1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Mẫu Dự thảo đề án ngoại ngữ tin học

41 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 583 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Tên tỉnh) có 27 huyện, thị xã, thành phố, diện tích tự nhiên 11.131,94 km2, dân số 3.412.566 người; có 7 dân tộc anh em sinh sống, đó là: Kinh, Mường, Thái, H’mông, Dao, Thổ, Hoa. Dân số trong độ tuổi lao động có khoảng 2,16 triệu người, chiếm tỷ lệ 63,2 % dân số toàn tỉnh. Nguồn lao động của (Tên tỉnh) tương đối trẻ, có trình độ văn hoá khá cao. Lực lượng lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách để phát triển giáo dục đào tạo, đặc biệt quan tâm đến phát triển ngoại ngữ. Công tác dạy và học ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: ngoại ngữ (tiếng Anh) đã và đang được triển khai giảng dạy từ lớp 3 đến lớp 12; đội ngũ giáo viên ngoại ngữ đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn cao; cơ sở vật chất trường, lớp học, thiết bị giáo dục được tăng cường;

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH …………

Trang 2

Các chữ viết tắt

CEFR: Khung năng lực ngoại ngữ Châu Âu

GDĐT: Giáo dục và Đào tạo

GDTX: Giáo dục thường xuyên

GVG: Giáo viên giỏi

GVTA: Giáo viên Tiếng Anh

KK: Khuyến khích

KNLNN: Khung năng lực Ngoại ngữ

NNQG: Ngoại ngữ Quốc gia

Trang 3

UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH (TÊN TỉNH) Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

(Tên tỉnh), ngày tháng năm 2017

ĐỀ ÁN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ TRONG CÁC

CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN 2016-2020, ĐỊNH HƯỚNG

để phát triển giáo dục đào tạo, đặc biệt quan tâm đến phát triển ngoại ngữ Côngtác dạy và học ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục và đào tạo trên địa bàntỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: ngoại ngữ (tiếng Anh) đã và đangđược triển khai giảng dạy từ lớp 3 đến lớp 12; đội ngũ giáo viên ngoại ngữ đạttrình độ chuẩn và trên chuẩn cao; cơ sở vật chất trường, lớp học, thiết bị giáo dụcđược tăng cường;

Tuy nhiên, công tác dạy và học ngoại ngữ đại trà trong các c ơ sở giáodục đào tạo tại còn nhiều khó khăn, hạn chế trước yêu cầu phát

triển kinh tế - xã hội của tỉnh Chất lượng dạy học ngoại ngữ các cấp học, bậc học còn thấp, không đồng đều giữa các vùng miền; trình độ ngoại ngữ của học sinh còn hạn chế, nhiều em chưa đủ năng lực để sử dụng ngoại ngữ làm công cụ giao tiếp một cách tự tin; sau khi tốt nghiệp phổ thông, hiệu quả sử dụng ngoại ngữ của học sinh còn thấp trong các môi trường làm việc có yếu

tố nước ngoài hoặc theo học các chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài; một bộ phận giáo viên chưa quan tâm đến đổi mới phương pháp giảng dạy; cơ sở vật chất, phương tiện, đồ dùng dạy học dành cho môn ngoại ngữ thiếu thốn, nghèo nàn, không đồng bộ, phòng học còn thiếu, lớp học ngoại ngữ còn quá đông.

Đối với ngành giáo dục và đào tạo , nhằm mục đích góp phầngiảm thiểu những khó khăn, thách thức nêu trên, cần thiết phải có những biệnpháp cụ thể để nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong các cơ sở giáodục và đào tạo, trong đó yếu tố đóng vai trò quan trọng là nâng cao năng lực của

DỰ THẢO

………

Trang 4

đội ngũ giáo viên, triển khai chương trình học ngoại ngữ mới bắt buộc ở các cấphọc và tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và họcngoại ngữ.

Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Đề án “ Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân

giai đoạn 2008-2020” đã xác định mục tiêu chung là “ đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học nhằm đến năm 2020 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực ngoại ngữ của nguồn nhân lực, biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, càng khẳng định sự cần thiết phải xây dựng

Đề án: “Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục giaiđoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025” trên địa bàn tỉnh

II CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII nhiệm kỳ2015-2020

- Luật Giáo dục năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Giáodục (Nghị định 75/CP, Điều lệ trường học, Quy chế về tổ chức và hoạt động củacác cơ sở giáo dục- đào tạo )

- Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2008 của Thủ tướngChính phủ về phê duyệt Đề án “ Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dụcquốc dân giai đoạn 2008-2020”

- Quyết định số 66/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Bộtrưởng Bộ GDĐT về việc quy định Chương trình giáo dục thường xuyên về tiếngAnh thực hành

- Kế hoạch số 855/KH-BGDĐT ngày 03/12/2010 của Bộ GD&ĐT về việctham gia thực hiện Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dângiai đoạn 2008-2020 của chương trình phát triển giáo dục trung học;

- Quyết định số 3321/QĐ-BGDĐT ngày 12 tháng 8 năm 2010 của Bộtrưởng Bộ GDĐT về việc ban hành Chương trình thí điểm tiếng Anh tiểu học

- Quyết định số 01/QĐ-BGDĐT ngày 3 tháng 1 năm 2012 của Bộ trưởng

Bộ GDĐT về việc phê duyệt Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Anhthí điểm cấp THCS

- Quyết định số 5209/QĐ-BGDĐT ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Bộtrưởng Bộ GDĐT về việc phê duyệt Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếngAnh thí điểm cấp THPT

Trang 5

- Quyết định số 3456/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Bộtrưởng Bộ GDĐT về việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếngAnh thí điểm cấp THCS

- Quyết định số 3702/QĐ-BGDĐT ngày 10 tháng 9 năm 2013 của Bộtrưởng Bộ GDĐT về việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếngAnh thí điểm cấp THPT

- Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 6/6/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh

về xây dựng Kế hoạch dạy và học tiếng Anh cấp Tiểu học giai đoạn 2011-2020

- Quyết định số 3456/QĐ- UBND ngày 20/10/2011 của Chủ tịch UBNDtỉnh về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển sự nghiệp Giáo dụctỉnh đến năm 2020

- Quyết định số 986/QĐ-UBND ngày 24/3/2015 của Chủ tịch UBNDtỉnh về việc thực hiện Nghị Quyết số 44/2014/NQ-CPngày 06/9/2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành độngthực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa XI

Trang 6

Phần thứ hai THỰC TRẠNG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN NAY

I Thực trạng dạy học ngoại ngữ đối với giáo dục phổ thông

1 Quy mô, mạng lưới trường lớp

Quy mô giáo dục phát triển mạnh, toàn tỉnh có 1465 trường phổ thông,trong đó có 708 trường Tiểu học; 12 trường Tiểu học và THCS; 637 trườngTHCS; 6 trường THCS & THPT; 93 trường THPT công lập; 1 trường THCSngoài công lập; 8 trường THPT ngoài công lập

Toàn tỉnh có 17.895 lớp với 563.029 học sinh, trong đó cấp Tiểu học có10.124 lớp với 275.897 học sinh; cấp THCS có 5.532 lớp với 192.030 học sinh;cấp THPT có 2.239 lớp với 95.102 học sinh Hiện nay, ngoại ngữ được dạy chủyếu là tiếng Anh, chỉ có trường THPT Chuyên Lam Sơn có 03 lớp học TiếngNga (94 học sinh), 03 lớp học Tiếng Pháp (104 học sinh) với tổng số 198 học

sinh (chiếm 0,2% số học sinh THPT) (Phụ lục 1)

2 Chương trình dạy học

2.1 Chương trình dạy học bằng tiếng Anh

Cấp Tiểu học đang học theo chương trình tiếng Anh tự chọn (2 tiết/tuần)theo quy định của Bộ GD&ĐT Năm học 2010-2011, tỉnh mới bắtđầu dạy thí điểm Tiếng Anh cấp Tiểu học theo chương trình mới từ lớp 3 ở cáchuyện: Đông Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, Quảng Xương, TP với sốlượng 22 lớp theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT Năm học 2016-2017, trên 22 đơn vịhuyện, thị xã, thành phố đã triển khai chương trình tiếng Anh 10 năm cấp Tiểuhọc theo Đề án NNQG 2020

Đối với chương trình dạy học tiếng Anh cấp THCS và THPT: Từ năm học2013-2014 trên địa bàn tỉnh chỉ còn 2 chương trình: Chương trình dạy học tiếngAnh 7 năm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Chương trình dạy học tiếng Anh 10 năm theoQuyết định số 01/QĐ-BGDĐT ngày 03/1/2012 và Quyết định số 5902/QĐ-BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Năm học 2016-2017, trên 21 đơn vị huyện, thị xã, thành phố đã triển khaichương trình tiếng Anh 10 năm cấp THCS theo Đề án NNQG 2020 đến Riêngđối với cấp THPT chỉ mới triển khai dạy học chương trình Tiếng Anh 10 nămđối với 8 trường THPT trên địa bàn tỉnh

2.1 Chương trình dạy học bằng tiếng Nga, tiếng Pháp

Trang 7

Trên địa bàn tỉnh chỉ có trường THPT Chuyên Lam Sơn dạy chương trìnhtiếng Nga và tiếng Pháp với 6 lớp (198 học sinh).

3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ngoại ngữ

Kinh phí nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị tiếp tục được quan tâm Sốtrường phổ thông có điều kiện cơ sở vật chất tốt phục vụ dạy và học ngoại ngữngày một tăng, đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học ngoại ngữ

Tài liệu sách giáo khoa môn ngoại ngữ được trang bị đầy đủ 100% cáctrường phổ thông được trang bị máy tính, có kết nối Internet Giáo viên, học sinh

có điều kiện sử dụng Internet trong dạy học Nguồn học liệu ngày một đa dạng,phong phú, giáo viên, học sinh tích cực hơn trong quá trình dạy học

4 Đội ngũ giáo viên ngoại ngữ

Tương ứng với các chương trình dạy ngoại ngữ hiện nay, giáo viên dạyngoại ngữ ngành giáo dục chủ yếu là giáo viên tiếng Anh được bốtrí ở 3 cấp học như sau:

Cấp THCS có 1038 giáo viên Tiếng Anh tốt nghiệp Đại học và Cao đẳng,trong số đó có 348 giáo viên hệ chính quy (tương đương 33,52%); cấp THPT có

556 giáo viên Tiếng Anh tốt nghiệp Đại học, trong đó có 447 giáo viên hệ chínhquy (tương đương 80,39 %) Cấp THCS có 90 GVG cấp tỉnh (tương đương 8,21

%); cấp THPT có 50 GVG cấp tỉnh (tương đương 8,27%)

Cấp Tiểu học có 128 giáo viên Tiếng Anh hợp đồng trên tổng số 764 giáoviên Tiếng Anh (16,75 %) Một số huyện có số lượng giáo viên tiếng Anh hợpđồng tương đối cao là: huyện Bá Thước (29 GVTA); TP (26GVTA); huyện Thạch Thành (23 GVTA); huyện Như Xuân (18 GVTA)

Kết quả đánh giá trình độ năng lực sử dụng ngoại ngữ của đội ngũ giáoviên tiếng Anh tỉnh (khảo sát ngày 4,5 tháng 12 năm 2012) với đầy

đủ các kỹ năng Nghe, Nói, Đọc và Viết theo Khung tham chi u Châu Âu 6 b cế ậc(t A1, A2, B1, B2, C1, C2 nh sau: ừ A1, A2, B1, B2, C1, C2 như sau: ư

độ C2

Giáoviênđạttrình

độ C1

Giáoviênđạttrình

độ B2

Giáoviênđạttrình

độ B1

Giáoviênđạttrình

độ A2

Giáoviênđạttrình

độ A1

Giáoviênkhôngđạt trình

Trang 8

ngoại ngữ và phương pháp giảng dạy Đến nay, đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữcủa tỉnh về cơ bản đáp ứng được yêu cầu theo chuẩn mới quy định của Bộ Giáodục và Đào tạo về Khung NLNN, trong đó cấp Tiểu học đạt 89,62%; cấp THCS

đạt 70,9%; cấp THPT đạt 34,45% (Phụ lục 2).

5 Chất lượng dạy học ngoại ngữ

Chất lượng giáo dục mũi nhọn: năm học 2016-2017, trong kỳ thi học sinhgiỏi quốc gia môn tiếng Anh, có 1 học sinh đạt giải Ba, 5 học sinh đạt giảikhuyến khích; trong 3 năm học liên tục (2013-2014, 2014-2015, 2015-2016) đã

có 3 học sinh đạt giải Nhất, 3 học sinh đạt giải Nhì, 2 học sinh đạt giải Ba cuộcthi Tài năng tiếng Anh cấp toàn quốc dành cho học sinh phổ thông Số lượng họcsinh đạt giải Nhất kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn tiếng Anh năm học 2016-

2017 cấp THCS đạt 12,5 %; cấp THPT đạt 6,49%;

Chất lượng giáo dục đại trà: Cấp Tiểu học có 167767 học sinh xếp loạiHoàn thành, đạt 99,5 %; cấp THCS có 4022 học sinh xếp loại Giỏi, đạt 2,27 %( toàn tỉnh đạt 10,96%); cấp THPT có 2682 học sinh xếp loại Giỏi, đạt 2,82 %(toàn tỉnh đạt 7,71%)

Kết quả học tập môn tiếng Anh 5 năm vừa qua cho thấy tỷ lệ học sinh cóđiểm TBM môn tiếng Anh từ trung bình trở lên có chiều hướng tăng cao Tuynhiên, tỉ lệ học sinh yếu tăng dần từ cấp Tiểu học lên THCS lên THPT, ở cấp

THPT, tỉ lệ học sinh yếu khoảng 30% (Phụ lục 3).

Kết quả thi tốt nghiệp THPT môn tiếng Anh 5 năm gần đây cho thấy, tỷ lệhọc sinh có điểm thi môn tiếng Anh từ trung bình trở lên (điểm 5,0) trong kỳ thitốt nghiệp THPT năm học 2011 - 2012 đạt trên 50% và có chiều hướng tăng lênvào các năm học 2012 - 2013 và 2013 - 2014 nhưng trong 2 năm học gần đây lạigiảm xuống một cách đáng kể, thậm chí chỉ bằng một nửa so với năm 2011 -

2012 (Phụ lục 3).

II Thực trạng dạy học ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục thường xuyên (GDTX)

1 Quy mô dạy và học ngoại ngữ

Quy mô học ngoại ngữ trong các cơ sở GDTX ngày càng phát triển và mởrộng, cả về số lượng học viên cũng như các trung tâm/cơ sở dạy và học ngoạingữ không chính quy Hiện nay các cơ sở GDTX rất đa dạng, tuy nhiên có thểphân thành 2 loại hình như sau:

- Các cơ sở GDTX công lập: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 27

trung tâm GDTX cấp huyện, thị xã, thành phố Số học viên học bổ túc văn hóaTHCS và bổ túc văn hóa THPT ngày càng tăng Ngoại ngữ là môn khuyến khíchcho học viên ở các lớp bổ túc THCS hoặc bổ túc THPT Do đó, nhiều trung tâm

Trang 9

GDTX còn mở các lớp học ngoại ngữ buổi tối cho những người có nhu cầu.Tổng số học viên học tiếng Anh tại các trung tâm là: 2780 học viên

- Các cơ sở/ trung tâm ngoại ngữ: Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 37

Trung tâm ngoại ngữ, Ngoại ngữ - Tin học đang hoạt động Hiện nay, tại cáctrung tâm này có 475 lớp học ngoại ngữ, trong đó: lớp tiếng Anh có 461 lớp; lớptiếng Nhật có 10 lớp; lớp tiếng Hàn có 4 lớp Tổng số học viên là 7736 học viên,trong đó có 7436 học viên học tiếng Anh; 150 học viên học tiếng Nhật; 150 họcviên học tiếng Hàn

- Chương trình tiếng Anh bổ túc THPT cũ với tổng số tiết cho cả 3 lớp là:

256 tiết tương đương chương trình học tiếng Anh THPT cũ (297 tiết)

- Chương trình tiếng Anh hệ 7 năm

- Chương trình tiếng Anh A, B, C do Bộ GD&ĐT ban hành

Sau khi học xong chương trình ngoại ngữ của các trung tâm, học viên cóthể đạt trình độ tương đương với tiếng Anh của học sinh THPT, tức là có khảnăng nghe, nói về những vấn đề sinh hoạt, học tập hằng ngày, viết được thư traođổi với bạn bè và có khả năng đọc hiểu các tài liệu đơn giản

Đối với các cơ sở, trung tâm ngoại ngữ: giáo trình, tài liệu bao gồm cácloại tài liệu, giáo trình tự biên soạn phù hợp với yêu cầu của người học

3 Đội ngũ giáo viên

Đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ trong các cơ sở GDTX vừa thiếu về sốlượng, vừa yếu về chất lượng Hiện nay tại các trung tâm GDTX có 26 giáo viêntiếng Anh Đội ngũ giáo viên ngoại ngữ chủ yếu là hợp đồng, nhìn chung cónhiều hạn chế Các Trung tâm GDTX tỉnh, huyện thường không có biên chế giáoviên dạy ngoại ngữ vì đây là môn học khuyến khích

Tại các cơ sở, trung tâm ngoại ngữ: có 166 giáo viên trục tiếp giảng dạy,trong đó có 12 giáo viên nước ngoài (9 giáo viên tiếng Anh, 3 giáo viên tiếngNhật) Đội ngũ giáo viên đều tốt nghiệp cao đẳng trở lên trong đó chủ yếu là tốtnghiệp Đại học sư phạm ngoại ngữ

4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ngoại ngữ

Trang 10

Các trung tâm GDTX hầu như chưa được đầu tư về kinh phí, về biên chế,

về cơ sở, trang thiết bị dạy và học ngoại ngữ Nhiều trung tâm không có cảnhững trang thiết bị tối thiểu như: máy cassette, hệ thống tranh, ảnh dạy ngoạingữ theo danh mục thiết bị, đồ dùng dạy học do Bộ GD&ĐT quy định

5 Chất lượng dạy học ngoại ngữ

Chất lượng dạy học trong GDTX còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu.Dạy và học ngoại ngữ trong các trung tâm GDTX chưa được coi trọng, chưađược đầu tư về kinh phí, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên Nhiều học viên bổtúc THCS, bổ túc THPT không được học ngoại ngữ vì không phải môn học bắtbuộc Điều này hạn chế khả năng hòa nhập của các em vào THPT chính quyhoặc học lên đại học Một số học sinh không được học ngoại ngữ ở THCS rấtkhó có điều kiện học tiếp theo chương trình tiếng Anh ở bậc THPT chính quy

Chất lượng dạy học ngoại ngữ ở các cơ sở GDTX còn thấp so với yêu cầu,quy định của Bộ GD&ĐT về chứng chỉ A, B, C, chưa đáp ứng được yêu cầu củangười học, của xã hội Nhiều người học đi học lại mà không hiệu quả, nhiềungười có chứng chỉ ngoại ngữ A, B, C nhưng năng lực lại không tương xứng

III Thực trạng dạy học ngoại ngữ trong các trường Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề

1 Quy mô dạy và học ngoại ngữ

Toàn tỉnh có 16 trường Cao đẳng và trung cấp, tổng số lớp học ngoại ngữnăm học 2016 - 2017 là 236 lớp với 5.607 HSSV

Môn học tiếng Anh là môn học chung bắt buộc đối với hệ Trung cấp và 120tiết cho hệ Cao đẳng Tuy nhiên, hầu hết HSSV chỉ chú tâm học để đủ điểm, khôngđầu tư nhiều thời gian để rèn luyện các kỹ năng (Nghe, Nói, Đọc, Viết) nên chấtlượng chưa đạt yêu cầu đề ra

2 Chương trình dạy học

Chương trình khung về ngoại ngữ do Bộ GDĐT quy định là 60 - 120 tiết,tùy theo hệ tuyển và thời gian đào tạo Trên cơ sở chương trình khung, cáctrường tự xây dựng sách giáo khoa cho từng ngành nghề đào tạo phù hợp vớitừng điều kiện cụ thể của các trường Tuy nhiên, trong thực tế, chương trìnhngoại ngữ hiện tại chỉ đáp ứng các mục đích sau:

- Trang bị kiến thức ngữ pháp cơ bản

- Cung cấp kiến thức cơ bản phục vụ giao tiếp hàng ngày

- Đọc tài liệu chuyên môn đơn giản

- Đáp ứng yêu cầu về thi tuyển công chức

3 Đội ngũ giáo viên

Trang 11

Đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ trong các trường Cao đẳng, trung cấpchuyên nghiệp và dạy nghề chủ yếu là giáo viên tiếng Anh Các giáo viên đều cótrình độ sư phạm hoặc được bồi dưỡng sư phạm Đa số giáo viên ngoại ngữ là

cán bộ trong biên chế hoặc là đội ngũ cơ hữu của trường (Phụ lục 6).

4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ngoại ngữ

Trang thiết bị dạy ngoại ngữ ở các trường Cao đẳng, trung cấp chuyênnghiệp và dạy nghề còn hạn chế và không đồng đều Một số trường đã có phòngdạy ngoại ngữ nhưng cũng có trường chưa có cả thiết bị nghe nhìn

5 Chất lượng dạy học ngoại ngữ

Nhìn chung, chất lượng dạy và học ngoại ngữ ở các trường Cao đẳng vàtrung cấp chưa cao; chương trình sách giáo khoa chưa đáp ứng được nhu cầu họcngoại ngữ của từng đối tượng học cụ thể; đội ngũ giáo viên ngoại ngữ khôngđồng đều về trình độ; kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ còn hạn chế, chưa đápứng được yêu cầu giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, ít có cơ hội được bồidưỡng nâng cao trình độ

IV Thực trạng dạy học ngoại ngữ trong các trường Đại học

1 Quy mô dạy và học ngoại ngữ

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 3 trường Đại học, 1 phân hiệu Đại học Y.Tổng số sinh viên học ngoại ngữ là: 16.673 trong đó có 11.673 sinh viên hệchính quy; 392 sinh viên chuyên ngữ

2 Chương trình dạy học

Các trường Đại học thực hiện việc dạy và học ngoại ngữ theo hai chươngtrình khác nhau: đào tạo không chuyên và đào tạo chuyên về ngoại ngữ Cáctrường không chuyên tiến hành việc dạy và học ngoại ngữ nhằm tiếp tục nângcao những kiến thức và kỹ năng ngoại ngữ mà người học đã được học ở nhàtrường phổ thông theo hướng chuyên ngành (các trường thực hiện chương trìnhngoại ngữ không chuyên với thời lượng 20 đơn vị học trình dành cho phần kiếnthức chung và 5-6 đơn vị học trình dành cho ngoại ngữ chuyên ngành) Chỉ riêng

có Đại học Hồng Đức là có tổ chức các khóa đào tạo giáo viên ngoại ngữ cấp

CĐ, ĐH

Hiện chưa có giáo trình ngoại ngữ không chuyên chung cho các trường Hầu hết các trường đều tự biên soạn chương trình và giáo trình cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường

3 Đội ngũ giáo viên

Đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ trong các trường Đại học là: 128 giáoviên trong đó có 2 giáo viên tiếng Pháp; 2 giáo viên tiếng Trung Quốc Các giáoviên đều có trình độ sư phạm hoặc được bồi dưỡng sư phạm Đa số giáo viên

Trang 12

ngoại ngữ là cán bộ trong biên chế hoặc là đội ngũ cơ hữu của trường (Phụ lục 6).

4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ngoại ngữ

Trang thiết bị dạy ngoại ngữ ở các trường Đại học được quan tâm đầu tư ,

hệ thống các phòng học khang trang, đáp ứng được nhu cầu người học

Thư viện trang bị giáo trình, tài liệu tham khảo các trường đảm bảo, đầu tưmua sắm mới giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy với 5.250 đầu sách (132.313cuốn tiếng Việt, 3.777 cuốn ngoại văn), 48.155 số báo tiếng Việt, 4.900 số báongoại văn, 162 đĩa CD cơ sở dữ liệu trong và ngoài nước

5 Chất lượng dạy học ngoại ngữ

Chất lượng dạy và học ngoại ngữ ở các trường Đại học đã và đang đượcquan tâm, đáp ứng nhu cầu của xã hội, người học; các cơ sở đào tạo đã thực hiệnviệc đổi mới dạy học ngoại ngữ trong chương trình giảng dạy với nội dung,chương trình đào tạo phù hợp với các trình độ, ngành nghề dào tạo, góp phầntích cực trong việc nâng cao trình độ ngoại ngữ cho HSSV

Đối với trường Đại học Hồng Đức: Tính đến năm 2015, nhà trường đã đàotạo được hơn 8.000 sinh viên đạt trình độ tiếng Anh chuẩn đầu ra theo địnhhướng TOEIC Năm 2016, theo quy định mới của Bộ GD & ĐT, trường đãchuyển đổi sang dạy học tiếng Anh theo khung NLNNVN và đã đào tạo đượckhoảng 1500 sinh viên theo định hướng khung NLNNVN, đạt trình độ đầu ra cáchọc phần Tiếng Anh 1 và tiếng Anh 2 Trường cũng đã đào tạo và cấp chứngnhận đạt trình độ tiếng Anh B1 cho gần 1000 học viên thạc sỹ các chuyên ngành

do nhà trường tổ chức đào tạo Hiện nay, nhà trường đang tổ chức đào tạo tiếngAnh theo các học phần trong chương trình đào tạo cho gần 4000 sinh viên và họcviên đang theo học ở tất cả các bậc học tại trường

Nhà trường cũng đã triển khai tổ chức các lớp tiếng Anh tăng cường chosinh viên đại học Hồng Đức theo chuẩn đầu ra của nhà trường; TOEIC (2011-2015); Khung NLNNVN (2015-2016), gồm 5 lớp cho SV khoa Tiểu học vàMầm non; triển khai các khóa tiếng Anh theo chuẩn Khung tham chiếu chungChâu Âu (YLE, KET, PET, FCE, TOEIC, IELTS) cho các cơ sở ban ngành củatỉnh và các đối tượng người học khác nhau

V Những hạn chế, yếu kém

1 Về chất lượng dạy học, hiệu quả sử dụng ngoại ngữ

- Chất lượng dạy học ngoại ngữ thấp, có sự chênh lệch giữa các vùngmiền trên toàn tỉnh Số lượng học sinh xếp loại giỏi môn tiếng Anh bậc Tiểu học,

bậc trung học đạt tỷ lệ thấp (Phụ lục 3); điểm tuyển sinh vào lớp 10 THPT môn tiếng Anh còn thấp; số học sinh đạt giải cao môn tiếng Anh trong các kỳ thi học

sinh giỏi cấp tỉnh tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng, trung tâm; khu vực

Trang 13

miền núi hầu như không đạt nhiều giải, hoặc nếu có chủ yếu là giải khuyến

khích.

- Trình độ ngoại ngữ của người học sau khi tốt nghiệp nhìn chung cònhạn chế, nhiều em chưa đủ năng lực để sử dụng ngoại ngữ như một công cụgiao tiếp một cách tự tin

- Hiệu quả sử dụng ngoại ngữ của người học còn thấp, chưa có khảnăng sử dụng ngoại ngữ để tham khảo, nghiên cứu tài liệu nước ngoài hoặctheo học các chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài Trong môi trườnglàm việc, đặc biệt trước yêu cầu hội nhập thì ngoại ngữ là điểm yếu kém củalực lượng lao động

2 Về nhận thức, thái độ của người dạy và người học

- Hầu hết người dạy, người học nhìn nhận ngoại ngữ là một môn kiến

thức, chứ không phải môn học ngôn ngữ cần quá trình thực hành, tập luyện đểđạt được kỹ năng sử dụng ngôn ngữ

- Việc dạy và học ngoại ngữ vẫn chỉ tập trung cho việc thi đỗ môn học mà

ít quan tâm đến việc sử dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp, làm việc

3 Về phương pháp dạy học ngoại ngữ

- Giáo viên vẫn là trung tâm của quá trình giảng dạy, điều đó có nghĩa làngười học vẫn là đối tượng thụ động tiếp thu tri thức, làm theo yêu cầu của giáoviên, ít có sự sáng tạo trong sử dụng kiến thức được học

- Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên ngoại ngữ không đồngđều, khả năng nghe, nói, giao tiếp, sử dụng ngoại ngữ của giáo viên còn rấtnhiều hạn chế, thiếu kinh nghiệm dạy học sát đối tượng học sinh; số giáo viêncốt cán, giáo viên giỏi còn ít nên việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy họcđạt hiệu quả thấp Một bộ phận giáo viên Tiếng Anh được đào tạo ở loại hìnhkhông chính quy (tại chức, văn bằng 2, vừa học vừa làm vv )

4 Về điều kiện dạy học ngoại ngữ

- Chương trình sách giáo khoa còn nhiều bất cập: chưa có chương trìnhSGK chung đối với các trường Đại học, Cao đẳng; chương trình SGK phổthông 7 năm thiếu tính liên thông về thực hành các kỹ năng, chưa cập nhật,không đa dạng về chủ đề để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người học

- Thời lượng dành cho môn ngoại ngữ còn ít, sĩ số học sinh trên lớpđông, không phù hợp với việc tổ chức các hoạt động lôi cuốn và hiệu quảtrong giờ học

- Trang thiết bị phục vụ cho việc học ngoại ngữ còn thiếu thốn, đặc biệt

là máy chiếu, video, phòng luyện âm/thực hành tiếng

Trang 14

- Kiểm tra, đánh giá dạy học ngoại ngữ chủ yếu tập trung vào kiếnthức ngữ pháp và từ vựng.

VI Nguyên nhân của những kết quả đạt được và của những hạn chế, yếu kém

1 Nguyên nhân của những kết quả đã đạt được

1.1 Trong những năm qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước về việc dạy và học ngoại ngữ đã được ban hành Trong đó nhiều chính sách

đã tác động tích cực đến quá trình dạy và học ngoại ngữ như: Chỉ thị 14/CT-TTg

ngày 11/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông với yêu cầu xây dựng đề án dạy và học ngoại ngữ trong trường phổ thông; Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”.

1.2 Chủ trương mở cửa hội nhập và quan hệ hợp tác quốc tế ngày càngsâu rộng và chặt chẽ với các nước có ngôn ngữ phù hợp với ngoại ngữ được dạy

và học trong các nhà trường phổ thông đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăngcường dạy và học ngoại ngữ với yêu cầu và chất lượng, hiệu quả ngày càng cao

1.3 Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh;của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự phối kết hợp của các ngành,các đoàn thể, trong đó có vai trò nòng cốt của Hội Khuyến học các cấp đối vớingành giáo dục đào tạo nói chung và môn tiếng Anh nói riêng

1.4 Công tác quản lý, chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục từ tỉnh đếntrường học đã có tiến bộ hơn Đặc biệt là lòng yêu nghề, ý thức trách nhiệm, sự

cố gắng nỗ lực của đội ngũ nhà giáo đã đóng góp, cống hiến quan trọng nhất choviệc dạy và học ngoại ngữ

1.5 Việc học tập và phát huy kinh nghiệm dạy và học ngoại ngữ của cácđơn vị, cá nhân đã phát triển rộng trên địa bàn toàn tỉnh Vị trí, vai trò và tầmquan trọng của ngoại ngữ trong công cuộc đổi mới và phát triển được nâng cao

2 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

2.1 Nguyên nhân khách quan

2.1.1 Sự phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng miền còn có sự chênhlệch đáng kể, một số khu vực đặc biệt là khu vực miền núi xa điều kiện kinh tếkhó khăn dẫn đến sự quan tâm về học tập nói chung, học ngoại ngữ nói riêng cònhạn chế

2.1.2 Nhu cầu nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ngày càng cao,trong khi đó khả năng đáp ứng của ngân sách Nhà nước và ngân sách của tỉnhcòn hạn chế Kinh phí chi thường xuyên cho các đơn vị, trường học còn ít, khókhăn trong việc tổ chức hoạt động chuyên môn, đặc biệt là các hoạt động phục

vụ dạy học ngoại ngữ

Trang 15

2.1.3 Đội ngũ giáo viên ngoại ngữ vừa thừa, vừa thiếu cục bộ ở hầu hếtcác cấp học, đặc biệt là ở những địa phương khó khăn, xa xôi, hẻo lánh M ột

số huyện có hiện tượng giáo viên ngoại ngữ phải dạy liên trường

2.1.4 Trình độ chuyên môn và năng lực ngôn ngữ của đội ngũ giáo viêntiếng Anh chưa đồng đều Một bộ phận đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ củatỉnh chưa đạt chuẩn theo yêu cầu của Bộ GDĐT, còn yếu kém về năng lựcchuyên môn, lạc hậu về phương pháp giảng dạy

2.1.5 Hình thức kiểm tra đánh giá về ngoại ngữ còn chưa tương thíchvới quá trình dạy học, chủ yếu là trắc nghiệm 2 kĩ năng (dạy 4 kĩ năng, thi 2

kĩ năng) nên có sự đối phó trong dạy học, dạy học chủ yếu về điểm số Ở cấpTHPT, việc đánh giá ở kì thi THPT quốc gia chủ yếu kiểm tra kiến thứcngôn ngữ (ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm), nên giáo viên cấp THPT phải tậptrung giảng dạy kiến thức ngôn ngữ theo yêu cầu của kì thi

2.1.6 Việc tổ chức dạy học theo hình thức phân ban dẫn tới tình trạnghọc lệch, học tủ của học sinh, học sinh chỉ chọn và tập trung học những mônhọc theo khối để thi Đại học, nhiều em học sinh không quan tâm nhiều hoặckhông có động cơ đối với việc học tập môn ngoại ngữ Trong kì thi tốtnghiệp THPT quốc gia, các cấp quản lý, giáo viên và học sinh chưa quan tâmnhiều đến việc chọn ngoại ngữ làm môn thi tốt nghiệp THPT

2.1.7 Môi trường học tập và điều kiện xã hội nói chung chưa hỗ trợviệc học tập ngoại ngữ, chưa tạo động lực cho học sinh trong học tập vànâng cao trình độ ngoại ngữ

2.2 Nguyên nhân chủ quan

2.2.1 Cấp uỷ, chính quyền ở nhiều nơi vẫn chưa đặt đúng tầm, đúng mức

vị trí vai trò của việc dạy và học ngoại ngữ, chưa phát huy được sức mạnh tổnghợp của cả hệ thống chính trị để thực hiện nhiệm vụ giáo dục

2.2.2 Do chính sách, quy chế về dạy và học ngoại ngữ chưa đầy đủ,chưa nhất quán và chưa cập nhật nên công tác quản lí, chỉ đạo việc dạy vàhọc ngoại ngữ ở các đơn vị huyện, thị xã, thành phố, trường học còn chungchung, thiếu cụ thể, thiếu khâu đột phá Một số chế độ chính sách cho giáoviên nói chung và giáo viên ngoại ngữ nói riêng còn bất cập nên chưa động viênkhuyến khích giáo viên yên tâm công tác

2.2.3 Nhận thức của một bộ phận lớn nhân dân, phụ huynh học sinh cònhạn chế, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại chưa tạo ra được phong trào thi đua họctập ngoại ngữ sôi nổi cho người học

2.2.4 Một bộ phận giáo viên ngoại ngữ chưa nêu cao tinh thần tráchnhiệm, tận tâm, tận tuỵ với nghề, chưa thực hiện tốt việc nâng cao năng lực tiếngAnh, đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin, đa dạng hóatài liệu giảng dạy từ các nguồn như: sách báo, tranh ảnh, phim, Internet vv…

Trang 16

2.2.5 Môi trường tiếng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy và họcngoại ngữ Ở các trường phổ thông, tình trạng giáo viên ngoại ngữ sử dụng ngônngữ tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) để giảng dạy vẫn còn phổ biến

2.2.6 Tinh thần, thái độ học tập ngoại ngữ một cách thụ động cũng là mộtnguyên nhân chính dẫn tới kết quả học tập môn ngoại ngữ chưa đạt yêu cầu bởi

vì đa số người học cho rằng ngoại ngữ (tiếng Anh) là ngôn ngữ nước ngoài, việchọc tập ngoại ngữ chỉ mang tính chất tạm thời không phải là ngôn ngữ cần thiết

để sử dụng cho công việc hoặc giao tiếp hàng ngày

Trang 17

Phần thứ ba MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIAI ĐOẠN 2016-2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025

2 Mục tiêu cụ thể

2.1 Giáo dục phổ thông:

Tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ theo chươngtrình 7 năm hiện hành (từ lớp 6 đến hết lớp 12); triển khai thực hiện chương trìnhgiáo dục 10 năm bắt đầu từ lớp 3 môn ngoại ngữ bắt buộc theo lộ trình dự kiến:

- Cấp Tiểu học: tiếp tục triển khai chương trình tiếng Anh mới 10 năm và

mở rộng dần quy mô để đạt 80% số học sinh Tiểu học học theo chương trình mới

từ năm học 2020-2021

- Cấp THCS: triển khai dạy chương trình mới từ lớp 6 với khoảng 70 % số

học sinh THCS được học theo chương trình mới vào năm 2020-2021

- Cấp THPT: triển khai dạy chương trình tiếng Anh mới 10 năm cho học

sinh THPT đến năm học 2020-2021 khoảng 20% số học sinh THPT học theochương trình mới

Tiếp tục triển khai dạy và học các ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh; tổchức dạy ngoại ngữ 2 ở những trường có điều kiện về cơ sở vật chất, về giáoviên; giảng dạy một số môn khoa học bằng tiếng Anh ở trường THPT chuyênLam Sơn và một số trường điển hình của Đề án dạy học ngoại ngữ theo lộ trìnhquy định của Đề án NNQG 2020

2.2 Giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục thường xuyên và dạy nghề:

- Triển khai chương trình đào tạo tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáodục nghề nghiệp cho khoảng 10% số lượng học sinh trường dạy nghề, trung cấpchuyên nghiệp vào năm 2017-2018 và đạt 50% vào năm học 2020-2021

- Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong chương trình giáo dục thườngxuyên với nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với các cấp học, trình độ đào

Trang 18

tạo, góp phần tích cực vào công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ chonguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện đa dạng hóacác hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu người học.

2.3 Giáo dục Đại học:

Triển khai chương trình đào tạo tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáodục đại học cho khoảng 10-20% số lượng sinh viên đại học từ năm 2017-2018;đạt khoảng 50% vào năm học 2019-2020 và đạt 100% vào năm 2025

2.4 Đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cho đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán

bộ, công chức, viên chức:

- Nâng cao trình độ ngoại ngữ cho đội ngũ giảng viên, giáo viên tiếngAnh Phấn đấu vào năm 2020 có 100% giáo viên ngoại ngữ các cấp học phổthông đạt chuẩn về năng lực ngôn ngữ theo quy định; ít nhất 80% giáo viên đượcbồi dưỡng phương pháp giảng dạy; trên 50% trường phổ thông được trang bịphòng dạy học ngoại ngữ, trang thiết bị dạy học ngoại ngữ và học liệu ngoại ngữtối thiểu

- Đối với cán bộ, công chức, viên chức (có chuyên môn đào tạo khôngphải là ngoại ngữ): Phấn đấu có tỉ lệ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ

sở giáo dục có trình độ tiếng Anh từ B1 trở lên đạt 10% vào năm 2020

II NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền, tạo bước phát triển mạnh mẽ đối với công tác dạy và học ngoại ngữ đến năm 2025

Các cấp uỷ Đảng, chính quyền quán triệt sâu sắc các quan điểm, chínhsách của Đảng về công tác dạy và học ngoại ngữ, trên cơ sở đó có chủ trươngphù hợp để lãnh đạo, chỉ đạo công tác dạy và học ngoại ngữ ở cơ sở, làm thayđổi nhận thức của các cấp, các ngành đối với công tác dạy học ngoại ngữ Đặcbiệt phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị để nâng cao chất lượng dạy vàhọc ngoại ngữ; triển khai thực hiện Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008

của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong

hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”, tạo ra phong trào thi đua học

tập ngoại ngữ, phát triển mạnh mẽ về chất lượng dạy và học ngoại ngữ trên địabàn tỉnh

2 Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dạy

và học ngoại ngữ

Tăng cường tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức toàn xã hội về tầmquan trọng của ngoại ngữ trong thời kỳ hội nhập, giúp cho người dạy, người họchiểu rõ các yêu cầu, mục tiêu mới của việc dạy học ngoại ngữ và thay đổi cácnhận thức, hành vi chưa đúng (trong quản lý, giảng dạy, học tập) đối với việcdạy và học ngoại ngữ (dạy học chạy theo điểm số, đối phó thi cử, dạy chay, họclệch,…)

Trang 19

Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống vànâng cao nhận thức, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Nhà giáo, trên cơ sở đóphát huy tính chủ động, tinh thần trách nhiệm, ý thức công dân trong việc thựchiện nhiệm vụ được giao, phát triển mạnh mẽ công tác dạy học ngoại ngữ

3 Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động dạy và học ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục

3.1 Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ các cấp học, bậc học

- Tiếp tục triển khai chương trình tiếng Anh 7 năm bắt đầu từ lớp 6 và 10năm bắt đầu từ lớp 3

- Khảo sát, đánh giá chất lượng ngoại ngữ đối với học sinh vào lớp đầucấp, tổ chức có hiệu quả công tác bồi dưỡng học sinh khá giỏi, phụ đạo học sinhyếu kém để tăng tỷ lệ học sinh giỏi, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém; duy trì và tăng

tỷ lệ học sinh học ngoại ngữ

- Khuyến khích các trường học có nhu cầu và điều kiện thực hiện cácchương trình song ngữ, xây dựng các chương trình dạy và học ngoại ngữ vớithời lượng nhiều hơn và với trình độ năng lực ngoại ngữ cao hơn so với Chươngtrình tiếng Anh 10 năm ở các cấp học

- Khảo sát đánh giá dạy và học ngoại ngữ (đầu ra) theo quy định và hướngdẫn của Bộ GDĐT dựa theo Khung trình độ năng lực ngoại ngữ (KNLNN) 6bậc: tốt nghiệp Tiểu học đạt trình độ bậc 1 theo KNLNN; tốt nghiệp THCS đạttrình độ bậc 2 theo KNLNN; tốt nghiệp THPT đạt trình độ bậc 3 theo KNLNN

3.2 Tạo môi trường thuận lợi hỗ trợ việc sử dụng ngoại ngữ, nâng cao động cơ học tập ngoại ngữ

- Xây dựng và duy trì môi trường tự học, tự nâng cao trình độ ngoại ngữnhư hệ thống thư viện, mạng Internet

- Tăng cường bồi dưỡng phương pháp, thói quen, khả năng tự học ngoạingữ cho học sinh, phát huy năng lực, sở trường của học sinh

- Khuyến khích mở rộng thực hành giao tiếp bằng ngoại ngữ: Các cấpquản lý giáo dục, giáo viên, phụ huynh cần khuyến khích và tạo ra nhiều cơ hộicho học sinh thực hành giao tiếp bằng ngoại ngữ trong giờ học cũng như bênngoài lớp học Tạo các cơ hội cho học sinh được giao tiếp với các giáo viên bảnngữ

- Tổ chức các cuộc giao lưu, thi Olympic tiếng Anh, thi hát, nói, nghe, viếttiếng Anh, mở các câu lạc bộ tiếng Anh trong các nhà trường

4 Xây dựng, tăng cường đội ngũ giáo viên ngoại ngữ

4.1 Triển khai Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiếng Anhdạy ở các cấp Tiểu học, THCS và THPT đạt chuẩn về KNLNN 6 bậc theo quyđịnh của Đề án NNQG 2020

Trang 20

Tổ chức triển khai các lớp bồi dưỡng giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ,bồi dưỡng đạt chuẩn chính quy cho những giáo viên tốt nghiệp loại hình tại chức

và các lớp bồi dưỡng khác theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT Có chính sách khuyếnkhích giáo viên ngoại ngữ tự học, tự bồi dưỡng đạt chuẩn KNLNN theo quyđịnh

Tăng cường đầu tư để nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo của Trungtâm giáo dục thường xuyên tỉnh, Khoa Ngoại ngữ của trường Đại học Hồng Đức

và các trường Đại học khác đóng trên địa bàn tỉnh để trở thành những đầu mốiđào tạo, liên kết đào tạo; thực hiện việc kiểm tra, liên kết để kiểm tra, đánh giátrình độ, năng lực ngoại ngữ của giảng viên, giáo viên và học sinh, sinh viên củatỉnh

4.2 Đảm bảo đội ngũ giáo viên tiếng Anh đủ về số lượng, có trình độ cao,hợp lý về cơ cấu và đa dạng về nguồn tuyển dụng Tạo cơ chế chính sách để cáctrường được bổ sung đủ số giáo viên ngoại ngữ phù hợp với lộ trình triển khaicủa Đề án Cụ thể là:

- Đối với cấp Tiểu học: Đảm bảo có đủ số lượng giáo viên cho năm học2016-2017, sau đó hàng năm bổ sung thêm bình quân 148 giáo viên cho đến năm2025

- Đối với cấp THCS: Đảm bảo có đủ số lượng giáo viên cho năm học2016-2017, sau đó hàng năm bổ sung thêm bình quân 72 giáo viên cho đến năm2025

- Đối với cấp THPT: Đảm bảo có đủ số lượng giáo viên cho năm học2016-2017, sau đó hàng năm bổ sung thêm bình quân 29 giáo viên cho đến năm2025

- Tiếp tục có kế hoạch bồi dưỡng nâng chuẩn cho giáo viên ngoại ngữ; bồidưỡng lại (lần 2) cho giáo viên ngoại ngữ các cấp học phổ thông đã được bồidưỡng nhưng chưa đạt chuẩn theo quy định để phấn đấu có 100% giáo viênngoại ngữ các cấp học phổ thông đạt chuẩn theo quy định của Đề án NNQG

2020 trong lộ trình đến năm 2020

- Thực hiện nghiêm túc công tác đánh giá, xếp loại giáo viên ngoại ngữ.Việc đánh giá xếp loại giáo viên theo chuẩn của các cấp, bậc học và phải gắn vớiviệc đánh giá kết quả học tập của người học, đặc biệt đối với các lớp có học sinhchuẩn bị tốt nghiệp

4.3 Khuyến khích và tạo cơ chế cho các trường THPT, đặc biệt là trườngTHPT Chuyên Lam Sơn có chương trình ngoại ngữ tăng cường hoặc song ngữmời giáo viên bản ngữ hoặc các giáo viên dạy ngoại ngữ do các tổ chức tìnhnguyện của các nước nói tiếng Anh Ưu tiên cử giáo viên trẻ thuộc các bộ mônToán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học đi học ngoại ngữ để đạt trình độ tốithiểu B1 Xây dựng lộ trình chọn cử giáo viên trung học ở các bộ môn này đi học

Ngày đăng: 23/05/2017, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w