xét dưới giác độ hoạt động kiểm sát thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án thì hoạt động này được quy định tại Điều 113 BLTTHS năm 2003 gồm các nội dung: Chủ thể tiến hành hoạt động kiểm sát là VKS cùng cấp (trực tiếp là Viện trưởng, Phó viện trưởng và kiểm sát viên); đối tượng hoạt động kiểm sát đối với “kiểm sát việc khởi tố, kiểm
Trang 22sát các hoạt động điều tra (các hoạt động thu thập và đánh giá chứng cứ) và việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT (do thủ trưởng CQĐT và ĐTV) thực hiện; khách thể là bảo đảm hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ có căn cứ và đúng pháp luật; phạm vi từ khi nhận được tin báo về tội phạm đến khi kết thúc giai đoạn điều tra VAHS Nói cách khác như vậy khái niệm “Giai đoạn điều tra trong hoạt động kiểm sát thu thập đánh giá và sử dụng chứng cứ” rộng hơn quan niệm về giai đoạn tố tụng điều tra VAHS như đã nêu
Từ phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm thu thập chứng cứ trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự như sau: Thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động điều tra theo TTHS của CQĐT mà trực tiếp là ĐTV được phân công thực hiện nhằm phát hiện, ghi nhận phản ánh các thông tin chứng cứ từ vụ việc có dấu hiệu tội phạm vào tài liệu hồ sơ vụ
án theo các quy định của pháp luật TTHS để làm cơ sở ra quyết định khởi tố
vụ án, bị can và chứng minh trong giải quyết vụ việc đã được khởi tố
Thu thập chứng cứ kết quả mang lại là hệ thống chứng cứ đã được phản ánh trong hồ sơ VAHS, ĐTV phải sử dụng chứng cứ vào quá trình chứng minh, muốn đưa vào chứng minh thì ĐVT phải đánh giá chứng cứ Đáng giá chứng cứ là hoạt động tư duy của ĐTV đối với tài liệu chứng cứ đã thu thập được Đánh giá chứng cứ bao gồm các hoạt động kiểm tra, nghiên cứu và phân tích về chứng cứ Kiểm tra chứng cứ là hoạt động xem xét lại chứng cứ với các thuộc tính (ba thuộc tính) của chứng cứ để khẳng định cái gì là chứng
cứ thì sẽ phân tích đánh giá, cái gì không là chứng cứ thì sẽ đưa ra khỏi hồ sơ
vụ án Kiểm tra chứng cứ là để đưa đến đánh giá, đánh giá chỉ được thực hiện khi đã kiểm tra tính pháp lý của chứng cứ và khẳng định đây là thành phần của hồ sơ vụ án được đưa vào quá trình chứng minh Đánh giá chứng cứ có thể đánh giá riêng rẽ từng chứng cứ, có thể đánh giá tổng hợp các chứng cứ
Trang 23Theo quan điểm của tiến sĩ Đỗ Văn Đương thì:
Đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy logic, xử lý và tích tụ thông tin của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, được tiến hành trên cơ sở những hiểu biết của mình về những tài liệu thu thập được, dựa trên những quy định của pháp luật, ý thức pháp luật, niềm tin nội tâm để xác định độ tin cậy và giá trị chứng minh của từng chứng cứ trong vụ án hình sự, được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng nhằm làm sáng tỏ toàn bộ sự thật khách quan của vụ án một cách khách quan toàn diện và đầy đủ [9, tr.166]
Theo đó đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự có các đặc
điểm chính sau đây: Một là, đây là hoạt động tư duy logic của Thủ trưởng
CQĐT và ĐTV về các chứng cứ (thông tin chứng cứ) đã được thu thập trong
hồ sơ vụ án Chỉ đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ mà không đánh giá các
chứng cứ ngoài hồ sơ vụ án Hai là, chủ thể đánh giá chứng cứ dựa trên sự
hiểu biết pháp luật và các kiến thức khoa học của bản thân về các sự vật hiện tượng; đánh giá đồng thời còn phải dựa trên niềm tin nội tâm vào công lý, công bằng và ý chí của người làm luật trên một ý thức hệ pháp luật thống nhất Đánh giá chứng cứ phải loại bỏ mọi suy nghĩ chủ quan, áp đặt mang tính tâm lý cá nhân mà phải hướng tới quá trình truy tìm chân lý, loại bỏ các mâu thuẫn để khẳng định tính nhất quán của nội dung sự kiện pháp lý nhận định
Ba là, đánh giá chứng cứ là quá trình liên tục, thực hiện trong suốt quá trình
chứng minh, thực hiện ngay khi thu thập được từng chứng cứ mà không chờ đến điều tra xong mới đánh giá Đánh giá từng chứng cứ trong tổng thể các chứng cứ của vụ án để có kế hoạch truy tìm các chứng cứ còn thiếu trong vụ
án Nói cách khác: Bản chất của đánh giá chứng cứ là đặt các chứng cứ như một tư liệu, giả định, tiền đề từ đó xây dựng nên bức tranh toàn cảnh về vụ án với từng mảnh ghép là chứng cứ - tìm ra tính chân thực, logic của các sự kiện,
Trang 24phát hiện mâu thuẫn, loại trừ sự suy diễn chủ quan – đưa đến kết luận đủ hay chưa đủ, có hay không có căn cứ kết luận sự kiện phạm tội đang giải quyết
Bốn là, đánh giá chứng cứ là quá trình tổng hợp theo nguyên tắc đánh giá
từng chứng cứ cá biệt để xác định giá trị chứng minh, đồng thời đánh giá tổng thể chứng cứ trong vụ án để tìm ra chân lý vụ án Vì vậy khi đánh giá phải nhuần nhuyễn yêu cầu về tính khách quan, tính toàn diện và tính đầy đủ
Từ các quan điểm và các phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm chung
nhất về đánh giá chứng cứ: Đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động tư duy của Thủ trưởng CQĐT, ĐTV theo quy định của BLTTHS tiến hành xem xét, kiểm tra các chứng cứ đã thu thập được để xác định tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan của chứng cứ, qua đó làm
rõ có sự việc phạm tội xảy ra hay không, ai là người thực hiện hành vi phạm tội cũng như giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
1.1.3 Khái niệm hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Thu thập và đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra VAHS là hoạt động pháp lý của CQĐT và ĐTV trong giai đoạn điều tra VAHS: về chủ thể đây là hành vi của con người cụ thể thực hiện, chủ thể của hoạt động này Thủ trưởng CQĐT và ĐTV có thẩm quyền thực hiện Là hoạt động của con người
cụ thể nên hoạt động thu thập chứng cứ có chủ thể tiến hành là ĐTV, có nội dung là quyền và nghĩa vụ được quy định trong BLTTHS, có khách thể là các thông tin về tài liệu chứng cứ trong vụ án được biểu hiện ra bằng các tài liệu chứng cứ trong quá trình điều tra thu thập được là biên bản ghi nhận hoạt động tố tụng các loại; các chứng cứ, vật chứng khác… có phạm vi là từ khi phát hiện hoặc tiếp nhận tin báo, tố giác, kiến nghị khởi tố về tội phạm đến khi kết thúc điều tra VAHS ở giai đoạn điều tra bằng một trong ba loại quyết định (Đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án hoặc đề nghị việc truy tố) Hoạt
Trang 25động thu thập chứng cứ là hoạt động đặc biệt được quy định cụ thể về quy trình, thủ tục, hình thức và hậu quả trong BLTTHS
Như vậy có thể khẳng định hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong
giai đoạn điều tra vụ án như sau: Hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra VAHS là hành vi TTHS của Thủ trưởng CQĐT và ĐTV được phân công điều tra VAHS thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý được quy định trong BLTTHS để thu thập chứng cứ phục vụ quá trình giải quyết VAHS ở giai đoạn điều tra có phạm vi từ khi tiếp nhận tin báo về tội phạm đến khi ban hành các quyết định TTHS ở giai đoạn kết thúc điều tra VAHS
1.2 Nội dung, nguyên tắc, biện pháp thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra VAHS
1.2.1 Nội dung thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự
Thu thập chứng cứ là để phục vụ nhiệm vụ chứng minh trong những giai đoạn nhất định; ở giai đoạn điều tra VAHS, nhiệm vụ đặt ra là CQĐT phải xác định rõ tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, xác định thiệt hại do tội phạm gây ra, tạo điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội; lập hồ sơ, đề nghị truy tố Cụ thể là nhiệm vụ giai đoạn này phải giải quyết các nội dung theo quy định tại Điều 63 BLTTHS năm 2003 vào giai đoạn điều tra Nhiệm vụ giai đoạn điều tra sẽ chi phối nội dung thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn này
Nội dung của thu thập chứng cứ ở giai đoạn điều tra là kết quả minh chứng được các thông tin về tội phạm được vật chất hóa thành tài liệu trong
hồ sơ vụ án để phục vụ việc xử lý vụ án ở các giai đoạn tiếp theo nếu có như giai đoạn truy tố, xét xử VAHS…; Trong giai đoạn điều tra cũng như toàn bộ các quá trình TTHS, pháp luật TTHS yêu cầu phải chứng minh vụ án khách quan, toàn diện và đầy đủ gồm các chứng cứ buộc tội và các chứng cứ gỡ tội;
Trang 26cả tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trong vụ án Nói cụ thể: Nội dung đánh giá chứng ở giai đoạn điều tra phải bảo đảm gồm các yêu cầu sau:
Một là, đánh giá chứng cứ đã thu thập được để khẳng định vụ việc đã khởi
tố trong quyết định khởi tố có hay không có căn cứ theo quy định tại điều 100 BLTTHS năm 2003 Nếu không có căn cứ thì ra quyết định đình chỉ vụ án
Hai là, đánh giá chứng cứ để xác định ai là người thực hiện hành vi
phạm tội để khởi tố bị can; việc áp dung các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp tố tụng khác với bị can (nếu có) đã đảm bảo căn cứ luật định;
Ba là, đánh giá chứng cứ để xác định hành vi khách quan của bị can về
tính chất, mức độ, hậu quả đã bảo đảm đúng tội danh, khoản, điểm đã khởi tố; nếu chưa phù hợp thì phải thay đổi, bổ sung tội danh
Bốn là, đánh giá chứng cứ để xác định trong vụ án còn có hay không
người phạm tội (đồng phạm); nếu còn đồng phạm thì phải khởi tố bổ sung
Năm là, đánh giá chứng cứ để xác định các nội dung khác như: nguyên
nhân, hậu quả, xác định thiệt hại, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ…
1.2.2 Nguyên tắc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Một là, nguyên tắc thu thập, đánh giá chứng cứ theo quy định của pháp luật: Để điều tra vụ án CQĐT có thể dụng nhiều biện pháp khác nhau, biện
pháp tố tụng (công khai), biện pháp điều tra nghiệp vụ (bí mật, trinh sát…) để phát hiện chứng cứ và thu thập chứng cứ; nhưng BLTTHS quy định chỉ các biện pháp nào phù hợp với quy định của BLTTHS quy định mới coi là hợp pháp, mới có giá trị chứng minh Tính hợp pháp của chứng cứ phải bảo đảm
do ĐTV có thẩm quyền thực hiện, được thu thập bằng biện pháp đã quy định, hình thức và kết quả phải thể hiện theo thủ tục chặt chẽ do BLTTHS quy định
cho tùng loại tương ứng
Trang 27Hai là, nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ: CQĐT khi tiến
hành đánh giá chứng cứ trước hết phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện và đầy đủ, kịp thời trong thu thập chứng cứ Tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá chứng cứ là thực tế khách quan Trong trường hợp có nhiều chứng cứ thu được những thông tin không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau thì phải căn cứ vào thực tế khách quan để đánh giá mà không định trước giá trị của bất
kỳ chứng cứ nào
Mỗi chứng cứ phải được xem xét riêng và đem so sánh với các chứng
cứ khác, đặt nó trong mối liên hệ với các chứng cứ khác, phát hiện kịp thời lỗ hổng của hệ thống chứng cứ trong vụ án đang điều tra, xét xử Khi các chứng
cứ không tạo thành hệ thống cùng đi đến một kết luận về tình tiết cần phải chứng minh trong vụ án hình sự thì cần xem xét trong hệ thống đó, chứng cứ nào kết luận theo hướng ngược lại, nguồn của chứng cứ này, đặc biệt là tính khách quan của chứng cứ này có ý nghĩa quan trọng để ta chấp nhận sử dụng chứng cứ đó hay không
Chủ thể đánh giá chứng cứ không thể tùy tiện loại bỏ một chứng cứ nào
đó trong hệ thống chứng cứ đã thu thập được mà phải đánh giá khách quan, toàn diện tất cả các chứng cứ của vụ án Mọi chứng cứ đã thu thập, mọi tình tiết được xác định bằng các chứng cứ đều phải được xem xét đến Trong đó,
có những tình tiết buộc tội, những tình tiết gỡ tội, những lời khai, những lý lẽ của các bên tham gia tranh luận… đều phải được xem xét
Cần phải đưa ra các giả thuyết về tính đúng đắn, sai lầm của mỗi chứng
cứ để từ đó đánh giá một cách tổng quát và toàn diện nhằm chứng minh một tình tiết hay nhiều tình tiết liên quan trong vụ án
Ba là, nguyên tắc đánh giá chứng cứ trong mối quan hệ tổng thể các vấn đề của vụ án: CQĐT khi tiến hành đánh giá chứng cứ phải đặt chứng cứ
trong mối quan hệ tổng thể các vấn đề của vụ án Bởi, các chứng cứ trong
Trang 28cùng một vụ án sẽ luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau trong việc chứng minh làm rõ sự thật của vụ án Chỉ thu thập được một vài chứng cứ rời rạc, thiếu mối liên hệ với nhau, không tạo thành hệ thống thì không thể đi đến kết
luận chính xác được
Các chứng cứ đã thu thập được phải cho phép xác định các sự kiện trong
vụ án hình sự theo một trật tự nhất định về không gian và thời gian phù hợp với hiện thực khách quan [9] Tuy nhiên, nếu có một chứng cứ xác định một sự kiện nào đó tồn tại một cách khách quan, đủ chi phối toàn bộ quá trình bao gồm nhiều vấn đề khác nhau thì không cần phải chứng minh thêm vấn đề khác
Bốn là, nguyên tắc giải thích sự nghi ngờ theo hướng có lợi cho bị can:
Nguyên tắc này có nghĩa là nếu trong giai đoạn điều tra, các chứng cứ về vụ
án còn đang tranh cãi và mâu thuẫn, nếu sự kiện này hay sự kiện khác có thể được giải thích theo những hướng khác nhau về lý do xuất hiện và diễn biến của nó, nếu như chứng cứ này hoặc chứng cứ khác còn có sự nghi ngờ thì phải chấp nhận việc quyết định theo hướng có lợi cho bị can Điều này cũng
có nghĩa là sự buộc tội phải được và chỉ đươc dựa vào các sự kiện không có
sự nghi ngờ, rằng những gì có sự nghi ngờ, không xác thực cần phải được loại trừ ra khỏi cơ sở để buộc tội, rằng kết luận về tính có lỗi của bị can có thể
được rút ra chỉ khi tính có lỗi được chứng minh mà không có sự nghi ngờ nào
Tuy nhiên, không nên nhận thức và áp dụng nguyên tắc này một cách giản đơn rằng cứ có sự nghi ngờ là lập tức giải thích theo hướng có lợi cho bị can Thực tiễn cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp khi điều tra và xét xử vụ
án hình sự, những người tiến hành tố tụng thường có sự nghi ngờ về tính chính xác của các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được Nếu có sự nghi ngờ như vậy thì những người tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp theo quy định của pháp luật để thu thập và xác định thêm các chứng cứ khác, loại
bỏ sự nghi ngờ đối với các chứng cứ hiện có, sự nghi ngờ về các sự kiện do chứng cứ hiện có cung cấp
Trang 29Nguyên tắc giải thích sự nghi ngờ theo hướng có lợi cho bị can phải là trong trường hợp điều nghi ngờ này không thể làm rõ được nữa vì không còn
cơ sở xác minh, không thể áp dụng biện pháp xác minh được nữa, không còn thời hạn mà luật cho phép… chứ không phải cứ xuất hiện nghi ngờ là ngay lập tức áp dụng nguyên tắc này Đây cũng chính là nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 13 BLTTHS năm 2015
1.2.3 Biện pháp thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Biện pháp thu thập chứng cứ là cách thức mà CQĐT tiến hành thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra VAHS; cách thức tiên hành thu thập chứng cứ phải dựa trên cơ sở khoa học và chứng minh được bằng khoa học Cách thức thu thập chứng cứ chính là các hoạt động tố tụng mà BLTTHS quy định cho mỗi loại hoạt động nhất định như: cách thức hỏi cung, lấy lời khai là hỏi đáp, ghi nhận sự trình bày; khám nghiệm hiện trường là việc nghiên cứu dấu vết, mô tả, đo vẽ, sao chụp thông số hiện trường; việc nhận dạng là kết quả quan sát so sánh
1.3 Kiểm sát thu thập, đánh giá chứng trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự
1.3.1 Khái niệm kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm
2013 và BLTTHS năm 2003 và 2015, chức năng kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra được giao cho VKS thực hiện Đây là một trong hai nội dung thuộc chức năng của VKS là kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố trong các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra VAHS Giai đoạn điều tra VAHS, CQĐT có nhiệm
vụ chính là thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ để làm rõ tội phạm và chủ
Trang 30thể thực hiện tội phạm cũng như các tình tiết khác của vụ án để làm cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, nói cách khác đây chính là hoạt động điều tra vụ án hình sự
Hoạt động điều tra vụ án (hoạt động tố tụng) là hoạt động đặc biệt vì nó tác động đến quyền con người, lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân; do vậy dễ dẫn đến sai lầm, vi phạm, gây oan sai… nên cần có cơ chế kiểm tra, giám sát đánh giá đặc biệt Cơ chế đó được BLTTHS quy định là VKS tiến hành kiểm sát hoạt động điều tra (thu thập, đánh giá) của CQĐT trong điều tra khám phá vụ án hình sự Kiểm sát hoạt động điều tra của CQĐT trong điều tra
vụ án hình sự là bộ phận của hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp; hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra chính là hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ, do đó kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ của ĐTV và CQĐT trong giai đoạn điều tra chính là hoạt động kiểm sát điều tra của VKS và KSV với CQĐT và ĐTV trong giai đoạn điều tra vụ án Kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ hẹp hơn so với hoạt động điều tra vụ án,
là bộ phận của hoạt động điều tra VAHS
Chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự của VKS thực chất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của CQĐT và ĐTV Kiểm sát hoạt động điều tra là bộ phận cấu thành, là nhiệm vụ cụ thể của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Kiểm sát hoạt động điều tra với tính chất là một chức năng của VKS thì nó có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động TTHS được thực hiện bởi CQĐT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm đồng thời cũng không làm oan người
vô tội "Những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động điều tra tất yếu sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc giải quyết vụ án hình sự, như truy tố, xét xử oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm" [14] Vì vậy, hoạt động điều tra của CQĐT phải
Trang 31chịu sự chế ước và kiểm sát chặt chẽ của cơ quan VKS Điều này được thể hiện thông qua việc luật quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cho VKS để bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp Tuy nhiên ở đây có
sự khác biệt cơ bản giữa kiểm sát hoạt động điều tra của CQĐT trong giai đoạn điều tra với hoạt động kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ ở chỗ: hoạt động kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra hướng tới khách thể là chứng cứ, bảo đảm chứng cứ có đầy đủ thuộc tính đưa vào chứng minh; còn kiểm sát hoạt động điều tra của CQĐT trong giai đoạn điều tra là hướng tới khách thể là hoạt động tố tụng của ĐTV có căn cứ và hợp pháp
Như vậy, Hoạt động kiểm sát thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hành vi của VKS do KSV thực hiện hướng vào kết quả hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ của ĐTV trong giai đoạn điều tra VAHS nhằm bảo đảm cho tất cả các chứng cứ thu thập được, được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, có đầy đủ giá trị chứng minh trong giả quyết vụ án
Hoạt động kiểm sát điều tra việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra có các nội dung cơ bản sau đây:
Một là, về đối tượng, phạm vi kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng
cứ trong giai đoạn điều tra: Đối tượng của kiểm sát việc thu thập, đánh giá
chứng cứ trong giai đoạn điều tra chính là các hành vi xử sự của CQĐT và ĐTV trong hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong VAHS Khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là Hiến pháp, Luật
tổ chức VKSND, BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan
để kiểm tra, xem xét bảo đảm sự tuân theo pháp luật, bảo đảm tính có căn cứ
và hợp pháp của các hành vi TTHS mà chủ thể bị kiểm sát thực hiện "Trong trường hợp chưa có quyết định khởi tố vụ án thì các biện pháp điều tra chưa được tiến hành, trừ những biện pháp khẩn cấp không thể trì hoãn được như
Trang 32bắt khẩn cấp, tạm giữ, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể" [23] nên phạm vi của kiểm sát thu thập, đánh giá chứng
cứ trong vụ án hình sự ở giai đoạn điều tra được xác định bắt đầu từ khi CQĐT quyết định khởi tố vụ án hình sự cho tới khi vụ án được kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra chuyển cho VKS đề nghị truy tố hoặc khi CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, trừ những trường hợp khẩn cấp không thể trì hoãn, CQĐT phải tiến hành kiểm sát một số hoạt động điều tra trước khi khởi tố vụ án thì phạm vi của kiểm sát hoạt động điều tra bắt đầu từ khi CQĐT tiến hành các hoạt động điều tra đó là: kiểm tra xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và các biện pháp ngăn chặn
Đáng chú ý là đối tượng kiểm sát thu thập, đánh giá chứng cứ của VKS
và KSV là hành vi của thủ trưởng CQĐT và ĐTV trong tiến hành điều tra vụ
án hình sự trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ, nhưng không phải chỉ bằng hành vi mà còn đánh giá bằng kết quả là chủ yếu căn cứ vào kết quả Trong điều tra vụ án CQĐT và ĐTV có thể tiến hành nhiều hoạt động bao gồm điều tra theo tố tụng (điều tra công khai) và điều tra trinh sát (Điều tra bí mật), nhưng chỉ những hoạt động điều tra theo tố tụng mới là đối tượng của hoạt động kiểm sát điều tra của VKS; CQĐT để khám phá vụ án có thể phải sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ để thu thập thông tin, mở rộng vụ án… nhưng các hoạt động này VKS không có quyền kiểm tra, giám sát mà VKS chỉ giám sát điều tra các hành vi tiến hành công khai theo tố tụng đối với vụ
án CQĐT không có trách nhiệm công khai, thông báo cho VKS những hoạt động tố tụng mà họ đang tiến hành với vụ án
Hai là, về phạm vi hoạt động kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ: là giai đoạn điều tra vụ án, tính từ sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án
đến khi kết thúc điều tra vụ án theo quy định của BLTTHS Hoạt động của CQĐT thu thập, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn khởi tố vụ án cũng thuộc
Trang 33phạm vi ở giai đoạn này Việc xác định phạm vi như vậy là thể hiện đầy đủ bản chất pháp lý của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra, đó là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hoạt động thu thập chứng cứ của CQĐT
Ba là, về kết quả của kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra: Kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá
chứng cứ ở giai đoạn điều tra có phạm vi nội hàm, tính chất hẹp hơn so với hoạt động kiểm sát điều tra của CQĐT ở giai đoạn điều tra Nghĩa là kiểm sát
về tính hợp pháp, tính khách quan, tính liên quan của các tài liệu chứng cứ với
ý nghĩa là kết quả của hoạt động điều tra mang lại; chứng cứ này với vai trò là phương tiện chứng minh trong VAHS
1.3.2 Nội dung, biện pháp hoạt động kiểm sát trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Nội dung của hoạt động kiểm sát việc thu thập, đánh giá chứng cứ là kiểm sát tính có căn cứ và hợp pháp của chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra có tuân thủ đầy đủ quy định của BLTTHS hay không Nội dung này bao gồm các yêu cầu:
+ Yêu cầu tuân thủ đúng quy định về chủ thể tiến hành tố tụng của CQĐT, trong thu thập, đánh giá chứng cứ: yêu cầu tuân thủ về thẩm quyền chức trách của từng chức danh khi tiến hành các hoạt động tố tụng, cơ sở để kiểm sát là các quy định của BLTTHS
+ Yêu cầu tuân thủ đúng quy trình thực hiện hành vi thu thập, đánh giá chứng cứ như: có thực hiện các bước của một hoạt động hay chưa như khi hỏi cung, lấy lời khai đã giải thích quyền và nghĩa vụ; khi khám xét nơi
ở, nơi làm việc thông thường lệnh có sự phê chuẩn của VKS hay chưa, có sự chứng kiến của người chứng kiến không, tài liệu đỗ vật có phản ánh trong biên bản khám xét
Trang 34+ Yêu cầu về thủ tục thu thập phản ánh chứng cứ khi thu thập chứng cứ vào hồ sơ: kiểm sát việc thu thập này có lập biên bản hay không, có niêm phong vật chứng cần thu giữ, mô tả như thế nào, biên bản có lập theo mẫu do
cơ quan có thẩm quyền ban hành chưa; đối với kết luận giám định, đánh giá theo theo phương pháp nào
+ Yêu cầu về lưu trữ quản lý chứng cứ: kiểm sát việc thu thập tài liệu, chứng cứ vật chứng trong quá trình điều tra có được quản lý, lưu trữ theo quy định hay chưa như: vật chứng là chất cấm, chất độc hại, vật chứng là tài sản quý hiếm như vàng, kim loại quý, vật chứng là chất phóng xạ, vật chứng là phương tiện, máy móc không thể đưa về cơ quan điều tra quản lý thì quản lý ra sao
1.4 Cơ sở pháp lý về hoạt động kiểm sát thu thập, đánh giá chứng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.4.1 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong Luật tổ chức VKSND
Thu thập, đánh giá chứng cứ trong quá trình điều tra vụ án hình sự; được quy định trong Điều 15, Luật Tổ chức VKSND năm 2015 về kiểm sát hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra, cụ thể như sau:
Điều 15 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự
1 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
2 Kiểm sát hoạt động TTHS của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật
3 Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra
4 Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết
Trang 355 Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra
6 Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng
7 Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
8 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS
Theo quy định này, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát điều tra rất rộng bao gồm toàn bộ các nội dung liên quan đến hoạt động điều tra, khám phá
vụ án của CQĐT; nội dung kiểm sát về thẩm quyền, về căn cứ, về trình tự, về thủ tục tiến hành tố tụng, hàn vi tố tụng và kết quả tố tụng của CQĐT ở giai đoạn điều tra, trong đó hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ là một bộ phận
1.4.2 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự
Đó là các quy định của BLTTHS ở phần chung về chức năng nhiệm vụ của VKS trong TTHS và căn cứ cụ thể quy định tại điều BLTTHS năm 2003
và các quy định trong từng hoạt động cụ thể: Tại điều 113 BLTTHS như sau:
1 Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra;
2 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng;
3 Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra
4 Yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra;
Trang 36Tại các hoạt động cụ thể BLTTHS cũng quy định nhiệm vụ kiểm sát điều tra như: kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, kiểm sát việc khám nghiệm tử thi, kiểm sát việc khám xét, kiểm sát việc hỏi cung, lấy lới khai, đối chất, nhận dạng, kiểm sát thực nghiệm điều tra
1.4.3 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong pháp lệnh về tổ chức Cơ quan điều tra hình sự
Điều 11 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động Điều tra
1 VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động Điều tra nhằm bảo đảm cho hoạt động Điều tra của Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra tuân thủ các quy định của BLTTHS và Luật này; phải phát hiện kịp thời và yêu cầu, kiến nghị Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động Điều tra
2 Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra thực hiện yêu cầu, quyết định của VKS theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của VKS theo quy định của pháp luật
1.4.4 Mục đích của hoạt động kiểm sát điều tra việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Bản chất của điều tra là khám phá tội phạm để xứ lý, hành vi phạm tội
là hành vi xảy ra trong quá khứ cần được làm rõ qua chứng cứ thu thập được của CQĐT để vẽ lại bức tranh toàn cảnh về vụ án Song yếu tố nào để bảo đảm là khách quan, trung thực, chính xác của chứng cứ thì phải dựa vào quy định của pháp luật Chủ thể thu thập chứng cứ là CQĐT trong nhiều vụ án có
xu thế nóng vội, chủ quan khi phá án vì thế dễ nảy sinh vi phạm, sai lầm dẫn đến oan sai hoặc ngược lại có thể dễ bỏ qua hành vi phạm tội, để lọt tội
Trang 37phạm… cần phải được giám sát đánh giá, VKS được giao trọng trách là giám
sát để bảo đảm yêu cầu đó là: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
1.5 Nội dung và mối quan hệ giữa VKS và CQĐT trong hoạt động kiểm sát điều tra, thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra
hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động thực hành quyền công tố được tốt hơn, vì mục đích cuối cùng của quá trình giải quyết vụ án hình sự là đảm bảo việc truy
Trang 38Mối quan hệ này vừa mang tính phối hợp vừa mang tính chế ước nhau trên cơ sở thực hiện chức năng nhiệm vụ của mỗi cơ quan Trong thực tiễn thi
hành pháp luật cần khắc phục hai xu hướng: Một là quan niệm hoạt động
kiểm sát của VKS đối với CQĐT là hoạt động gây khó khăn, phiền hà, hạn chế quyền của CQĐT trong đấu tranh phòng chống tội phạm, thể hiện “quyền anh quyền tôi” trong thi hành công vụ Từ đó gây ra xu thế đối đầu, không hợp tác hoặc hợp tác chiếu lệ, che dấu thông tin trong quá trình điều tra vụ án
và đánh giá phân tích vụ án Hai là, quan niệm sai lầm cho rằng phối hợp để
thực hiện sự thống nhất, hai bên quan hệ chặt chẽ nhau mang tính xuê xoa, gia đình mà không căn cứ quy định của pháp luật, không phát hiện các sai sót, vi phạm để khắc phục Từ đó thường thống nhất đồng thuận theo kiểu cảm tính
dễ dẫn đến sai lầm vi phạm pháp luật trong đánh giá chứng cứ Để khắc phục
cả hai xu hướng này cần quan niệm đúng đắn nội dung, bản chất mối quan hệ này ở các điểm sau đây:
+ Mối quan hệ giữa VKS và CQĐT trong trong kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự là mối quan hệ tố tụng được BLTTHS điều chỉnh, có căn cứ pháp lý là các quy định chung và quy định chi tiết trong BLTTHS
+ Mối quan hệ này chỉ rõ đối tượng, phạm vi và nội dung của hoạt động kiểm sát của VKS đối với CQĐT trong hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự
+ Mục đích của thực hiện mối quan hệ hệ VKS và CQĐT trong kiểm sát thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự
là bảo đảm quá trình thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự
là có căn cứ và đúng pháp luật
+ Khi thực hiện quyền năng tố tụng của mỗi cơ quan trong hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của
Trang 39CQĐT và hoạt động kiểm sát các hoạt động này của VKS mỗi cơ quan phải thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mỗi ngành đã được BLTTHS và các văn khác quy định, không làm thay chức năng, không từ bỏ quyền của mình
Nội dung kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra VAHS bao gồm:
Một là, kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong hoạt động
tiếp nhận tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố: kiểm sát việc thu thập thông tin chứng cứ ban đầu, kiểm sát khám nghiệm hiện trường, tử thi; kiểm sát việc khám xét khẩn cấp, bắt khẩn cấp, tạm giữ hình sự
Hai là, kiểm sát việc khởi tố: về chấp hành thời gian, về thẩm quyền,
về áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ trong việc quyết định khởi tố hay không khởi tố VAHS
Ba là, kiểm sát hoạt động thu thập chứng cứ và ban hành các quyết định
tố tụng của giai đoạn điều tra như: Quyết định khởi tố bị can, Lệnh khám xét, lệnh bắt để tạm giam, lệnh giam bị can, trưng cầu giám định, đối chất, nhận dạng vừa kiểm sát cụ thể hoạt đông này về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, căn
cứ và tính hợp pháp trong các hoạt động tố tụng đến kết luận tố tụng
Bốn là, quan hệ phối hợp giữa ĐTV và KSV trong trao đổi thông tin,
tài liệu về vụ án trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ mà KSV không
có điều kiện kiểm sát cụ thể hoạt động thu thập chứng cứ mà BLTTHS không quy định sự có mặt của KSV trong hoạt đông này như: hỏi cung, đối chất, nhận dạng, bắt bị can để tạm giam
Trong BLTTHS, VKS có hai chức năng là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS và thực hành quyền công tố nhà nước, hai chức năng có mối quan hệ mật thiết nhau, tác động qua lại nhau Kết quả công tác kiểm sát hoạt động điều tra là cơ sở tiền đề để VKS thực hiện tốt chức năng công tố Ngược lại, thực hành quyền công tố có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho công tác kiểm
Trang 40sát hoạt động điều tra xác định kịp thời các vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra đảm bảo việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh Chỉ khi thực hiện tốt đồng thời cả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra thì VKS mới có thể đáp ứng và hoàn thành tốt yêu cầu nhiệm vụ đặt ra: bảo đảm mọi hoạt động điều tra của CQĐT và ĐTV là có căn cứ và đúng pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, xử lý mọi hành vi phạm tội, khắc phục nguyên nhân điều kiện của tội phạm