TÓM TẮT LUẬN VĂN Nhằm nghiên cứu sâu hơn về thực trạngnhữngkhó khăn, vướng mắc của công tác quản lý rủi ro QLRR từ cấp cơ sở, tìm ra các nhân tố thực sự ảnh hưởng đến công tác QLRR làm t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
ĐỒNG THỊ TÍNH
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ RỦI RO ĐỐI
VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh- Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
ĐỒNG THỊ TÍNH
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60340403
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.NGUYỄN HỒNG THẮNG
TP.Hồ Chí Minh- Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu mang tính độc lập của cánhânqua quá trình nghiên cứu học tập chuyên ngành Quản lý công, thực tế công việc tại đơn vị
và dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng Luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Luận văn có sử dụng một số đánh giá, nhận xét, cơ sở lý thuyết về quản lý rủi ro của một số nghiên cứu khoa học, tài liệu, trang website… đều được tác giả ghi chú thích nguồn gốc trích dẫn
Tác giả
Đồng Thị Tính
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN 3
1.7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN 5
2.1 Rủi ro và quản lý rủi ro 5
2.1.1 Các khái niệm về rủi ro 5
2.1.2 Rủi ro và sự không chắc chắn 6
2.1.3 Quản lý rủi ro (risk management) 7
2.2 QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại cơ quan hải quan và các yếu tố ảnh hưởng 8
2.2.1 Rủi ro về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu 8
2.2.3.QLRR trong lĩnh vực Hải quan 12
2.2.4 Nguyên tắc về QLRR trong hoạt động của hải quan 13
2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến QLRR hàng hóa xuất nhập khẩu tại cơ quan Hải quan 14
Trang 52.2.5.4 Các yếu tố thuộc về cơ quan Hải quan 15
2.3 Lược khảo những công trình nghiên cứu có liên quan 17
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
2.3.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 18
2.4 Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến QLRR trong lĩnh vực hải quan 24
2.5 Phương pháp nghiên cứu 28
2.5.1 Quy trình nghiên cứu 28
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu 29
2.5.3 Thiết kế thang đo nghiên cứu 29
2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 32
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNGQUẢN LÝ RỦI ROĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÌNH ĐỊNH 34
3.1 Quá trình cải cách, phát triển, hiện đại hóa và thực hiện QLRRcủa Cục Hải quan tỉnh Bình Định từ năm 2011 đến năm 2015 34
3.2.1 Bối cảnh thị trường trong nước và quốc tế tác động đến QLRR 36
3.2.2 Đặc điểm các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuộc địa bàn Cục Hải quan tỉnh Bình Định quản lý 36
3.2.3 Tình hình nhân sự tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định 40
3.2.4 Quy trình QLRR 42
3.2.5 Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật 43
3.2.6 Thể chế 44
3.3 Thực trạng QLRR hàng hóa xuất nhập khẩu 46
3.3.1 Những kết quả đạt đượccủa Cục Hải quan tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 đến 2015 46
3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 49
CHƯƠNG4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
4.1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát điều tra trong nghiên cứu 53
4.2 Phân tích độ tin cậy thang đo 54
4.3 Phân tích nhân tố khám phá và điều chỉnh mô hình nghiên cứu 56
4.4 Phân tích hồi quy tuyến tính và kiểm định giả thuyết 57
4.4.1 Phân tích tương quan 57
Trang 64.4.2 Phân tích hồi quy 60
4.6 Kết quả nghiên cứu 65
4.6.1 Phát hiện nghiên cứu 65
4.6.2 Kết quả nghiên cứu 66
CHƯƠNG 5: KẾ LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 70
5.1 Kết luận 70
5.2 Khuyến nghị chính sách 71
5.2.1 Khuyến nghị đối với nhân tố Chất lượng nguồn nhân lực 71
5.2.2 Khuyến nghị đối với nhân tố Quy trình QLRR 72
5.2.3 Khuyến nghị đối với nhân tố Mức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp 73
5.2.4 Khuyến nghị đối với nhân tố Thị trường trong nước và thế giới 75
5.2.6 Khuyến nghị đối với nhân tố Thể chế 76
5.3 Hạn chế nghiên cứu 77
PHỤ LỤC 1: KHẢO SÁT ĐỊNH TÍNH 6
PHỤ LỤC 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 8
PHỤ LỤC 3 : THỐNG KÊ MÔ TẢ 12
PHỤ LỤC 4: PHÂN TÍCH ĐỘ TIN CẬY THANG ĐO 13
PHỤ LỤC 5: PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ 14
PHỤ LỤC 6: PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN 18
PHỤ LỤC 7: PHÂN TÍCH HỒI QUY 19
PHỤ LỤC 8: PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT 23
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
WCO Tổ chức Hải quan thế giới (World Customs Organization)
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
VNACCS/VCIS Hệ thống thông quan tự động và cơ chế một cửa quốc gia
EFA Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis)
GDP Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product)
KMO Hệ số Kaiser – Mayer- Olkin
SIG Mức ý nghĩa quan sát (Observed significance level)
OLS Phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least Squares)
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thang đo nghiên cứu 29
Bảng 3.1 Xếp loại DN tuân thủ QLRR tại cục Hải quan Bình Định 38
Bảng 3.2 Trình độ công chức của đơn vị qua các năm 41
Bảng 3.3 Kim ngạch hàng hóa XNK từ năm 2011 đến 2015 46
Bảng 3.4 Áp dụng QLRR phân luồng hàng hóa XNK 47
Bảng 4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 53
Bảng 4.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 54
Bảng 4.4 Phân tích nhân tố khám phá biến độc lập của mô hình 56
Bảng 4.5 Đánh giá hiệu quả quản lý rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu 58
Bảng 4.6: Phân tích tương quan 59
Bảng 4.7 Kiểm tra đa cộng tuyến 60
Bảng 4.8 Hệ số của mô hình hồi quy 62
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định cặp giả thiết 64
Bảng 4.10 Kiểm định One Way Anova 64
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Chu trình QLRR 8
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu 24
Hình 3.1 Danh sách DN làm thủ tục xuất nhập khẩu trên địa bàn Cục Hải quan tỉnh Bình Định quản lý từ năm 2011 đến 2015 37
Hình 3.2 Tình hình vi phạm pháp luật về Hải quan 39
Hình 3.3 Phân loại DN theo mức độ rủi ro năm 2015 39
Hình 3.4 Nhân sự Cục Hải quan tỉnh Bình Định từ năm 2011 đến 2015 40
Hình 3.5 Số lượng công chức làm chuyên trách QLRR 41
Hình 3.6 Quy trình QLRR hàng hóa xuất nhập khẩu 42
Hình 3.7 Số lượng tờ khai XNK từ năm 2011 đến 2015 47
Hình 3.8 Số thu thuế của Cục Hải quan tỉnh Bình Định 48
Hình 4.1 Biểu đồ phân tán phần dư 61
Hình 4.2 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa 62
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nhằm nghiên cứu sâu hơn về thực trạngnhữngkhó khăn, vướng mắc của công tác quản lý rủi ro (QLRR) từ cấp cơ sở, tìm ra các nhân tố thực sự ảnh hưởng đến công tác QLRR làm tiền đề xây dựng các giải pháp hoàn thiện công tác QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Cục Hải quan tỉnh Bình Định nói riêng
và Ngành Hải quannói chung trong thời gian tới Nội dung nghiên cứu trình bày thực trạng công tác QLRR và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác QLRR hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định Kết quả nghiên cứu phân tích thực trạng có mối liên hệ trực tiếp đến kết quả phân tích định lượng dữ liệu nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy Linear Regression/ Enter Remove ta thấy khi
áp dụng mô hình cho nghiên cứu các thang đo (bảng phỏng vấn) 130 chuyên gia đến từ Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan Bình Định cho thấy không hình thành những khái niệm khác so với mô hình gốc lý thuyết được tác giả xây dựng Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là Chất lượng nguồn nhân lực, tiếp theo là yếu tố Quy trình QLRR, còn yếu tố tuân thủ của DN tác động mạnh thứ ba và cuối cùng là hai yếu tố
cơ sở vật chất và yếu tố thể chế ảnh hưởng đến QLRR hàng hóa XNK tại Cục hải quan tỉnh Bình Định.Qua kết quả nghiên cứu tác giả đề xuất các giải pháp tương ứng với từng nhân tố Nhân tố chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng nhiều nhất nên trong thời gian tới Cục Hải quan tỉnh Bình Định cần đầu tư nhiều hơn cho lực lượng chuyên trách làm QLRR đảm bảo đủ về lượng và đảm bảo về chất, chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên sâuvề QLRR và nâng cao nhận thức của tất cả công chức về QLRR để nhận thấy được tầm quan trọng của QLRR trong hiện đại hóa Hải quan Kết quả cho thấy sự phù hợp với các công trình nghiên cứu trước đây và thực tiễn tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong xu hướng toàn cầu hóa, cùng với việc hội nhập sâu giữa các quốc gia, các Hiệp định thương mại, các Công ước quốc tế được ký kết ngày càng nhiều tạo sự gia tăng mạnh mẽ việc lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, công nghệ, vốn …giữa các quốc gia Yêu cầu đặt ra cho mỗi quốc gia là làm sao vừa kiểm soát tốt việc tuân thủ luật pháp vừa đảm bảo tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại Yêu cầu đặt ra đối với cơ quan Hải quan là phải thường xuyên cải tiến các phương pháp quản lý để duy trì tính hiệu quả và tính phù hợp của các phương pháp quản lý Cơ quan Hải quan không thể tương tác một cách thủ công với dòng chảy của hàng hóa mà cần phải chuyển từ cách kiểm soát của “người lính gác cửa truyền thống” sang một mô hình điều hành dựa trên quản lý rủi ro (QLRR).Quản lý nhà nước về Hải quan là hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quả cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước
và nước ngoài trong lãnh thổ Hải quan.1 Quản lý nhà nước về Hải quan là cần thiết nhằm bảo đảm tuân thủ chính sách pháp luật của nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa học công nghệ
Từ 01/1/2006, Cục Hải quan tỉnh Bình Định đã áp dụng phương pháp QLRR để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Hải quan Việc áp dụng QLRR vào hoạt động quản lý bước đầu đã đạt được một số kết quả, cân bằng giữa kiểm soát và tạo thuận lợi giúp giảm áp lực công việc, thủ tục Hải quan được thực hiện nhanh chóng thông qua phân tích đối tượng trọng điểm, mặt hàng trọng điểm có mức rủi ro cao
và có phương pháp quản lý phù hợp
Tuy nhiên, việc thực hiện QLRR trong thực tế còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc, lực lượng chuyên trách QLRR còn nhiều hạn chế, việc nhận diện các yếu tố để thu thập, phân tích, đánh giá tiêu chí QLRR còn nhiều khó khăn dẫn đến hiệu quả quản lý chưa cao Chính vì việc kiểm soát các yếu tố rủi ro, phân tích, nhận dạng rủi
ro ở khâu thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu còn nhiều hạn chế dẫn đến
1 Quốc hội (2001) Luật Hải quan
Trang 12một số doanh nghiệp (DN) lợi dụng sự thông thoáng trong thủ tục mà có những hành vi gian lận thương mại Theo số liệu báo cáo của Cục Kiểm tra Sau thông quan- Tổng cục Hải quan, năm 2014 số thuế truy thu được của các DN xuất nhập khẩu có hành vi gian lận thuế là 1.104 tỷ đồng và trong năm 2015 lực lượng Kiểm tra Sau thông quan truy thu được 1.361 tỷ đồng Tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định, năm 2014 truy thu được 1.819 triệu đồng, năm 2015 là 3.290 triệu đồng Đối với các hành vi vi phạm pháp luật hải quan tại Cục Hải quan Bình Định năm 2014 đã
xử lý 52 vụ, năm 2015 là 89 vụ vi phạm Theo kết quả điều tra và thống kê của Cục Điều tra chống buôn lậu – Tổng cục Hải quan, hơn 75% các vụ vi phạm pháp luật Hải quan liên quan đến vận tải đường biển, đây cũng là đối tượng quản lý chủ yếu của Cục Hải quan tỉnh Bình Định Nhận thức được tầm quan trọng của việc áp dụng
QLRR trong hoạt động quản lý nhà nước về Hải quan, tôi chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng tới QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định” làm đề tài nghiên cứu nhằm nghiên cứu sâu hơn về thực trạng
những khó khăn, vướng mắc của công tác QLRR từ cấp cơ sở, tìm ra các nhân tố thực sự ảnh hưởng đến công tác QLRR làm tiền đề xây dựng các giải pháp hoàn thiện công tác QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Cục Hải quan tỉnh Bình Định nói riêng và Ngành Hải quannói chung trong thời gian tới
Đề tài nghiên cứu hướng đến các mục tiêu sau:
- Thứ nhất là tìm ra các nhân tố chính ảnh hưởng tới công tác QLRR, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó tới công tác QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định giai đoạn 2011-2015
- Thứ hai là đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước
về Hải quan trong giai đoạn hội nhập và phát triển
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận văn cần trả lời được các câu hỏi sau:
Trang 13Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng tới công tác QLRR và mức độ tác
động của các nhân tố đó đến công tác QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định?
Câu hỏi 2: Cần có những khuyến nghị chính sách gì để nâng cao hiệu quả
QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định?
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là các nhân tố có thể ảnh hưởng
đến công tác QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định
- Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Bảng phỏng vấn chuyên gia là công cụ để thu thập dữ liệu định lượng Dữ liệu
sẽ được phân tích thông qua Phân tích nhân tố khám phá (EFA) tìm ra các nhóm nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả QLRR
Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để kiểm định sự tương quan giữa các biến và loại bỏ các biến có độ tin cậy không phù hợp
Đề tài sử dụng các dữ liệu thứ cấp từ nguồn báo cáo năm của Cục Hải quan tỉnh Bình Định làm cơ sở phân tích
1.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Để nâng cao hiệu quả QLRR, bên cạnh sự nỗ lực của các cán bộ công chức Ngành Hải quan còn phụ thuộc vào tính tuân thủ pháp luật, tinh thần tự giác của
Trang 14Doanh nghiệp (DN) và các yếu tố khác tác động đến QLRR Luận văn tìm ra những nhân tố thực sự tác động đến công tác QLRR tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó và đề xuất một số giải pháp để QLRR đạt được hiệu quả cao hơn trong thời gian tới
1.7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được kết cấu gồm các chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về QLRR trong lĩnh vực hải quan
Chương 3: Thực trạng công tác QLRRđối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN
2.1 Rủi ro và quản lý rủi ro
2.1.1 Các khái niệm về rủi ro
Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro, ở những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa khác nhau về rủi ro Những định nghĩa có thể chia làm 2 trường phái lớn, trường phái truyền thống (còn gọi là trường phái tiêu cực) và trường phái trung hòa
Theo trường phái tiêu cực hay cách nghĩ truyền thống thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người Theo cách nghĩ của trường phái này thì rủi ro được định nghĩa như sau:
“Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy ra” (Từ điển tiếng Việt, 1995);“Rủi ro là sự không may”GS Nguyễn Lân (1998) Từ và ngữ Việt Nam Tuy nhiên, theo trường phái trung hòa được đại diện bởi Frank Knight (2012)cho rằng: “rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” hoặc “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi “ Willett, A
H (1901) Theo tài liệu của “ISO/IEC 73 (2002) QLRR - các khái niệm và hướng dẫn sử dụng tiêu chuẩn” của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO thì rủi ro là sự kết hợp
giữa xác suất xảy ra của một sự kiện và hậu quả của sự kiện đó Rủi ro xảy ra có thể mang lại lợi ích nhưng cũng có thể gây ảnh hưởng, đem lại các kết quả xấu, không mong đợi
Vậy theo trường phái trung hòa thì rủi ro là những bất trắc có thể đo lường được Rủi ro vừa mang tính tiêu cực vừa mang tính tích cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát, nguy hiểm cho con người, nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi ro người
ta có thể tìm ra biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai
Trang 162.1.2 Rủi ro và sự không chắc chắn
Rủi ro và sự không chắc chắn là hai khái niệm thường được sử dụng trong các tài liệu thuộc lĩnh vực QLRR Một số tác giả đã có sự phân biệt giữa chúng Thường thì định nghĩa về rủi ro hay không chắc chắn được thiết kế cho một nghiệp
vụ hay dự án cụ thể Để làm cho nó có hệ thống hơn, một nghiên cứu đã được thực hiện để định nghĩa về rủi ro và không chắc chắn Những điều này đã được biên soạn
và được thể hiện trong Bảng 2.1
Bảng 2.1 Một số khái niệm về rủi ro
Winch
(2002)
Thiếu thông tin, nhưng bằng cách nhìn vào kinh nghiệm quá khứ, đó là cách dễ dàng để dự đoán tương lai Sự kiện và kết quả đã được biết đến và mong đợi
Là một phần của thông tin cần thiết
để đưa ra quyết định Các thông tin cần thiết bao gồm số lượng thông tin sẵn có và sự không chắc chắn Mức độ không chắc chắn sẽ giảm một phần của dự án đang được tiến hành trong suốt vòng đời
Cleden
(2009)
Rủi ro là những gì có thể phát sinh từ sự thiếu hiểu biết Rủi
ro là những khoảng trống trong kiến thức mà chúng ta nghĩ là mối đe dọa đối với dự án
Là các biện pháp đo lường phi vật thể của những gì chúng ta không biết Sự không chắc chắn là những
gì còn lại sau khi tất cả những rủi
ro đã được xác định Sự không chắc chắn là lỗ hổng kiến thức của chúng ta,thậm chí không nhận thức được
Webb
(2003)
Rủi ro là một tình huống mà trong đó chúng ta sở hữu một
Sự không chắc chắn là một tình huống với kết quả về những người
Trang 17số thông tin mục tiêu về những kết quả có thể có được Nguy
cơ rủi ro có thể được đánh giá một cách tích cực hay tiêu cực
và yếu tố phổ biến là thiếu thông tin và kiến thức Sự khác biệt lớn nhất theo định nghĩa là ý thức Darnall và Preston (2010) tìm thấy một số rủi ro để có thể dự đoán được và dễ dàng để xác định trước khi chúng xảy ra, trong khi những người khác là không thể lường trước và có thể dẫn đến sự chậm trễ thời gian bất ngờ hoặc các chi phí bổ sung Tuyên bố này tìm thấy xác trong định nghĩa được cung cấp bởi Cleden (2009), người sử dụng cùng một đối số xác định chắc chắn là khá khó lường, các sự kiện không lường trước được, trong khi rủi ro có thể thấy trước Tổng quan về định nghĩa này có thể được tìm thấy trong hai thuật ngữ ngụ ý rằng không chắc chắn là một khái niệm rộng và nguy cơ là một phần của nó Điều này khẳng định mối quan
hệ chặt chẽ giữa hai khái niệm nhưng đồng thời phân biệt chúng
2.1.3 Quản lý rủi ro (risk management)
Smith et al (2006) đã cung cấp mô tả toàn diện về khái niệm của QLRR và làm thế nào quản lý rủi ro có thể được sử dụng trong thực tế Theo các tác giả, QLRR không thể được coi là một công cụ để dự đoán tương lai vì điều đó là không thể Thay vào đó, mô tả QLRR như là một công cụ tạo điều kiện để đưa ra quyết định tốt hơn dựa trên những thông tin Bằng cách này, các quyết định dựa trên
Trang 18thông tin không đầy đủ có thể tránh được và điều này sẽ đem đến hiệu suất tổng thể
tốt hơn Trong các nghiên cứu trước đây, QLRR được mô tả như là một quá trình
với một số thủ tục được xác định trước Phạm vi định nghĩa về QLRR có sự khác
nhau giữa các tác giả, tuy nhiên những thông tin cốt lõi là như nhau Cooper et al
(2005) giải thích bản chất của khái niệm nàynhư sau: Quá trình QLRR liên quan
đến việc ứng dụng hệ thống các chính sách quản lý, quy trình và thủ tục với nhiệm
vụ thiết lập bối cảnh, xác định, phân tích, đánh giá, xử lý, giám sát và giải quyết rủi
ro (Cooper et al, 2005) Quá trình QLRR (Risk Management Process) là nguyên tắc
cơ bản của sự hiểu biết và QLRR trong một nghiệp vụ, dự án Nó bao gồm các giai
đoạn chính như: xác định, đánh giá và phân tích, và phản ứng (Smith et al 2006)
được thể hiện như trong hình 2.1 Tất cả các bước trong quá trình QLRR bao gồm
khi đối phó với những rủi ro, để thực hiện hiệu quả các quá trình trong các nghiệp
vụ, dự án Có rất nhiều biến thể của quá trình QLRR có sẵn trong các nghiên cứu
trên thế giới, nhưng khung mô tả phổ biến nhất bao gồm những bước được đề cập
Trong một số mô hình có thêm một bước gia tăng, và phần lớn các nguồn xác định
nó như là giám sát rủi ro hoặc đánh giá
Hình 2.1 Chu trình QLRR
Nguồn : Smith et al (2006)
2.2 QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại cơ quan hải quan và các
yếu tố ảnh hưởng
2.2.1 Rủi ro về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Theo quan điểm của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO): rủi rolà những tác
động không mong muốn, không đoán trước được đối với một đối tượng và rủi ro
trong lĩnh vực hải quan là sự không tuân thủ pháp luật về hải quan.Theo Công ước
KYOTO sửa đổi(1999) định nghĩa rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn của việc không tuân thủ
Trang 19pháp luật hải quan.Rủi ro về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có thể phát sinh từ các hạn chế, sơ hở trong chính sách quản lý hải quan, chính sách thuế, quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩuhoặc trong tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan có thể bị lợi dụng vi phạm pháp luật hải quan Cụ thể, có thể khái quát các loại rủi ro về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu như sau:
Một là rủi ro trong tuân thủ chính sách quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu: Một
số phương thức, thủ đoạn vi phạm như: khai báo hàng hóa thuộc diện ưu tiên miễn kiểm tra nhưng thực tế nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chính sách quản lý, hoặc cất giấu hàng cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu trong hàng hóa thuộc diện miễn kiểm tra, xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa vi phạm về môi trường như nhập khẩu phế liệu không đáp ứng tiêu chuẩn quy định, nhập khẩu rác thải công nghiệp, các chất làm suy giảm ôzôn, động thực vật quý hiếm có nguy cơ tiệt chủng hoặc làm giả, tẩy sửa giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu
Hai là rủi ro về phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu Phương thức, thủ đoạn chủ
yếu là khai báo sai mã hàng hóa hoặc khai mã hàng dễ nhầm lẫn hoặc mã hàng khác nhằm hưởng ưu đãi về thuế suất thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu hoặc để né tránh việc áp dụng biện pháp kiểm tra giám sát của cơ quan Hải quan (đối với trường hợp hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu, nhập khẩu, hàng hóa thuộc quản lý chuyên ngành ) Để hợp thức hóa việc khai mã số hàng hóa, các đối tượng thường khai sai
về chủng loại, tính chất, thành phần, công dụng của hàng hóa
Ba là rủi ro về trị giá hải quan Phương thức, thủ đoạn vi phạm được thể hiện
chủ yếu dưới hai dạng: khai thấp hơn so với trị giá giao dịch thực tế hàng xuất khẩu, nhập khẩu nhằm giảm số thuế phải nộp; hoặc khai cao hơn so với trị giá giao dịch thực tế hàng hóa xuất nhập khẩu để hưởng thuế hoàn cao hơn số thuế thực được hoàn hoặc khai cao hơn để hợp thức hóa việc khai gian lận nguồn vốn đóng góp của các công ty liên doanh, đầu tư nước ngoài, trốn tránh việc rửa tiền
Bốn là rủi ro về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Đối với hàng hóa
nhập khẩu, các đối tượng thường sử dụng các hình thức khai báo sai hoặc giả mạo chứng nhận xuất xứ hàng hóa để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt Rủi ro này thường xảy ra với các loại hàng hóa có thuế suất thuế nhập khẩu cao
Trang 20Năm là rủi ro về lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm các nguy cơ
vi phạm như khai khống hoặc khai sai về số lượng hàng xuất nhập khẩu nhằm mục đích gian lận số tiền thuế phải nộp, gian lận hàng hóa phải có giấy phép, hàng cấm hoặc khai sai, khai khống hàng hóa thực xuất khẩu để hợp thức hóa nguyên liệu đầu vào của hàng hóa nhập khẩu nhằm tiêu thụ sản phẩm, nguyên liệu trong nước
Sáu là rủi ro trong nhập khẩu nguyên liệu để gia công, sản xuất hàng xuất
khẩu Rủi ro này có thể là việc hạch toán sai định mức nguyên liệu, vật tư thực tế sử dụng để sản xuất hàng hóa trong sổ sách kế toán; tráo đổi nguyên liệu nhập khẩu với nguyên liệu trong nước; lợi dụng việc gia công để thẩm lậu nguyên liệu, hàng hóa vào trong nước, gian lận trong hoàn thuế, không thu thuế và báo cáo quyết toán tài chính
Bảy là rủi ro trong kinh doanh tạm nhập – tái xuất: đó là việc lợi dụng hoạt
động này để vận chuyển, buôn bán hàng hóa thuộc diện cấm sản xuất, kinh doanh hoặc thông qua hoạt động này để thẩm lậu hàng hóa cấm nhập khẩu, hàng nhập khẩu có điều kiện, hàng hóa có thuế suất cao vào nội địa Việt Nam
Tám là rủi ro về hàng giả, sở hữu trí tuệ Ở nước ta hiện nay, các nguy cơ vi
phạm về hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra khá phổ biến Tuy vậy, hành lang pháp lý và các biện pháp quản lý chưa rõ ràng nên số lượng các vụ
vi phạm bị phát hiện trong thời gian qua chưa phản ánh đúng tình hình thực tế Những nguy cơ vi phạm chủ yếu như: nhập khẩu hàng nhái, hàng giả, hàng không đảm bảo chất lượng, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được đăng ký tại Việt Nam
Chín là rủi ro về ma túy, tiền chất: Việt Nam được đánh giá vừa là thị trường
trung chuyển vừa là thị trường tiêu thụ chất ma túy Các đối tượng thường sử dụng thủ đoạn cất giấu ma túy trong hàng hóa hoặc khai báo sai chủng loại hàng hóa
Mười là rủi ro trong việc làm giả hồ sơ, chứng từ, quay vòng hồ sơ, chứng từ
để hợp thức các lô hàng buôn lậu, gian lận thương mại Các phương thức chủ yếu như: làm giả giấy phép, giấy chứng nhận kiểm tra chuyên ngành, làm giả hợp đồng, hóa đơn thương mại để hợp thức cho việc gian lận về trị giá hải quan; làm giả vận đơn, Packinglist, giấy chứng nhận xuất xứ để hợp thức nguồn gốc và luồng vận
Trang 21chuyển của hàng hóa để được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt hoặc làm giả hoặc quay vòng hồ sơ nguồn gốc hàng hóa như tờ khai hải quan, hóa đơn giá trị gia tăng, phiếu xuất kho, sổ theo dõi quyết toán thuế để hợp thức đối với nguồn hàng lậu khi xuất khẩu, nhập khẩu, để gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng hoặc vận chuyển hàng hóa vào tiêu thụ trong thị trường nội địa
Mười một là rủi ro về buôn lậu, gian lận thương mại khác.Những nguy cơ về
vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; buôn bán hàng hóa qua biên giới thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu; xuất khẩu hàng hóa không khai báo hải quan; hàng hóa được cất giấu, che đậy bằng các thủ đoạn khác nhau hoặc các hành vi khác trái với quy định của pháp luật về xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hóa trong quá trình làm thủ tục hải quan
Mười hai là rủi ro liên quan đến an ninh quốc gia như việc xuất khẩu, nhập
khẩu tài liệu, văn hóa phẩm, vật phẩm mang nội dung chống phá Nhà nước Việt Nam; văn hóa phẩm đồi trụy, vũ khí, chất nổ…
2.2.2 Hậu quả của những rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu
Mục tiêu khi áp dụng phương pháp quản lý rủi ro nhằm cân bằng giữa kiểm soát và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại Những rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu hàng hóa ở trên là những nguy cơ nếu cơ quan Hải quan không thể kiểm soát chúng Hậu quả của những việc khai sai mã số hàng hóa, khai sai trị giá tính thuế, khai sai tên hàng, số lượng hàng hóa gây thất thu ngân sách, vi phạm chính sách quản lý xuất nhập khẩu của Nhà nước Việc làm giả mạo hồ sơ chứng từ, quay vòng hồ sơ chứng từ trong thời gian qua làm thâm hụt ngân sách rất lớn vì Doanh nghiệp lợi dụng chính sách hoàn thuế GTGT Một số rủi ro khác liên quan đến lợi dụng các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với hàng gia công, nhập sản xuất xuất khẩu để tuồn nguyên liệu nhập khẩu vào tiêu thụ nội địa kiếm lời thay vì phải xuất khẩu sản phẩm Một số rủi ro liên quan đến tiền chất, ma túy khi được ngụy trang trong các hàng hóa thông thường khác nếu không kiểm soát được sẽ gây nguy hại cho xã hội Rủi ro liên quan đến an ninh quốc gia như việc xuất khẩu, nhập khẩu tài liệu, văn hóa phẩm, vật phẩm mang nội dung chống phá Nhà nước Việt Nam; văn hóa phẩm đồi trụy, vũ khí, chất nổ…là hiểm họa cho quốc gia nếu không được phát
Trang 22hiện kịp thời và ngăn chặn, các thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá Nhà nước ta Mỗi rủi ro kể trên đều phương hại đến an ninh quốc gia, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, ảnh hưởng đến chính sách quản lý, điều hành xuất nhập khẩu của Nhà nước ta, do đó cần thực hiện các phương pháp quản lý, kiểm soát phù hợp
2.2.3.QLRR trong lĩnh vực Hải quan
“QLRR trong hoạt động nghiệp vụ hải quan: là việc áp dụng có hệ thống các
quy định pháp luật, các quy trình, biện pháp nghiệp vụ để xác định, đánh giá và phân loại các rủi ro có tác động tiêu cực đến hiệu lực, hiệu quả quản lý hải quan, quản lý thuế, làm cơ sở để cơ quan hải quan phân bổ hợp lý nguồn lực, áp dụng hiệu quả các biện pháp quản lý hải quan, quản lý thuế”2
Theo WCO: QLRR là việc ứng dụng có hệ thống các quy trình quản lý và thực hiện nhằm cung cấp cho cơ quan Hải quan các thông tin cần thiết để nhận biết các yếu tố rủi ro
WCO cũng đưa ra 12 khuyến nghị để cơ quan Hải quan các nước xem xét, điều chỉnh hoạt động quản lý của mình, trong đó có nội dung: Rà soát cơ chế QLRR
tổng thể hiện tại, xây dựng chiến lược QLRR, các quy trình tác nghiệp như một phần của chu trình QLRR được xây dựng và cập nhật thường xuyên trên cơ sở môi trường pháp lý, tình hình vi phạm và tình hình tác nghiệp thực tế Đảm bảo
QLRR thực sự gắn kết, trở thành nòng cốt trong hoạt động của cơ quan hải quan
hiện đại; Trong các kỹ thuật kiểm soát hải quan hiện đại, quy trình QLRR là một phần rất quan trọng Nó giúp xác định những lĩnh vực nào tiềm ẩn rủi ro, và hỗ trợ
cho các quyết định quản lý phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả; Trong QLRR, cần phải giữ cân bằng giữa chi phí và lợi ích, rõ ràng sẽ không có hiệu quả chi phí nếu
xử lý bình đẳng tất cả các rủi ro Cần có các tiêu chuẩn để quyết định cái gì tạo nên một mức độ rủi ro có thể chấp nhận được hoặc không chấp nhận được Để QLRR
hiệu quả, cần có các công cụ phù hợp và phải có cán bộ giàu kỹ năng Đây chính là
nhu cầu về một hệ thống thông tin thực sự để xử lý nhanh khối lượng thương mại quốc tế ngày càng gia tăng và phức tạp
2 Khoản 3 Điều 3 Thông tư 175/2013/TT-BTC ngày 29/11/2013 của Bộ Tài Chính
Trang 23Công ước KYOTO sửa đổi, bổ sung (1999) quy định Tiêu chuẩn áp dụng
QLRR trong kiểm soát hải quan:Tiêu chuẩn 6.5Cơ quan Hải quan phải thiết lập một
chiến lược đo lường tuân thủ để hỗ trợ QLRR
2.2.4 Nguyên tắc về QLRR trong hoạt động của hải quan
Theo Thông tư số 175/2013/TT-BTC quy định về áp dụng QLRR trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan, nguyên tắc áp dụng QLRR trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan, pháp luật thuế trong quản lý đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việc đánh giá rủi ro, đánh giá tuân thủ pháp luật của người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh được dựa trên tiêu chí QLRR, thông tin nghiệp vụ và thông tin,
dữ liệu có trên hệ thống thông tin của Ngành Hải quan tại thời điểm đánh giá
Thứ nhất, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động thương mại Áp dụng QLRR
trong lĩnh vực Hải quan với mục đích là hạn chế những gian lận thương mại trong việc xuất khẩu hàng hóa, điều đó cũng đồng nghĩa với việc giúp cho các tổ chức, cá nhân chấp hành tốt pháp luật về Hải quan, kiểm tra được sự giao lưu hàng hóa giữa các nước với nhau Do đó làm gia tăng mức lợi nhuận cho hoạt động thương mại
Thứ hai, Khuyến khích sự tuân thủ tự giác của đối tượng quản lý Hải quan
QLRR thực chất là đối xử phân biệt trong kiểm tra Hải quan với các đối tượng quản
lý khác nhau dựa trên thông tin về sự tuân thủ pháp luật Hải quan của họ Mục đích của sự phân biệt này là tạo ưu đãi cho DN tuân thủ pháp luật để khuyến khích cộng đồng DN tuân thủ pháp luật tốt hơn
Thứ ba, phân biệt đối tượng kiểm tra để áp dụng các chế độ kiểm tra khác
nhau trên cơ sở thông tin Việc phân biệt đối tượng kiểm tra phải được thực hiện bằng các biện pháp thu thập thông tin, sau đó phải phân tích đánh giá rủi ro và trên
cơ sở các thông tin được tổng hợp để có nhưng quyết định kiểm tra, giám sát đối với các loại hàng hóa khác nhau
Thứ tư, tập trung kiểm soát chặt chẽ các đối tượng không tuân thủ các quy
định của pháp luật theo quá trình Các đối tượng có mức độ rủi ro cao và rất cao sẽ
Trang 24được kiểm tra chặt chẽ Kiểm tra tại cửa khẩu sẽ được bổ sung bằng kiểm tra thường xuyên sau thông quan, nhất là khi có dấu hiệu vi phạm
Thứ năm, tổ chức hoạt động Hải quan hiệu quả trên cơ sở khoa học, khách
quan, dân chủ Việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào QLRR là một đòi hỏi tất yếu trong quản lý Hải quan hiện nay của tất cả các nước trên thế giới nhằm quản lý tốt các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến QLRR hàng hóa xuất nhập khẩu tại cơ quan Hải quan
2.2.5.1 Các yếu tố thuộc về Nhà nước và chính phủ
Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế và hiện đại hóa Ngành Hải quan sẽthúc đẩy hoạt động thương mại và nâng cao chất lượng QLRR trong lĩnh vực Hải quan Các chính sách thúc đẩy hoạt động XNK hay bảo hộ hàng trong nước cũng ảnh hưởng đến QLRR của Ngành Hải quan Có thể thấy hiệu lực
và hiệu quả quản lý Nhà nước ở mức cao sẽ tạo môi trường tốt khuyến khích DN tuân thủ pháp luật Ngược lại, Nhà nước nếu không quản lý xã hội theo pháp luật một cách nghiêm minh sẽ là mảnh đất tươi tốt cho rủi ro không tuân thủ trong lĩnh vực Hải quan phát triển đến mức làm vô hiệu hóa hiệu quả QLRR Bởi một khi hành vi không tuân thủ pháp luật trở thành phổ biến thì việc tuân thủ pháp luật trở thành rủi ro
2.2.5.2 Đặc thù Ngành Hải quan
Ngành Hải quan được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương, là một trong những ngành được đầu tư công nghệ, kỹ thuật hiện đại và có sự hợp tác quốc tế với nhiệm vụ quan trọng nhất là kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý Nhà nước về Hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Do đó Ngành Hải quan nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước
Trang 252.2.5.3 Các quy định pháp lý của các tổ chức quốc tế
Quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tổ chức Hải quan thế giới (WCO): Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Hải quan
thế giới (WCO) năm 1993, đây là tổ chức quốc tế duy nhất có chức năng gắn kết các vấn đề hải quan quốc tế WCO có cơ chế hoạt động như một diễn đàn đối thoại
và chia sẻ kinh nghiệm giữa các quốc gia và qua đó các nước thành viên cũng phải tuân thủ các Hiệp ước và các văn kiện pháp lý khác bao gồm các chuẩn mực hiện đại hóa hải quan về nhiều chuyên đề như phân loại hàng hóa, về trị giá, về quy tắc xuất xứ, chống gian lận thương mại, an ninh chuỗi cung ứng, liêm chính hải quan và thuận lợi thương mại WCO đưa ra khuyến nghị các nước áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro khi làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Năm 2003, Hải quan Việt Nam bắt đầu thực hiện việc xác định trị giá Hải quan theo Hiệp định
Trị giá GATT của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
2.2.5.4 Các yếu tố thuộc về cơ quan Hải quan
Chất lượng nguồn nhân lực: công chức Hải quan có trình độ chuyên môn tốt,
sử dụng thành thạo nghiệp vụ Hải quan, có thái độ tận tâm với công việc, được bố trí vào các nhiệm vụ phù hợp với chuyên môn, có cơ chế luân chuyển hợp lý Bên cạnh đó là đơn vị sử dụng có kế hoạch đào tạo, tập huấn theo hướng chuyên trách, chuyên sâu là một trong những yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện QLRR
Cơ sở vật chất kỹ thuật: Có thể nói không thể thực hiện QLRR mà không áp
dụng các thiết bị kỹ thuật hiện đại QLRR thực hiện kỹ thuật thu thập, phân tích thông tin sâu, kỹ thuật xử lý thông tin thông qua các quy định và lập trình tiêu chí rủi ro để hệ thống tự xử lý mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp để đưa ra biện pháp quản lý tương ứng Do vậy, hệ thống mạng máy tính, đường truyền, hệ thống máy trạm là các thiết bị không thể thiếu, là công cụ giúp công chức Hải quan thực hiện phương pháp QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Tốc độ xử lý
và chất lượng thực hiện QLRR phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở vật chất được trang bị
Quy trình QLRR: Đây là yếu tố quan trọng để thực hiện QLRR,cần có quy
trình QLRR thống nhất, xây dựng đầy đủ các bước thực hiện, phân định rõ trách nhiệm của từng khâu Xây dựng được bộ tiêu chí QLRR đối với hàng hóa xuất
Trang 26khẩu, nhập khẩu đầy đủ, rõ ràng Các bộ phận của cơ quan hải quan cần thực hiện thu thập đầy đủ thông tin, phân tích, đánh giá và xử lý kết quả QLRR thống nhất nhằm đảm bảo các tiêu chí đánh giá hiệu quả QLRR do tổ chức hải quan thế giới hướng dẫn, quy định
2.2.5.5 Các yếu tố thuộc về Doanh nghiệp
Doanh nghiệp có hoạt động XNK là một trong những đối tượng quản lý của cơ quan Hải quan Do vậy, số lượng DN, đặc điểm và tính chất của DN ảnh hưởng đến
kỹ thuật quản lý của cơ quan Hải quan Ở những quốc gia DN có mức tuân thủ cao
sẽ thuận lợi cho cơ quan quản lý Ngược lại, DN có mức tuân thủ pháp luật thấp, đạo đức kinh doanh không được xem trọng, chỉ lợi dụng những kẽ hở để thực hiện các hành vi buôn lậu và gian lận thương mại nhằm trốn thuế sẽ gây khó khăn rất lớn cho cơ quan quản lý, nhất là khi áp dụng QLRR sẽ khó kiểm soát được nhiều rủi ro tiềm ẩn Trước sự gia tăng về số lượng của các DN hoạt động XNK có quy mô khác nhau, kinh doanh các chủng loại mặt hàng ngày càng đa dạng là một thách thức lớn cho cơ quan quản lý, đòi hỏi cơ quan Hải quan phải áp dụng nhiều biện pháp quản
lý khác nhau thông qua thu thập thông tin, phân tích thông tin, sàng lọc và phân loại đối tượng để quản lý phù hợp Phương pháp QLRR nhằm khuyến khích các DN có mức tuân thủ tốt, hướng DN nâng cao mức tuân thủ để nhận được nhiều chế độ, chính sách đãi ngộ trong thủ tục Hải quan và thời gian ân hạn thuế XNK Mặt khác, siết chặt quản lý các đối tượng trọng điểm để kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro
2.2.5.6 Các yếu tố thuộc về thị trường
Thị trường thế giới hiện nay có nhiều biến động, xu thế toàn cầu hóa buộc các nước phải gia tăng hợp tác với nhau trong lĩnh vực Hải quan dẫn đến QLRR ngày càng được chú trọng và không ngừng phát triển để bắt kịp với sự phát triển của thương mại quốc tế Sự hình thành khu vực mậu dịch tự do là một nhân tố ảnh hưởng tích cực khuyến khích hải quan các nước áp dụng kỹ thuật QLRR Bởi vì trong khu vực mậu dịch tự do, các nước đồng ý để loại trừ thuế quan, hạn ngạch và
ưu đãi trong trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia Khi một nước tiến hành áp dụng QLRR vào hoạt động Hải quan thì bắt buộc các nước còn
Trang 27lại cũng phải thực hiện
2.3 Lược khảo những công trình nghiên cứu có liên quan
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Quách Đăng Hòa (2007) với đề tài : “Nghiên cứu xây dựng, quản lý và sử dụng hồ sơ rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ của Ngành Hải quan” Đề tài nghiên cứu sâu về hồ sơ rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, đây là lĩnh vực hẹp của công tác QLRR nhưng lại là yếu tố quan trọng, bởi vì công tác QLRR đưa ra kết quả phân tích rủi ro dựa vào thông tin, dữ liệu thu thập được trong các hồ sơ rủi ro Thông tin có đầy đủ thì mới cho ra được kết quả có độ chính xác cao Do vậy, trên
cơ sở lý thuyết về QLRR của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), tham khảo kinh nghiệm thực tiễn xây dựng hồ sơ rủi ro của một số quốc gia, tác giả đã đưa ra đề xuất phương pháp xây dựng hồ sơ QLRR cho Hải quan Việt Nam trong giai đoạn đầu áp dụng QLRR
Quách Đăng Hòa (2008) với đề tài “giải pháp triển khai đánh giá mức độ tuân thủ của DN xuất nhập khẩu trong các lĩnh vực quản lý Hải quan Một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của việc áp dụng các nguyên tắc QLRR vào hoạt động của
hải quan là đánh giá tuân thủ bởi rủi ro trong lĩnh vực Hải quan là “nguy cơ không
tuân thủ pháp luật Hải quan, pháp luật thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh” Trên cơ sở một số công trình nghiên cứu khoa học nước ngoài và kinh nghiệm quản lý tuân thủ pháp luật hải quan của một số nước Tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng quản lý tuân thủ của Việt Nam và đề xuất các giải pháp đánh giá tuân thủ phù hợp với tình hình thực tế áp dụng tại Việt Nam Đánh giá đúng mức độ tuân thủ của DN xuất nhập khẩu giúp cơ quan Hải quan áp dụng phương pháp quản lý thích hợp và cũng nhằm khuyến khích các DN chấp hành tốt pháp luật để được hưởng những ưu đãi về thuế và thủ tục theo quy định Nguyễn Thị Phương Huyền (2008) với bài viết “QLRR trong kiểm tra Hải quan : những vấn đề cơ bản”đăng trong tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán Tác giả nhấn mạnh những lợi ích của việc QLRR trong kiểm tra hải quan như phân bổ
nguồn lực hiệu quả hơn, tăng nguồn thu ngân sách, nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật của DN Bên cạnh đó tác giả cũng đề cập đến cần nâng cao nhận thức
Trang 28của cán bộ Hải quan, cần thành lập các đơn vị chuyên trách về QLRR để việc thực
hiện QLRR được hiệu quả hơn
2.3.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Công tác QLRR là một công tác quan trọng trong tiến trình phát triển, hiện đại hóa, cải cách thủ tục hành chính của Hải quan các nước Ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, WCO đã triển khai nghiên cứu xây dựng nhiều nội dung liên quan
về QLRR để đưa vào Công ước Kyoto sửa đổi năm 1999 và khuyến nghị các nước thành viên áp dụng QLRR vào các hoạt động nghiệp vụ hải quan
Báo cáo thương mại toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới Kích cho rằng
"việc giảm rào cản của chuỗi cung ứng có thể tăng GDP toàn cầu lên tới hơn 6 lần
so với loại bỏ tất cả thuế nhập khẩu" (Cann, 2013) GETI được dựa trên bốn chỉ số phụ, chín trụ cột và một số biến cho mỗi trụ cột Các chỉ số phụ đó là tiếp cận thị trường, quản lý biên giới, vận chuyển và cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc, môi trường kinh doanh Trụ cột tiếp cận thị trường trong nước và nước ngoài Chỉ số phụ quản
lý biên giới có ba trụ cột: hiệu quả của quản lý khách hàng, hiệu quả của các thủ tục xuất nhập khẩu và tính minh bạch của quản lý biên giới Ba trụ cột của giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng truyền thông là: chất lượng của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, chất lượng dịch vụ vận tải, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) Môi trường kinh doanh có hai trụ cột: môi trường pháp lý và tính bảo mật Chỉ số GETI chủ đề và chỉ số là những khu vực được tìm thấy trong tài liệu học thuật và chuyên nghiệp như các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại quốc tế: Tiếp cận thị trường (Davis & Weinstein, 2003; Mayer & Zignago, 2005), quản lý biên giới (Leonidou, 2004; Sánchez et al, 2003 ), vận tải (Blonigen & Wilson, 2008; Clark et
al, 2004) và cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc (Fink, Mattoo, & Neagu, 2005; McIvor
& Humphreys, 2004), và môi trường kinh doanh (Charoensukmongkol & Sexton, 2011; Cole, 2011 ; Goonatilake, Herath, Herath, & Tyska, 2009) Các nghiên cứu của nhiều yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến thương mại quốc tế ở Puerto Rico tập trung vào tác động của chính sách thương mại trong thời gian 1986-1995 kỳ (Drowne-Aponte, 1999) Các nghiên cứu khác tập trung vào tác động của một yếu
tố bên ngoài hoặc một biến cụ thể như Luật Hợp đồng của Đại lý (Krumbein, 1993)
Trang 29Các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại quốc tế ở Puerto Rico tương ứng với chỉ số phụ GETI và trụ cột GETI ( 2012) thấy rằng các yếu tố khó giải quyết nhất để nhập khẩu là các rào cản thuế quan và phi thuế quan, thủ tục phiền hà nhập khẩu, chi phí cao hoặc chậm trễ gây ra bởi vận tải quốc tế và tham nhũng tại biên giới Các yếu tố khác là chi phí cao hoặc chậm trễ gây ra bởi giao thông vận tải trong nước, yêu cầu
kỹ thuật và tiêu chuẩn nội bộ, tội phạm và trộm cắp, và cơ sở hạ tầng viễn thông không phù hợp (Báo cáo Thương mại toàn cầu, 2012) Một số yếu tố có vấn đề nhất cho nhập khẩu cũng đã được chỉ ra như là yếu tố khó giải quyết nhất cho việc kinh doanh tại Puerto Rico: tham nhũng, tội phạm và trộm cắp Sự phổ biến của các hàng rào thuế quan (4,9 thứ hạng 25 của 144), gánh nặng thủ tục hải quan (4,8, thứ hạng 33 của 144) xếp hạng tốt và Cơ sở hạ tầng viễn thông (83, thứ hạng 105 trong
số 144)
Khái niệm quản lý dựa trên rủi ro được áp dụng trong hầu hết các DN và khu vực chính phủ, có rất nhiều kinh nghiệm có thể được chia sẻ với các vấn đề hải quan Rủi ro hải quan bao gồm tiềm năng cho việc không tuân thủ pháp luật Hải quan như yêu cầu cấp phép, quy định giá, quy tắc xuất xứ, các chế độ miễn giảm thuế, hạn chế thương mại, và các quy định an ninh để tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế (Tổ chức Hải quan thế giới, 2003) QLRR có hệ thống và thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để hạn chế tiếp xúc với rủi ro hải quan như con người, hàng hóa, phương tiện vận tải phải được kiểm tra và rộng hơn (Ngân hàng Thế giới, 2005) Mức độ rủi ro cao về con người, hàng hoá, phương tiện vận tải là đối tượng của các kiểm soát và can thiệp cao; mặc dù những người có nguy cơ thấp mà nhận được hỗ trợ thương mại cao cấp Chỉ có cách tiếp cận QLRR có thể đảm bảo tuân thủ các quy định hải quan một cách để đảm bảo thuận lợi thương mại Bằng cách xác định, phân tích, đánh giá và xử lý rủi ro nhằm cải thiện hiệu quả các hoạt động quản lý Hải quan hàng ngày QLRR hải quan nhằm mục đích cải thiện việc ra quyết định và giảm thiểu tác động rủi ro về hoạt động nghiệp vụ, quy trình thực hiện kiểm tra hải quan (Geourjon, Laporte & Rota Graziozi,2010)
Trong thương mại quốc tế, môi trường thương mại đang thay đổi, kỳ vọng
họ các yếu tố rẻ nhất, đáng tin cậy nhất, nhanh nhất và đơn giản nhất khi giao dịch
Trang 30với các cơ quan chính phủ trong khi nhận được hàng hoá vào và ra khỏi đất nước (Widdowson, 2007) Đôi khi thủ tục phức tạp có thể được gây ra bởi sự can thiệp của chính phủ trong quá trình thanh toán bù trừ mà tạo ra sự bất ổn bằng quy định hải quan cực đoan, những bất ổn này là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất chuỗi cung ứng Kết quả là, trong thương mại quốc tế, thời gian cung cấp các mặt hàng không chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ với các nhà cung cấp và vận chuyển, mà còn trên các chính phủ và các quy định của mình
Có thể thấy rằng hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra sôi động, việc kiểm tra làm thủ tục thông quan còn chưa đáp ứng được về quy mô và số lượng DN có nhu cầu.Nhiều DN vẫn vì lợi ích cá nhân bất chấp quy định bằng nhiều biện pháp khác nhau trong đó nghiêm trọng nhất là khai man và hối lộ nhân viên hải quan nhằm trốn trách nghĩa vụ kiểm tra, kiểm soát của hải quan DN có thể kết hợp với đại lý vận tải hoặc đại lý hải quan để xử lý các thủ tục hải quan thay thế không có sự đảm bảo, các DN (xuất khẩu hoặc nhập khẩu) vẫn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của bất kỳ tờ khai hải quan được thực hiện dưới tên của họ, ngay cả khi được thực hiện bởi một đại diện hoặc đại lý Có thể nói rằng vấn đề chính sách quản lý hải quan không chỉ đơn giản là được coi là công cụ mà nó thực sự hiệu quả có thể tiết kiệm thời gian công ty và tiền bạc và cải thiện dòng tiền cho DN (Sawhney, Rajeev, & Narendar, 2005)
Biljan và Trajkov (2012) nhấn mạnh rằng những vấn đề nan giải chủ yếu trong quản lý hải quan, đặc biệt là trong hai thập kỷ qua, cân bằng nhu cầu tạo thuận lợi cho thương mại là một quá trình đơn giản hóa, tiêu chuẩn hóa và thống nhất của văn bản và thủ tục trong chuỗi cung ứng quốc tế là một trong những mức độ kiểm soát và can thiệp khác nhau Đối phó với tình trạng khó xử này, hải quan thay thế vai trò người gác cổng với những cách tiếp cận mới QLRR hiện đại, phức tạp và rất tinh vi Đặc điểm chính của phương pháp QLRR được xác định mà những người, hàng hóa, phương tiện vận tải phải được kiểm tra và đến mức độ nào Widdowson (2005) kết luận rằng hiệu quả QLRR là trung tâm của hoạt động hải quan hiện đại, cung cấp các phương tiện để đạt được một sự cân bằng thích hợp giữa tạo thuận lợi thương mại và kiểm soát Ngoài ra, các nguyên tắc của QLRR có thể được áp dụng
Trang 31bằng tay hoặc tự động của tất cả các cơ quan hành chính, nhưng một trong những yếu tố quan trọng nhất là được một sự hiểu biết rõ ràng về bản chất của rủi ro
Một trong những nghiên cứu thiết thực nhất đối với các thành phần và vai trò của quản lý rủi ro trên quy mô toàn cầu ngày nay, đối với chính quyền nằm trong GDP bình quân đầu người cao so với GDP bình quân đầu người thấp theo khu vực /quốc gia, và về khả năng cải tiến QLRR cả hai cấp độ chiến lược và hoạt động, được thực hiện bởi Hintsa, Männistö, Hameri, Thibedeau, Sahlstedt, Tsikolenko, Finger và Granqvist (2011) Về câu trả lời từ các cuộc khảo sát tiến hành trên quản
lý rủi ro trong 24 chính quyền, họ đã rút ra hai kết luận: Đầu tiên, tất cả 24 chính quyền trong cuộc khảo sát đã có ít nhất một số các yếu tố QLRR dược hiểu và thực hiện, nhưng không có chính quyền nào có hệ thống QLRR hiệu quả trên phương diện chiến lược và trên cấp độ hoạt động ; thứ hai, Hải quan hoạt động trong nền kinh tế kém phát triển nhận thức được rủi ro tiềm năng là thấp và những trở ngại trong cách tiếp cận rủi ro cao hơn so với đối tác của họ ở các quốc gia giàu có Hạn chế để quản lý nguồn nhân lực, và thiếu các công cụ QLRR và dữ liệu để quản lý rủi ro là những ví dụ quan trọng mà chính quyền ở các nước nghèo đang tụt hậu ngày nay gặp phải Djankov, Freund và Cong (2008), kết luận rằng việc giảm 10 phần trăm trong sự chậm trễ làm tăng kim ngạch xuất khẩu khoảng 4 phần trăm, tất
cả khác nhau Giảm sự chậm trễ trong thời gian hải quan nhập khẩu và xuất khẩu có thể được tính như tương đương thuế quan mà sẽ thể hiện tác động của việc giảm độ trễ về tự do hóa thuế quan (Hummels, 2007)
Điều VIII của GATT (1994) công nhận sự cần thiết giảm thiểu tỷ lệ sai sót
và phức tạp của thủ tục nhập khẩu và xuất khẩu giảm và đơn giản hóa các yêu cầu nhập khẩu và xuất khẩu’ Do đó, trong khi di chuyển hàng hóa xuyên biên giới của hành khách và phương tiện vận tải, cơ quan hải quan cần phải đảm bảo tuân thủ pháp luật trong khi cũng tập trung vào việc tạo thuận lợi cho thương mại Điều này đang nổi lên như một trong những tính năng chính của thương mại quốc tế ngày nay Cơ quan hải quan cũng cần phải tập trung vào các chi phí và hiệu quả của các hoạt động của mình
Trang 32Widdowson (2005), hai yếu tố kiểm soát hải quan - tuân thủ quy định và thuận lợi thương mại - không mâu thuẫn Nghiên cứu cho rằng không cần thiết để giảm mức độ kiểm soát để tạo thuận lợi cho thương mại, và nó không phải là mệnh lệnh để tăng các rào cản thương mại để đổi lấy sự gia tăng mức độ kiểm soát Nghiên cứu phân loại các phương pháp tiếp cận quản lý hải quan trong các cách sau: 1.Kiểm soát cao, tạo thuận lợi cao - đại diện cho một cách tiếp cận cân bằng mức độ cao cho cả kiểm soát và thương mại thuận lợi ; 2.Kiểm soát yếu, thuận lợi thấp- mô tả cách tiếp cận của chính quyền thực hiện quyền kiểm soát ít và đạt được bình đẳng ít cách tiếp cận quản lý khủng hoảng ; 3.Kiểm soát thấp, tạo thuận lợi cao- đại diện cho một cách tiếp cận trong đó thuận lợi là thứ tự của ngày cách tiếp cận công bằng ; 4.Kiểm soát cao, thuận lợi thấp - đại diện cho một chế độ kiểm soát cao (Widdowson, 2005).Trong số này, cách tốt nhất là một trong kiểm soát cao
và thuận lợi cao, mà là đạt được thông qua việc sử dụng hiệu quả các chiến lược QLRR Baker (2002) cũng tuyên bố rằng Hải quan thừa nhận không thể thực sự xem xét tất cả các chuyến hàng, tuy nhiên phát triển các chương trình để đánh giá
và QLRR đối với bất kỳ sự không tuân thủ pháp luật và các quy định có thể dẫn đến tổn thất hoặc thiệt hại trong thương mại, ngành công nghiệp, hoặc của công chúng QLRR cần phải đơn giản hóa các thủ tục hải quan và nâng cao hiệu quả kinh tế Ayyub (2003), người đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và QLRR trong các tổ chức hải quan, cho rằng "chi phí kiểm soát không được vượt quá rủi ro chi phí" Ở đây, chi phí và lợi ích phân tích cần được áp dụng để đo lường sự đóng góp của các kỹ thuật QLRR và quy trình QLRR, bằng cách xác định liệu những lợi ích lớn hơn chi phí thực hiện hay không
Trong thực tế, QLRR bao gồm tất cả các hoạt động giảm thiểu tác động tiêu cực của những rủi ro Chúng bao gồm việc xác định các chính sách kiểm soát và loại rủi ro; phân tích, đánh giá và giám sát rủi ro; rủi ro kiểm soát; và phòng ngừa rủi ro Điều quan trọng là phải xác định, phân tích và đánh giá rủi ro một cách chính xác để đảm bảo rủi ro cao nhất được nhắm mục tiêu một cách hiệu quả Kỹ thuật nhắm mục tiêu QLRR dựa trên các phương pháp tri thức và sáng tạo, dựa trên các ứng dụng của hệ thống CNTT thông minh xúc tiến kiểm tra hải quan Phân tích rủi
Trang 33ro thông minh CNTT dựa trên cũng có thể giúp giảm thiểu tham nhũng bằng cách tránh can thiệp tùy tiện có thể do cơ quan hải quan trong việc lựa chọn các lô hàng phải được kiểm soát Hệ thống này thu thập tất cả các dữ liệu cần thiết để phân tích rủi ro, đi vào những thành phương trình phân tích rủi ro và tạo ra kết quả sẽ được sử dụng cho việc ra quyết định (Desiderio & Bergami 2011) Việc áp dụng một hệ thống như vậy, hoặc hệ thống kiểm soát chọn lọc, gọi cho sự phát triển của các phương pháp kết hợp các chỉ số khác nhau vào một chỉ số đánh giá rủi ro duy nhất Điều này có thể được thực hiện bằng cách nhập các chỉ số khác nhau vào các phương trình đánh giá rủi ro và tính toán xác suất rủi ro (Geourjon & Laporte 2005; Laporte 2011)
Sự phát triển của quan hệ hợp tác với các DN đã được chứng minh là nhân tố
có thể cải thiện chất lượng của kiểm soát hải quan, vì nó giúp Hải quan để xác định tốt hơn các lô hàng bị nghi ngờ vi phạm quy định thương mại quốc tế, đồng thời đạt được một thỏa đáng mức độ thuận lợi thương mại cần thiết cho tăng trưởng kinh tế Như một quy luật, kỹ thuật ngày nay dựa trên các phương pháp sáng tạo, dựa trên việc sử dụng các hệ thống CNTT phức tạp và phần mềm tăng tốc độ công việc mà trước đây phụ thuộc hoàn toàn vào các sĩ quan của Hải quan kinh nghiệm Phương pháp phân tích rủi ro tự động cũng có thể giảm thiểu khả năng tham nhũng, vì họ tránh bất kỳ sự can thiệp tùy tiện của cán bộ hải quan trong việc lựa chọn các lô hàng phải chịu kiểm soát Các hệ thống, phần mềm thu thập tất cả các dữ liệu có liên quan mà cần phải được nhập vào phương trình phân tích rủi ro và giải thích kết quả Hơn nữa, những dữ liệu này có thể được tái sử dụng, giảm đáng kể thời gian cần thiết để thực hiện các phân tích tiếp theo - điều này sẽ không phải là trường hợp nếu được thực hiện bằng tay
Một số tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học đề cập về đo lường, đánh giá tuân thủ của nước ngoài như: Tài liệu hướng dẫn của WCO về QLRR; Quy trình
QLRR tuân thủ thương mại của Hải quan Hoa Kỳ; Sổ tay hiện đại hoá của Hải quan Hoa Kỳ; Sổ tay hiện đại hoá hải quan của Ngân hàng thế giới; Tài liệu đào tạo của Hải quan Nhật Bản cho Hải quan Việt Nam về QLRR Các công trình và tài liệu nghiên cứu nêu trên chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận chung về đo lường,
Trang 34đánh giá tuân thủ thương mại, đánh giá tuân thủ của DN trong hoạt động thương mại quốc tế
2.4 Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến QLRR trong lĩnh vực hải quan
Xuất phát từ khung lý thuyết QLRR và lược khảo những công trình nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế ở trên Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu như sau:
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu này thực hiện nhằm đo lường tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến QLRR đối với hàng hóa XNK tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định Trong sáu nhân tố trên, nhân tố bên trong (nội hàm) ảnh hưởng trực tiếp đến công tác QLRR đó là chất lượng nguồn nhân lực, quy trình thực hiện QLRR và cơ sở vật chất được trang bị Có rất nhiều yếu tố từ bên ngoài tác động đến công tác QLRR, luận văn đề xuất một số nhân tố tiêu biểu đại diện cho ba tác nhân hữu quan tác động đến QLRR đó là những biến động của thị trường trong và ngoài nước; yếu tố
QUẢN LÝ RỦI ROHÀNG HÓA XNK
Quy trình quản lý rủi ro Thể chế
Thị trường trong nước và quốc tế
Mức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp
Trang 35về thể chế liên quan đến cơ cấu, quy định, phương pháp QLRR; mức tuân thủ pháp luật của DN XNK
Thị trường trong nước và quốc tế: Thị trường thế giới ngày càng nhiều biến
động, xu thế toàn cầu hóa đã buộc các nước phải hợp tác với nhau ngày càng nhiều hơn trong lĩnh vực hải quan dẫn đến công tác QLRR ngày càng được chú trọng và không ngừng thay đổi , phát triển nhằm theo kịp với sự phát triển không ngừng của thương mại quốc tế Xu hướng thay đổi của các dòng hàng xuất khẩu, nhập khẩu và
sự hình thành khu vực mậu dịch tự do là nhân tố ảnh hưởng tích cực đến khuyến khích hải quan các nước áp dụng kỹ thuật QLRR Bởi vì trong khu vực mậu dịch tự
do, các nước đồng ý để loại trừ dần thuế quan, hạn ngạch và dành ưu đãi lớn đối với hoạt động trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia Tình hình kinh tế biến động có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến công tác QLRR, nếu cơ quan hải quan chủ động và có phương pháp quản lý phù hợp thì có thể giảm thiểu được những rủi ro phát sinh Theo Widdowson (2005) thì “áp dụng có hiệu quả các nguyên tắc QLRR chính là chìa khoá để đạt được sự cân xứng giữa mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và mục tiêu kiểm soát”
Thể chế: Việc áp dụng QLRR vào quy trình thủ tục đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu phải được thực hiện dựa trên các quy định cụ thể, có sơ sở pháp lý
rõ ràng Những quy định về QLRR trong hoạt động nghiệp vụ của Hải quan sẽ quyết định cơ cấu tổ chức bộ máy và phương thức thực hiện QLRR của Ngành Hải quan.Theo WCO (2003), Rủi ro hải quan bao gồm khả năng không tuân thủ pháp luật Hải quan như yêu cầu cấp phép, quy tắc xuất xứ, quy định giá, các chế độ miễn giảm thuế,các hạn chế thương mại và các quy định về an ninh nhằm tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế Đối với hoạt động thương mại quốc tế thì sự hỗ trợ của chính phủ đối với hoạt động thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hay bảo hộ hàng hóa trong nước cũng ảnh hưởng nhiều đến công tác QLRR hải quan Hiệu lực quản
lý nhà nước ở mức cao sẽ tạo ra môi trường khuyến khích DN tuân thủ pháp luật nói chung và pháp luật hải quan nói riêng (Leibowitz, 1967; Rivera, 2012) Hành vi không tuân thủ pháp luật trở thành phổ biến thì việc tuân thủ pháp luật trở thành rủi
ro Baker (2002), phát triển các chương trình để đánh giá và QLRR đối với bất kỳ
Trang 36sự không tuân thủ pháp luật và các quy định có thể dẫn đến tổn thất hoặc thiệt hại trong thương mại, ngành công nghiệp… QLRR cần phải đơn giản hóa các thủ tục hải quan và nâng cao hiệu quả kinh tế
Mức tuân thủ pháp luật của DN: Widdowson (2007), trong thương mại quốc
tế, thời gian cung cấp các mặt hàng không chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ với các nhà cung cấp và vận chuyển, mà còn trên các chính phủ và các quy định của mình Nhiều DN vẫn vì lợi ích cá nhân bất chấp quy định bằng nhiều phương pháp khác nhau trong đó nghiêm trọng nhất là khai man và hối lộ nhân viên Hải quan nhằm trốn trách nghĩa vụ kiểm tra, kiểm soát hải quan Như vậy để gia tăng hiệu quả QLRR Hải quan tránh thất thoát ngân sách nhà nước và tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, điều quan trọng là phải nâng cao nhận thức tuân thủ của DN (Sawhney, Rajeev, & Narendar, 2005).DN có hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những đối tượng quản lý của Hải quan Đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật
để áp dụng biện pháp quản lý đối với từng loại đối tượng DN là một yêu cầu cấp bách Việc đo lường, đánh giá tuân thủ DN được thực hiện qua việc công nhận DN
ưu tiên; đánh giá DN chấp hành tốt pháp luật; đánh giá DN nhiều lần vi phạm pháp luật hải quan; phân tích, đánh giá rủi ro tuân thủ của DN thông qua các hoạt động
XK, NK Đánh giá đúng sự tuân thủ pháp luật của DN vừa khuyến khích DN chấp hành tốt pháp luật để được hưởng các ưu đãi về thủ tục, về thuế mặt khác vừa giúp nâng cao hiệu quả QLRR, hiệu quả quản lý của Hải quan
Quy trình QLRR: QLRR Hải quan nhằm mục đích cải thiện việc ra quyết định
và giảm thiểu tác động rủi ro về hoạt động nghiệp vụ, quy trình thực hiện kiểm tra hải quan (Geourjon, Laporte & Rota Graziozi,2010) Trong các tài liệu nghiên cứu trước đây dẫn theo nghiên cứu của Biljan và Trajkov (2012) cho rằng trong quản lý hải quan thì sự cân bằng nhu cầu tạo thuận lợi cho thương mại là một quá trình đơn giản hóa, tiêu chuẩn hóa và thống nhất của văn bản và thủ tục trong chuỗi cung ứng quốc tế là một trong những mức độ kiểm soát và can thiệp khác nhau Điều tất yếu
là cần có quy trình QLRR thống nhất, xây dựng đầy đủ các bước thực hiện, phân định rõ trách nhiệm của từng khâu Xây dựng được bộ tiêu chí QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đầy đủ, rõ ràng Các bộ phận của cơ quan hải quan cần
Trang 37thực hiện thu thập đầy đủ thông tin, phân tích, đánh giá và xử lý kết quả QLRR thống nhất nhằm đảm bảo các tiêu chí đánh giá hiệu quả QLRR do tổ chức hải quan thế giới hướng dẫn, quy định
Chất lượng nguồn nhân lực: Công chức là chủ thể thực hiện QLRR thông
qua các kỹ thuật nghiệp vụ được trang bị và kiến thức của bản thân nhận dạng rủi
ro, thu thập, phân tích, đánh giá rủi ro Đây là yếu tố bên trong tác động đến công tác QLRR Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm làm công tác nghiệp vụ Hải quan và được tập huấn và trang bị kiến thức về QLRR Công chức bình thường có khả năng làm đúng việc ở mức trung bình Công chức có năng lực tốt sẽ nhận diện được những rủi ro, kể cả rủi ro tiềm ẩn thông qua các thông tin hệ thống, dấu hiệu của các đối tượng quản lý, có sự nhạy bén trong công việc và làm việc với tinh thần trách nhiệm cao hơn Theo Djankov, Freund và Cong (2008), hạn chế để quản lý nguồn nhân lực và thiếu các công cụ và dữ liệu cho quá trình QLRR là những ví dụ quan trọng mà chính quyền ở các nước nghèo đang tụt hậu ngày nay Laporte (2011) cho rằng thái độ và sự thành thạo nghiệp vụ QLRR của nhân viên hải quan đóng vai trò quyết định thành công của công tác QLRR hải quan Các cán bộ hải quan phải được đào tạo để có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu chuyên môn, áp dụng được những thành tựu về khoa học kỹ thuật, các máy móc hiện đại để thu thập thông tin, đánh giá và phân tích dữ liệu ở trình độ cao
Cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình QLRR
hàng hóa xuất nhập khẩu trong lĩnh vực hải quan.Có thể nói, không thể áp dụng QLRR vào quy trình thủ tục Hải quan một cách thủ công, hay nói cách khác, không thể thực hiện QLRR mà không đi kèm với ứng dụng công nghệ thông tin Ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, hoạt động QLRR theo các giác độ: Mức độ phủ khắp của mạng lưới thông tin điện tử, khả năng truy cập và xử lý nhanh, khả năng kết nối mạng và phối hợp với các cơ quan khác trong thu thập sử dụng thông tin ở nước ngoài ngày càng cao Phạm vi và mức độ chính xác của QLRR trong quy trình thủ tục hải quan phụ thuộc vào mức độ cập nhật đầy đủ thông tin cho cơ sở vật chất Cơ sở vật chất kỹ thuật càng hiện đại thì mức độ hiệu quả QLRR càng cao
Trang 38Nghiên cứu của Desiderio & Bergami (2014) cho rằng : kỹ thuật nhắm mục tiêu QLRR dựa trên các phương pháp tri thức và sáng tạo, dựa trên các ứng dụng của hệ thống CNTT thông minh xúc tiến hiệu quả kiểm tra hải quan Việc tổ chức hệ thống thông tin dữ liệu tốt sẽ giúp ích cho việc cập nhật, thu thập, xử lý thông tin để cung cấp dữ liệu cho quá trình đo lường, đánh giá tuân thủ và mức độ rủi ro của đối tượng quản lý Cùng với đó, việc phát triển các phần mềm giúp cho việc theo dõi, phân tích đối tượng quản lý, đánh giá rủi ro giúp cho cơ quan hải quan phát hiện và ứng phó kịp thời đối với các nguy cơ không tuân thủ pháp luật hải quan
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu dựa trên các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu
và cơ sở lý thuyết, những nghiên cứu trước đó để xác định các thang đo về các nhân
tố ảnh hưởng tới QLRR Sau đó tham vấn chuyên gia thông qua kỹ thuật phỏng vấn sâu bán cấu trúc để rút ra bộ tiêu chí chính thức phù hợp bối cảnh nghiên cứu Tiếp đến, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và bình phương bé nhất (OLS) để định lượng mức ảnh hưởng của mỗi tiêu chí đến QLRR thông qua phiếu điều tra sơ cấp tại Cục Hải quan Bình Định và Cục QLRR thuộc Tổng cục Hải quan Quy trình thực hiện nghiên cứu được tiến hành bao gồm các bước như sau:
Bước 1: Nghiên cứu định tính: Lựa chọn 08 chuyên gia có kinh nghiệm từ 15
năm trở lên trong lĩnh vực nghiệp vụ Hải quan, làm việc tại cấp Tổng cục, cấp Cục
và cấp Chi cục để xây dựng thang đo cho các nhân tố ảnh hưởng tới QLRR
Bước 2: Nghiên cứu định lượng:Gửi bảng câu hỏi trực tiếp đến các đơn vị cần
thu thập thông tin Nội dung khảo sát chính, bao gồm các phát biểu để đánh giá mức
độ ảnh hưởng của các nhân tố bao gồm 27 biến quan sát độc lập
Bước 3: Thu thập bảng trả lời và đối chiếu với số lượng bảng câu hỏi đã phát
ra, tính toán giá trị mean, mode của mỗi phúc đáp Thống kê tất cả những ý kiến trong bảng câu hỏi
Bước 4:Sử dụng công cụ SPSS 20.0 để phân tích dữ liệu, đánh giá và đưa ra
kết luận về mô hình được kiểm định
Trang 39Bước 5: Đánh giá kết quả, kiến nghị và nêu các giải pháp
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu
Theo Tabachnick & Fidell (2007), kích thước mẫu trong phân tích hồi quy đa biến (MLR) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mức ý nghĩa, độ mạnh của phép kiểm định,
số lượng biến độc lập Theo Tabachnick & Fidell (1996) cho rằng kích thước mẫu
cần đảm bảo theo công thức: n>= 50 + 8p Trong đó: n: là cỡ mẫu, p: là số lượng
biến độc lập trong mô hình Do vậy, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu với cỡ mẫu là
n >= 98 mẫu Để mẫu nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy thì tác giả chọn kích thước
mẫu là 130 quan sát cho đề tài nghiên cứu này Sau đó các bảng câu hỏi được phân
phối đến các đơn vị khảo sát và thu hồi trực tiếp
2.5.3 Thiết kế thang đo nghiên cứu
Thang đo khoảng (Interval scale) là loại thang đo cho các dữ liệu số lượng
Là loại thang đo cũng có thể dùng để xếp hạng các đối tượng nghiên cứu nhưng khoảng cách bằng nhau trên thang đo đại diện cho khoảng cách bằng nhau của đối tượng Với thang đo này ta có thể thực hiện các phép tính đại số (trừ phép chia không có ý nghĩa) Phương pháp phân tích thống kê thích hợp với các thang đo: trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số tương quan, Kiểm định t, F Đánh giá thang đo sử dụng thang đo likert 1 5 tương ứng với Bậc 1: Ảnh hưởng rất thấp; Bậc 2: Ảnh hưởng thấp; Bậc 3: Ảnh hưởng trung bình; Bậc 4: Ảnh hưởng cao; Bậc 5: Ảnh hưởng rất cao dựa trên các công trình nghiên cứu chính như Widdowson (2005), Geourjon, Laporte & Rota Graziozi (2010); Laporte (2011) Biljan và Trajkov (2012), Desiderio & Bergami (2014) Nội dung thang đo cụ thể được trình bày cụ thể dưới đây :
Bảng 2.1 Thang đo nghiên cứu
TT1 Xu hướng thay đổi của các mặt hàng xuất khẩu, nhập
TT2 Việt Nam ký kết nhiều hiệp định thương mại, mở
Trang 40rộng hợp tác với các nước
TT3 Các rào cản thương mại được gỡ bỏ theo lộ trình, tạo
thuận lợi cho thương mại
TT4 Các chủng loại mặt hàng ngày càng đa dạng kéo theo
yếu tố rủi ro mới
TC1 Hệ thống pháp luật về Hải quan được ban hành đầy
đủ, tuân thủ các nguyên tắc, quy chuẩn quốc tế
Widdowson (2005),WCO (2003), Leibowitz (1967); Rivera (2012), GETI (2012), Baker (2002)
TC2
Hệ thống pháp luật về áp dụng QLRR trong lĩnh vực
Hải quan đủ căn cứ pháp lý để cơ quan Hải quan thực
thi nhiệm vụ
TC3 Các đơn vị thực thi pháp luật đã được hình hành (như
Hải quan và các cơ quan quản lý chuyên ngành)
TC4 Chính sách hỗ trợ của chính phủ trong hoạt động
thương mại quốc tế
TC5 Phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan ban ngành có liên
quan
C Chất lượng nguồn nhân lực
NL1 Công chức Hải quan nắm vững chuyên môn nghiệp
vụ
Djankov, Freund
và Cong (2008); Laporte (2011)
NL2 Tận tụy với công việc
NL3 Công tác đào tạo nguồn nhân lực được chú trọng
NL4 Công chức Hải quan sử dụng thành thạo phần mềm
dữ liệu nghiệp vụ hải quan
NL5 Công tác quy hoạch và luân chuyển công chức
D Mức độ tuân thủ pháp luật của DN
DN1 Chấp hành các quy định Pháp luật về thuế và pháp
luật về hải quan
Nguyễn Thị Phương Huyền