ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ THÚY BÌNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ THÚY BÌNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ THÚY BÌNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG BÁ LÃM
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm
ơn Ban Giám hiệu, đội ngũ Cán bộ giảng viên Khoa Quản lý Giáo dục, Khoa Sau đại học; quý thầy giáo, cô giáo trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo
sư, Tiến sĩ Đặng Bá Lãm - người Thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND, Phòng GD&ĐT thành phố Cẩm Phả, Cán bộ quản lý và giáo viên của 17 trường THCS của thành phố Cẩm Phả đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi được theo học khóa học cao học này cả về thời gian, vật chất, tinh thần và cho tôi những ý kiến góp ý quý báu, những thông tin quan trọng trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân tôi có nhiều nỗ lực cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các
Cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2016
Tác giả
Phạm Thị Thúy Bình
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các sơ đồ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH 8
1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.2 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 10
1.2.1.Quản lý 10
1.2.2 Quản lý giáo dục 13
1.2.3 Kiểm tra 13
1.2.4 Đánh giá 14
1.2.5 Kiểm tra - đánh giá 15
1.2.6 Kết quả học tập 16
1.2.7 Năng lực và phát triển năng lực người học 17
1.3 Một số vấn đề lý luận về kiểm tra - đánh giá 19
1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng của kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học 19
1.3.2 Cơ sở và nguyên tắc kiểm tra - đánh giá 22
1.3.3 Các yêu cầu sư phạm khi kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 24
1.3.4 Các hình thức, phương pháp kiểm tra - đánh giá 25
1.3.5 Quy trình tổ chức một kỳ kiểm tra - đánh giá 31
1.3.6 Đặc điểm của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở 33
1.3.7 Đổi mới Giáo dục và kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực của học sinh 35
1.4 Quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở 38
Trang 61.4.1 Nội dung quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
của học sinh trung học cơ sở 38
1.4.2 Những yêu cầu về quản lí hoạt động kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát triển năng lực trong giai đoạn hiện nay đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 41
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS 42
Tiểu kết chương 1 45
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 46
2.1 Đặc điểm về kinh tế -xã hội của thành phố Cẩm Phả 46
2.2 Khái quát về giáo dục THCS thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 47
2.2.1 Quy mô giáo dục thành phố Cẩm Phả 47
2.2.2 Hệ thống trường lớp THCS thành phố Cẩm Phả .47
2.2.3 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý 49
2.2.4 Chất lượng giáo dục THCS của thành phố Cẩm Phả .51
2.3 Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 54
2.3.1 Quy định về hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh các trường THCS 54
2.3.2 Lựa chọn các hình thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh các trường THCS 57
2.3.3 Nội dung, mục đích kiểm tra - đánh giá và mục tiêu môn học 59
2.3.4 Tác dụng của Kiểm tra - đánh giá .60
2.3.5 Hiệu quả Kiểm tra - đánh giá thường xuyên 61
2.3.6 Xây dựng ngân hàng câu hỏi cho các môn học 61
2.4 Thực trạng quản lí hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS thành phố Cẩm Phả 63
Trang 72.4.1 Việc xây dựng kế hoạch kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh 64
2.4.2 Việc thành lập tổ chức chuyên trách về kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh 65
2.4.3 Quy trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh 66
2.4.4 Việc thanh tra, kiểm tra hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập 68
2.4.5 Việc đầu tư cơ sở vật chất các điều kiện phục vụ, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm tra - đánh giá 69
2.5 Đánh giá chung, nguyên nhân 69
2.5.1 Đánh giá chung 69
2.5.2 Nguyên nhân 71
Tiểu kết chương 2 73
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 74
3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 74
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 74
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 75
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 75
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 75
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và khả thi 76
3.2 Các biện pháp quản lý công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS thành phố Cẩm Phả, Quảng Ninh .76
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức đối với công tác quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh 76
3.2.2.Biện pháp 2 Xây dựng kế hoạch và quy trình kiểm tra đánh giá cho các môn học 79
3.2.3 Biện pháp 3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực học sinh 90
3.2.4.Biện pháp 4 Xây dựng đội ngũ chuyên trách cho các kỳ kiểm tra đánh giá 92
3.2.5.Biện pháp 5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động kiểm tra - đánh giá đối với kết quả học tập của học sinh 94
Trang 83.2.6 Biện pháp 6:Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị và các điều
kiện phục vụ hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 97
3.3.Mối quan hệ giữa các biện pháp 98
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp 99
3.4.1 Mục đích của khảo nghiệm 100 3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 100 3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 100 3.4.4 Tiến trình khảo nghiệm 100 3.4.5 Kết quả khảo nghiệm và phân tích kết quả khảo nghiệm 101 Tiểu kết chương 3 105
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
1 Kết luận 106
2 Khuyến nghị 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 111
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS 31
Bảng 2.1 Thông kê quy mô trường, lớp, học sinh cấp THCS 48
Bảng 2.2 Thống kê cơ sở vật chất nhà trường 49
Bảng 2.3 Thống kê Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 50
Bảng 2.4 Thông kê chất lượng giáo dục đại trà của học sinh THCS thành phố Cẩm Phả từ năm học 2012-2013 đến năm 2015-2016 51
Bảng 2.5 Thống kê tỷ lệ tốt nghiệp THCS từ năm học 2013-2014 đến năm 2015-2016 52
Bảng 2.6: Thống kê chất lượng học sinh giỏi cấp Tỉnh khối THCS .52
Bảng 2.7 Thống kê chất lượng học sinh giỏi THCS cấp Thành phố .53
Bảng 2.8 Thống kê tỷ lệ học sinh đỗ vào lớp 10 –THPT công lập 53
Bảng 2.9 Tổng hợp kết quả thăm dò giáo viên và học sinh 58
Bảng 2.10 Ý kiến của cán bộ quản lí về quản lí hoạt động tổ chức kiểm tra - đánh giá các trường THCS thành phố Cẩm Phả 63
Bảng 2.11 Ý kiến của giáo viên về công tác ra đề kiểm tra - đánh giá các trường THCS thành phố Cẩm Phả 66
Bảng 2.12 Ý kiến của giáo viên về công tác chấm bài kiểm tra - đánh giá các trường THCS thành phố Cẩm Phả 67
Bảng 3.1 Kế hoạch kiểm tra đánh giá 80
Bảng 3.2 Hình thức kiểm tra đánh giá các môn học trong chương trình 83
Bảng 3.3 Các bậc nhận thức tương ứng với mỗi nội dung bài kiểm tra 15 phút 84
Bảng 3.4 Các bậc nhận thức tương ứng với mỗi nội dung bài kiểm tra 45 phút 85
Bảng 3.5 Số câu hỏi ứng với từng mục tiêu và điểm tương ứng cho mỗi câu 85
Bảng 3.6 Mẫu dàn bài các bài kiểm tra 87
Bảng 3.7 Mẫu thống kê kết quả thi, kiểm tra 89
Bảng 3.8 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp quản lý 101
Bảng 3.9 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý 102
Bảng 3.10 Tổng hợp đánh giá tính cần thiết khả thi của các biện pháp 103
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 2.1 Thống kê kết quả thăm dò giáo viên và học sinh về hình
thức kiểm tra - đánh giá 58 Biểu đồ 2.2 Thống kê kết quả thăm dò giáo viên và học sinh về mục
tiêu môn học và mục tiêu kiểm tra đánh giá 60
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay trong tình hình đất nước đổi mới, Việt Nam đang phấn đấu trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển trong khu vực và thế giới Đảng, Nhà nước ta thực sự quan tâm đến công tác giáo dục, coi giáo dục là
“Quốc sách” Hơn bao giờ hết giáo dục đang chiếm một vị trí hết sức quan trọng giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển được coi là khâu đột phá đề thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Luật
giáo dục năm 2005 được sửa đổi năm 2009 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” [20]
Với quan điểm chỉ đạo của Đảng Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI chỉ rõ “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”
Mục tiêu tổng quát trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo có viết: “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt,
học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn
hóa, hiện đại hoá, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [14]
Trang 12Đổi mới giáo dục, đào tạo nói chung và đổi mới nội dung chương trình phương pháp dạy học, trong đó có kiểm tra - đánh giá kết quả học tập nói riêng
là vấn đề bức thiết luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học là yêu cầu cấp thiết ở trường phổ thông Vấn đề cốt lõi trung tâm của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là chuyển mạnh quá trình giá dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, trong đó kiểm tra đánh giá là động lực thúc đẩy đổi mới quá trình dạy - học và công tác quản lý giáo dục Đổi mới kiểm tra, đánh giá còn là một trong những biện pháp hữu hiệu để nhà trường và giáo viên hoàn thành những mục tiêu giáo dục đào tạo thời kỳ đổi mới
Trong quá trình dạy học, đổi mới phương pháp dạy học không thể tách rời đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Đây đều là những mặt hoạt động độc lập nhưng có mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ với nhau, cái này là tiền đề cho cái kia phát triển và ngược lại Kiểm tra - đánh giá
có vai trò vô cùng quan trọng, là một biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn đó là khâu mở đầu của quá trình dạy học và cũng là khâu kết thúc của quá trình dạy học này để mở ra một quá trình dạy học khác cao hơn
Lý luận dạy học cho thấy dạy học là một quá trình khép kín, để điều chỉnh quá trình này một cách có hiệu quả cả người dạy và người học đều phải tiếp thu được những thông tin ngược từ việc kiểm tra - đánh giá kết quả giảng dạy và học tập Việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập làm sáng rõ tình hình lĩnh hội kiến thức của học sinh, sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo, góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, tự giác trong mỗi học sinh Đồng thời thông qua kiểm tra - đánh giá kết quả học tập, giáo viên có thể rút kinh nghiệm quá trình dạy học của mình để từ đó có những điều chỉnh biện pháp sư phạm hợp lý hơn
Hiện nay việc kiểm tra - đánh giá trong dạy học ở trường phổ thông nói chung và ở các trường Trung học cơ sở (THCS) nói riêng cho thấy: quan niệm về kiểm tra - đánh giá của giáo viên, học sinh và xã hội cũng có nhiều
Trang 13bất cập, kiểm tra - đánh giá còn nặng về ghi nhớ máy móc, không kiểm tra được học sinh hiểu và vận dụng bài học, kỹ năng kiểm tra - đánh giá học sinh chưa thực sự được giáo viên quan tâm, việc đánh giá còn nặng về hình thức,
về điểm, độ chính xác chưa cao Chính vì vậy, việc kiểm tra - đánh giá chưa phát huy được đúng vai trò và khả năng của nó Để đánh giá học sinh, giáo viên đã sử dụng phương pháp ra đề kiểm tra Song cách ra đề kiểm tra còn phiến diện, đơn điệu, thiếu cơ sở khoa học, kết quả đánh giá còn nhiều sai số
hệ thống chưa đánh giá được năng lực học tập của học sinh
Mục đích chính của việc đánh giá là nâng cao chất lượng học tập của học sinh hiện nay là để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, giáo viên phải xem đánh giá là quá trình và là một phần không thể thiếu trong hoạt động giảng dạy của mình
Mặt khác, kiểm tra - đánh giá không còn hoạt động của riêng giáo viên
mà phải là của Hiệu trưởng các trường học Hiệu trưởng phải làm tốt công tác quản lý sử dụng việc kiểm tra - đánh giá thường xuyên (không chỉ thông qua các bài kiểm tra) để hướng dẫn học sinh học tập, giáo viên giảng dạy và giám sát, nâng cao chất lượng trường học
Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh có 17 trường THCS Trong những năm vừa qua ngành giáo dục thành phố đang thực hiện chủ trương đổi mới căn bản toàn diện giáo dục của Đảng mà nghị quyết 29TW đã đề ra, tuy nhiên chất lượng giảng dạy chưa thực sự xứng đáng với tiềm năng và lợi thế của các trường của một thành phố trẻ với tiềm năng công nghiệp du lịch và cảng biển Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy
và học tập chưa được như mong muốn là công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập học sinh ở các trường THCS của thành phố Từ những phân tích trên để hoạt động dạy và học đạt hiệu quả cao trong các trường THCS, cần thiết phải
có những biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập một cách thiết thực, cụ thể và hiệu quả
Đứng trước thực trạng đó, cần thiết phải nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, chuyên sâu và đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động kiểm
Trang 14tra - đánh giá kết quả học tập của các trường THCS trên địa bàn thành phố
Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Việc chọn và nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt
động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh các trường Trung học cơ sở, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn thạc
sĩ là cần thiết, đáp ứng được cả yêu cầu lý luận và thực tiễn công tác giảng dạy tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh trong tình hình hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất được một số biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của học sinh để nâng cao chất lượng quá trình dạy học tại các trường THCS thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra
- đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng phát triển năng lực học sinh
- Mẫu khảo sát: Khảo sát tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh do phòng Giáo dục và Đào tạo Cẩm Phả quản lý
- Phạm vi về thời gian: lấy thời gian nghiên cứu từ năm học 2012 –
2013 đến nay
- Cấp quản lý trọng tâm là Hiệu trưởng trường THCS, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng ninh Các biện pháp có thể áp dụng đến năm 2020
5 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu của chúng tôi đó là: Vai trò của
các biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học
Trang 15sinh như thế nào? Và cần những biện pháp đổi mới quản lý gì để nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra đánh giá ở các trường THCS Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng tiếp cận năng lực học sinh?
6 Giả thuyết khoa học
Hiện trạng quản lí hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh chưa đạt yêu cầu Vận dụng một cách đồng bộ các biện pháp đề xuất trong luận văn sẽ nâng cao chất lượng kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học ở các trường THCS thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra - đánh giá và quản lí hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS theo định hướng tiếp cận năng lực
- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra - đánh giá và quản lí hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh tại các trường THCS thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất một số biện pháp cải tiến quản lí hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm nâng cao chất lượng quá trình dạy học tại các trường THCS thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, tư tưởng của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về giáo dục và đào tạo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các khái niệm, phạm trù quy luật các công trình nghiên cứu, tổng hợp tài liệu, sách báo, tạp chí, văn bản (liên quan đến lí luận của
Trang 16quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh) Tổng hợp phân tích các vấn đề có liên quan đến đề tài
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Vận dụng phương pháp này vào việc tìm hiểu quản
lí hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng hệ thống câu hỏi điều
tra hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Phân tích thực trạng hiệu quả quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số trường THCS
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các Hiệu trưởng, Phó hiệu
trưởng, giáo viên các trường về thực trạng quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS làm căn cứ đề xuất những biện pháp quản lí hiệu quả
- Phương pháp chuyên gia: Thông qua lãnh đạo và chuyên viên Phòng
GD&ĐT, Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên các trường, để xác định các giải pháp tối ưu cho công tác quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS
- Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học: Phương pháp này
được sử dụng để xử lý các số liệu thu thập được từ khảo sát thực tế
9 Những đóng góp của đề tài hay ý nghĩa khoa học
9.1 Ý nghĩa lý luận
Tổng kết lý luận về công tác quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh hiện nay ở các trường THCS Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học
để xây dựng một số phương pháp quản lý hiệu qủa cho hoạt động này
9.2.Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá ở các trường THCS trong tỉnh Quảng Ninh và trong cả nước
Trang 1710 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra - đánh giá và quản lí
hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng tiếp cận năng lực của học sinh
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra - đánh giá và biện pháp quản
lí hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường Trung học cơ sở thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Biện pháp quản lí nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra
- đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường Trung học cơ sở thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Có thể nói việc Kiểm tra - đánh giá được hình thành khá sớm cùng với
sự xuất hiện của xã hội loài người Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia có những hình thức kiểm tra - đánh giá khác nhau nhưng đều đưa ra những quy định chuẩn, phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện tại
Từ xa xưa, Trung Quốc đã dùng trắc nghiệm trí tuệ để chọn thê thiếp hoặc người hầu, sử dụng các phép thử để chọn tướng, dùng người, … Từ thời Đông Chu liệt quốc, Tôn Tử đã đưa ra binh pháp trong đó có nêu một số thuật chọn tướng, dùng người như: cho sắc đẹp để đánh giá tính đứng đắn, dùng vàng bạc để thử tính thanh liêm Trong các truyện dân gian việc kén rể, kén vợ, chọn dâu hiền, tôi trung xảy ra phổ biến, người ta còn tổng kết thành tục ngữ, ca dao, các câu thành ngữ
Lịch sử khoa cử ở Việt Nam được hình thành khá sớm, các cuộc thi chọn người tài, người có học vấn được tổ chức định kỳ Thời nhà Lý thế kỉ thứ XI - XIII thông qua các kì thi Hương để chọn Hương cống, Sinh đồ; thi Hội để chọn Thái học sinh, Phó bảng; thi Đình để chọn Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa với 3 hình thức cơ bản là thi văn, thị võ và thi lại viên Năm 1070 vua Lý Thái Tông cho lập Văn Miếu, và từ đó việc học có bài bản hơn trước Quốc Tử Giám là trường Hoàng gia đầu tiên của Việt Nam Khoa thi đầu tiên được tổ chức năm 1075, đời vua Lý Thái Tông Chế độ khoa cử thời phong kiến bắt buộc sĩ tử phải trải qua ba kỳ thi để đạt học vị cao nhất: thi Hương, thi Hội, thi Đình Thi cử thời phong kiến có luật khá nghiêm ngặt, thể lệ khắt khe, sự thưởng phạt nghiêm minh Tuy nhiên cũng có nhiều gò bó, không phát huy hết khả năng sáng tạo của thí sinh Bên cạnh đó, kết quả của các kì thi này hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhận xét chủ quan của ban giám khảo
Trang 19Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của nhân dân Cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu những bước đi đầu tiên và phát triển Vấn đề kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh đã có nhiều biến đổi căn bản so với chế độ xã hội cũ
Thời kỳ Pháp thuộc, nền giáo dục Việt Nam mang tính nô dịch thuộc địa với chủ trương đào tạo một số ít người làm tay sai, còn đại đa số nhân dân
là mù chữ (chính sách ngu dân để dễ cai trị) Thời kỳ này các kỳ thi tuyển
được tổ chức rất nghiêm túc và được bảo đảm bằng pháp luật, trung tâm khảo thí là đơn vị độc lập với Bộ Giáo dục Công tác kiểm tra – đánh giá chất lượng giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của thực dân phong kiến
Từ sau cách mạng Tháng 8/1945 đến nay kiểm tra - đánh giá đã có nhiều biến đổi căn bản so với chế độ xã hội cũ Nền giáo dục Việt Nam đã trải qua 3 lần cải cách, với mỗi lần mục tiêu giáo dục đào tạo được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình đất nước Trong nhiều năm trở lại đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước hoạt động nghiên cứu lý luận về vấn đề này ngày càng được nâng lên tầm cao mới, đáp ứng phần nào yêu cầu thực tiễn Song trong thực tế có rất nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về chất lượng thi, kiểm tra - đánh giá nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo con người trong thời kỳ phát triển Một số tài liệu nghiên cứu về kiểm tra – đánh giá của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam:
Dương Thiệu Tống (2005), Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Nxb khoa học xã hội
Đặng Bá Lãm (2003), Kiểm tra - đánh giá trong dạy - học đại học, Nxb
Giáo dục, Hà Nội
Lâm Quang Thiệp (2003), Đo lường đánh giá trong giáo dục
Nguyễn Công Khanh (2004), Đánh giá và đo lường trong giáo dục,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Tất cả các nghiên cứu trên đã tiến hành nghiên cứu thực trạng các biện pháp quản lí hoạt động lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của
Trang 20học sinh phổ thông bằng những cách tiếp cận khác nhau và đã đề xuất được
một số biện pháp cần thiết, khả thi để nâng cao hiệu quả quản lý Tuy nhiên tuỳ theo đặc điểm, tính chất, điều kiện của từng loại trường, từng địa phương, từng cấp quản lí thì người quản lí phải có những biện pháp quản lí riêng
Chính vì thế tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Quản lí hoạt động kiểm tra - đánh giá
kết quả học tập của học sinh các trường Trung học cơ sở, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” Với đề tài này, tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc
nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh" Qua đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập ở cấp THCS của thành phố Thêm vào đó hiện nay chất lượng giáo dục đang là vấn đề mang tính thời sự được đặt ra với mỗi cơ sở giáo dục Để nâng cao chất lượng giáo dục, bên cạnh việc đổi mới mục tiêu, cải tiến nội dung phương pháp …nâng cao chất lượng kiểm tra đánh giá là vô cùng cần thiết Trong những năm gần đây ngành Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều cố gắng nhằm đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hoạt động kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của học sinh Nhưng trên thực tế cho thấy do cách kiểm tra- đánh giá vẫn còn quá nặng nề
và chưa thực sự khoa học nên đã ít nhiều ảnh hưởng đến đến cố gắng đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo và phương pháp dạy học Bên cạnh đó vấn đề dạy thêm học thêm trái quy định và bệnh thành tích trong giáo dục đã làm nảy sinh rất nhiều hiện tượng tiêu cực trong quản lý giáo dục đang là vấn đề nhức nhối đối với ngành ta nói riêng và toàn xã hội nói chung Do đó việc cải tiến hoạt động kiểm tra – đánh giá là khâu quan trọng mang tính đột phá để tạo ra những chuyển biến cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
1.2 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quản lý
Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người Nó
là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi Quốc gia, mọi thời đại Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển
Trang 21lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện, khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ
để đạt được mục đích Chính vì vậy người ta có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã
hội đều thông qua quản lý Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quản độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [dẫn theo 7]
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến nhưng có nhiều quan điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích của hoạt động Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm:
Theo F.W.Taylo (1856 - 1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [dẫn theo 7, tr.28]
Henri Fayol (1841 - 1925) xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng:
“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [dẫn theo 7, tr.31]
Các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz
Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu trong quản lý” thì cho rằng
“Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của các nhân hướng vào mục tiêu tổ chức - Đó là hình thành một môi trường
có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất” [22]
Theo Mary Parker Follett (Mỹ): “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”, “…Trong quản lý cần chú trọng tới
Trang 22những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu
tố tinh thần và tình cảm …” [8, tr.39]
Theo M.I.Kondakop “ Quản lý xã hội một cách khoa học không phải cái
gì khác mà chính là việc tác động một cách hợp lý đến hệ thống xã hội, việc làm cho hệ thống đó phù hợp với quy luật vốn có của nó” [30]
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau
về thuật ngữ “Quản lý” tùy theo cách tiếp cận khác nhau:
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7]
Thuật ngữ “quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình
“lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa tổ chức vào thế “phát triển” Nếu người đứng đầu trong một tổ chức chỉ lấy việc “quản” làm chính thì tổ chức dễ
bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến “lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững Do vậy, người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho
trong trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn luôn ở trạng thái cân bằng động
Như vậy, từ cách tiếp cận trên ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một
số ý nghĩa chung: Quản lý là quá trình hoạt động lao động có mục đích để điều khiển lao động Có sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản
lý Liên quan tới môi trường xác định
Từ các dấu hiệu chung đó, có thể khái quát như sau: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức nhằm đạt
đến mục tiêu của tổ chức đặt ra trong một môi trường luôn luôn thay đổi
1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau lên tất cả các mắt xích của hệ thống
Trang 23giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng Nói cách khác:
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh
và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục [19]
Như vậy, quản lý giáo dục là một công việc hết sức quan trọng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nội dung của quản lý giáo dục bao gồm: Tham gia quản
lý học sinh, sinh viên, quản lý đào tạo và cơ sở vật chất, phương tiện phục cho công tác giáo dục đào tạo, tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các công tác khác ở các trường mầm non, phổ thông và dạy nghề, quản lý chuyên môn, hành chính, nhân sự tại các Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT; làm công tác giảng dạy khoa học quản lý giáo dục ở các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, cán bộ, nhân viên quản lý trong và ngoài ngành giáo dục; nghiên cứu khoa học quản lý và quản lý giáo dục ở các cơ sở nghiên cứu, các cơ quan tham mưu hoạch định chiến lược quản lý xã hội nói chung và phát triển giáo dục nói riêng
1.2.3 Kiểm tra
Chất lượng dạy - học đang là vấn đề có tính thời sự được đặt ra đối với mỗi cơ sở giáo dục trong thời điểm hiện nay Để nâng cao chất lượng giáo dục, bên cạnh việc đổi mới mục tiêu, cải tiến nội dung, phương pháp Việc nâng cao chất lượng kiểm tra - đánh giá là rất cần thiết
Một số năm trở lại đây, ngành giáo dục - đào tạo có nhiều cố gắng nhằm đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hoạt động KTĐG kết quả học tập của học sinh - sinh viên Tuy nhiên, do cách thức kiểm tra còn nặng về mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo và phương pháp dạy học nên hiệu quả chất lượng giáo dục chưa cao, còn chạy theo thành tích; nhiều hiện tượng tiêu cực trong quản lý giáo dục nảy sinh là vấn đề nhức nhối trong ngành giáo dục và toàn xã hội Do đó, việc cải tiến hoạt động KTĐG (ra đề, hình thức thi ) là khâu quan trọng mang tính đột phá để tạo ra những chuyển biến cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
Trang 24Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm kiểm tra:
Dưới góc độ khoa học giáo dục, khái niệm kiểm tra được hiểu như sau:
Từ điển Bách Khoa (2001) có định nghĩa thuật ngữ: “Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy – học nhằm uốn nắn được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động dạy – học”
Theo tác giả Đặng Bá Lãm (2003) “Kiểm tra là quá trình xác định mục đích, nội dung, lựa chọn phương pháp, tập hợp số liệu, bằng chứng để xác định mức độ đạt được của người học trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển” [17, tr.20]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Kiểm tra là phương pháp xem xét thường xuyên quá trình học tập của học sinh”[28, tr.40]
Qua nghiên cứu các định nghĩa trên, dưới góc độ giáo dục học, kiểm tra được hiểu là công việc thường xuyên để kiểm chứng hay xác định mức độ về
kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học đạt được sau một quá trình học tập
1.2.4 Đánh giá
Theo định nghĩa tổng quát, đánh giá là sự hình thành nhận định, phán đoán về đối tượng thông qua sự phân tích thông tin thu được trên cơ sở đối chiếu với các mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất các quyết định thích hợp
để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng hiệu quả công việc Đánh giá cũng có thể được hiểu là nhận định, phán đoán về việc, hiện tượng xảy ra thông qua việc phân tích, xử lí các thông tin thu lượm được
Theo tác giả Đặng Bá Lãm (2003): “Đánh giá là một quá trình có hệ thống bao gồm việc thu thập, phân tích, giải tích thông tin nhằm xác định mức độ người học đạt được các mục tiêu dạy học” [17]
Theo Nguyễn Đức Chính, thuật ngữ đánh giá được định nghĩa: “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào” Hoặc “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách hệ thống về năng lực và phẩm
Trang 25chất của người học và sử dụng các thông tin đó đưa ra quyết định về người dạy và người học trong tương lai” [10, tr.4]
Dưới góc độ giáo dục học,“Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách có hệ thống nhằm mục đích giúp người học hoạch định chính sách lựa chọn một phương pháp khả thi để tiến hành công việc giáo dục của mình”
Như vậy, đánh giá trong giáo dục là sự xem xét, so sánh độ tương thích giữa những thông tin thu nhận được về quá trình giáo dục với chuẩn mực, tiêu chuẩn tương ứng nhằm đưa ra những quyết định về người học và việc tổ chức quá trình dạy học Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở đo lường, kiểm tra bao giờ cũng đi liền với đánh giá Vì vậy, kiểm tra - đánh giá là một khâu không thể thiếu của quá trình dạy - học, là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy - học Kiểm tra - đánh giá là công việc của cả giáo viên, học sinh
và các nhà quản lý giáo dục Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính
1.2.5 Kiểm tra - đánh giá
Kiểm tra đánh giá có vai trò rất quan trọng không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà cả trong quá trình Đánh giá ở mỗi thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của mỗi giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn cả một quá trình giáo dục Kiểm tra - đánh giá là một quá trình được tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được về trình độ nắm kiến thức kỹ năng, kỹ sảo, trình độ phát triển tư duy sự chuyển biến thái độ của người học trong quá trình dạy học
Kiểm tra- đánh giá là sự so sánh đối chiếu trình độ kiến thức kỹ năng thái độ đã được hình thành ở người học với những yêu cầu xác định của mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo Mục tiêu dạy học là cơ sở cho việc xác định nội dung, xây dựng chương trình dạy học, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Đồng thời mục tiêu dạy học chi phối toàn bộ quá trình KTĐG kết quả học tập của người học Từ việc xác định mục đích kiểm tra- đánh giá đến lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, yêu cầu kiểm tra- đánh giá
Trang 26Từ một phương diện khác có thể xem KTĐG là hoạt động nhằm rút ra những phán đoán về giá trị đạt được và những quyết định cần thiết trên cơ sở thông tin và số liệu thu thập được
Như vậy kiểm tra- đánh giá là một hoạt động mà thực chất là quá trình
đo lường cho nên việc xác định trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà học sinh đạt được không tiến hành theo phép đo mà bằng thang điểm hay bậc thang xếp hạng Đó là hai mặt của một quá trình, kiểm tra là thu thập thông tin số liệu, bằng chứng về kết quả đạt được Đánh giá là so sánh đối chiếu với mục tiêu dạy học đưa ra những phán đoán kết luận về thực trạng nguyên nhân của kết quả đó Đánh giá gắn liền với kiểm tra, nằm trong chu trình của quá trình dạy học Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm mục đích:
Thứ nhất là, làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về mục tiêu dạy học, trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ của học sinh, từ đó xác định mức độ chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy học
1.2.6 Kết quả học tập
Theo lý luận dạy học hiện đại, học tập là hoạt động nhận thức của người học được thực hiện dưới sự tổ chức điều khiển của nhà sư phạm, Mục đích của hoạt động học tập là tiếp thu nền văn hóa, văn minh nhân loại và chuyển hóa chúng thành năng lực thể chất, năng lực tinh thần của mỗi cá nhân người học Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng được thể hiện ở nội dung của môn học, bài học bằng hệ thống khái niệm khoa học và khái niệm môn học Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công của học sinh về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục Kết quả học tập thể hiện chất lượng của quá trình dạy học và giáo dục Kết quả học tập là kết quả của một môn học, một chuyên ngành hay của cả một khóa học, một khóa đào tạo
Kết quả học tập của học sinh bao gồm các kiến thức, kĩ năng, năng và thái độ mà họ đạt được và phát triển trong suốt khóa học Các kiến thức, kĩ năng này được tích lũy từ các môn học khác nhau trong suốt quá trình học được quy định cụ thể trong chương trình giáo dục - đào tạo
Trang 27Tóm lại, những quan điểm trên đều cho rằng: Kết quả học tập bao gồm các kiến thức, kĩ năng, thái độ mà người học đạt được trong quá trình học tập
và rèn luyện tại nhà trường Kết quả học tập đều thể hiện mức độ đạt được của các mục tiêu dạy học Đó chính là sự đạt được kiến thức, kỹ năng, thái độ trong quá trình học tập
1.2.7 Năng lực và phát triển năng lực người học
1.2.7.1 Năng lực
Năng lực có nhiều quan niệm cách hiểu khác nhau về năng lực tùy theo hướng tiếp cận , lĩnh vực và phạm vi nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau Chẳng hạn như năng lực được cho là khả năng được hình thành và phát triển cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí tuệ hoặc nghề nghiệp “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn một hay một dạng hoạt động nào đó Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ tính nhạy cảm trí tuệ, tính cách của cá nhân” hay “ Năng lực thể hiện như một
hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kỹ năng cần thiết, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể” Nhìn chung khái niệm năng lực đề cập đến khả năng thực tế của con người được thể hiện trong những dạng hoạt động khác nhau đảm bảo hoạt động ấy được thực hiện, kết quả thực hiện hoạt động ở mức độ cao thấp khác nhau phản ánh mức độ phát triển năng lực của con người Năng lực không phải là bẩm sinh mà được hình thành và phát triển qua giáo dục đào tạo và huấn luyện
Trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo, xuất phát từ mục tiêu đào tạo và yêu cầu xã hội đối với sản phẩm đào tạo; xét trong mối quan hệ giưa yêu cầu về kết quả học tập mong đợi trong quá trình đào tạo so với khả năng của người học, theo chúng tôi khái niệm năng lực được hiểu như sau:
Năng lực là tổ hợp hành động thực tế của cá nhân, phản ánh việc thực hiện các công việc khác nhau theo những nội dung nhiệm vụ đối tượng cụ thể trong những tình huống, điều kiện cho trước nhằm đảm bảo hoạt động đạt kết quả [dẫn theo 21]
Trang 28Về cầu trúc, năng lực là tổ hợp được cầu thành một cách đặc biệt từ đặc điểm tâm- sinh lý của cá nhân và môi trường xã hội với các thành tố cơ bản
có mối quan hệ với nhau trong đó bao gồm: (1) tri thức (kiến thức và khả năng nhận thức); (2) hệ kỹ năng kỹ sảo (thể hiện trong nhận thức, trong hành động thực tế và trong ứng xử xã hội); (3) hệ thống thái độ biểu cảm (thể hiện trong mối quan hệ với bản thân với môi trường sống tự nhiên và với con
người) và (4) tổng hợp ba thành tố trên [dẫn theo 21]
1.2.7.1 Quan điểm phát triển năng lực của người học
Trong phạm vi nghiên cứu này, sự phát triển năng lực (PTNL) học sinh được hiểu là kết quả của quá trình đào tạo được thể hiện trên ba phương diện,
bề rộng chiều sâu của tri thức khoa học được tích lũy tương ứng với khả năng phân tích tư duy phê phán, khả năng tổng hợp tư duy sáng tạo, khả năng vận dụng tri thức và kỹ năng tương ứng trong việc xử lý tình huống, giải quyết các nhiệm vụ nhận thức, thực tiễn và sự trưởng thành về mặt thái độ, tự nhận thức, ý thức đạo đức và nhân cách xã hội
Về phân loại sự phát triển năng lực có hai nhóm năng lực cần quan tâm: Năng lực chung: là những năng lực cơ bản thiết yếu cốt lõi làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như: năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực ngôn ngữ và tính toán, năng lực giao tiếp, năng lực vận động…Các năng lực hình thành phát triển dựa trên các tiền đề sinh học, trong quá trình giáo dục và đào tạo trải nghiệm trong cuộc sống của con người Con người có đến 30 năng lực quan trọng trong đó nhấn mạnh đến 8 năng lực chung then chốt
Năng lực chuyên biệt: Là những năng lực riêng được hình thành và phát triển trên cơ sở năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, chuyên biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường hoạt động đặc trưng; mức độ phát triển loại năng lực này bên cạnh dựa trên năng lực chung thì chúng còn có mối liên hệ đặc biệt đến tính tích cực trong quá trình rèn luyện cũng như các tố chất, năng khiếu riêng của mỗi người
Trang 29Nhóm năng lực này có mối quan hệ biện chứng với nhau, năng lực chung Đóng vai trò như là nền tảng quan trọng cho sự PTNL chuyên biệt và ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên biệt góp phần củng cố năng lực chung, làm cho năng lực chung nhờ đó mà trở nên nhạy bén và phát triển co chiều sâu hơn Trong đó nhóm năng lực then chốt và nhóm năng lực chuyên biệt vừa là mục tiêu của quá trình dạy học đồng thời cũng là đối tượng của KTĐG kết qủa học tập theo định hướng PTNL nói riêng
Những cách phân loại trên chỉ là tương đối bởi vì bản thân năng lực và
sự phát triển các loại năng lực nêu trên co mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau chúng vừa là tiền đề vừa là hệ quả của nhau cũng như mức độ đạt đến sự phát triển các loại năng lực của học sinh còn phụ thuộc vào yếu tố khác nhau trong và ngoài môi trường giáo dục Vì thế cần xem xét mục tiêu dạy học và đánh giá KQHT theo định hướng PTNL học sinh trong tính tổng thể của nó
1.3 Một số vấn đề lý luận về kiểm tra - đánh giá
1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng của kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học
1.3.1.1 Vị trí của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
Hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh là khâu cuối cùng và là khâu quan trọng nhất trong quá trình dạy học
Hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh là bộ phận cấu thành trong quá trình thực hiện kế hoạch dạy học, trong hệ thống các nguyên tắc dạy học và thực hiện các nội dung dạy học
Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh là điều kiện đủ để hoàn thành mục tiêu và nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
1.3.1.2 Vai trò của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
Nếu xem chất lượng của quá trình dạy học là “trùng khớp với mục tiêu” thì kiểm tra - đánh giá là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng của quy trình đào tạo Trong nhà trường hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội
Trang 30dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến hoạt động kiểm tra đánh kết quả dạy học Kiểm tra - đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo Kết quả của KTĐG là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục Nếu kiểm tra - đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực Vậy đổi mới KTĐG trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay Kiểm tra - đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập
Kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy - học có vai trò của nổi bật là: Đối với giáo viên: Giúp giáo viên biết được hiệu quả, chất lượng giảng
dạy Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện mình về trình độ học vấn, về phương pháp giảng dạy, từ đó điều chỉnh hay phát huy quá trình dạy học giúp học sinh hoàn thiện hoạt động học
Đối với học sinh: Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp
kịp thời những thông tin "liên hệ ngược" giúp học sinh điều chỉnh hoạt động học
- Về giáo dưỡng chỉ cho học sinh thấy mình đã tiếp thu điều vừa học đến mức độ nào, còn thiếu sót nào cần bổ khuyết
- Về mặt phát triển năng lực nhận thức giúp học sinh có điều kiện tiến hành các hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa,
hệ thống hóa kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế
- Về mặt giáo dục, giáo dục học sinh có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập, có ý chí vươn lên đạt những kết quả cao hơn, cũng cố lòng tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thứcc tự giác, khắc phụ tính chủ quan tự mãn
Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Cung cấp cho cán bộ quản lí giáo dục
những thông tin về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, giúp đưa ra những quyết định phù hợp trong việc điều
Trang 31chỉnh, cải tiến chương trình, nội dung đào tạo, hình thức tổ chức dạy học nhằm bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu dạy - học
1.3.1.3 Chức năng của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
- Chức năng định hướng:
Xem xét kết quả của kiểm tra - đánh giá cho phép đề xuất định hướng điều chỉnh những sai sót, phát huy những kết quả trong cải tiến hoạt động dạy
- học với các phần kiến thức đã dạy Đánh giá giáo dục được tiến hành trên cơ
sở của mục tiêu giáo dục Nó tiến hành phán đoán sự sai lệch giữa hiện trạng thực tế và mục tiêu đề ra trước đó, làm cho khoảng cách này ngày một ngắn hơn Chính vì vậy kiểm tra - đánh giá là cái đích để người dạy hướng dẫn người học cùng vươn tới, hơn nữa KTĐG giúp đơn vị giáo dục lập kế hoạch dạy - học để cùng hướng tới việc đạt mục tiêu Kiểm tra - đánh giá giúp cho học sinh, giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy - học Do vậy, nó có tác dụng định hướng hoạt động học tập tích cực chủ động của học sinh
- Chức năng đốc thúc, kích thích, tạo động lực:
Quá trình học tập cần thiết phải có sự kiểm tra - đánh giá kết quả học tập Qua đó có thể tạo động lực, kích thích tinh thần ham học hỏi và không ngừng vươn lên của người học Sau mỗi bài kiểm tra, nhờ kết quả đó sẽ giúp học sinh thấy được mức độ nắm bắt kiến thức của bản thân để có hướng phấn đấu cho bài kiểm tra sau Đối với mỗi đối tượng học sinh sẽ có những tác dụng riêng Đối với những em học sinh giỏi, KQHT tốt sẽ động viên khích lệ các em hăng say học tập; đối với những em học học yếu, việc KTĐG kết quả học tập sẽ là một minh chứng thôi thúc các em cố gắng vươn lên trong học tập Như vậy, đã tạo ra môi trường cạnh tranh chính thức hoặc phi chính thức
Trang 32Trong giáo dục học, kết quả của quá trình kiểm tra - đánh giá sẽ giúp phân loại, sàng lọc đối tượng và từ đó sẽ có những chiến lược phù hợp với từng loại đối tượng, giúp đối tượng tiến bộ không ngừng
- Chức năng cải tiến dự báo:
Đánh giá, dự báo đòi hỏi phải có căn cứ khoa học, dựa trên kết quả của quá trình kiểm tra, quá trình đào tạo Việc đánh giá giúp phát hiện được những vấn đề tồn tại trong công tác dạy và học, từ đó tiến hành sử dụng các biện pháp thích hợp để bù đắp những chỗ thiếu hụt hoặc loại bỏ những sai sót không đáng có Đó chính là chức năng cải tiến và dự báo của KTĐG Ví dụ: Nhờ có phân tích và nghiên cứu từng khâu, từng bước trong quản lý giáo dục
và kiểm tra - đánh giá tính chính xác, độ thích hợp của các hoạt động giáo dục, chúng ta mới có thể phán đoán hoặc dự báo các vấn đề hoặc các khâu còn yếu kém trong công tác dạy và học Đây sẽ là căn cứ đáng tin cậy để tiến tới việc xác lập mục tiêu cải tiến giáo dục
1.3.2 Cơ sở và nguyên tắc kiểm tra - đánh giá
1.3.2.1 Cơ sở đánh giá kết quả học tập của học sinh
Trong giáo dục, cơ sở quan trọng nhất của kiểm tra - đánh giá chính là mục tiêu giáo dục cần đạt đến Để đánh giá kết quả học tập của học sinh cần dựa vào mục tiêu môn học, mục đích học tập và mối quan hệ giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá kết quả học tập
Mục tiêu của môn học là những gì học sinh cần phải đạt được sau khi học xong môn học, nó bao gồm các thành tố:
- Hệ thống các kiến thức khoa học gồm cả các phương pháp nhận thức;
- Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo;
- Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế;
- Thái độ, tình cảm đối với nghề nghiệp, đối với xã hội
Mục đích học tập là những gì học sinh cần có được sau khi đã học xong một đơn vị kiến thức, một quy tắc nào đó Mục đích học tập có thể bao gồm các phần sau đây:
Trang 33- Lĩnh hội tri thức của nhân loại nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về tự nhiên và xã hội;
- Trang bị kiến thức để đáp ứng nhu cầu về thi tuyển, nghề nghiệp và nhu cầu cuộc sống;
- Thu thập những kinh nghiệm sáng tạo để có thể độc lập nghiên cứu và hoạt động sau này
Giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá kết quả học tập có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu mục tiêu của môn học và mục đích học tập được xác định đúng đắn thì chúng hỗ trợ cho nhau trong việc đánh giá, đạt được yêu cầu đề ra của công việc đánh giá KQHT của học sinh Mục tiêu của môn học và mục đích học tập là cơ sở cho việc xác định nội dung chương trình, phương pháp và quy trình dạy- học Đồng thời nó cũng là cơ sở để chọn phương pháp và quy trình đánh giá KQHT của học sinh Đánh giá kết quả học tập dựa trên tiêu chí của mục tiêu dạy học sẽ nhận được thông tin phản hồi chính xác nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình giáo dục
1.3.2.2 Những nguyên tắc để đánh giá kết quả học tập của học sinh
Để đánh giá kết quả học tập cần dựa vào những yêu cầu, nguyên tắc mang tính tổng quát và cụ thể Cả lý luận và thực tiễn dạy học ngày nay chứng tỏ rằng, vấn đề kiểm tra - đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉ có tác dụng khi thực hiện những yêu cầu, nguyên tắc trong việc kiểm tra - đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh
Đánh giá là cả quá trình, do vậy đòi hỏi phải tiến hành một cách có hệ thống, thường xuyên, mang tính khách quan, toàn diện và quan điểm phát triển, tuân thủ tính quy chuẩn, khoa học Khi đánh giá phải xác định mục tiêu
rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu hiện dưới dạng những điều có thể quan sát được Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh phải đảm bảo tính thuận tiện cần dựa vào các nguyên tắc sau:
- Xác định rõ mục đích của việc đánh giá Đánh giá để làm gì?
- Lựa chọn hình thức phương pháp đánh giá Bản thân giáo viên phải nắm được ưu điểm và hạn chế của mỗi hình thức đánh giá để sử dụng chúng cho phù hợp, hiệu quả
Trang 34- Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của học sinh, trước tiên phải chú ý đến việc học tập của học sinh, sau đó mới kích thích sự nỗ lực học tập của học sinh, cuối cùng mới đánh giá bằng điểm số
- Đánh giá bao giờ cũng đi kèm với nhận xét để học sinh nhận biết những sai sót của mình về kiến thức kỹ năng, phương pháp để học sinh nghiên cứu trao đổi thêm kiến thức
- Qua những lỗi của học sinh giáo viên cần rút kinh nghiệm để phát hiện ra những sai sót trong quá trình dạy và đánh giá của mình để thay đổi cách dạy sao cho phù hợp với học sinh
- Trong đánh giá nên sử dụng nhiều phương pháp và hình thức đánh giá khác nhau để nhằm tăng độ tin cậy và chính xác
- Lôi cuốn và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình đánh giá
- Giáo viên phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi để kiểm tra đánh giá giúp học sinh định hướng khi trả lời
- Phải dựa trên những cơ sở của phương pháp dạy học mà xem xét kết quả của một câu trả lời, của một bài kiểm tra, kết hợp với chức năng chẩn đoán hoặc quyết định về mặt sư phạm
- Trong các câu hỏi xác định vè mặt định lượng giáo viên thông qua các câu hỏi yêu cầu học sinh giải thích bằng lời để xác định rõ nhận thức của học sinh
- Phương pháp và cách thức tiến hành kiểm tra đánh giá phải diễn ra trong hoàn cảnh thoải mái, học sinh thấy tự nguyện, không lo lắng hay sợ sệt
- Giáo viên luôn trăn trở về tính khách quan và mức độ chính xác của
bộ câu hỏi để từ đó chúng ta có thể đưa ra kết luận tối ưu nhất
1.3.3 Các yêu cầu sư phạm khi kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Khi cần kiểm tra đánh giá phải tuân thủ những yêu cầu sau:
- Đánh giá xuất phát từ mục tiêu dạy học
- Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định
- Đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện có hệ thống công khai
Trang 35- Đánh giá phải đảm bảo tính phát triển và tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh giá
1.3.4 Các hình thức, phương pháp kiểm tra - đánh giá
Song hành với việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa cấp THCS, kiểm tra - đánh giá, xếp loại đối với học sinh trung học cơ sở cũng được bắt đầu thay đổi từ năm 2002 Sau nhiều lần điều chỉnh đến năm 2011,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 58/2011/TT - BGDĐT, ngày 12/12/2011 về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông Theo Thông tư này khi đánh giá, xếp loại HS có 2 lĩnh vực:
Đánh giá hạnh kiểm của học sinh: Phải căn cứ vào biểu hiện cụ thể về
thái độ và hành vi đạo đức; ứng xử trong mối quan hệ với thầy giáo, cô giáo, với bạn bè và quan hệ xã hội; ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập; kết quả tham gia lao động, hoạt động tập thể của lớp, của trường và hoạt động xã hội; rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường Hạnh kiểm được xếp thành 4 loại: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu sau khi kết thúc học kỳ, năm học Không căn cứ vào kết quả học tập nhưng có xem xét đến kết quả học tập khi xếp hạnh kiểm [3]
Đánh giá, xếp loại học lực: Căn cứ đánh giá học lực của học sinh là
hoàn thành chương trình các môn học trong kế hoạch giáo dục của cấp THCS, kết quả đạt được của các bài kiểm tra Học lực được xếp thành 5 loại: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu và Kém [3]
Trong quá trình kiểm tra - đánh giá bao gồm các hình thức:
Hình thức kiểm tra: Kiểm tra miệng (kiểm tra bằng hỏi đáp), kiểm tra
viết và kiểm tra thực hành Các loại bài kiểm tra: Kiểm tra thường xuyên,
kiểm tra định kỳ (gồm kiểm tra viết từ 1 tiết lý thuyết và thực hành trở lên),
kiểm tra học kỳ [3]
Hình thức đánh giá: Kiểm tra và cho điểm các bài kiểm tra, tính điểm
trung bình môn học và tính điểm trung bình các môn học sau một học kỳ, một
Trang 36năm học Việc đánh giá chất lượng giáo dục toàn diện đối với học sinh được thực hiện sau mỗi học kỳ, mỗi năm học nhằm thúc đẩy học sinh rèn luyện, học tập để không ngừng tiến bộ Căn cứ đánh giá, xếp loại hạnh kiểm và học lực của học sinh được dựa trên cơ sở: Mục tiêu giáo dục của cấp học, chương trình, kế hoạch giáo dục của cấp học, điều lệ nhà trường, kết quả rèn luyện và học tập của học sinh
1.3.4.1 Kiểm tra vấn đáp
Kiểm tra vấn đáp là cách đánh giá phổ biến trong dạy học, trong quá trình dạy học, giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi ngắn và trực tiếp để học sinh trả lời Căn cứ vào câu trả lời, giáo viên sẽ biết được mức độ hiểu bài nắm được kiến thức của học sinh, ở cấp trung học cơ sở phương pháp này thể hiện thông qua hình thức kiểm tra miệng và được thực hiện tại bất cứ thời điểm nào trong một tiết học Phương pháp này sẽ giúp cho giáo viên đánh giá được sự chuẩn bị cho bài học mới, mức độ nắm bắt kiến thức của học sinh để từ đó giáo viên có sự điều chỉnh ngay về phương pháp, hình thức tổ chức dạy - học sao cho phù hợp
* Ưu điểm của hình thức kiểm tra vấn đáp
- Linh hoạt cơ động nên có thể dùng để đánh giá kiến thức đã được học
và những kiến thức mới của học sinh
- Có thể kiểm tra khả năng tư duy và mức độ ghi nhớ của học sinh
- Thông qua hình thức vấn đáp, giáo viên có điều kiện trao đổi trực tiếp với từng học sinh, kích thích tư duy của họ từ đó có sự chuẩn đoán chính xác hơn đối với từng đối tượng người học
- Hạn chế được tình trạng quay cóp không trung thực trong kiểm tra – đánh giá
* Hạn chế của kiểm tra vấn đáp
- Phương pháp đánh giá này mang tính chất chủ quan của giáo viên bởi cách đặt câu hỏi, nhận xét và đánh giá tức thời
- Không thể đặt một câu hỏi cho các học sinh khác nhau nên khó so sánh giữa các học sinh khác nhau
Trang 37- Thời gian kiểm tra kéo dài (tốn thời gian) nhất là đối với lớp học có số học sinh đông
- Kết quả kiểm tra chưa thực sự chính xác đối với đối với những học sinh bị hạn chế ở khả năng ngôn ngữ nói
1.3.4.2 Kiểm tra viết
Hình thức kiểm tra viết là hình thức kiểm tra đánh giá khá phổ biến và lâu dài từ xưa đến nay Hình thức này có thể sử dụng đồng thời cho nhiều học sinh trong cùng một thời điểm Kiểm tra viết thường dùng để để đánh giá chất lượng đầu vào, trong quá trình học tập và đầu ra của học sinh Phương pháp kiểm tra viết chia thành hai loại trắc nghiệm tự luận (thường gọi là tự luận) và trắc nghiệm khách quan (thường gọi là trắc nghiệm) Ở nước ta phương pháp tự luận thường được sử dụng phổ biến hơn trắc nghiệm tuy nhiên với sự phát triển không ngừng của ngành giáo dục hiện nay thì việc nghiên cứu đưa vào sử dụng rộng rãi phương pháp trắc nghiệm khách quan đang là vấn đề được quan tâm
Trắc nghiệm tự luận: Là dạng bài thi, kiểm tra trong đó học sinh tự
viết câu câu hỏi ra giấy bằng việc kết hợp giữa các năng lực cảm thụ của bản thân với giáo trình, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo…Dựa vào các câu trả lời của học sinh trên bài thi, kiểm tra, giáo viên cho điểm hoặc hoặc xác định mức độ kết quả bài thi dưới hai dạng như sau:
- Dạng thứ nhất bao gồm các câu hởi mở, trong đó học sinh được quyền diễn đạt tự do ý tưởng và kiến thức của mình
- Dạng thứ hai là bài kiểm tra bao gồm câu hỏi tự luận giới hạn về phạm vi kiến thức đó thường là những câu hỏi cụ thể, chi tiết mà người ta có thể khoanh vùng được câu hỏi của học sinh
Ưu điểm của trắc nghiệm tự luận:
- Đo lường được các mục tiêu đã xác định, mất ít thời gian dễ dạng trong khâu chuẩn bị
- Đánh giá được thái độ kiến thức của học sinh
- Tạo cơ hội cho học sinh phát huy hết khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo và bày tỏ được cảm úc của bản thân
- Có khả năng đo lường tốt ở mức độ hiểu, tổng hợp, đánh giá
Trang 38Hạn chế của trắc nghiệm tự luận:
- Khó đánh giá được toàn diện mức độ nắm kiến thức của học sinh mà chỉ
có thể tập trung vào một số phần chính Vì vậy dễ dẫn đến tình trạng học tủ học đối phó
- Tốn nhiều thời gian trong khâu chấm bài
- Bởi ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan từ phía người chấm nên khó đảm bảo tính khách quan trong đánh giá Do đó đòi hỏi rất cao ở kỹ năng của người chấm bài
Trắc nghiệm khách quan (thường gọi là trắc nghiệm): là hình thức
kiểm tra sử dụng bài trắc nghiệm khách quan làm công cụ để đánh giá kết quả hocjn tập của học sinh theo mục tiêu đã định trước Bài trắc nghiệm khách quan thường là bài kiểm tra gồm 4 phương án trả lời
Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan:
- Đề thi, kiểm tra có thể bao quát hết kiến thức trong toàn bộ chương trình môn học Từ đó có thể thẩm định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của người học
- Người soạn thảo bài thi trắc nghiệm có quyền tự do bộc lộ kiến thức
và các giá trị của mình qua việc đặt câu hỏi
- Đảm bảo tính khách quan hơn trong khâu chấm bài bởi ít bị phụ thuộc vào trạng thái chủ quan của người chấm
- Với việc áp dụng kỹ thuật trong khâu chấm bài sẽ đánh giá được số lượng lớn học sinh với tốc độ nhanh và chính xác cao
Hạn chế của trắc nghiệm khách quan:
- Nhiều khi rơi vào hiện tượng thí sinh đoán mò đáp án
- Khó đánh giá chiều sâu trong nhận thức của học sinh, đặc biệt là đối với những tri thức đòi hỏi mang tính sáng tạo và khả năng sử dụng ngôn ngữ
- Đội ngũ soạn thảo bài thi trắc nghiệm đòi hỏi phải có kỹ thuật và kinh nghiệm, do vậy tốn kém thời gian và kinh phí trong xây dựng bài thi trắc nghiệm
Các kiểu câu hỏi trắc nghiệm khách quan có nhiều dạng:
Trang 39- Câu hỏi lựa chọn: là câu hỏi trong đó có phần gốc và phần trả lời các phương án cho sẵn, trong đó có một phương án theo đúng theo nội dung của phần dẫn, còn các phương án khác có tác dụng gây nhiễu Trong một câu hỏi lựa chọn tốt nhất có từ 4 đến 5 phương án lựa chọn
- Câu hỏi đúng - sai: là loại câu hỏi khẳng định hoặc phủ định về một vấn đề nào đó Học sinh phải đọc kỹ và suy nghĩ sau đó nhận định lời khẳng định hay phủ định là đúng hoặc sai
- Câu hỏi ghép đôi: là câu hỏi có hai phần, phần dẫn và phần trả lời Phần dẫn thường ở bên trái, là câu mệnh đề nêu thuật ngữ, nội dung, định nghĩa… Phần trả lời các câu hỏi bên trái bao giờ cũng gồm các câu, các mệnh
đề … mà nếu được ghép đúng vào vào mệnh đề bên trái sẽ thành một phương
án đúng một ý hoàn chỉnh Nhiệm vụ của học sinh là ghép mệnh đề có câu trả lời vào mệnh đề tương ứng tgrong phần dẫn Để tăng độ khó cho câu trắc nghiệm, số câu ở phần trả lời thường nhiều hơn số câu phần dẫn
- Câu hỏi điền khuyết: là loại câu hỏi trong đó có một câu hay một đoạn
có nhiều chỗ trống, nhiệm vụ của học sinh là phải bổ sung một từ, một cụm từ
số liệu hay ký hiệu còn thiếu để hoàn thành câu hay đoạn văn đó
- Câu trả lời ngắn gọn: là câu hỏi trong đó các câu trả lời mang tính xác định cao, thường trả lời bằng nội dung rất ngắn Người ta có thể ghi nhanh kết quả ra giấy hoặc trên máy tính
Trên thực tế có thể kết hợp trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận.Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận là hai phương tiện dùng
để khảo sát thành quả học tập hữu hiệu và đều cần thiết Chúng ta không thể loại trừ hay quá thiên về một trong hai phương pháp trên mà nên kết hợp chúng trong từng trường hợp cụ thể để nhằm dạt đến mục tiêu giảng dạy Vì
cả trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận đều có thể sử dụng để:
- Đo lường mọi thành quả học tập mà một bài khảo sát viết có thể đo lường được
- Khảo sát khả năng hiểu và áp dụng các nguyên lý
- Khảo sát khả năng suy nghĩ có phê phán
- Khảo sát khả năng giải quyết các vấn đề mới
Trang 40- Khảo sát khả năng lựa chọn những sự kiện thích hợp và các nguyên tắc để phối hợp chúng lại với nhau nhằm giải quyết những vấn đề phức tạp
- Khuyến khích học tập để nắm vững kiến thức
Các phương pháp kiểm tra đánh giá
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp vấn đáp;
- Phương pháp trắc nghiệm tự luận;
- Phương pháp trắc nghiệm khách quan
Sơ đồ 1.1 Các phương pháp kiểm tra- đánh giá
Luận đề và trắc nghiệm khách quan đều là những phương tiện kiểm tra khả năng học tập của học sinh Thật ra, việc dùng danh từ “khách quan” để phân biệt hai loại kiểm tra nói trên cũng không hẳn đúng lắm, vì trắc nghiệm luận đề không nhất thiết là trắc nghiệm “chủ quan” và trắc nghiệm khách quan không phải là hoàn toàn “khách quan” Cả hai đều bổ túc cho nhau, tuỳ theo nhu cầu, mục tiêu khảo sát, vì loại kiểm tra, đánh giá nào cũng có những
ưu khuyết điểm riêng của nó (Sơ đồ 1.1 Các phương pháp trắc nghiệm)
CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
QUAN SÁT VIẾT VẤN ĐÁP
(Phân loại tương tự như KT viết)
TRẮC NGHIỆM TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN TỰ LUẬN
(Obfective tests) (Essay tests)
Tự luận tự do Tự luận theo cấu trúc
Ghép đôi Điền khuyết Trả lới ngắn Đúng sai Nhiều lựa chọn