1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của độ mở thương mại và độ mở tài chính đến phát triển tài chính ở một số quốc gia đang phát triển tại khu vực châu á

97 328 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Tác động của độ mở thương mại và độ mở tài chính đến phát triển tài chính ở một số quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á” là công trình nghiên cứu c

Trang 1

-

NGUYỄN THỊ DUYÊN

TÁC ĐỘNG CỦA ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI VÀ ĐỘ MỞ TÀI CHÍNH ĐẾN PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH Ở MỘT SỐ QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN TẠI KHU VỰC CHÂU Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp.Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 2

-

NGUYỄN THỊ DUYÊN

TÁC ĐỘNG CỦA ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI VÀ ĐỘ MỞ TÀI CHÍNH ĐẾN PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH Ở MỘT SỐ QUỐC GIA ĐANG PHÁT

TRIỂN TẠI KHU VỰC CHÂU Á

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS TS TRẦN NGỌC THƠ

Tp.Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Tác động của độ mở thương mại và độ mở tài

chính đến phát triển tài chính ở một số quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các thông tin, dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích dẫn đều có ghi nguồn gốc và các kết quả được trình bày trong luận văn chưa được công

bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây Nếu phát hiện có bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm trước Hội Đồng

TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 12 năm 2016

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 2

1.1 Lý do lựa chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4

1.2.1 Mục tiêu chung 4

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu cụ thể 4

1.3 Phương pháp nghiên cứu 4

1.4 Ý nghĩa của đề tài 5

1.5 Bố cục của Luận văn 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI VÀ ĐỘ MỞ TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG LÊN PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH Ở CÁC QUỐC GIA 8

2.1 Cơ sở lý luận khoa học 8

2.1.1 Lý thuyết về phát triển tài chính 8

2.1.1.1 Định nghĩa phát triển tài chính 8

Trang 5

2.1.2.1 Định nghĩa về độ mở thương mại 11

2.1.2.2 Thước đo độ mở thương mại 11

2.1.3 Lý thuyết về độ mở tài chính 12

2.1.3.1 Định nghĩa về độ mở tài chính 12

2.1.3.2 Các thước đo độ mở tài chính 13

2.2 Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm 15

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về độ mở thương mại và độ mở tài chính 15

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của độ mở thương mại và độ mở tài chính lên phát triển tài chính 15

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Tình hình phát triển tài chính khu vực Châu Á từ năm 1991- 2015 20

3.2 Mô hình thực nghiệm 21

3.2.1 Mô hình thực nghiệm 21

3.2.2 Ưu điểm phương pháp nghiên cứu trên dữ liệu bảng 24

3.3 Dữ liệu và mẫu quan sát 25

3.3.1 Đo lường phát triển tài chính 26

3.3.2 Đo lường độ mở thương mại và độ mở tài chính 28

3.3.3 Biến kiểm soát 28

3.3.4 Nguồn dữ liệu 28

3.3.5 Sự phù hợp của kích thước mẫu 29

3.4 Phương pháp ước lượng 29

Trang 6

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 39

4.1 Phân tích thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 41

4.2 Kiểm định sự tương quan các biến trong mô hình và đa cộng tuyến 44

4.2.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến Pearson 44

4.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình 45

4.3 Kiểm định sự lựa chọn mô hình Pooled và mô hình dữ liệu bảng FEM 46

4.4 Kiểm định sự lựa chọn mô hình Pooled và mô hình dữ liệu bảng REM 47

4.5 Kiểm định sự lựa chọn mô hình FEM và mô hình dữ liệu bảng REM 48

4.6 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư trên dữ liệu bảng – Greene (2000) 49

4.7 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư trên dữ liệu bảng – Wooldridge (2002) và Drukker (2003) 50

4.8 Phân tích kết quả hồi quy 51

4.9 Những thành phần khác biệt giữa các quốc gia trong mối quan hệ giữa độ mở thương mại và độ mở tài chính ảnh hưởng đến phát triển tài chính 61

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 65

5.1 Kết luận 65

5.2 Gợi ý chính sách 66

5.3 Hạn chế của đề tài 68

5.4 Hướng mở rộng đề tài 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Tên viết tắt Tên gọi đầy đủ

ADB Asian Development Bank - Ngân hàng phát triển Châu Á

FD Financial Development - Phát triển tài chính

FDI Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FEM Fixed effect model - mô hình tác động cố định

FO Financial Openness - độ mở tài chính

GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội

GMM

Generalized Methods of Moments- Mô hình dữ liệu bảng động tuyến tính

gov Chi tiêu của chính phủ

ILO International Labour Organization - Tổ chức lao động quốc tế

IMF International Monetary Fund - Quỹ tiền tệ quốc tế

LLY Tỷ lệ giữa nợ thanh khoản với GDP

Trang 8

SAV Tổng số tiền tiết kiệm hộ gia đình / GDP

PRV Tín dụng tư nhân / Tổng tín dụng

Trang 9

Bảng 3.1: Tổng hợp các biến dùng trong mô hình thực nghiệm 23

Bảng 3.2: Danh sách các nước trong mẫu nghiên cứu 26

Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 42

Bảng 4.2: Ma trận tương quan tuyến tính đơn giữa các cặp biến 45

Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai đối của mô hình 46

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và FEM 47

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và REM 47

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định lựa chọn FEM và REM 48

Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi của các mô hình 49

Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra tự tương quan của các mô hình 50

Bảng 4.9: Kết quả biến phụ thuộc DEPT 54

Bảng 4.10: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc FIR 57

Bảng 4.11: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc SAV 58

Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc PRV 60

Bảng 4.13: Thành phần khác biệt trong mối quan hệ giữa TO - DEPT 62

Bảng 4.14: Thành phần khác biệt trong mối quan hệ giữa TO - DEPT 63

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1: Biểu thị tăng trưởng của khu vực Châu Á từ năm 1995-2015 20

Trang 10

TÓM TẮT

Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để điều tra tác động của độ mở thương mại và độ mở tài chính đối với các chỉ số khác nhau của phát triển tài chính Nghĩa là độ mở thương mại có ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính và

độ mở tài chính có tác động lên sự phát triển tài chính hay không? Trên cơ sở thực nghiệm ở một số quốc gia đang phát triển trong khu vực Châu Á, bài nghiên cứu sử dụng mô hình ước lượng hồi quy tuyến tính (Linear regression) trên nền tảng các kiểm định GMM (Generalized Methods of Moments- mô hình dữ liệu bảng động tuyến tính) được gợi ý từ Arellano và Bond 1991 từ đó sẽ khắc phục được những yếu điểm của mô hình Pooled, FEM hay REM còn tồn đọng Nguồn dữ liệu của bài nghiên cứu sẽ sử dụng một bộ dữ liệu bảng (Panel data) từ 15 quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2015, với kỳ quan sát tính theo năm Bài nghiên cứu rút ra được các phát hiện quan trọng sau đây:

Thứ nhất, khi đánh giá tác động của độ mở thương mại đối với phát triển tài

chính, kết quả cho thấy độ mở thương mại tác động tiêu cực đến kích thước của phát triển tài chính Nhưng ngược lại, độ mở thương mại lại tác động tích cực lên hiệu quả của phát triển tài chính

Thứ hai, khi đánh giá tác động của độ mở tài chính đối với phát triển tài chính,

kết quả cho thấy độ mở tài chính tác động tiêu cực đến kích thước của phát triển tài chính

Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy thực sự có sự tác động của độ mở thương mại và

độ mở tài chính đến phát triển tài chính ở một số quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á Và điều này phù hợp với các nghiên cứu trước, do đó bài nghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc giải thích các mối liên hệ của độ mở lên phát triển tài chính

Từ khóa: Độ mở thương mại, độ mở tài chính, phát triển tài chính

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do lựa chọn đề tài:

Chúng ta đang sống trong thời đại đầy bất ổn và nhiều thay đổi lớn lao Cũng như bất

cứ nơi nào khác trên thế giới, điều này rất dễ nhận thấy ở khu vực Châu Á–Thái Bình dương, ngôi nhà của một nửa nhân loại Chỉ riêng số lượng lựa chọn phát triển trong khu vực rộng lớn này sẽ có ảnh hưởng tới tương lai của mọi người khắp nơi trên thế giới Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương với nền kinh tế năng động và nguồn nhân lực rộng lớn Các quốc gia đã và đang cải thiện chất lượng cuộc sống con người, đặc biệt ở những nơi có cơ cấu dân số với lợi thế nổi trội – cụ thể là có tỷ trọng dân số phụ thuộc người già và trẻ em thấp và tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động cao góp phần tạo động lực cho phát triển Đặc biệt là các quốc gia đang phát triển ở khu vực Châu Á - là khu vực có những thành tựu phát triển nổi bật, với tỷ lệ tăng trưởng sản lượng đáng kể mặc dù có sự gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-1998, các thành tựu

đó có thể được xem là một phép màu “kinh tế”

Các quốc gia đang phát triển ở khu vực Châu Á có mức độ phát triển kinh tế khác nhau, nhưng có một điểm chung là tiềm năng tăng trưởng đều còn rất cao Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tập trung nhiều nền kinh tế lớn về sản xuất và thương mại, khu vực này đang tìm kiếm mức độ giá trị sâu hơn trong sản xuất và nắm bắt tỷ trọng lớn hơn về giá trị của nền thương mại toàn cầu Các quốc gia đang phát triển tại đây là một trong những khu vực có nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất thế giới, là một khu vực tham gia đáng kể vào dòng chảy thương mại toàn cầu và cũng là khu vực

có sự tăng trưởng vượt bậc về thu nhập bình quân đầu người so với các khu vực còn lại trên thế giới

Có thể nói tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia là do nhiều yếu tố tác động, và chúng

ta không thể phủ nhận một thực tế rằng các rào cản trong quá khứ để mở cửa thương

Trang 12

mại quốc tế và thiếu sự mở cửa tài chính cũng như phát triển tài chính là một trong những yếu tố nổi bật khiến cho nền kinh tế của các nước này kém phát triển Sau khi thay đổi chính sách, bao gồm mở cửa thương mại, mở cửa tài chính và những nổ lực hội nhập vào thị trường thế giới, nhiều nước trong khu vực Châu Á đã cho thấy những sự tiến bộ về kinh tế Tuy nhiên các thông tin gần đây đều cho thấy triển vọng kinh tế của khu vực Châu Á đang yếu đi khiến ngân hàng phát triển Á Châu (ADB) chỉ đưa ra mức dự báo tăng trưởng đối với các nền kinh tế đang phát triển là 5,6% do diễn biến chính trị phức tạp tại một số quốc gia cũng như nhu cầu nhập khẩu từ ngoài khu vực giảm Vậy có hay không sự phát triển của độ mở thương mại quốc tế

và độ mở tài chính sẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng tài chính cho các quốc gia đang phát triển tại khu cực Châu Á? Câu hỏi này sẽ được giải quyết bởi bài nghiên cứu thực nghiệm này

Có ý kiến cho rằng mức độ phát triển tài chính và mức độ mở cửa thương mại quốc tế

là một trong những biến số quan trọng nhất cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế liên quan chặt chẽ với hiệu suất tăng trưởng của các quốc gia (Beck, 2002, Sachs và Warner, 1995) Các lý thuyết tăng trưởng nội sinh được trình bày bởi Greenwood và Jovanovic (1990) cũng nhấn mạnh rằng sự phát triển tài chính là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, mô hình lý thuyết của Blackburn và Hung (1998) cũng dự đoán cả hai phát triển tài chính và tự do hóa thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế

Như vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là những yếu tố nào sẽ tác động trực tiếp đến sự phát triển tài chính của một quốc gia ? Liệu độ mở thương mại có giữ vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển tài chính? Liệu độ mở tài chính có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển tài chính hay không? Để làm rõ hơn về vấn đề này, tác giả đã chọn

đề tài nghiên cứu “Tác động của độ mở thương mại và độ mở tài chính đến phát

Trang 13

triển tài chính ở một số quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á” để làm luận

văn thạc sĩ của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Bài nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm định xem liệu độ mở thương mại quốc

tế và độ mở tài chính có vai trò trong quá trình phát triển tài chính ở một số quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á hay không, và nếu có tác động thì sẽ tác động như thế nào và mức độ tác động đối với từng quốc gia đang phát triển trong khu vực Châu Á ra sao

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu cụ thể

Từ đúc kết và tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về các yếu tố thúc đẩy sự phát triển tài chính và các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của độ mở thương mại và độ mở tài chính đến phát triển tài chính Bài nghiên cứu làm rõ các câu hỏi sau:

Một là, kiểm định độ mở thương mại có ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính ở

một số quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á hay không?

Hai là, kiểm định độ mở tài chính có ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính ở

một số quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á hay không?

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu dùng dữ liệu được thu thập từ năm 1991 đến năm 2015 để tạo ra

bộ dữ liệu bảng (Panel data) Dữ liệu được thu thập và tổng hợp từ bộ dữ liệu về các chỉ số kinh tế vĩ mô của các tổ chức Ngân hàng Thế Giới (WB-Work Bank) và quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF)

Trang 14

Bài nghiên cứu tiến hành kiểm định việc lựa chọn mô hình ước lượng hồi quy Trước tiên áp dụng mô hình Pooled, mô hình tác động cố định (Fixed effect model -FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random effects model - REM) trên nền tảng kiểm định Hausman (Kiểm định Hausman test dùng để lựa chọn sự phù hợp với dữ liệu giữa mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM để đo lường tác động giữa các quan hệ) Sau đó tiếp tục tiến hành phân tích hồi quy dữ liệu bảng bằng phương pháp khác như GMM để kiểm tra đối chiếu giữa các mô hình Việc sử dụng mô hình ước lượng GMM (Generalized method of moments) sẽ khắc phục những yếu điểm của mô hình Pooled, FEM hay REM còn tồn đọng Việc tiến hành kiểm định các mô hình trong bài nghiên cứu và các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu sẽ được mô tả rõ hơn trong chương 3

Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata 12 để thực hiện định lượng phục vụ cho việc kiểm định các yếu tố đo lường độ mở thương mại và độ mở tài chính ảnh hưởng như thế nào đến phát triển tài chính của các quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á

1.4 Ý nghĩa của đề tài

Đối với sự phát triển tài chính, trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy độ mở thương mại và độ mở tài chính thực sự có ảnh hưởng đến phát triển tài chính Tuy nhiên, ở các quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á hiện nay, vấn đề này vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các nhà nghiên cứu cũng như chính bản thân của các quốc gia Đề tài đưa ra bằng chứng khách quan khoa học góp phần giúp ích cho các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia

có thể đưa ra những giải pháp tối ưu cho nền kinh tế trước những biến động kinh tế thế giới Ngoài ra kết quả bài nghiên cứu này còn có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý rủi

ro, phân bổ ngân sách và tích cực trong việc dự đoán biến động của nền kinh tế một số quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa

Trang 15

1.5 Bố cục của Luận văn

Nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương, được trình bày cụ thể theo trình tự sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài

Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận khoa học và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về

độ mở thương mại và độ mở tài chính tác động lên phát triển tài chính ở các quốc gia

Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về các yếu tố tác động đến phát triển tài chính của các quốc gia

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về độ mở thương mại và độ mở tài chính ảnh hưởng như thế nào đến phát triển tài chính tại 15 quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á Trên cơ sở đó tác giả lại tiếp tục kiểm định mức độ ảnh hưởng ra sao, tác động như thế nào; đồng thời thảo luận các kết quả thực nghiệm nhận được

Trang 16

Chương 5: Kết luận

Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng đề tài

Trang 17

CHƯƠNG 2:

CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI VÀ ĐỘ MỞ TÀI CHÍNH TÁC

ĐỘNG LÊN PHÁT TRIỀN TÀI CHÍNH Ở CÁC QUỐC GIA

2.1 Cơ sở lý luận khoa học

2.1.1 Lý thuyết về phát triển tài chính

2.1.1.1 Định nghĩa phát triển tài chính:

Phát triển tài chính là một hiện tượng phản ánh việc cung cấp một cấu trúc thượng tầng tài chính giúp nâng cao cả hoạt động sản xuất và vận hành nền kinh tế một cách trôi chảy Phát triển tài chính cung cấp nguồn vốn cần thiết, định giá giá trị kinh tế của các nguồn lực đang được giao dịch và hỗ trợ tiến trình thực hiện chính sách công Việc cung ứng vốn dưới hình thức tín dụng, kiểm soát lãi suất thị trường,… là sự phản ánh của phát triển tài chính trong một quốc gia nhằm mục đích để đạt được tăng trưởng kinh tế (Omotola Awojobi, 2013)

2.1.1.2 Các thước đo phát triển tài chính

Một số cách đo lường phát triển tài chính đã được đề xuất và được sử dụng trong các nghiên cứu hiện có như: tỷ lệ nợ thanh khoản của hệ thống tài chính so với GDP (Levine và cộng sự 2000), tỷ lệ tiền gửi so với GDP (Rajan và Zingales, 2003), tỷ lệ tín dụng khu vực tư nhân so với GDP (Levine và cộng sự 2000) và tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán so với GDP (Rajan và Zingales 2003,…Baltagi và cộng sự 2009) Theo định nghĩa, các biện pháp này có thể được phân loại thành các phép đo kích thước (ví dụ: tổng nợ phải trả) và hiệu quả (ví dụ: tín dụng tư nhân) của phát triển tài chính

Trang 18

Phát triển tài chính được thể hiện qua sự phát triển của hệ thống tài chính Sự phát triển các thể chế tài chính như ngân hàng, thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu, công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí là cần thiết để hỗ trợ đầu tư vốn cố định, tăng khả năng doanh nghiệp tiếp cận vốn lưu động chi tiêu lương và đầu vào sản xuất, tạo cơ chế dàn trải rủi

ro và đảm bảo rằng nền kinh tế có đủ thanh khoản hoàn thành những giao dịch cần thiết Những thể chế này tập hợp vốn từ người tiết kiệm và chuyển sang cho bên vay, qui trình này gọi là trung gian (tài chính)

Phát triển tài chính theo chiều sâu có nghĩa là tích lũy các tài sản tài chính nhanh hơn tích lũy các tài sản phi tài chính (Kitchen, 1995) Một hệ thống tài chính phát triển đầy đủ thường bao gồm nhiều loại tổ chức, công cụ và thị trường tài chính khác nhau như chúng ta thường thấy tại các nước công nghiệp phát triển ở phương Tây Tất nhiên, đây không phải là một hệ thống mang tính chất tĩnh, mà ngược lại, là hệ thống thay đổi liên tục với sự ra đời của các loại tổ chức và công cụ tài chính mới Phát triển tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu như sự gia tăng khối lượng tài sản tài chính, lưu lượng di chuyển vốn, sự phát triển của các tổ chức tài chính, sự vững chắc của cơ sở hạ tầng tài chính, và tín dụng cho khu vực tư nhân

Ngoài ra còn có rất nhiều thước đo khác để đo lường mức độ phát triển tài chính như:

- Tỷ lệ của tín dụng cho khu vực tư nhân so với tổng tín dụng

- Độ sâu tài chính [M2(M3)/GDP]: Cho biết quy mô của khu vực trung gian tài chính

so với nền kinh tế

- Số lượng vốn hóa của thị trường tài chính

- Biên lãi suất (interest margin)

- Vai trò tương đối của các ngân hàng thương mại so với ngân hàng trung ương

- Chỉ số tự do hóa khu vực tài chính, ngân hàng (Freedom in Banking and Finance index) …

Trang 19

Trên thực tế các nhà nghiên cứu đã sử dụng các thước đo trên một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện nghiên cứu của mình Trong nghiên cứu của Goldsmith (1969) đã sử dụng thước đo mức độ phát triển tài chính là tỷ lệ tài sản của trung gian tài chính so với GDP, ngụ ý rằng sự phát triển của hệ thống tài chính thì tỷ lệ thuận với sự phân bổ và chất lượng của các dịch vụ tài chính

Phát triển từ nghiên cứu của Goldsmith (1969) thì hai nhà kinh tế là King và Levine (1993) đã đưa ra bốn thước đo phát triển tài chính bao gồm:

LLY: Tỷ lệ giữa nợ thanh khoản với GDP Nợ thanh khoản là thước đo khái quát cung tiền (M3) bao gồm tiền mặt, tài khoản ngân hàng và tài khoản ở các tổ chức tài chính phi ngân hàng Khi số liệu M3 không có sẵn thì tác giả sử dụng số liệu M2 hẹp hơn trong đó không tính đến tài khoản tiền gửi ngoại tệ có kỳ hạn, cổ phần trong các quỹ đầu tư và thương phiếu (nợ doanh nghiệp ngắn hạn), mục đích để đo lường độ sâu tài chính

BANK: Tỷ số tiền gửi ngân hàng cho khoản tín dụng nội địa so với tiền gửi ngân hàng cộng tín dụng nội địa của ngân hàng trung ương Mục đích để đánh giá tầm quan trọng vai trò của các tổ chức tài chính

PRIVATE: Tỷ lệ các khoản tín dụng cho khu vực tư nhân phi tài chính so với tổng mức tín dụng nội địa, đo lường phạm vi tín dụng được chuyển đến khu vực tư nhân PRIVY: Tỷ lệ các khoản cho vay đối với khu vực tư nhân phi tài chính so với GDP, đo lường mức độ của các dịch vụ tài chính

Ngoài ra tác giả Jinzhang và cộng sự (2012) cũng dựa trên các thước đo cơ bản để đưa

ra các thước đo mức độ phát triển tài chính ở Trung Quốc như sau:

(1) Credit là tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trong hệ thống tài chính (các tổ chức ngân hàng

và tổ chức tài chính phi ngân hàng) so với GDP, có thể đo độ sâu tổng thể của trung gian tài chính

(2) Deposit là tỷ lệ tổng tiền gửi trong hệ thống tài chính so với GDP, có thể đo độ lớn tổng thể của các trung gian tài chính

Trang 20

(3) Savings là tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình gửi vào hệ thống tài chính so với GDP, xem như là một công cụ quan trọng của phát triển tài chính Trung Quốc trong việc huy động tiết kiệm hộ gia đình

(4) Loan over appro là tỷ lệ đầu tư tài sản cố định được tài trợ bởi các khoản vay trong nước liên quan đến tài trợ bởi ngân sách nhà nước Đầu tư tài sản cố định từ các nguồn khác nhau bao gồm cả các khoản vay trong nước, chiếm dụng ngân sách nhà nước, đầu

tư nước ngoài và tự gây quỹ Trong số các nguồn, các khoản vay được coi là hiệu quả hơn so với tài trợ ngân sách nhà nước về phân bổ vốn

(5) Corporate là tỷ lệ tiền gửi doanh nghiệp / Tổng số dư tiền gửi của khách hàng trong

hệ thống tài chính Đo lường phát triển tài chính của Trung Quốc thông qua việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp

Tóm lại các thước đo mức độ phát triển tài chính rất đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia chúng ta có thể lựa chọn các thước đo khác nhau

2.1.2 Lý thuyết về độ mở thương mại

2.1.2.1 Định nghĩa về độ mở thương mại

Để tính toán mức độ mở cửa thương mại, bài nghiên cứu sử dụng độ mở thương mại (trade openness) tính bằng tỷ lệ xuất nhập khẩu chia cho GDP để tính toán vai trò và tầm ảnh hưởng của thương mại tới tổng sản phẩm quốc nội, bên cạnh đó còn xác định

độ mở nhanh hay chậm Chính vì lẽ đó, trong nghiên cứu của mình tác giả đưa ra khái niệm về độ mở thương mại theo quan điểm có nội hàm hẹp hơn như sau: Độ mở thương mại có nghĩa là mức độ mà tại đó các quốc gia hay các nền kinh tế cho phép kinh doanh hoặc thương mại với các quốc gia hay nền kinh tế khác

2.1.2.2 Thước đo độ mở thương mại

Có nhiều chỉ tiêu đo lường sự phát triển thương mại quốc tế của một quốc gia Tuy nhiên, chỉ tiêu quan trọng và thường được sử dụng nhất là độ mở thương mại của nền

Trang 21

kinh tế (Trade Openness) Chỉ tiêu độ mở thương mại được tính bằng cách lấy giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (Export and Import) của một thời kỳ chia cho giá trị của tổng sản phẩm trong nước cũng trong thời kỳ đó:

Openness = (Export + Import)/GDP

Nếu căn cứ vào chỉ tiêu định lượng thì một nền kinh tế có tỷ trọng xuất khẩu so với GDP dưới 5% là độ mở rất thấp Từ 5% đến 10% là thấp, từ 11% đến 15% là quốc gia

có độ mở trung bình, từ 16% đến 20% là các quốc gia có độ mở khá cao Từ trên 20%

là nhóm các quốc gia có độ mở cao (Hoàng Xuân Bình, 2011)

2.1.3 Lý thuyết về độ mở tài chính

2.1.3.1 Định nghĩa về độ mở tài chính

Độ mở tài chính được thể hiện qua sự tự do hóa khu vực tài chính Tự do hóa khu vực tài chính đề cập đến việc loại bỏ hoặc nới lỏng các quy định được áp đặt bởi chính phủ các nước đối với khu vực tài chính trong nước Tuy nhiên, định nghĩa này có vẻ là quá hẹp trong việc giải thích các khái niệm về tự do hóa khu vực tài chính

Kaminsky và Scmukler (2003) đưa ra định nghĩa rộng hơn, theo đó, tự do hóa tài chính bao gồm việc bãi bỏ quy định của tài khoản vốn đầu tư nước ngoài, khu vực tài chính trong nước và thị trường chứng khoán Từ định nghĩa này Kaminsky và Scmukler (2003) hàm ý rằng tự do hóa tài chính chỉ xảy ra khi có ít nhất hai trong ba khu vực được tự do hóa hoàn toàn và một phần ba tự do hóa một phần

Mckinnon và Shaw (1973) xem tự do hóa thị trường tài chính như việc gỡ bỏ các quy định, kiểm soát của chính phủ trên thị trường tài chính Điều này hàm ý không chỉ có khu vực công được tham gia, mà còn có sự góp mặt của khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường tài chính, đồng thời các chủ thể tham gia đều được đối xử bình đẳng trên thị trường

Trang 22

Johnston và Sundarajan (1999) xem tự do hóa tài chính như tập hợp các hoạt động cải cách và biện pháp chính sách đã được nới lỏng quản lý để chuyển đổi hệ thống tài chính và cấu trúc hướng đến hệ thống thị trường tự do trong khuôn khổ pháp lý phù hợp

(Chandraskhar, 2004) cho rằng tự do hóa tài chính đề cập đến các biện pháp hướng vào việc giảm kiểm soát về cơ cấu tổ chức, các công cụ và hoạt động của các thành viên trong từng phân đoạn khác nhau của khu vực tài chính Những biện pháp này có thể liên quan đến các quy định nội bộ hay bên ngoài

Từ các định nghĩa trên, có thể thấy tự do hóa tài chính tập trung vào việc loại bỏ kiểm soát để hạn chế hoạt động tài chính và cho phép các lực lượng thị trường (tương tác giữa các lực lượng cung và cầu) tạo nên cơ chế giá dịch vụ tài chính

Để tính toán mức độ mở cửa tài chính, bài nghiên cứu sử dụng độ mở tài chính (financial openness) tính bằng tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI so với GDP để tính toán mức độ đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng sản phẩm quốc nội, bên cạnh đó còn để xác định độ mở cao hay thấp Chính vì lẽ đó, trong nghiên cứu của mình tác giả đưa ra khái niệm về độ mở tài chính theo quan điểm có nội hàm hẹp hơn như sau: Độ

mở tài chính là mức độ kiểm soát các giao dịch được bãi bỏ, tài khoản vốn và tài chính cho phép các nguồn lực tài chính vào và ra Các rào cản gia nhập vào thị trường nội địa của các định chế tài chính nước ngoài cũng được bãi bỏ và các tổ chức này được tự do tiếp cận các hoạt động thị trường và các dịch vụ tài chính

2.1.3.2 Các thước đo độ mở tài chính

Các thước đo về độ mở tài chính (FO) thường ít phức tạp hơn độ mở thương mại Trong các bài nghiên cứu trước đã có hai thước đo độ mở tài chính được sử dụng Biện pháp đo lường thực tế được phát triển bởi Lane và Milesi – Ferretti (2007), và được định nghĩa là khối lượng các tài sản và các khoản nợ từ nước ngoài của một quốc gia so

Trang 23

với GDP Trong đó, khối lượng các tài sản của các quốc gia được tính bởi danh mục cổ phiếu nắm giữ, đo lường số cổ phần sở hữu của các công ty và các quỹ tương hỗ, bằng cách sử dụng ba nguồn chính cho các danh mục tài sản vốn: định giá cổ phiếu, ước tính

về danh mục đầu tư tài sản vốn từ nước ngoài tại Hoa Kỳ và số vốn chủ sở hữu cổ phần của Hoa Kỳ ở nước ngoài Bên cạnh đó các khoản nợ từ nước ngoài của một quốc gia được Lane và Milesi – Ferretti(2007) đo lường bằng chứng khoán nợ cộng với các khoản vay ngân hàng, các khoản tiền gửi và các công cụ nợ khác

Biện pháp đo lường chính thống được đề xuất bởi Chinn và Ito (2006) được xây dựng

từ các biến giả để hệ thống hóa các hạn chế về giao dịch tài chính xuyên biên giới Chinn và Ito (2006) đã đo lường độ mở tài chính bằng hai bộ chỉ số đó là: chỉ số tự do hóa tài chính và chỉ số tự do hóa dòng vốn Trong đó, chỉ số tự do hóa tài chính = (tổng tài sản nợ quốc gia)/GDP và chỉ số tự do hóa dòng vốn được đo bằng bốn biến giả về giới hạn giao dịch vốn: bốn biến giả nhị phân (k1, k2, k3, k4) được báo cáo trong báo cáo thường niên của IMF về thỏa thuận trao đổi và hạn chế giao dịch, k1là biến cho thấy sự hiện diện của nhiều tỷ giá hối đoái, k2 là biến chỉ ra những hạn chế về giao dịch tài khoản vãng lai, k3 là biến chỉ ra những hạn chế về giao dịch tài khoản vốn, k4

là biến chỉ ra các yêu cầu hàng đầu về số tiền thu xuất khẩu

Mỗi biện pháp đo lường về độ mở tài chính đều có những điểm mạnh và điểm yếu của

nó Với biện pháp đo lường thực tế thì ít nhạy cảm với vấn đề nội sinh hơn là biện pháp chính thống, còn biện pháp đo lường chính thống lại có căn cứ tốt hơn về mặt lý thuyết ( Baltagi và cộng sự 2009 đã thảo luận toàn diện về vấn đề này)

Vì vậy thật là khó khăn để xác định biện pháp đo lường độ mở tài chính, người ta có thể sử dụng cả hai biện pháp đo lường trên để phân tích vấn đề độ mở tài chính, nếu các dữ liệu cho cả hai biện pháp có sẵn Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ áp dụng biện pháp đo lường thực tế vì sự sẵn có của các dữ liệu Các biến được xây dựng như:

Trang 24

tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI so với GDP ở một số quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á

2.2 Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về độ mở thương mại và độ mở tài chính

Các lý thuyết kinh tế hiện đại cho rằng toàn cầu hóa hay hội nhập về tài chính sẽ đưa dòng vốn từ các quốc gia giàu đến các quốc gia nghèo, bởi vì tỷ suất sinh lợi kỳ vọng ở các quốc gia nghèo thường cao hơn Các dòng vốn hướng đến các quốc gia nghèo được

kỳ vọng sẽ gia tăng hoạt động đầu tư, tác động đến việc du nhập các kỹ năng quản trị

và ý kiến của chuyên gia về cơ cấu tổ chức, giúp gia tăng sự phát triển của thị trường tài chính và gia tăng áp lực kỷ luật lên chính sách vĩ mô Còn mở cửa thương mại là một kênh quan trọng mà thông qua đó hàng hóa và dịch vụ di chuyển xuyên quốc gia, giảm chi phí vận chuyển, giúp gia tăng khối lượng trao đổi góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho quốc gia

Về mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính:

Haggard và Maxfield (1993) nhận thấy mở cửa thương mại là điều kiện tiên quyết để loại bỏ kiểm soát vốn Theo Aizenman và Noy (2004), độ mở tài chính và độ mở thương mại có mối quan hệ hai chiều, mặc dù độ mở tài chính có xu hướng dẫn tới mở cửa thương mại hơn so với các hướng khác Tornell và cộng sự (2004) giải thích tự do hóa tài chính thường theo sau là tự do hóa thương mại

Do và Levchenko (2007) cho rằng phát triển tài chính là nội sinh và được quyết định bởi nhu cầu tài chính bên ngoài Tự do hóa thương mại hiệu quả sẽ làm tăng nhu cầu về tài chính nước ngoài thông qua chuyên môn hóa, đổi mới, chuyển giao công nghệ dẫn đến phát triển tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của độ mở thương mại và độ mở tài chính lên phát triển tài chính

Trang 25

Hầu hết các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đều nêu bật sự quan trọng giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế (Levine 1997, Beck và cộng sự 2000, Goodhart 2004, Dutor và Grechyna 2015) Các bài nghiên cứu về lĩnh vực này kiểm tra các nguồn gốc của sự phát triển tài chính dựa trên quan điểm tự do hóa tài chính (McKinnon 1973), hệ thống pháp luật (Laporta và cộng sự.1998), sở hữu nhà nước trong các ngân hàng (Andrianova và cộng sự 2008), và sự ổn định chính trị (Girma và Shortland 2008)

Các bài nghiên cứu về sự phát triển tài chính gần đây tuy không nhiều nhưng họ đều tập trung dựa trên độ mở Các tài liệu liên quan đã tập trung chủ yếu vào mối quan hệ hai biến giữa độ mở thương mại và phát triển tài chính (Beck 2002, Do và Levchenko

2004, Braun và Raddatz 2005, Mishkin 2009), độ mở tài chính và phát triển tài chính (Levine 2001, Chinn và Ito 2006), độ mở tài chính và độ mở thương mại (Aizenman và Noy 2009) Các nghiên cứu này đã tìm ra được xu hướng tích cực giữa độ mở và phát triển tài chính, và mối quan hệ giữa độ mở thương mại và độ mở tài chính của các nền kinh tế phát triển và đang phát triển

Dong-Hyeon Kim và cộng sự (2010) đã nghiên cứu thực nghiệm về tác động của độ

mở thương mại đến phát triển tài chính, bài nghiên cứu đã được xem xét trải rộng trên

88 quốc gia từ năm 1960 đến năm 2005 và kết quả đã cho thấy có một mối quan hệ tích cực giữa độ mở thương mại và phát triển tài chính trong dài hạn, tuy nhiên cũng cùng tồn tại mối quan hệ tiêu cực trong ngắn hạn giữa độ mở thương mại và phát triển tài chính

Tuy nhiên Rajan và Zingales (2003) đã phát hiện rằng nếu dựa trên xem xét của các mối quan hệ hai biến có thể sẽ là không đầy đủ và thậm chí gây nhiểu nhầm Rajan và Zingales đã đề nghị một mối quan hệ ba biến quan trọng giữa độ mở thương mại, độ

mở tài chính và phát triển tài chính Đặc biệt họ thiết lập nếu mở cửa thương mại mà không có độ mở chính là không dẫn đến sự phát triển tài chính, và bài nghiên cứu của

Trang 26

Rajan và Zingales đã xác minh giả thuyết này bằng nghiên cứu cho 24 quốc gia công nghiệp phát triển trong giai đoạn từ 1913-1999 Rajan và Zingales (2003) đã đưa ra lý thuyết nhóm lợi ích để tóm tắt kết quả nghiên cứu của họ Họ cho rằng các nhóm lợi ích hiện có trong lĩnh vực công nghiệp và lĩnh vực tài chính thường xuyên đánh mất chỗ đứng trong phát triển tài chính Điều này là do sự phát triển tài chính tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mới thành lập và sự cạnh tranh đã làm xói mòn đi lợi ích đang có của nhóm này Nghiên cứu của Rajan và Zingales (2003) cho rằng việc phát triển tài chính sẽ yếu đi nếu một nền kinh tế mở cửa cho cả thương mại và tài chính (dòng vốn) Nghiên cứu của Baltagi và cộng sự (2009) đã thêm vào giả thuyết của Rajan và Zingales (2003) bằng cách sử dụng cho các quốc gia vừa đang phát triển vừa công nghiệp hóa Họ làm nổi bật các hiệu ứng tương tác của độ mở thương mại và độ mở tài chính trong phát triển tài chính bằng cách đánh giá các giả thuyết đồng thời giữa độ mở cho cả thương mại và tài chính

Sự tương tác giữa độ mở thương mại và độ mở tài chính có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả biên của độ mở thương mại và độ mở tài chính trong sự phát triển tài chính của nền kinh tế đồng thời mở cả về tài chính và thương mại Bởi vì các giả thuyết chỉ ra rằng một nền kinh tế mở trong thương mại khi tài khoản vốn của họ được đóng lại, sẽ có những lời kêu gọi kiềm chế nguồn tài chính để bảo vệ các công ty công nghiệp truyền thống, điều này sẽ ngăn chặn sự phát triển tài chính Như vậy, hiệu quả biên của độ mở thương mại trở nên không tích cực khi các tài khoản vốn tương đối khép kín

Kết quả của Baltagi và cộng sự (2009) cho thấy cả độ mở thương mại và độ mở tài chính là yếu tố quyết định ý nghĩa thống kê về phát triển ngành ngân hàng và chỉ mở cửa thương mại hoặc mở cửa tài chính mà không cần mở cửa các lĩnh vực khác vẫn có thể tạo ra lợi nhuận trong phát triển tài chính

Trang 27

Các kết quả thực nghiệm nghiên cứu về các nước đang phát triển của Law (2009) cho thấy rằng việc mở cửa đồng thời các tài khoản thương mại và vốn có tác động tích cực đến sự phát triển tài chính, kết quả này xuất hiện đã hỗ trợ cho giả thuyết của Rajan và Zingales (2003) Law lưu ý rằng phát hiện của ông cần được diễn giải một cách thận trọng bởi vì các quốc gia mẫu là các nước đang phát triển – nơi mà các lĩnh vực tài chính chủ yếu do khu vực ngân hàng đảm nhiệm

Có sự chênh lệch trong những nghiên cứu này là do họ đã lựa chọn sử dụng các quốc gia khác nhau, ngụ ý rằng các mô hình tương tác giữa độ mở thương mại, độ mở tài chính và phát triển tài chính có thể khác nhau đáng kể giữa các nước Mặc dù sử dụng

dữ liệu xuyên quốc gia có thể phóng to cỡ mẫu, kết quả tương ứng sẽ khó khăn trong giải thích một cách nhất quán đến các quốc gia riêng lẻ do sự đa dạng giữa các quốc gia, và các nghiên cứu thực nghiệm với dữ liệu đa quốc gia không thể nắm bắt được đầy đủ sự đa dạng của kinh nghiệm lịch sử, chuẩn mực văn hóa và bối cảnh tài chính ở các nước khác nhau

Vì vậy để tăng cường sự hiểu biết về tác động của độ mở thương mại và độ mở tài chính đến phát triển tài chính ở các nước khác nhau có giá trị trong việc thực hiện các nghiên cứu về các nước riêng lẻ nên Zhang và cộng sự (2015) đã sử dụng tập hợp dữ liệu bảng cho 30 tỉnh Trung Quốc trong giai đoạn 2000-2009 Zhang và cộng sự đã xem xét các khía cạnh khác nhau của phát triển tài chính, cụ thể là: kích thước, hiệu quả, cạnh tranh và kiểm tra trực tiếp tác động biên của độ mở về các chỉ số khác nhau của phát triển tài chính Nghiên cứu của họ có thể được coi như là một mô hình minh họa của liên kết giữa độ mở và phát triển tài chính trong một quốc gia Đầu tiên kết quả của bài nghiên cứu thực nghiệm đã phát hiện ra rằng độ mở có tác động tiêu cực về kích thước, nhưng lại tác động tích cực về hiệu quả và cạnh tranh của phát triển tài chính ở Trung Quốc Thứ hai, các tác động bên lề của độ mở về hiệu quả của phát triển tài chính và cạnh tranh của phát triển tài chính sẽ tích cực đối với các tỉnh được xem là

Trang 28

mở cửa nhất, đối với các tỉnh còn lại thì tiêu cực Họ chỉ ra rằng các giả thuyết của Rajan và Zingales (2003) có thể được sửa đổi bằng cách xem xét các tính năng quốc gia cụ thể trong phân phối các loại hình công ty kinh doanh và phân phối các nguồn lực tài chính Thứ ba, tác động biên của độ mở về phát triển tài chính là khác nhau giữa các tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, và các vấn đề lợi ích nhóm đặc biệt nghiêm trọng ở các tỉnh có độ mở thấp

Trang 29

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Tình hình phát triển tài chính khu vực Châu Á từ năm 1991 đến năm 2015:

Phát triển khu vực Châu Á vẫn là nguồn tăng trưởng chính của tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong những năm qua Khu vực Châu Á đã thành công trong việc nâng 1 tỷ người thoát khỏi đói nghèo trong năm 1990 đến năm 2012 và có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhưng hầu hết các nền kinh tế Châu Á vẫn có những rào cản trọng yếu

đã ngăn chặn sự phát triển hiện đại của sản xuất và dịch vụ Ngoài ra, những trở ngại

đó làm cho khu vực này khó khăn trong việc tái phân bổ các yếu tố giữa các doanh nghiệp Hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính đã làm cho khu vực này tăng trưởng kinh tế chậm lại từ 8,3% trong suốt giai đoạn 2006 đến 2010 đã giảm xuống 5,9% trong năm 2015 Tuy nhiên không chỉ có khu vực Châu Á đối mặt với sự tăng trưởng giảm mà ở cả Châu Phi, Đông Âu và Mỹ La-tinh cũng bị ảnh hưởng

Hình 3.1: Biểu thị tăng trưởng của các khu vực Châu Á từ năm 1995 - 2015

(Nguồn: Asian Development Outlook 2016 Asia’s Potential Growth)

Trang 30

Nhìn vào hình 3.1 ta thấy trong những năm qua tăng trưởng mạnh mẽ hơn được nhìn thấy bởi khu vực các quốc gia đang phát triển, các hoạt động kinh tế ở khu vực Châu Á được cải thiện như các nền kinh tế lớn của Indonexia và Philippin, tăng trưởng chung trong 10 nền kinh tế ASEAN được dự kiến tăng dần từ 4,4% năm 2015 lên 4,5% năm

2016 và 4,8% trong năm 2017 Trong đó Indonexia được coi là đầu tàu dẫn dắt sự phát triển bởi vì trong những năm qua, đất nước này đã tăng cường đầu tư về hạ tầng và cải cách chính sách thúc đẩy đầu tư tư nhân, sự tiêu dùng và đầu tư vững chắc sẽ giúp cho nền kinh tế Philippin tiếp tục đi lên Đầu tư nước ngoài mạnh mẽ trong sản xuất và xây dựng đã đẩy mức tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam mở rộng Ngược lại, tăng trưởng kinh tế Malaysia sẽ giảm xuống do giá dầu thấp và nhu cầu bên ngoài yếu Đông Nam Á được xem là xu thế đảo ngược của sự suy giảm tăng trưởng của nền kinh

tế toàn cầu Trung Quốc và Ấn Độ là hai nền kinh tế lớn nhất Châu Á, sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến kết quả tăng trưởng của khu vực Tăng trưởng của Trung Quốc đã giảm trong các năm vừa qua và sẽ tiếp tục giảm xuống trong quá trình chuyển đổi đến một

mô hình tăng trưởng cân bằng và bền vững hơn Tuy nhiên tăng trưởng tiếp tục ở Ấn

Độ và các quốc gia đang phát triển sẽ giúp đạt được những kết quả ngược lại

3.2 Mô hình thực nghiệm

3.2.1 Mô hình thực nghiệm

Mục đích của việc mô tả mô hình thực nghiệm của bài nghiên cứu này là để điều tra tác động của độ mở thương mại và độ mở tài chính đối với các chỉ số khác nhau của phát triển tài chính ở một số quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á Kể từ khi các chỉ

số phát triển tài chính có khả năng biểu thị đáng kể, bài nghiên cứu này tác giả sử dụng một phương trình logarit tuyến tính năng động để thể hiện cho sự phát triển tài chính bao gồm độ trễ của biến phụ thuộc và được dựa trên mô hình thực nghiệm của Zhang,

và cộng sự (2015) khi nghiên cứu về “độ mở thương mại, độ mở tài chính và phát triển tài chính tại Trung Quốc” đó là:

Trang 31

Trong đó it được giả định là độc lập và có phân phối chuẩn

Mô hình (1) cho thấy rằng sự phát triển tài chính được xác định bằng độ mở thương mại và độ mở tài chính, kết hợp với một tập hợp các biến điều kiện, cụ thể là độ trễ của phát triển tài chính, các giai đoạn phát triển kinh tế (được đo bằng thu nhập bình quân đầu người) và các yếu tố cụ thể của từng quốc gia

Sự tương tác giữa độ mở thương mại và độ mở tài chính sẽ được đánh giá đồng thời theo lý thuyết của Rajan và Zingales (2003) Hiệu quả biên của độ mở thương mại, độ

mở tài chính lên sự phát triển tài chính sẽ được kiểm tra bằng cách tính toán các đạo hàm riêng của phát triển tài chính với các biến thể hiện độ mở, tức là:

Trang 32

1 3

ln

ln (3) ln

it

it it

+ (DEPT) Tổng dư nợ trong hệ thống tài chính/ GDP + (FIR) Tổng số tiền cho vay và tiền gửi trong hệ thống

tài chính/GDP + (SAV) Tổng số tiền tiết kiệm hộ gia đình / GDP Hiệu

quả (PRV) Tín dụng tư nhân / Tổng tín dụng

Để đo lường mức độ phát triển tài chính của các quốc gia, trong các ghiên cứu trước đây thường dựa vào các bộ chỉ số dựa trên sự phát triển thị trường tài chính (thị trường

Trang 33

chứng khoán) hoặc bộ chỉ số dựa trên sự phát triển của hệ thống ngân hàng Đối với nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng các bộ chỉ số dựa trên sự phát triển của hệ thống ngân hàng vì đối với các nền kinh tế của 15 quốc gia đang phát triển Châu Á thì hệ thống tài chính ngân hàng chiếm ưu thế hơn cả, vì vậy dựa vào hệ thống ngân hàng đây

sẽ là bộ chỉ số tài chính quan trọng nhất để đo lường sự phát triển tài chính của các quốc gia này Để đánh giá các giả thuyết về độ mở thì chúng ta tính toán các hệ số, bởi

vì khi tính toán hệ số chúng ta có thể tính toán các đạo hàm riêng (ví dụ: các hiệu ứng biên) của phát triển tài chính, của độ mở Tính chặt chẽ của các giả thuyết có thể được kiểm tra bằng cách nhìn vào những tác động biên của độ mở thương mại và độ mở tài chính lên phát triển tài chính của quốc gia đang phát triển có độ mở cao nhất trong khu vực Châu Á Một điểm khá thú vị hơn trong thử nghiệm này là có thể nhìn vào những thay đổi tích cực trong những dấu hiệu và độ lớn của các đạo hàm riêng cùng với những thay đổi trong mức độ mở cửa giữa các quốc gia khác nhau theo thời gian Và

điều này sẽ được thảo luận chi tiết trong chương 5

3.2.2 Ưu điểm phương pháp nghiên cứu trên dữ liệu bảng

Các ưu điểm của dữ liệu bảng so với dữ liệu theo chuỗi thời gian và không gian, theo

Baltagi:

Vì dữ liệu bảng liên quan đến các cá nhân, doanh nghiệp, tiểu bang, đất nước, v.v… theo thời gian, nên nhất định phải có tính dị biệt (không đồng nhất) trong các đơn vị này Kỹ thuật ước lượng dữ liệu bảng có thể chính thức xem xét đến tính dị biệt đó bằng cách xem xét các biến số có tính đặc thù theo từng cá nhân, được trình bày ngay sau đây Ta sử dụng thuật ngữ cá nhân theo ý nghĩa chung bao gồm các đơn vị vi mô

như các cá nhân, các doanh nghiệp, tiểu bang, và đất nước

Thông qua kết hợp các chuỗi theo thời gian của các quan sát theo không gian, dữ liệu bảng cung cấp “những dữ liệu có nhiều thông tin hơn, đa dạng hơn, ít cộng tuyến hơn giữa các biến số, nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả hơn.’

Trang 34

Thông qua nghiên cứu các quan sát theo không gian lặp lại, dữ liệu bảng phù hợp hơn

để nghiên cứu tính động của thay đổi

Dữ liệu bảng có thể phát hiện và đo lường tốt hơn những ảnh hưởng mà không thể quan sát trong dữ liệu chuỗi thời gian thuần túy hay dữ liệu chéo theo không gian thuần túy

Dữ liệu bảng giúp ta nghiên cứu những mô hình hành vi phức tạp hơn Ví dụ, các hiện tượng như lợi thế kinh tế theo qui mô và thay đổi kỹ thuật có thể được xem xét thông qua dữ liệu bảng tốt hơn so với dữ liệu theo chuỗi thời gian thuần túy hay theo không gian thuần túy Bằng cách thu thập những số liệu có sẵn cho vài nghìn đơn vị, dữ liệu bảng có thể tối thiểu hóa sự thiên lệch có thể xảy ra nếu ta tổng hợp các cá nhân hay các doanh nghiệp thành số liệu tổng

Tóm lại, dữ liệu bảng có thể giúp chúng ta phân tích thực nghiệm theo những cách thức

mà không chắc có thể đạt được nếu ta chỉ sử dụng các dữ liệu theo chuỗi thời gian hay không gian thuần túy

3.3 Dữ liệu và mẫu quan sát

Phần này sẽ mô tả các dữ liệu cho các biến được sử dụng trong phân tích thực nghiệm Chúng ta sẽ xem xét hai khía cạnh khác nhau của sự phát triển tài chính, cụ thể là: kích thước và hiệu quả Phân tích tác động của độ mở thương mại và độ mở tài chính đối với các biện pháp khác nhau của phát triển tài chính ở 15 quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á trong giai đoạn từ năm 1991-2015 Phân tích hồi quy liên quan đến việc kiểm soát các biến đặc trưng cho các tính năng của từng quốc gia khác nhau Tất cả các biến của bài nghiên cứu này đều được xác định ở cấp quốc gia

Danh sách cụ thể các nước được trình bày trong bảng 3.2:

Trang 35

Bảng 3.2: Danh sách các nước trong mẫu nghiên cứu

(Nguồn: Kết quả tổng hợp trên số liệu tác giả thu thập được từ dữ liệu của IMF)

3.3.1 Đo lường phát triển tài chính

Trong bài nghiên cứu này, để cung cấp một cái nhìn toàn diện cho sự phát triển tài chính ở một số quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á, chúng ta sẽ không bám vào các biện pháp truyền thống của phát triển tài chính đã được sử dụng trong các nghiên cứu trước mà sử dụng hai bộ chỉ số để nắm bắt kích thước và hiệu quả của phát triển tài chính Việc sử dụng các biện pháp khác nhau có thể nắm bắt các khía cạnh khác nhau của sự phát triển tài chính Ngoài ra, đối với các biện pháp kích thước và hiệu quả, bài nghiên cứu sử dụng một vài chỉ số phụ cho từng biện pháp để đảm bảo tính bền vững cho các kết quả ban đầu và thích ứng với các biện pháp thường được sử dụng trong các bài nghiên cứu trước

Trang 36

Thứ nhất: bộ chỉ số kích thước được đo bởi ba biến sau đây:

 DEPT: Tỷ lệ tổng dư nợ trong hệ thống tài chính (bao gồm cả ngân hàng và các

tổ chức tài chính phi ngân hàng) so với GDP danh nghĩa

 FIR: Tỷ lệ của Tổng số tiền cho vay và tiền gửi trong hệ thống tài chính so với GDP danh nghĩa

 SAV: Tỷ lệ của tổng số tiền tiết kiệm hộ gia đình so với GDP danh nghĩa

Thứ hai: bộ chỉ số về hiệu quả tài chính ký hiệu là PRV, được đo bằng tỷ lệ tín dụng được phân bổ cho các doanh nghiệp tư nhân so với tổng tín dụng trong nước Các biện pháp tương tự của tín dụng tư nhân (ví dụ: tỷ lệ tín dụng tư nhân so với GDP) đã được

sử dụng như một biện pháp đo lường hiệu quả của phát triển tài chính trong bài nghiên cứu của Beck và cộng sự (2000), Levine và cộng sự (2000), Chinn và Ito (2006) Khi tín dụng được phân biệt tín dụng cấp cho khu vực tư nhân và tín dụng cấp cho các doanh nghiệp nhà nước, trong đó phần tín dụng cấp cho các doanh nghiệp nhà nước thường được xem là hiệu quả thấp do đó nếu PRV cao chứng tỏ các dịch vụ tài chính hiệu quả hơn và phát triển trung gian tài chính cũng lớn hơn (Levine và cộng sự, 2000) Trong một hệ thống tài chính thì ngân hàng lại chiếm ưu thế hơn cả, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á thì tín dụng tư nhân có lẽ là chỉ số hiệu quả tài chính quan trọng nhất Thật vậy, nó đo lường mức độ mà công ty tư nhân có cơ hội

để có được nguồn tài chính từ ngân hàng và là nguồn vốn mà các doanh nghiệp có các

dự án khả thi có thể tiếp cận dễ dàng Bên cạnh đó, đây cũng là chỉ số thể hiện các ngân hàng có độc lập hay không trong việc ra quyết định của họ liên quan đến các khoản cho vay các doanh nghiệp tư nhân hơn là các doanh nghiệp nhà nước Như vậy,

sự gia tăng PRV cũng phản ánh sự nâng cao hiệu quả của các ngân hàng trong việc đưa

ra quyết định cho vay

Trang 37

3.3.2 Đo lường độ mở thương mại và độ mở tài chính

Độ mở thương mại là mức độ mà tại đó các quốc gia hay các nền kinh tế cho phép kinh doanh hoặc thương mại với các quốc gia hay nền kinh tế khác Trong bài nghiên cứu này, độ mở thương mại (TO) được xác định ở cấp quốc gia và được đo bằng tỷ lệ giữa tổng thương mại (xuất khẩu và nhập khẩu) so với GDP danh nghĩa tại mỗi quốc gia đang phát triển của khu vực Châu Á

Để đo lường độ mở tài chính (FO) ở một số quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu

Á, trong bài nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI so với GDP

3.3.3 Biến kiểm soát

Cùng với các biến trên, bài nghiên cứu còn đưa vào các biến kiểm soát liên quan trong

mô hình để nắm bắt hoạt động kinh tế và phát triển xã hội của các quốc gia Cụ thể các biến kiểm soát bao gồm: rgdp là thu nhập bình quân đầu người thực (GDP thực), gov là

tỷ lệ chi tiêu của chính phủ so với GDP, enroll là tổng tỷ lệ nhập học (ghi danh) được tính bằng tỷ lệ của số lượng cá thể thực sự đi học so với số trẻ em trong độ tuổi đi học trong quốc gia có liên quan

Những biến kiểm soát này có khả năng liên quan đến sự phát triển tài chính Ví dụ: GDP- thu nhập bình quân đầu người thực Trong mối quan hệ này, chi tiêu chính phủ

và cải tiến trong giáo dục có thể tăng cường phát triển kinh tế (Dollar 1992, Barro và Sala-i-Martin 1995)

3.3.4 Nguồn dữ liệu

Các dữ liệu thô để xây dựng các biến trên đều được lấy từ nhiều nguồn khác nhau Các

dữ liệu liên quan đến các biến ngân hàng và tài chính được thu thập từ thống kê của IMF, WB và ADB Các dữ liệu cho các biến khác thu được từ các ấn phẩm chính thức

Trang 38

được công bố như Tổ chức lao động quốc tế (ILO), báo cáo phát triển con người khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, báo cáo thường niên của ngân hàng Phát Triển Châu Á (ADB)…

3.3.5 Sự phù hợp của kích thước mẫu

Mẫu của bài nghiên cứu 15 quốc gia, giai đoạn 25 năm 1991– 2015, tương đương 375 quan sát với dữ liệu bảng Theo Baltagi chưa là macro panel data, tuy nhiên mẫu với 375 quan sát là một cỡ mẫu lớn đối với hàm hồi quy trong thống kê Do đó kết quả nghiên cứu từ mô hình hồi quy có thể chấp nhận được về độ tin cậy

Hơn nữa dữ liệu đối với các quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á có những hạn chế như các số liệu không được công bố ở một số giai đoạn thời gian tại một số quốc gia vì thế bài nghiên cứu không thể thực nghiệm lên hết tất cả các quốc gia đang phát triển ở Châu Á mà chỉ lựa chọn ra 15 quốc gia có đầy đủ dữ liệu theo chuỗi thời gian từ năm 1991 đến năm 2015 Những hạn chế này là hạn chế chung về dữ liệu khi nghiên cứu về các nền kinh tế đang phát triển

Dựa vào mô hình được trình bày ở trên cùng với bộ dữ liệu được thu thập cho phù hợp với đặc điểm các biến và mô hình, tác giả tiến hành thực hiện kiểm định mô hình bằng

phần mềm Stata 12 ở chương 4

3.4 Phương pháp ước lượng

Dữ liệu bảng (panel data) là dữ liệu kết hợp dữ liệu cho theo không gian (cross – section, tức là giá trị của các biến được thu thập cho một đơn vị mẫu tại cùng một thời điểm) và dữ liệu theo chuỗi thời gian (time series, tức là giá trị của các biến được quan sát theo thời gian) Dữ liệu bảng khác với dữ liệu chéo gộp chung bởi vì dữ liệu chéo gộp chung gộp những quan sát trong nhiều năm nhưng chỉ là các quan sát dữ liệu thuần túy và bỏ qua yếu tố thời gian Việc kết hợp hai loại dữ liệu có nhiều thuận lợi trong phân tích các mối quan hệ kinh tế, đặc biệt khi muốn quan sát, phân tích sự biến động

Trang 39

của các đối tượng nghiên cứu sau các biến cố hay theo thời gian, cũng như phân tích sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng nghiên cứu Có hai loại dữ liệu bảng: dữ liệu bảng cân bằng (balaned panels) và dữ liệu bảng không cân bằng (unbalaned panels) Dữ liệu bảng cân bằng khi các đơn vị chéo có cùng số quan sát theo thời gian, dữ liệu bảng không cân bằng khi các đơn vị chéo không có cùng số quan sát theo thời gian Trong luận án này, tác giả sử dụng dữ liệu bảng cân bằng cho các quốc gia theo chuỗi thời gian (năm) Việc nghiên cứu các mô hình với dữ liệu bảng có những ưu điểm theo Baltagi (2008):

- Nhờ kết hợp dữ liệu chuỗi thời gian của các quốc gia khác nhau, dữ liệu bảng sẽ chứa nhiều thông tin hữu ích hơn, tính biến thiên nhiều hơn, giảm hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến, tăng số quan sát - từ đó tăng số bậc tự do, và có thể đem lại ước lượng vững, hiệu quả và không chệch;

- Dữ liệu bảng có liên quan đến nhiều doanh nghiệp, quốc gia theo thời gian, mỗi doanh nghiệp, quốc gia lại có những đặc trưng riêng Tuy nhiên, các kỹ thuật ước lượng dựa trên dữ liệu bảng có thể tính đến sự không đồng nhất này, cho phép kiểm soát sự khác biệt không quan sát được giữa các thực thể, ví dụ như khả năng quản lý, triết kinh doanh, văn hoá, khoáng sản giữa các doanh nghiệp

Như vậy, nhờ những lợi thế trên, việc sử dụng dữ liệu bảng trong các mô hình nghiên cứu của luận án được kỳ vọng có thể đem lại hiệu quả cao hơn so với phân tích

dữ liệu chéo hay dữ liệu chuỗi thời gian

Các bước phân tích để lựa chọn mô hình phù hợp cụ thể như sau:

Bước 1: Tác giả sử dụng phép toán và các câu lệnh trong phần mềm STATA

tiến hành thực hiện phân tích phương pháp hồi quy Pooled OLS và FEM, sau đó so sánh kết quả để lựa chọn 1 một mô hình phù hợp nhất trong 2 mô hình này Sau khi ước lượng với FEM, sử dụng kiểm định F để kiểm định giả thuyết H0: α1 = α2 = …

Trang 40

αN = α Nếu kết quả kiểm định bác bỏ giả thuyết H0, chúng ta nên chọn FEM, ngược lại, chọn Pooled OLS

Bước 2: Tác giả so sánh giữa 2 mô hình Pooled OLS với REM, phương pháp

nhân tử Lagrange (LM) với kiểm định Breusch-Pagan được sử dụng để kiểm chứng tính phù hợp của ước lượng Theo đó, giả thuyết H0 cho rằng sai số của ước lượng thô không bao gồm các sai lệch giữa các doanh nghiệp hoặc các năm (phương sai giữa các doanh nghiệp) là không đổi Bác bỏ giả thuyết H0, cho thấy sai số trong ước lượng có bao gồm cả sự sai lệch giữa các nhóm, và phù hợp với mô hình REM, ngược lại, Pooled OSL là phù hợp hơn REM

Sau khi thực hiện xong 2 bước trên, nếu kết quả kiểm định cho thấy, cả 2 bước này Pooled OLS đều phù hợp hơn FEM và REM, tác giả sẽ lựa chọn phương pháp hồi quy Pooled OLS Nếu không phải kết quả này, tác giả sẽ thực hiện tiếp bước thứ 3 như sau:

Bước 3: Tác giả thực hiện ước lượng với FEM và REM, sử dụng kiểm định

Hausman dưới giả thuyết H0: Cov(Xit, ui) = 0 Nếu kết quả kiểm định bác bỏ giả thuyết H0, tác giả chọn FEM Nếu kết quả kiểm định không bác bỏ giả thuyết H0, tác giả sẽ chọn REM

Bởi vì, một mô hình chỉ có ý nghĩa giải thích khi các giả định của nó đã được thỏa mãn Do vậy, trong luận án này, tác giả sẽ phải kiểm tra các giả định trước khi diễn giải các kết quả của mô hình Quá trình kiểm tra các giả định có thể được thực hiện thông qua việc phát hiện khuyết tật có thể có của mô hình Nội dung kế tiếp sẽ thực hiện các kiểm định này

3.4.1 Kiểm định các trường hợp khuyết tật của mô hình do vi phạm các giả định

(1) Giả định phương sai của sai số không đổi:

Phương sai thay đổi nghĩa là phương sai của các phần dư là không phải hằng số, nghĩa là chúng khác nhau ở các quan sát khác nhau Điều này sẽ dẫn đến vấn đề nếu

Ngày đăng: 23/05/2017, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w