Có thể kể ra một số ấn phẩm và đề tài, dự án tiêu biểu như: sách “Di dân tự do và các biện pháp tác động của Trung tâm dân số và nguồn lao động Hà Nội, 1994; sách “Dân số và dân số tộc n
Trang 1MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 7
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp mới của luận văn 10
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
8 Kết cấu của luận văn 11
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DÂN DI CƯ TỰ DO 12
1.1 Một số khái niệm cơ bản 12
1.1.1 Khái niệm xã hội, quản lý và quản lý xã hội 12
1.1.1.1 Khái niệm xã hội 12
1.1.1.2 Khái niệm quản lý 13
1.1.1.3 Khái niệm quản lý xã hội (QLXH) 14
1.1.2 Di cư, di cư tự do, quản lý xã hội đối với dân di cư tự do 17
1.1.2.1 Di cư, di cư tự do 17
1.1.2.2 Lý luận về di cư tự do 21
1.1.2.3 Quản lý xã hội đối với dân di cư tự do(DCTD) 22
1.1.2.4 Vai trò của quản lý xã hội đối với dân di cư tự do 23
1.2 Đặc điểm, nguyên tắc, nội dung quản lý xã hội đối với dân di cư tự do .23
1.2.1 Đặc điểm của quản lý xã hội đối với dân di cư tự do 23
1.2.2 Nguyên tắc quản lý xã hội đối với dân di cư tự do 26
1.2.3 Nội dung quản lý xã hội đối với dân di cư tự do 30
Trang 21.2.3.1 Xây dựng các chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về
giải quyết trình trạng dân di cư tự do 30
1.2.3.2 Tổ chức hiện các chính sách về giải quyết tình trạng dân di cư tự do 32
1.2.3.3 Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách về giải quyết tình trạng dân di cư tự do 34
1.2.3.4 Đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết tình trạng dân di cư tự do 35
1.3 Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề di cư 36
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới 36
1.3.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh, huyện trong nước 39
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI DÂN TỰ DO Ở HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK HIỆN NAY 44
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý xã hội đối với dân di cư tự do ở huyện Krông Bông 44
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và truyền thống cách mạng của huyện 44
2.1.2 Tiềm năng phát triển kinh tế 46
2.1.3 Thành phần dân tộc và trình độ dân trí 48
2.1.4 Hệ thống chính trị cấp cơ sở (thôn, buôn và xã) 50
2.2 Tình hình dân di cư tự do ở huyện Krông Bông 52
2.2.1 Về quy mô dân số của dân di cư tự do 52
2.2.2 Địa phương xuất cư của dân di cư tự do 55
2.2.3 Về thành phần dân tộc, tôn giáo của dân di cư tự do 57
2.2.4 Địa bàn cư trú của dân di cư tự do ở huyện Krông Bông 60
2.3 Thực trạng quản lý xã hội đối với dân di cư tự do ở huyện Krông Bông 62
2.3.1 Những kết quả đạt được 64
Trang 32.3.1.1 Thực hiện các Dự án quy hoạch sắp xếp ổn định dân di cư tự
do 64
2.3.1.2 quản lý xã hội đối với việc phát triển kinh tế cho dân di cư tự do ở Krông Bông 67
2.3.1.3 QLXH trong việc phát triển giáo dục, y tế, văn hóa vùng dân di cư tự do 73
2.3.1.4 QLXH trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và bảo đảm an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội vùng dân di cư tự do 77
2.3.2 Nguyên nhân những kết quả đạt được 79
2.3.3 Một số hạn chế trong quản lý xã hội đối với dân di cư tự do 83
2.3.3.1 QLXH trong quy hoạch sắp xếp ổn định dân di cư tự do 83
2.3.3.2 Trên lĩnh vự quản lý phát triển kinh tế 85
2.3.3.3 Trên lĩnh vực quản lý phát triển giáo dục, y tế, văn hóa 86
2.3.3.4 Trên lĩnh vực xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở, an ninh trật tự an toàn xã hội 88
2.3.4 Nguyên nhân của hạn chế 89
DỰ BÁO TÌNH HÌNH DÂN DI CƯ VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DÂN DI CƯ TỰ DO Ở HUYỆN KRÔNG BÔNG TRONG THỜI GIAN TỚI 92
3.1 Dự báo tình hình dân di cư tự do và phương hướng tăng cường quản lý xã hội đối với dân di cư tự do ở huyện Krông Bông 92
3.1.1 Dự báo tình hình dân di cư tự do ở huyện Krông Bông 92
3.1.2 Một số mục tiêu chung cho việc tăng cường quản lý xã hội đối với dân di cư tự do ở huyện Krông Bông 94
3.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối với dân di cư tự do ở huyện Krông Bông 95
Trang 43.2.1 Nâng cao nhận thức của các cấp quản lý và tuyên truyền sâu rộngtrong Nhân dân về vai trò của công tác quản lý xã hội đối với dân di cư
tự do 953.2.2 Nâng cao hiệu quả phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước vàtrình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đối với dân di cư tự do 973.2.3 Huy động các nguồn lực, tăng cường các biện pháp quản lý đểphát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộivùng tái định cư 993.2.4 Tăng cường phối hợp với chính quyền nơi dân di cư tự do xuất cư 1033.2.5 Quản lý để xây dựng các điểm dân cư mới các điểm dân cư mớithành những cộng đồng xã hội bền vững và truyền thống 105
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trang 5ĐắkLắk là tỉnh nằm ở trung tâm khu vực Tây Nguyên, với diện tích13.125,37 km2, dân số trên 1,8 triệu người (năm 2014 ) Tài nguyên thiênnhiên phong phú và đa dạng, trong đó nổi bật nhất là tài nguyên rừng với diệntích lớn có nhiều lâm sản quý; đất đỏ bazan mầu mỡ thuận lợi cho việc hìnhthành các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, hồtiêu Vì điều kiện tự nhiên thuận lợi, mật độ dân số thấp nên Đắk Lắk rất hấpdẫn thu hút lao động và nhân khẩu từ các tỉnh đến xây dựng kinh tế mới Sựgia tăng dân số cơ học một cách nhanh chóng và mạnh mẽ đã tạo nên nhữngbiến động lớn trong cơ cấu dân số của tỉnh Từ chỗ có 3 dân tộc bản địa làÊđê, Mnông, Jarai đến nay, Đắk Lắk có 47 dân tộc anh, em cùng chung sống,người Kinh đến từ khắp các địa phương trong cả nước Bên cạnh đó, việc đónnhận một lượng lớn dân di cư nhất là di cư tự do đặt ra cho tỉnh nhiều vấn đềkhó khăn phải giải quyết
Từ năm 1976 đến nay đã có 59.489 hộ với gần 290.000 khẩu của 60tỉnh, thành trong cả nước có dân di cư đến và cư trú tại 15 huyện, thị xã, thànhphố của tỉnh Trong 10 năm trở lại đây (từ năm 2004), toàn tỉnh có gần 2.000
hộ với hơn 8.000 khẩu của 38 tỉnh, thành trong cả nước di cư tự do đến địa bàn,trong đó chủ yếu là đồng bào các dân tộc phía Bắc, với 1.537 hộ, 7.866 khẩu.Mặc dù, số lượng dân di cư tự do đến địa bàn tỉnh không lớn như các giai đoạntrước, nhưng lại tập trung tương đối nhiều hộ trong thời gian ngắn ở một sốhuyện nghèo, vùng sâu, vùng xa như huyện Ea Súp, M Đrắk, Krông Bông Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Krông Bông thuộc căn cứ cáchmạng quan trọng của tỉnh với mật danh H9 Quân và nhân dân các dân tộcKrông Bông đã anh dũng chiến đấu, lập nên nhiều chiến thắng vẻ vang, là
một trong những địa phương được giải phóng sớm nhất của tỉnh (09/5/1965).
Sau ngày đất nước thống nhất, Krông Bông là một đơn vị hành chính của
Trang 6huyện Krông Pắk Ngày 19/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ đã
ký quyết định số 75/HĐBT về việc thành lập huyện Krông Bông
Dù cơ sở hạ tầng còn khó khăn, đất đai kém màu mỡ nhưng diện tích đấtrừng chưa khai phá còn lớn nên Krông Bông là sự lựa chọn của dân di cư tự
do trong những năm gần đây Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnhmiền núi phía Bắc chiếm đa phần Vì vậy, di cư tự do của người đồng bào dântộc thiểu số phía Bắc được xem như đại diện cho dân di cư tự do trên địa bànhuyện Krông Bông
Trong những năm qua, Chính phủ, cùng các ngành, các cấp, Trungương và địa phương đã ban hành, triển khai nhiều chủ trương, chính sáchnhằm ngăn chặn, hạn chế, giải quyết tình trạng di cư tự do vào khu vực TâyNguyên trong đó có tỉnh Đắk Lắk và huyện Krông Bông Mặc dù vậy, tìnhtrạng di cư tự do vẫn tiếp tục diễn ra và có những diễn biến phức tạp mà hệquả nó gây ra đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hộicủa huyện Đó là nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu đất sản xuất, phá rừnglấy đất sản xuất làm tổn hại đến môi trường, quá tải cơ sở hạ tầng, phá vỡquy hoạch bố trí dân cư, quy hoạch sản xuất, khó khăn trong việc quản lý dân
cư, đảm bảo an ninh trật tự và phòng, chống tệ nạn xã hội, tiềm ẩn nguy cơxung đột về lợi ích giữa dân cư mới đến với cộng đồng dân cư bản địa
Từ thực tiễn nêu trên, đòi hỏi cần có một nghiên cứu toàn diện về thựctrạng, tác động của dân di cư tự do trên địa bàn huyện Krông Bông Đồngthời, đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa sự quản lý của xã hộitrong việc ngăn chặn và giải quyết vấn đề di dân tự do, tạo ra sự ổn định đểphát triển kinh tế - xã hội của địa phương Nhiệm vụ này vừa mang tính cấpbách, vừa mang tính lâu dài Hơn nữa, bản thân là một cán bộ lãnh đạo của
huyện, tôi rất trăn trở trước thực trạng nêu trên Vì vậy, tôi chọn đề tài “Quản
Trang 7lý xã hội đối với dân di cư tự do ở huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý xã hội
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về di
cư nói chung và di cư tự do của đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh miền núiphía Bắc vào Tây Nguyên nói riêng Mỗi đề tài tiếp cận vấn đề theo nhiềucách khác nhau Khi nghiên cứu vấn đề này, tác giả luận văn đã có điều kiệntìm hiểu một số công trình, bài báo nghiên cứu liên quan như sau:
Những nghiên cứu ban đầu xuất hiện vào thập niên 1980, đáng chú ýtrong đó là một số bài viết của các nhà khoa học và các nhà quản lý như ĐặngNghiêm Vạn, Lê Duy Đại, Lê Mạnh Khoa, Nguyễn Đức Hùng, Đỗ Tiến
Dũng, Nguyễn Xuân Du, Nguyễn An Vinh, Hoàng Lê, in trong sách “Tây Nguyên trên đường phát triển” như là ấn phẩm phản ánh kết quả nghiên cứu
của Chương trình Tây Nguyên II (Chương trình cấp nhà nước, mã số 48 C) do
Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam)chủ trì, trong đó, bước đầu quan tâm và đưa ra những lo ngại và khuyến cáocho tình trạng di dân và tăng dân số cơ học ở Tây Nguyên
Thập niên 1990, khi tình trạng di dân vào Tây Nguyên diễn ra mạnh mẽ
và trên quy mô lớn, việc nghiên cứu di dân vào Tây Nguyên được chú trọng
và đẩy mạnh hơn Một số bài nghiên cứu và sách chuyên khảo được ấn hành.Nhiều đề tài, dự án nghiên cứu được triển khai Có thể kể ra một số ấn phẩm
và đề tài, dự án tiêu biểu như: sách “Di dân tự do và các biện pháp tác động của Trung tâm dân số và nguồn lao động (Hà Nội, 1994); sách “Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam” của tác giả Khổng Diễn (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995) ; dự án “Điều tra cơ bản và xác định các giải pháp giải quyết tình trạng di dân tự do đến Tây Nguyên và một số tỉnh khác” của
Cục Định canh, định cư & Kinh tế mới và Viện Kinh tế Nông nghiệp (1996);
Trang 8dự án “Phân tích đa biến các dự án di dân có tổ chức ở Việt Nam từ năm 1991đến nay” của nhóm nghiên cứu Nguyễn Tiến Mạnh, Nguyễn Ngọc Quế, NgụVăn Hải, Phạm Minh Trí thuộc Viện Kinh tế Nông nghiệp (1996), trong đó,
đó xác định được mối tương quan tác động của các nhân tố về cơ sở hạ tầng(giao thông, thủy lợi, đường, điện, trường học, y tế …) đất rừng, đất nôngnghiệp, số lao động, kinh phí và lương thực đầu tư hỗ trợ ảnh hưởng đến kếtquả di chuyển cư dân đến các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên trong giai
đoạn 1991 – 1996; đề tài “Nghiên cứu chính sách đối với di dân tự do trong cả nước ( 1997 – 1998)” của nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế nông nghiệp Nguyễn
Hữu Tiến, Ngô Văn Hải, Phạm Văn Khiên, Nguyễn Đình Chính
Ngoài ra, còn có một số báo cáo khoa học liên quan đến vấn đề di cư tự
do trên địa bàn tỉnh như: Báo cáo “Kết quả điều tra di dân nông thôn tại tỉnh Đắc Lắc” của Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội (1997) ; Báo cáo
“Một số ý kiến về định hướng chính sách, biện pháp giải quyết vấn đề di dân”
của tác giả Nguyễn Xuân Thảo trong Hội nghị chính sách di dân tự phát tại
thành phố Hồ Chí Minh (1998) ; Báo cáo “Di dân tự do nông thôn – nông thôn: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Quang Huề
Gần đây nhất có công trình của tác giả Nguyễn Bá Thuỷ về “Di dân tự do của các dân tộc Tày, Nùng, Hmông, Dao từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào Đắc Lắc”
(2004), trong đó, làm sáng tỏ bước đầu một số vấn đề liên quan đến di dân tự docủa các dân tộc phía Bắc vào Đắk Lắk như: đặc điểm kinh tế-xã hội của các dântộc di cư và tại chỗ, nguyên nhân di cư, một số tác động của di cư,
Những nghiên cứu nói trên là nguồn tài liệu quan trọng, cần thiết choviệc triển khai đề tài này Tuy vậy, các nghiên cứu đó chỉ đề cập đến nhữngvấn đề di dân tự do của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc vào TâyNguyên, Đắk Lắk nói chung trong thực tiễn bối cảnh kinh tế - xã hội cách đây
Trang 9đã hơn 10 năm Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ vềvấn đề di cư tự do trên địa bàn huyện Krông Bông Đó cũng là lý do cho thấy
sự cần thiết phải tiến hành đề tài nghiên cứu này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng, tổng kết các chính sách, biện pháp màchính quyền huyện Krông Bông tỉnh Đắk Lắk đã triển khai thực hiện để giảiquyết vấn đề dân di cư tự do; trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằmtăng cường quản lý xã hội trong việc giải quyết vấn đề này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn cần hoàn thành cácnhiệm vụ nghiên cứu sau:
3.2.1 Hệ thống một số vấn đề lý luận quản lý xã hội về di cư và di cư tự do.
3.2.2 Đánh giá, phân tích thực trạng quản lý xã hội đối với dân di cư tự
do ở huyện Krông Bông trong những năm vừa qua
3.2.3 Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối với dân di cư
tự do
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1 Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý xã hội đối với dân di cư
tự do ở huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk hiện nay
- Hiệu quả của quá trình tổ chức thực hiện những chủ trương, giải pháp
Trang 10- Lý luận chung về di cư và di cư tự do
- Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh
- Chủ trương, đường lối quan điểm của Đảng về quản lý di dân, di cư tự
do thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết, các văn bản pháp luật của Nhànước về vấn đề này
5.2 Phương pháp nghiên cứu.
Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, luận văn còn sử các phương pháp nghiêncứu khác như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điền dã dân tộc học
6 Đóng góp mới của luận văn
Đề xuất một số giải pháp tăng cường sự quản lí xã hội giải quyết hiệuquả vấn đề di cư tự do trên địa bàn huyện Krông Bông
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về khoa học: luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học đối vớiviệc nghiên cứu về vấn đề di cư tự do
- Về thực tiễn: nghiên cứu của luận văn góp phần tạo cơ ở khoa họcvững chắc cho Đảng bộ và chính quyền huyện Krông Bông trong việc hoạchđịnh những chính sách giải quyết hiệu quả vấn đề di cư tự do, đồng thời cungcấp những kinh nghiệm có giá trị để các địa phương khác tham khảo
Trang 118 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn chia làm 3chương, 9 tiết, 18 tiểu tiết
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DÂN DI
CƯ TỰ DO 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm xã hội, quản lý và quản lý xã hội
1.1.1.1 Khái niệm xã hội
Để tồn tại và phát triển, từ khi mới xuất hiện loài người đã biết tập hợplại với nhau thành bầy, nhóm Sự cộng đồng sinh tồn đó, được tổ chức ngàymột chặt chẽ hình thành nên xã hội với các hoạt động và các mối quan hệ vôcùng phong phú, đa dạng
Hiện nay, đang tồn tại nhiều ý kiến chưa thống nhất về nội hàm củakhái niệm xã hội Tùy vào góc độ nghiên cứu mà mỗi ngành khoa học cóquan niệm về xã hội khác nhau Theo từ điển bách khoa Việt Nam,“Xã hộitheo nghĩa hẹp, là khái niệm chỉ một hệ thống xã hội cụ thể trong lịch sử, mộthình thức nhất định của những quan hệ xã hội, là một xã hội ở vào một trình
độ phát triển lịch sử nhất định, là một kiểu xã hội nhất định đã hình thànhtrong lịch sử Ví dụ: xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản,… Theonghĩa rộng, xã hội là toàn bộ các hình thức hoạt động chung của con người,
đã hình thành trong lịch sử Người ta thường dùng khái niệm xã hội để chỉmột tập đoàn người được quan niệm như một hiện thực của các thành viêncủa nó, hoặc là để chỉ một môi trường của con người mà cá nhân được hòanhập vào, môi trường đó được xem như là toàn bộ các lực lượng có tổ chức
và có hệ thống tôn ti, trật tự tác động lên cá nhân” [964.2]
Đối với khoa học quản lý xã hội, xã hội là một hệ thống các hoạt động
và các quan hệ của con người, có đời sống kinh tế, văn hóa chung, có cùng
Trang 13một thể chế chính trị, cùng cư trú trên một lãnh thổ ở một giai đoạn lịch sửnhất định [10.1]
Từ khái niệm trên cho thấy, khi bàn về khái niệm xã hội người tathường nhấn mạnh đến hai yếu tố chính tạo nên các đặc điểm chung đó làquan hệ và hoạt động của con người trong không gian và thời gian nhất định,các yếu tố đó luôn tác động qua lại với nhau Trong xã hội, lao động là hoạtđộng quan trọng nhất của con người vì nó nuôi sống xã hội, quyết định sự tồntại và phát triển của xã hội Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất quyếtđịnh các quan hệ khác của con người
1.1.1.2 Khái niệm quản lý
Cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về quản lý Tùythuộc vào góc độ, mục đích nghiên cứu nhiều tác giả đưa ra quan niệm khônggiống nhau về khái niệm quản lý
Tác giả J.H Donnelly, James Gibson và J.M Ivancevich trong khi nhấn
mạnh tới hiệu quả của sự phối hợp hoạt động cho rằng: Quản lý là một quá
trình do một người hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt độngcủa những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽkhông thể nào đạt được
- Taylor: Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì
và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm
- H Fayol: Là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và làngười có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận -hiện đại tới nay, quan niệm rằng: quản lý hành chính là dự đoán và lập kếhoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra
- M.P Follet: Tiếp cận quản lý dưới góc độ quan hệ con người, khi nhấnmạnh tới nhân tố nghệ thuật trong quản lý, ông cho rằng: quản lý là một nghệthuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác
Trang 14Tổng hợp từ các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả và tập thể tácgiả, có thể hiểu quản lý như sau: quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướngđích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng cóhiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đề
ra trong điều kiện môi trường luôn biến động
1.1.1.3 Khái niệm quản lý xã hội (QLXH)
Khái niệm quản lý xã hội thường được tiếp cận từ hai phương diện:
Một là, quản lý xã hội là hoạt động quản lý các tổ chức xã hội phi Nhà
nước, không chịu sự chi phối trực tiếp bởi quyền lực Nhà nước hay Chínhphủ Theo cách tiếp cận này, chủ thể quản lý xã hội được xác định đó là các tổchức phi Nhà nước Do đó, công cụ chủ yếu để quản lý xã hội không phảibằng pháp luật mà là thông qua các quy định, nội quy của các tổ chức đó.Cách hiểu này không có tính phổ biến, bởi nó đã hạn chế sự quản lý của Nhànước – chủ thể quan trọng nhất đảm bảo hiệu quả quản lý xã hội
Hai là, quản lý xã hội là cách thức tổ chức đời sống xã hội vì mục tiêu
chung, khi đó cả quốc gia cho tới nhóm xã hội đều bị chi phối bởi một dạngquản lý nào đó và quản lý hành chính cũng là một dạng quản lý xã hội Cáchhiểu này có tính phổ biến hiện nay
Từ hai cách tiếp cận trên, đồng thời để thống nhất nhận thức, luận vănsử dụng khái niệm quản lý xã hội trong Giáo trình “Lý thuyết chung về quản
lý xã hội”, của PGS.TS Nguyễn Vũ Tiến, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Theo đó, quản lý xã hội được định nghĩa như sau: “Quản lý xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên xã hội và các khách thể của nó, nhằm phát triển xã hội theo quy luật khách quan và đặc trưng của xã hội” [1, tr.15]
Trang 15Theo nghĩa rộng, quản lý xã hội là hiện tượng vốn có của các hệ thống
xã hội, bảo đảm duy trì tính toàn vẹn, sự đặc thù về chất, sự tái tạo và sự pháttriển của hệ thống xã hội đó
Theo nghĩa hẹp, quản lý xã hội là sự tác động có ý thức, có hệ thống, có
tổ chức của chủ thể quản lý đến xã hội nhằm chấn chỉnh và hoàn thiện hoạtđộng xã hội đó đạt mục đích đã xác định
Về bản chất, quản lý xã hội là việc điều chỉnh sự tác động qua lại giữacác lợi ích của cá nhân, của nhóm vì lợi ích chung của xã hội
Chủ thể quản lý xã hội là những người quản lý, cộng đồng người có tổchức, được giao cho các cơ quan chức năng nhằm thực hiện các tác động bằngquản lý Sự đặc thù của chủ thể quản lý xã hội được quy định bởi tính chất tácđộng của nó, đó là sự tác động hướng vào con người và do con người thựchiện Nhiệm vụ của chủ thể quản lý xã hội là làm hài hòa lợi ích của các cộngđồng riêng biệt, của các nhóm xã hội, của các cá nhân trong quá trình hoạtđộng của xã hội, ở sự hiện thực hóa mục đích của họ, ở việc giữ vững đượcđặc trưng xã hội mà họ đã định trước
Đối tượng của quản lý xã hội là con người cùng các hoạt động và cácquan hệ của cộng đồng con người trong xã hội, các nguồn tài nguyên khácngoài con người của đất nước
Khách thể của quản lý xã hội là hệ thống xã hội được quản lý mà cácyếu tố xã hội, các nhóm xã hội tác động qua lại với nhau nhằm thực hiện lợiích chung và riêng Xét về cấu trúc thì khách thể của quản lý xã hội gồm ảnhhưởng của tự nhiên, các nhóm dân tộc, nhóm giai cấp …tác động thông quahội nhập khu vực và thế giới Xét về chức năng, khách thể quản lý xã hội làhoạt động của con người và của nhóm xã hội
Các nội dung quản lý đối với xã hội bao gồm:
- Quản lý một đơn vị dân số có tổ chức
Trang 16- Quản lý vùng lãnh thổ thuộc về xã hội của mình quản lý nhóm xã hộivới những chức năng nhiệm vụ riêng đã được xã hội phân công.
- Quản lý một nền văn hóa chung với những chuẩn mực giá trị nhất định
- Quản lý sự thống nhất các hoạt động trên cơ sở của các hoạt động đặcthù của từng bộ phận xã hội
- Quản lý từng đơn vị xã hội với những đặc thù riêng và tính độc lậptương đối cả về mặc cấu trúc và chức năng
- Quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Phương pháp, nhiệm vụ của quản lý xã hội: thiết lập các tiêu chuẩn cácchỉ báo xã hội, phân loại các vấn đề xã hội, áp dụng các phương pháp quản lýmột cách khoa học để giải quyết vấn đề, lập kế hoạch về viêc thực hiện cácquan hệ xã hội các quá trình xã hội, dự báo xã hội, bố trí các chủ thể quản lý
và giải quyết mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với khách thể quản lý
Trong các loại quản lý thì quản lý xã hội là phức tạp nhất vì: xã hội làmột hệ thống của rất nhiều lĩnh vực, bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, đạođức, tôn giáo, mặt khác chủ thể quản lý xã hội không chỉ là Nhà nước – chủthể quan trọng nhất mà còn có sự tham gia của các chủ thể khác như các tổchức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ và quần chúngnhân dân Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa các quan hệ quản lý với nhaunhư quan hệ đạo đức với quan hệ pháp luật, quan hệ kinh tế với quan hệ hànhchính tạo nên sự phức tạp đối với bản thân công tác quản lý xã hội
Để quản lý xã hội, Nhà nước phải sử dụng sức mạnh quyền lực củamình và sử dụng văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc đểbiến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực; làm chodân tin và ủng hộ; mục tiêu của chủ thể quản lý phải là mong muốn của đốitượng quản lý; thông qua việc cấu trúc xã hội một cách hợp lý; một cơ chế sửdụng nhân lực và tài nguyên, các mối quan hệ đối ngoại thuận lợi, đặc biệt là
Trang 17cơ chế sử dụng nhân tài; với phương pháp, hình thức, nghệ thuật quản lý thíchhợp trong sử dụng các công cụ, các chính sách, các giải pháp quản lý; tạo ra
và tận dụng thời cơ, các nguồn lực bên ngoài để phát triển xã hội
Như vậy, quản lý xã hội là sự tác động có kế hoạch, là sự sắp xếp, tổchức, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra của chủ thể quản lý lên cácquá trình xã hội và hoạt động của con người trong quá trình tổ chức và quản
lý đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, để chúng phát triển hợp với quy luật,đạt được mục đích đặt ra của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
1.1.2 Di cư, di cư tự do, quản lý xã hội đối với dân di cư tự do
1.1.2.1 Di cư, di cư tự do
* Di cư
Trong nghiên cứu về sự di chuyển chỗ ở của con người, các thuật ngữ “didân” và “di cư” được dùng khá phổ biến và thường không khác nhau nhiều về
nội hàm Trong luận văn tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ di cư để nghiên
cứu hiện tượng xã hội này
Hiện nay, xuất phát từ những hướng tiếp cận nghiên cứu khác nhau cónhững cách hiểu khác nhau về khái niệm “di cư”
Một số tác giả nước ngoài, như: Petersen cho rằng, di cư là sự di chuyểnvĩnh viễn tương đối của một người trong một khoảng cách đáng kể TheoSmith, di cư thường sử dụng để đề cập đến mọi di chuyển lý học trong khônggian với ngụ ý là thay đổi nơi cư trú hay nơi ở Tác giả Morgan lại xác định,
di cư là sự di chuyển vĩnh viễn tương đối của người dân ra khỏi tập đoàn đangsống đến một đơn vị địa lý khác
Theo khái niệm của Liên hiệp quốc, di cư là sự di chuyển từ một đơn vịlãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc là sự di chuyển với khoảngcách tối thiểu quy định Sự di chuyển này diễn ra trong khoảng thời gian didân xác định và được đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên
Trang 18Khái niệm “di cư” trong các nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay được hiểutheo hai nghĩa: nghĩa rộng, di cư là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trongmột không gian và thời gian nhất định Nghĩa hẹp, di cư là sự di chuyển củadân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiếtlập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định.
Dưới góc độ quản lý, di cư là sự dịch chuyển dân cư theo không gian vàthời gian từ nơi này đến nơi khác Có ba tiêu chí để xác định:
- Đây là sự dịch chuyển địa điểm từ đơn vị hành chính này đến đơn vịhành chính khác
- Vì mục đích kinh tế - xã hội, gắn với điều kiện phát triển kinh tế, đời sống
- Thời gian đến nơi ở mới phải lâu dài
* Lý thuyết về di cư
Lý thuyết về lực hút và lực đẩy: Theo lý thuyết này, di cư xảy ra khi có sự
khác biệt về điều kiện sống giữa nơi đi và nơi đến, kết quả lực hút nơi đến vàlực đẩy nơi đi dẫn đến quá trình di cư Lực đẩy là các yếu tố về tự nhiên và xãhội không đáp ứng được nhu cầu sống, đẩy họ ra khỏi nơi họ đang sinh sống.Lực hút là các yếu tố về điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi cuốn hút người di
cư từ nơi khác đến sinh sống Lý thuyết này thuận lợi trong việc làm rõ cácyếu tố tác động đến di cư Tuy nhiên, nó không là lý thuyết hoàn hảo khikhông giải thích được tại sao trong cùng một hoàn cảnh mà một số ngườiquyết định di cư, số còn lại vẫn định cư
Lý thuyết cấu trúc Everetts Lee và Brau Juan: Lý thuyết này tóm tắt các
quy luật di cư và các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư, gồm: Cácyếu tố liên quan đến nơi đi, nhóm yếu tố liên quan đến nơi đến, các khó khăn,các yếu tố liên quan đến người di cư Ngoài ra Brau Juan còn đưa ra các luậnđiểm về tác động của di cư đến nguồn nhân lực của quốc gia
Trang 19Lý thuyết mạng lưới xã hội: Xác định được các yếu tố cấu thành mạng
lưới các quan hệ xã hội giữa cộng đồng nơi đi và nơi đến, giữa những người
di cư và người không di cư Lý thuyết nhấn mạnh vai trò của mạng lưới xãhội trong việc chi phối động lực của quá trình di cư nhất là hướng di cư Theo
lý thuyết này thì ngay khi động lực về kinh tế tác động không còn mạnh,chênh lệch về mức sống, điều kiện sống giữa các khu vực không nhiều, di cưvẫn tiếp tục diễn ra Điều này là do quá trình di cư được duy trì và thúc đẩy
do mạng lưới xã hội được hình thành và phát triển theo thời gian, ví dụ di cư
để được gần gia định, họ tộc…
Lý thuyết xã hội học về di cư của E.G.Ravenstai:: Ông đã khái quát hóa
được những quy luật của di cư như: trong một quốc gia thì người gốc thànhthị ít di cư hơn người nông thôn; động lực chính của di cư là kinh tế; nữ giới
di cư khoảng cách ngắn hơn so với nam giới
Trên đây là những lý thuyết cơ bản để nghiên cứu về di cư nói chung
và di cư tự do nói riêng Tuy nhiên, đối với từng quốc gia, tình hình thực tế cụthể của địa phương mà áp dụng thêm các hệ thống lý thuyết khác phù hợp Cụthể như từ thực tiễn dân di cư tự do của Đắk Lắk và huyện Krông Bông chủyếu là dân tộc thiểu số các tỉnh phía Bắc, đa số theo tôn giáo Nghiên cứu giảiquyết vấn đề này ngoài việc dựa vào hệ thống lý thuyết về di cư còn căn cứvào quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn
đề dân tộc và tôn giáo
Trang 20nông thôn – nông thôn Căn cứ vào tính chất tổ chức quản lý có thể phânthành di cư có tổ chức và di cư tự do.
- Di cư có tổ chức (di cư theo kế hoạch của Nhà nước): sự di chuyển nàyđược thực hiện theo các chương trình, mục tiêu của Nhà nước vạch ra trực tiếpchỉ đạo, tổ chức thực hiện Hình thức này được sự hỗ trợ và giúp đỡ cần thiết từNhà nước để ổn định đời sống, kinh tế - xã hội của cộng đồng di cư cả ở nơi đi
và nơi đến Di cư có tổ chức thường là di dân đến vùng kinh tế mới, bảo vệ anninh, quốc phòng hoặc di cư để thực hiện các dự án của Nhà nước
- Di cư tự do: Theo quy định tại Thông tư số 05/NN/ĐCĐC – KTM, ngày
26 tháng 3 năm 1996 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì “Di dân
tự do (di cư tự do) là đồng bào chuyển cư ngoài kế hoạch di dân hàng nămcủa nhà nước” Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về di cư tự do.Quan niệm phổ biến được các nhà nghiên cứu công nhận: di cư tự do cũng
có đủ các tiêu chí như di cư, nhưng trong trường hợp này một cá nhân, mộtgia đình, một nhóm nguời tự quyết định hành vi đi hay ở mà không phụthuộc vào kế hoạch, sự hỗ trợ của Nhà nước và các cấp chính quyền Có thểhiểu di cư tự do là sự di chuyển đến nơi ở mới hoàn toàn do người dân tựquyết định, bao gồm việc lựa chọn nơi đến, họ tự tổ chức di chuyển, tự locác khoản kinh phí, tự tạo cuộc sống mới tại nơi đến trên cơ sở thực hiệnmột số các thủ tục đối với chính quyền sở tại nơi họ chuyển đến Ngoài ra, nócòn thể hiện sức hút của nơi đến và lực đẩy của nơi đi
Về mặt pháp lý, người dân có quyền tự do cư trú Do vậy, tuy không được
cơ quan có thẩm quyền tổ chức cho di cư nhưng người dân vẫn có thể tự di cưtheo nhu cầu của mình di cư tự do phản ánh tính năng động và vai trò độc lậpcủa cá nhân, hộ gia đình trong việc tìm kiếm công ăn việc làm và điều kiệnsống tốt hơn
Trang 211.1.2.2 Lý luận về di cư tự do
* Nguyên nhân dẫn tới tình trạng di cư tự do:
Do điều kiện sống, nơi cư trú: Phần lớn những người dân di cư tự do làtìm kiếm cuộc sống tốt hơn tại nơi ở mới cho bản thân, gia đình và cộng đồng
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại nơi ở cũ không thuận lợi như thiếuđất sản xuất, dịch vụ xã hội không tốt…dẫn đến thiếu công ăn việc làm, đờisống bấp bênh, nghèo, đói Đây là một trong nguyên nhân chính dẫn đến tìnhtrạng di cư tự do
Do tập quán dân tộc: Một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam có tập quán
du canh, du cư, phá rừng làm nương rẫy nên họ di cư khỏi nơi ở cũ để tìm nơi
ở mới có đất đai màu mỡ hơn Họ rất coi trọng, đề cao vai trò của cộng đồngdòng tộc, nên di cư để được đoàn tụ cùng dòng họ, cùng cộng đồng
Ngoài ra, di cư tự do còn xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác như: Dotrình độ dân trí thấp, chưa nhận thức đầy đủ đối với đời sống, kinh tế - xã hội
ở cả nơi đi và nơi đến Do kẻ xấu lợi dụng một số hạn chế trong việc thựchiện chính sách dân tộc, tôn giáo để xúi giục, kích động đồng bào di cư Do
sự yếu kém trong quản lý của chính quyền cấp cơ sở nơi có dân đi di cư tự do
* Tác động của di cư tự do:
Mặt tích cực: di cư tự do do góp phần phân bổ lại lao động và dân cưmột cách tự nhiên, thúc đẩy kinh tế địa phương (cả nơi dân đi và dân đến)phát triển; tạo cơ hội việc làm cho họ và phần đông có nguồn thu nhập caohơn so với nơi ở cũ, góp phần nâng cao mức sống gia đình và giảm đói, nghèo
ở các vùng nông thôn có thu nhập thấp Về mặt xã hội: di cư tự do còn gópphần tích cực đưa thêm nhiều ngành nghề đến nơi nhập cư
Mặt tiêu cực: di cư tự do làm tăng dân số cơ học một cách đột biến nêndẫn đến tàn phá tài nguyên, môi trường nhất là rừng; quá tải sử dụng các côngtrình hạ tầng cơ sở; nảy sinh một số vấn đề xã hội phức tạp như mất trật tự an
Trang 22ninh, tệ nạn xã hội, phá vỡ quy hoạch phát triển, tạo thêm áp lực cho chínhquyền địa phương nơi sở tại trong công tác quản lý.
* Xu hướng di cư tự do:
Nghiên cứu của Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã xác định bốnđặc điểm quan trọng về xu hướng di cư ở nước ta là:
- Mức độ di cư trong nước đang tăng lên;
- Di cư nông thôn ra thành thị đang tăng lên;
- Có một tỷ lệ khá cao trong di cư loại này là di cư tạm thời;
- Dòng người di cư có một tỷ lệ cao là phụ nữ
Dựa trên các tài liệu về di cư ở Việt Nam, ta có thể xác định được badòng di cư chính như sau:
Di cư từ đồng bằng sông Cửu Long, miền núi phía Bắc và Đồng bằng sôngHồng đến Đông Nam bộ nơi có nhiều thành phố và khu công nghiệp lớn như TP
Hồ Chí Minh, TP Biên Hòa, thị xã Thủ Dầu Một – Bình Dương Những ngườinày tìm kiếm các việc làm phi nông nghiệp ở các khu công nghiệp
Di cư từ miền núi phía Bắc xuống đồng bằng sông Hồng
Di cư từ vùng duyên hải miền Trung, miền núi phía Bắc và Đồng bằngsông Hồng lên Tây Nguyên Những người này tìm kiếm việc làm và thu nhập
từ các vùng có cây công nghiệp hoặc mua đất để đầu tư trồng cà phê, cao su,
hồ tiêu và các mặt hàng nông sản khác
1.1.2.3 Quản lý xã hội đối với dân di cư tự do(DCTD)
QLXH đối với di cư tự do là những tác động liên tục có tổ chức của chủthể quản lý (Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội ) lên khách thểquản lý (dân di cư tự do) nhằm hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực
do tình trạng di cư tự do gây ra; ổn định đời sống dân di cư tự do, từng bướcphát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xãhội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc đối với vùng có dân di cư tự do
Trang 23Đối với Tây nguyên, dân di cư tự do trong những năm gần đây chủ yếu
là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, đa số đều theotôn giáo (đạo Tin Lành) Do vậy, quản lý xã hội đối với di cư tự do ở TâyNguyên có những đặc thù riêng Muốn đạt hiệu quả cao, quản lý xã hội đốivới di cư tự do ở Tây Nguyên phải kết hợp chặt chẽ với quản lý xã hội đối vớicông tác dân tộc và tôn giáo Chủ thể quản lý ngoài nắm vững hệ thống lýthuyết chung về quản lý xã hội, di cư tự do còn phải biết vận dụng sáng tạoquan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội
về dân tộc, tôn giáo; phải sâu sát với thực tiễn, am hiểu phong tục tập quáncủa dân tộc thiểu số
1.1.2.4 Vai trò của quản lý xã hội đối với dân di cư tự do
Việc thực hiện quản lý xã hội đối với những hộ đã di cư tự do sẽ từngbước khắc phục những khó khăn, tồn tại do tình trạng di cư tự do gây ra như:thiếu đói, tệ nạn xã hội, để tạo điều kiện cho đồng bào sớm hòa nhập cộngđồng, ổn định cuộc sống, thực hiện chính sách đoàn kết các dân tộc, khai tháctốt tiềm năng và sức lao động, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, tổ chức sảnxuất - nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Mặt khác, việc
ổn định đời sống dân di cư tự do do còn góp phần hạn chế luồng di cư tự do
từ những địa bàn thường xảy ra tình trạng này, tiến tới kiểm soát và điềuchỉnh được hoạt động di dân phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, từng vùng miền, lãnh thổ, từng địa phương; từ đó cónguồn lực để tập trung giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc ở nhữngđiểm có nhiều đồng bào di cư tự do mà đời sống đang còn gặp nhiều khókhăn
1.2 Đặc điểm, nguyên tắc, nội dung quản lý xã hội đối với dân di cư tự do
1.2.1 Đặc điểm của quản lý xã hội đối với dân di cư tự do
QLXH đối với dân di cư tự do có những đặc điểm sau:
Trang 24Một là, quản lý xã hội đối với dân di cư tự do có rất nhiều chủ thể tham
gia quản lý, hình thành một hệ thống quản lý Những chủ thể tham gia quản lý
xã hội đối với dân di cư tự do bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thểchính trị xã hội, các cộng đồng xã hội nhỏ của dân di cư tự do Tất cả các chủthể mặc dù có chung mục đích quản lý xã hội đối với dân di cư tự do nhưng
có vai trò, chức năng tính chất và quy mô quản lý khác nhau, cụ thể:
Đảng Cộng sản Việt Nam: đưa ra quan điểm đường lối chỉ đạo, địnhhướng chung để quản lý đối với dân di cư tự do và lãnh đạo toàn bộ hệ thốngchính trị thực hiện các đường lối đó trong cuộc sống
Sự quản lý của Nhà nước: Chính phủ ban hành các quyết định, chỉ thị đểcụ thể hóa chủ trương đường lối của Đảng về quản lý xã hội đối với dân di cư
tự do và các bộ, ban, ngành, ủy ban Nhân dân các cấp tổ chức thực hiện cácchính sách đó
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội phối hợp với cùng vớicác cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện quản lý xã hội đối với di
cư tự do, không chỉ tổ chức cho hội viên của mình thực hiện chính sách quản
lý của Đảng, Nhà nước mà còn tuyên truyền rộng rãi chính sách đó trongNhân dân
Các cộng đồng xã hội nhỏ: Có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra,giám sát, đánh giá việc triển khai thực hiện các chính sách của Đảng và Nhànước, phát hiện các hạn chế để sửa đổi kịp thời Ngoài ra, việc các cá nhântrong cộng đồng nhỏ quản lý lẫn nhau và quản lý chính mình góp phần choquá trình quản lý xã hội đối với di cư tự do đạt kết quả tốt hơn
Hai là, đặc điểm về đối tượng quản lý - dân di cư tự do Dân di cư tự
do thường có chung một số đặc điểm như: trình độ dân trí thấp, đa số điểmxuất phát của họ là những nông dân nghèo sống ở địa bàn thiếu đất sản xuất,
Trang 25điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Họ di cư chủ yếu vì sinh kế, đến các vùng cóđiều kiện tốt hơn về đất đai, việc làm để tìm kiếm một cuộc sống tốt hơn Vìvậy, nếu nơi đến điều kiện sống không tốt hơn nơi xuất cư họ tiếp tục di cưtìm đến vùng đất khác Ngoài những đặc điểm trên, dân di cư tự do đến TâyNguyên trong những năm gần đây có những đặc điểm riêng như: Đa số dân di
cư là đồng bào dân tộc thiểu đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc, có phong tục,tập quán khác nhau, còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu như tảo hôn, mê tín Một
bộ phận di cư không vì mục đích sinh kế mà di cư để được đoàn tụ cùng giađình, dòng tộc Trong đó, người dân tộc Mông chiếm số lượng đông nhất, đaphần họ theo các hệ phái khác nhau của đạo Tin lành Dân di cư tự do đếnTây Nguyên cư trú ở những vùng sâu, vùng xa, đời sống còn khó khăn, hạnchế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội
Đặc điểm trên cần được nghiên cứu kỹ trong quá trình xây dựng cácchính sách giải quyết tình trạng dân di cư tự do
Ba là, quản lý xã hội đối với dân di cư tự do rất khó khăn và phức tạp.
Sự khó khăn và phức tạp trong quản lý xã hội đối với dân di cư tự do cónguyên nhân từ chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Có nhiều chủ thể cùngtham gia quản lý đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, phân côngchức năng nhiệm vụ phải cụ thể rõ ràng Trong thực tế, do tác động của nhiềunguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau làm cho sự phối hợp của cácchủ thể quản lý không phải lúc nào cũng nhịp nhàng và chặt chẽ
Thực chất của quản lý xã hội đối với dân di cư tự do là quản lý conngười với tất cả sự đa dạng của các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân trí, nghềnghiệp, an sinh xã hội…Do vậy, xây dựng các chính sách quản lý mà phạm viđiều chỉnh liên quan nhiều vấn đề là một việc khó khăn và phức tạp Mọi sailầm về mặt chính sách sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, tác động tiêu cực
Trang 26đến đời sống của một bộ phận dân di cư không nhỏ, nảy sinh nhiều vấn đềphức tạp khác.
Bên cạnh đó, còn nhiều yếu tố khác như: địa bàn quản lý rộng, liênquan nhiều địa phương; dân di cư tự do thường ngại khai báo với các chủ thểquản lý; các địa phương thường bị động, thiếu nguồn lực về vốn, đất đai…để
ổn định cuộc sống của dân di cư tự do vì không một địa phương nào có thểchủ động tính được di cư tự do đến đến địa phương mình hay không? khi nàođến? đến với số lượng bao nhiêu?
Bốn là, quản lý xã hội đối với dân di cư tự do có sự kết hợp chặt chẽ
giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ quản lý xã hội đối với dân di cư tự doliên quan đến nhiều lĩnh vực như đất đai, dân tộc, tôn giáo, môi trường, quyhoạch đầu tư xây dựng cơ bản, giáo dục, văn hóa, y tế, quốc phòng, anninh….Một lĩnh vực thuộc quyền quản lý của một ngành nào đó nhưng được
tổ chức thực hiện trên một địa bàn cụ thể gắn với sự quản lý của một địaphương tương ứng Quản lý ngành được tiến hành theo chiều dọc còn quản lýlãnh thổ có thể hiểu là quản lý theo chiều ngang với tất cả các lĩnh vực trênmột địa bàn Chính vì vậy cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa quản lý ngành vàquản lý lãnh thổ mới bảo đảm hiệu quả của quản lý xã hội đối với dân di cư tựdo
1.2.2 Nguyên tắc quản lý xã hội đối với dân di cư tự do
Ngoài các nguyên tắc chung của quản lý xã hội, yêu cầu phải thực hiệnnhư: nguyên tắt có địa chỉ; nguyên tắt công khai; nguyên tắt hệ thống trongquản lý xã hội; nguyên tắt hợp pháp; nguyên tắt khách quan; nguyên tắt phânquyền, nguyên tắt tối ưu…thì quá trình quản lý xã hội đối với dân di cư tự docòn phải bảo đảm các nguyên tắt sau:
Một là, nguyên tắt bảo đảm các quyền cơ bản của công dân nhất là quyền tự do đi lại và cư trú:
Trang 27Hiến Pháp 2013 và hệ thống pháp luật ở nước ta công nhận và bảo đảmthực hiện các quyền cơ bản của công dân như:
- Quyền tự do đi lại, cư trú: được thể hiện trong các quy định pháp luật về
cư trú, trật tự an toàn xã hội, quản lý hành chính Nhà nước về hộ tịch, hộ khẩu;
- Quyền được chăm sóc y tế và sức khoẻ, được thể hiện trong các quyđịnh pháp luật về y tế và chăm sóc sức khoẻ;
- Quyền được học tập và phát triển trí tuệ, được thể hiện trong các quyđịnh pháp luật về giáo dục và đào tạo;
- Quyền có việc làm của người lao động, được thể hiện trong các quyđịnh pháp luật về lao động và việc làm;
- Quyền có chỗ ở và sở hữu tài sản hợp pháp, được thể hiện trong các quyđịnh pháp luật về xây dựng, nhà ở, đất đai;
- Quyền về thụ hưởng các dịch vụ kinh tế - xã hội, được thể hiện trongcác quy định pháp luật về tiếp cận dịch vụ xã hội thể hiện qua chính sách cótính cộng đồng…
Ở Việt Nam, hiện tượng di cư đã xuất hiện và tồn tại suốt chiều dài lịch sửdựng nước và giữ nước Đó là một quá trình khách quan, mặc dù gây ra nhiềutác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng Hiến pháp và phápluật nước ta công nhận quyền tự do cư trú của người dân Công dân có quyền lựachọn nơi cư trú và làm việc thuận lợi cho sự phát triển của mình Điều 23 HiếnPháp năm 2013 quy định “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trongnước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước Việc thực hiện cácquyền này do pháp luật quy định” Quyền này đã cụ thể hóa thành Luật cư trú Pháp luật Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo, dân bản địa haydân di cư tự do trong việc bảo đảm các quyền cơ bản của công dân Vì vậy,các chủ thể tham gia quản lý xã hội đối với dân di cư tự do khi xây dựng vàtiến hành các biện pháp quản lý cần chú ý đến nguyên tắt này, không đưa ra
Trang 28các quy định xâm phạm đến quyền cơ bản của công dân hoặc gây khó khăncho công dân trong việc thụ hưởng các quyền của mình.
Hai là, nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển
Chủ thể quản lý xã hội đối với dân di cư tự do phải bảo đảm nguyên tắcbình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển vì thực hiện bình đẳnggiữa dân bản địa và dân di cư tự do, chính là thực hiện quyền bình đẳng củacông dân Thực hiện đúng nguyên tắc này của chủ thể quản lý ngoài ý nghĩachấp hành tốt các quy định của pháp luật, còn thể hiện được tính nhân văn sâusắc của dân tộc ta chế độ ta Mục đích của sự nghiệp xây dựng XHCN ở nước
ta là tiến đến “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh” Dântộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết yêu thương nhau, nhất là trong khókhăn, hoạn nạn Các dân tộc dù màu da, tiếng nói có khác nhau nhưng đềubình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ Ngoài ra, quán triệt tốt nguyên tắcnày, còn giúp cộng đồng dân bản địa và dân di cư tự do phát triển bền vững,tránh được âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thùđịch
Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển
nó vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình quản lý xã hội đối với dân di
cư tự do Nếu nguyên tắc này được thực hiện tốt, có tác động tích cực nângcao hiệu quả quản lý đối với dân di cư tự do và ngược lại
Nguyên tắc bình đẳng trong quản lý xã hội đối với dân di cư tự do không
có nghĩa là “cào bằng” về quyền và nghĩa vụ của giữa dân bản địa và dân di
cư tự do Dân di cư tự do thường rất khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm,
cư trú ở những khu vực cơ sở hạ tầng kém, hạn chế trong việc tiếp cận cácdịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục…đặc biệt là thiếu đất sản xuất Vì vậy, họ cần
có những ưu tiên nhiều hơn để dân di cư tự do sớm ổn định cuộc sống, tiếnkịp sự phát triển với các cộng đồng dân cư bản địa
Trang 29Ba là, nguyên tắc phù hợp với đối tượng quản lý cụ thể
Cùng là dân di cư tự do nhưng họ khác nhau về mục đích di cư, trình độvăn hóa, dân tộc, tôn giáo hoặc cùng một dân tộc, tôn giáo nhưng họ thuộcnhững nhóm dân tộc khác nhau, hệ phái tôn giáo khác nhau…Vì vậy, chủ thể
quản lý phải chú trọng bảo đảm nguyên tắc phù hợp với đối tượng quản lý cụ thể Nghĩa là, khi xây dựng và triển khai quản lý xã hội đối với dân di cư tự
do chủ thể quản lý phải nghiên cứu kỹ đặc điểm về dân tộc, tôn giáo, phongtục tập quán… của đối tượng quản lý để ban hành các chính sách và biệnpháp quản lý phù hợp với đối tượng thì công tác quản lý mới đạt được hiệuquả
Nguyên tắc này được các tỉnh ở Tây Nguyên thực hiện rất tốt trongnhững năm gần đây Xuất phát từ thực tiễn của Tây Nguyên, dân di cư tự dochủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh phía Bắc có phong tục và tậpquán khác với dân tộc bản địa của Tây Nguyên, có dân tộc đa số theo tôngiáo Do vậy, quản lý xã hội đối với dân di cư tự do của các tỉnh Tây Nguyên
có những nội dung khác so với các tỉnh như Bình Dương, thành phố Hồ ChíMinh, Hà Nội quản lý xã hội đối với dân di cư tự do phải kết hợp chặt chẽvới công tác quản lý xã hội về công tác dân tộc và tôn giáo là đặc điểm nổi bậttrong quản lý xã hội đối với dân di cư tự do ở Tây Nguyên và trên địa bànTây Nguyên mỗi tỉnh có những cách thức quản lý khác nhau
Như vậy, công tác quản lý xã hội đối với dân di cư tự do giống nhau vềmục đích, yêu cầu nhưng xây dựng biện pháp và triển khai thực hiện đòi hỏichủ thể quản lý phải năng động, sáng tạo nghiên cứu kỹ đặc điểm của từngcộng đồng dân di cư tự do để áp dụng biện pháp phù hợp, đạt được mục đíchquản lý
Bốn là, nguyên tắc hệ thống
Trang 30QLXH đối với dân di cư tự do được tiến hành trên nhiều lĩnh vực liênquan trực tiếp nhau như: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng Tuynhiên, các lĩnh vực đó phải kết hợp chặt chẽ với nhau trong cùng một hệthống quản lý Tránh tình trạng quá đề cao phát triển kinh tế mà gây tổn hạiđến môi trường, ít đầu tư cho dịch vụ xã hội, hoặc nặng về an ninh, quốcphòng mà không tranh thủ được các nguồn lực cho phát triển kinh tế Nguyêntắc này còn đòi hỏi phải có sự lãnh đạo thống nhất các chủ thể tham gia quản
lý xã hội đối với dân di cư tự do, phải có một chủ thể chịu trách nhiệm chínhtrong công tác quản lý
1.2.3 Nội dung quản lý xã hội đối với dân di cư tự do
1.2.3.1 Xây dựng các chính sách và văn bản quy phạm pháp luật
về giải quyết trình trạng dân di cư tự do
QLXH là quá trình từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện đến kiểmtra, đánh giá chính sách Do vậy, xây dựng và hoàn thiện chính sách là côngviệc đầu tiên của quá trình quản lý xã hội Nếu không có chính sách và cácvăn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đối tượng quản lý thì công tácquản lý xã hội kém hiệu quả
Xây dựng và ban hành các chính sách giải quyết trình trạng di cư tự do lànội dung quan trọng và cần thiết tạo cơ sở để thực hiện các nội dung quản lýtiếp theo đối với dân di cư tự do Các chính sách này nhằm hạn chế các tácđộng tiêu cực do trình trạng di cư tự do gây ra, quy hoạch, sắp xếp dân vàovùng cư trú hợp lý hơn, giúp người dân sớm ổn định cuộc sống, phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở địa phương có dân di cư tự do đến.Hiệu quả quản lý phụ thuộc rất lớn vào tính khoa học của chính sách và chấtlượng của các luật liên quan
Để thể chế hóa đường lối chỉ đạo của Đảng về vấn đề dân di cư tự do, Nhànước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối với dân di cư tự do như:
Trang 31Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 190/2003/QĐ-TTg, ngày 16/9/2003
về chính sách di dân, thực hiện quy hoạch và bố trí dân cư giai đoạn 2003
-2010 Mục tiêu của chính sách này là sắp xếp, ổn định dân cư ở những nơi
cần thiết nhằm khai thác tiềm năng lao động, đất đai phát triển sản xuất nông,lâm, ngư nghiệp, giải quyết việc làm, hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng dân
di cư tự do; Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg, ngày 05/3/2007 của Thủ tướng
Chính phủ về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007 – 2010; Chỉ thị số 660 – TTg, ngày 17/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết tình trạng di cư tự do đến Tây Nguyên và một số tỉnh khác Mục đích là đưa ra các biện pháp tích
cực, đồng bộ để chậm nhất là đến cuối năm 1998 giải quyết được tình trạng di
cư tự do và điều chỉnh hoạt động di dân phù hợp với quy hoạch, kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của từng vùng lãnh thổ, của từng địaphương; Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ số 39/2004/CT-TTg, ngày
12/11/2004 về một số chủ trương, giải pháp tiếp tục giải quyết tình trạng dân
di cư tự do Mục tiêu của Chỉ thị này là để khắc phục những tồn tại nêu trên,
phấn đấu đến năm 2010 cơ bản chấm dứt tình trạng dân di cư tự do, ổn định
và nâng cao đời sống đối với những hộ dân di cư tự do; Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ số 193/2006/QĐ-TTg, ngày 24/8/2006 về việc phê duyệt chương trình bố trí dân cư các vùng: thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2015.
Ngoài ra còn có các bộ luật liên quan đến công tác quản lý dân di cư tự donhư: Luật Cư trú, Luật Hộ tịch, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật đất đai,Nghị định số 92/2012/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về quy định chi tiết vàbiện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo…
Trang 321.2.3.2 Tổ chức hiện các chính sách về giải quyết tình trạng dân
di cư tự do
QLXH chỉ đạt được kết quả khi chính sách quản lý đi vào cuộc sốngđược các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện Tổ chức thực hiện chính sách vềgiải quyết dân di cư tự do bao gồm các hoạt động sau:
Một là: Kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan thực hiện chính sách về giải quyết tình trạng dân di cư tự do.
Bộ máy có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiện chính sách.Nếu bộ máy yếu kém thì tổ chức thực hiện chính sách đối với dân di cư tự dokhông đạt hiệu quả mong muốn Chủ thể tham gia quản lý dân di cư tự do gồmnhiều cơ quan, ban, ngành khác nhau Do vậy, cần xác định rõ trách nhiệm,chức năng cụ thể của từng cơ quan, tránh việc chồng chéo chức năng nhiệmvụ Hiện nay, quản lý xã hội đối với dân di cư tự do có sự tham gia của toàn hệthống chính trị gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoànthể thành viên
Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trong quản lý xã hộiđối với dân di cư tự do gồm: Chính phủ thực hiện chức năng quản lý chung, ủyban Nhân dân các cấp nơi có dân di cư tự do (gồm nơi dân đi, nơi dân đến)thực hiện chức năng quản lý trên các lĩnh vực trong phạm vi địa phương mình
và phối hợp chặt chẽ với nhau, là cơ quan cấp dưới giúp Chính phủ trong việcquản lý dân di cư tự do Ngoài ra, còn có hệ thống các bộ, ban, ngành được tổchức từ Trung ương đến địa phương thực hiện chức năng quản lý dân di cư tự
do theo quản lý chuyên ngành của mình Chức năng của các cơ quan này đượcquy định cụ thể theo từng nội dung của các chỉ thị, quyết định Chỉ thị số
39/2004/CT-TTg, ngày 12/11/2004 của Thủ tướng chính phủ về một số chủ trương, giải pháp tiếp tục giải quyết tình trạng dân di cư tự do, quy định chức
năng các cơ quan này như sau :
Trang 33- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chủ trì phối hợp với các cơquan khác trong việc hướng dẫn các địa phương xây dựng và thực hiện cácquy hoạch bố trí dân di cư tự do; sử dụng các nguồn vốn đầu tư cho mục tiêu
ổn định sản xuất và đời sống, quy hoạch, bố trí lại dân cư
- Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính đảm bảo kinh phí cho các ngành,các địa phương xây dựng và thực hiện các dự án ổn định, điều chỉnh bố trí lạidân cư, đồng thời hướng dẫn quản lý nguồn vốn này đúng mục tiêu, đối tượng
và có hiệu quả
- Bộ Công an chỉ đạo cơ quan công an các cấp ở địa phương quản lý chặtchẽ nhân khẩu, hộ khẩu cả nơi đi và nơi đến; xem xét đăng ký hộ khẩu kịpthời cho đồng bào theo sự bố trí, sắp xếp của chính quyền địa phương; pháthiện và xử lý kịp thời những phần tử xấu lôi kéo, kích động dân bỏ làng xã di
cư tự do
- Uỷ ban Dân tộc chỉ đạo các địa phương thực hiện tốt các chính sách dântộc, nắm vững tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, tuyên truyền vận động đểđồng bào chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật
- Ban Tôn giáo Chính phủ chủ trì, phối hợp với các ngành, đoàn thể vàchính quyền địa phương nơi có dân di cư tự do trong việc thực hiện chínhsách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
- Bộ Quốc phòng chỉ đạo xây dựng các khu kinh tế quốc phòng bảo đảmmục tiêu quốc phòng, kinh tế và ổn định dân cư; phối hợp chặt chẽ với chínhquyền địa phương để giải quyết tình trạng dân di cư tự do
- Các Bộ: Lao động - thương binh và xã hội, Y tế, Văn hóa - thông tin,Giáo dục và đào tạo, Giao thông vận tải, Xây dựng, Tư pháp, Tài nguyên vàmôi trường theo chức năng của mình có kế hoạch giúp đỡ các vùng khó khănxóa đói, giảm nghèo, ổn định dân cư, tham gia vào giải quyết tình trạng dân di
cư tự do
Trang 34- Các đoàn thể quần chúng, cơ quan thông tấn báo chí, truyền hình ởTrung ương và địa phương tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền cácchủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về bốtrí lại dân cư, về quyền và nghĩa vụ của công dân để đồng bào hiểu rõ, cótrách nhiệm cùng tham gia với Nhà nước giải quyết tình trạng dân di cư tự do.Xây dựng bộ máy vận hành hiệu quả, đội ngũ cán bộ có năng lực vàphẩm chất đạo đức tốt là nội dung quan trọng quyết định hiệu quả quản lý xãhội đối với dân di cư tự do.
Hai là: tổ chức tuyên truyền, phổ biến các chính sách về giải quyết tình trạng dân di cư tự do.
Nâng cao nhận thức cho người dân có vai trò rất quan trọng đối việc tổchức thực hiện các chính sách của Nhà nước Cần đa dạng hóa các hình thứctuyên truyền, nhất là thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các tổchức đoàn thể, các tổ chức tự quản của cộng đồng…để Nhân dân, nhất là dân
di cư tự do hiểu được các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước trong việc giải quyết tình trạng dân di cư tự do
1.2.3.3 Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách về giải quyết tình trạng dân di cư tự do
Thanh tra kiểm tra là hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý
xã hội đối với dân di cư tự do Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010 quy định
“Hoạt động thanh tra nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạmpháp luật; phát hiện các sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật đểkiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắcphục; phát huy những nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quảquản lý nhà nước, bảo vệ lơi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức cá nhân” [3, tr34]
Trang 35Hoạt động thanh tra, kiểm tra được thực hiện bởi các chủ thể quản lýhoặc các cá nhân, tổ chức chuyên làm công tác thanh tra, kiểm tra trong đóđặc biệt là vai trò của thanh tra chuyên ngành.
Công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực quản lý dân di cư tự do tậptrung vào một số nội dung như: quy hoạch bố trí các điểm dân cư; sử dụng tàichính, tiến độ, hiệu quả của các chương trình, dự án đối với dân di cư tự do;thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn có dân di cư tự do; giảiquyết các khiếu nại, tố các liên quan đến việc thực hiện chính sách giải quyếttình trạng dân di cư tự do…
Để hoạt động thanh tra, kiểm tra đạt hiệu quả cần có sự phối hợp chặtchẽ, rõ ràng giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, vì thanh trahành chính có bộ máy phân cấp theo chiều dọc, thanh tra chuyên ngành có nộidung thanh tra theo chức năng Cần phát huy vai trò của các tổ chức tự quảntrong cộng đồng dân di cư tự do để giám sát việc triển khai thực hiện chínhsách đối với dân di cư tự do của các cơ quan Nhà nước
1.2.3.4 Đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết tình trạng dân di cư tự do
Đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách về giải quyết tình trạng dân
di cư tự do là nội dung không thể thiếu trong quản lý xã hội đối với dân di cư
tự do Thông qua đánh giá, tổng kết giúp chủ thể quản lý thấy rõ các ưu điểm,nhược điểm để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý Đồngthời, tổ chức đánh giá, tổng kết giúp phát hiện các bất cập nảy sinh trong quátrình tổ chức thực hiện chính sách, từ đó điều chỉnh kịp thời góp phần nângcao hiệu quả quản lý xã hội đối với dân di cư tự do
Việc đánh giá, tổng kết được tiến hành dưới hình thức cuộc họp, hộinghị, diễn đàn Mốc thời gian đánh giá tổng kết thường có hai dạng, đánh giátheo tháng, quý, năm, mốc đánh giá này gắn với đánh giá việc thực hiện
Trang 36nhiệm vụ của chính trị của các chủ thể quản lý, dạng thứ hai là đánh giá theonội dung các chỉ thị, quyết định, nghị quyết, hình thức này thường được ápdụng sau một giai đoạn 5 năm, 10 năm triển khai tổ chức thực thực hiện cácchỉ thị, nghị quyết đó.
Để hoạt động đánh giá, tổng kết đạt hiệu quả cần được tiến hành mộtcách khách quan, thẳng thắn, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp khắc phụccác hạn chế, yếu kém một cách có hiệu quả
1.3 Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề di cư
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới Hàn Quốc:
Cùng với quá trình công nghiệp hóa là sự phát triển không đồng đều, kéotheo sự chênh lệch về thu nhập và mức sống ngày càng lớn giữa nông thôn vàthành thị Ngay trong những năm 60 của thế kỷ XX, di dân ra khu vực đô thị
đã gây ra nhiều vấn đề tiêu cực, thậm chí cản trở quá trình phát triển của nềnkinh tế Hàn Quốc Hàn Quốc đã cố gắng tìm cách ngăn luồng di cư này khôngphải bằng các biện pháp hành chính mà bằng cách khuyến khích phát triểnkinh tế, xã hội ở nông thôn để người dân tiếp cận tốt hơn với cơ hội việc làmphi nông nghiệp ngay tại địa phương mình, phát triển nông thôn tổng hợp đểgiảm khoảng cách chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa nông thôn -thành thị Có 5 hướng tạo việc làm phi nông nghiệp mà Hàn Quốc đã sử dụng,
đó là: (1) Phát triển các hoạt động phi nông nghiệp truyền thống ở nông thôn,trong đó đặc biệt chú ý đến chế biến nông sản và sử dụng tài nguyên thiênnhiên tại chỗ kết hợp với phát triển làng xã thông qua phát triển làng mới,phát triển các thị trấn, thị tứ, cơ sở hạ tầng ở nông thôn; (2) Đưa nhà máy vềnông thôn, xây dựng các cụm công nghiệp nông thôn; (3) Khuyến khích pháttriển các hộ kinh doanh du lịch dựa trên khai thác lợi thế về sản xuất nôngnghiệp và văn hóa, xã hội của cộng đồng nông thôn; (4) Phát triển cơ sở hạ
Trang 37tầng, đảm bảo điều kiện sinh sống và làm việc cho lao động di cư tại nơi đến;(5) Nhập khẩu lao động để giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động trong pháttriển của nền kinh tế.
* Malaysia:
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, lao động nông nghiệp ở Malaysia đãgiảm mạnh từ gần 60% vào năm 1957 xuống chỉ còn 12% năm 2005 Chuyểndịch cơ cấu lao động diễn ra nhanh chóng là nhờ có sự tham gia của di dân từnông thôn ra thành thị, trong đó phần lớn là lao động trẻ tìm kiếm cơ hội việclàm ở đô thị, khu công nghiệp
Chính sách của Malaysia đối với việc quản lý luồng di cư có thể khácnhau ở các giai đoạn nhưng tựu chung lại là giảm khoảng cách giữa nông thôn
và thành thị bằng cách phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn, cung cấp cácđiều kiện tốt hơn để người dân nông thôn nhất là người thuộc nhóm mục tiêu(người Mã Lai) được tiếp cận tốt hơn với giáo dục và đào tạo để tham gia thịtrường lao động
Các chính sách trực tiếp và gián tiếp đối với quản lý lao động di cư baogồm: (1) Phát triển đa dạng sản xuất nông nghiệp; chuyển từ trồng cao su làchính, sang phát triển cọ dầu, cây lương thực và một số cây ngắn ngày khác.Tăng cường chế biến công nghiệp đảm bảo liên kết giữa nhà máy chế biến vàngười trồng nguyên liệu thông qua cơ chế lợi ích, phát triển bền vững gắn vớicông nghệ sinh học thân thiện với môi trường; (2) Đẩy mạnh thực hiệnchương trình khai hoang để người dân nông thôn có đủ điều kiện cần thiết ổnđịnh cuộc sống, không rơi vào bần cùng hóa; (3) Phát triển các hoạt động phinông nghiệp ở nông thôn, đặc biệt là các hoạt động truyền thống, có chínhsách ưu đãi đặc biệt đối với các nghệ nhân; (4) Đầu tư cho giáo dục để nângcao chất lượng nguồn nhân lực, ưu đãi về giáo dục, đặc biệt cho nhóm người
Mã Lai để họ có điều kiện gia nhập thị trường lao động, các trường học và
Trang 38trường dạy nghề đều nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước, học sinh nghèo đượcmiễn học phí và nhận được học bổng của Chính phủ; (v) Nhập khẩu lao động
để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước
*Trung Quốc:
Những năm cuối của thế kỷ XX, trong một thời gian dài, Trung Quốcduy trì chính sách kiểm soát di chuyển dân cư thông qua hệ thống đăng ký hộkhẩu, giấy phép làm việc tạm thời, hệ thống tem phiếu mua lương thực cùngvới các biện pháp khác để hạn chế di cư lâu dài Số người di cư tạm thời (rờikhỏi nơi cư trú ít nhất 1 lần trong 6 tháng) ở Trung Quốc khoảng 50 - 120triệu người Một khảo sát di cư tại Thượng Hải năm 1993 cho thấy nhữngngười di cư chiếm 20% dân số của thành phố
Luồng di cư với quy mô lớn tại Trung Quốc đã trở thành về vấn đề xãhội, bên cạnh các khó khăn về kinh tế còn có hai vấn đề quan trọng khác làtăng trưởng nhanh của việc làm phi nông nghiệp, dẫn đến tăng đột biến về chiphí cơ hội dẫn đến tăng chi phí cho sản xuất nông nghiệp Thay đổi cơ cấunền kinh tế, đặc biệt là cơ cấu về sản xuất và phân phối giữa kinh tế nông thôn
và kinh tế thành thị Tuy nhiên, lao động di cư cũng mang lại nhiều tác độngtích cực tới kinh tế nông thôn, cụ thể trên các mặt, về (1) Khuyến khích pháttriển kinh tế nông thôn do lực lượng lao động được huy động tham gia vàokhu vực sản xuất và dịch vụ; (2) Đẩy mạnh hiện đại hóa sản xuất nông nghiệpnhờ tạo điều kiện thuận lợi cho tập trung đất cho sản xuất quy mô lớn; (3)Đẩy mạnh hiện đại hóa khu vực nông thôn; (4) Kích thích việc hình thành cácthành phố, thị trấn nhỏ qua đó đẩy mạnh quá trình đô thị hóa; (5) Đa dạng cácnguồn thu nhập của người dân nông thôn, giúp cải thiện đời sống của họ.Cân đối giữa lực lượng lao động nông thôn đông đảo và nguồn lực hạnchế, có thể rút ra kết luận khu vực nông thôn của Trung Quốc không thể giảiquyết hết việc làm cho người lao động Vì vậy khoảng 100 - 150 triệu lao
Trang 39động nông thôn buộc phải di chuyển Thực tế di cư của lao động nông thôn rathành thị đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát Các cuộc cải cách đã dẫn đến nhữngthay đổi to lớn về phát triển kinh tế, đồng thời cũng tạo ra những bất bìnhđẳng mới, phân hóa giàu, nghèo xảy ra ngày càng sâu sắc, đặc biệt sau quátrình triệt để hóa cải cách thị trường vào năm 1997 - 1999 Ngoài nguyênnhân bất bình đẵng về thu nhập thuần tuý, còn có nguyên nhân về sự khác biệttrong tiếp cận dịch vụ an sinh xã hội, trợ cấp xã hội, nhà ở, giáo dục, chămsóc sức khoẻ trở nên ngày càng gay gắt khi hình thái kinh tế thị trường đượcthay thế cho hệ thống sở hữu tập thể cũ ở nông thôn.
Chính quyền Trung Quốc đã nhận biết được những vấn đề nảy sinh củaviệc di dân và xác định những năm cuối của thập niên 90 là thời điểm chínmuồi để thực hiện những thay đổi có tính chất quyết định, bao gồm đánh giálại vai trò của việc di cư Lao động di cư được xác định có vai trò chính trongphát triển kinh tế của đất nước, nhờ đó một số khởi xướng về chính sách đãđược thực hiện nhằm mục đích khơi thông thị trường lao động trong khắpTrung Quốc, đảm bảo cho công nhân nhập cư được đối xử công bằng hơn,nhằm giải quyết những xung đột giữa người nhập cư từ nông thôn và nhữngngười sử dụng lao động ở nơi đến Những cải cách quan trọng nhất đối vớivấn đề di cư nhằm hướng tới tự do hóa thị trường lao động trên khắp TrungQuốc, gồm các nội dung về cải cách hệ thống quản lý hộ khẩu, xây dựng thịtrường lao động thống nhất, chính sách về đảm bảo đối xử công bằng với laođộng di cư
1.3.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh, huyện trong nước
* Tỉnh Bình Phước
Bình Phước thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam, có 260,4 km đường biên giới giáp với vương quốcCampuchia Tỉnh nằm ở vị trí cữa ngõ, cầu nối của vùng Đông Nam bộ với
Trang 40Tây Nguyên và Campuchia Bình Phước là một trong những tỉnh đón sốlượng dân di cư tự do đông nhất cả nước Giai đoạn 2005-2008, bình quânmỗi năm có 2.720 hộ dân di cư tự do đến sinh sống, lập nghiệp tại tỉnh; giaiđoạn 2009-2012 giảm còn 1.050 hộ/năm và đến năm 2013 còn 714 hộ.
Thực hiện chỉ đạo chung của Thủ tướng Chính phủ trong việc giải quyếttình trạng dân di cư tự do, Bình Phước đã có những cách làm hiệu quả Đến nay,mặc dù tỉnh vẫn chưa sắp xếp, bố trí toàn bộ dân di cư tự do vào các dự án đãquy hoạch, nhưng dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh từng bước ổn định cuộc sống,
Có được kết quả trên là do tỉnh Bình Phước đã áp dụng đồng bộ các biện phápsau:
- Tổ chức kiểm tra, nắm tình hình đời sống, sản xuất của đồng bào ởnhững vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa
- Tăng cường công tác quản lý dân cư; nắm tình hình di biến động dân cưtrên địa bàn, kịp thời phát hiện sớm những hộ gia đình, cá nhân di cư tự dohoặc có thể di cư tự do để tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục làmcho mọi người dân hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
- Kiểm tra nắm vững tình hình tôn giáo, tín ngưỡng và thực hiện chínhsách tôn giáo của nhà nước trên địa bàn Tạo điều kiện cho đồng bào quyền tự
do tín ngưỡng lành mạnh, đúng pháp luật của Nhà nước quy định, đồng thời,kiên quyết đấu tranh với những phần tử cơ hội lợi dụng tôn giáo để lôi kéokích động người dân di cư tự do
- Phân công cán bộ phối hợp với chính quyền cơ sở (xã, thôn, bản, ấp)nắm chắc số lượng dân di cư tự do đến địa bàn, kịp thời phát hiện số dân di cư
tự do mới đến, để thông báo cho địa phương có dân đi phối hợp giải quyết
- Thực hiện tốt công tác quản lý đất đai, quản lý và bảo vệ rừng Kiênquyết xử lý, giải quyết triệt để tình trạng phá rừng, xâm canh, mua, bán sangnhượng đất đai trái pháp luật