1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cột xơnur trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của dân tộc cơtu ở tỉnh quảng nam

221 518 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 8,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu, tìm hiểu ý nghĩa và vai trò biểu tượng của cột tế Xơnur trong nghi lễ hiến sinh đối với đời sống văn hóa và tín ngưỡng, phản ánh những giá trị đặc trưng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-* -

Lê Anh Tuấn

CỘT XƠNUR TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA-TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC CƠTU Ở TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-* -

Lê Anh Tuấn

CỘT XƠNUR TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA-TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC CƠTU Ở TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 62 31 06 40 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS Nguyễn Chí Bền

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ Cột Xơnur trong đời sống văn hóa - tín

tôi, dựa trên kết quả quá trình thực hiện nghiêm túc, khách quan và chưa từng được công bố Các tài liệu tham khảo, trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà nội, Ngày tháng năm 2017

Nghiên cứu sinh

Lê Anh Tuấn

Trang 4

UBND: Ủy ban Nhân dân

VHDT: Văn hóa dân tộc

VHNT: Văn hóa nghệ thuật

VHTT: Văn hóa thông tin

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VẬN DỤNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC CƠTU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12

1.2 Các lý thuyết nghiên cứu và quan điểm tiếp cận ý nghĩa biểu tượng

của cột lễ hiến sinh 23

1.3 Khái quát về dân tộc Cơtu 32

Tiểu kết………42

Chương 2 : CỘT XƠNUR VÀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA NGƯỜI CƠTU 2.1 Tên gọi, chức năng và cấu trúc cột Xơnur 44

2.2 Quá trình chế tác, điêu khắc cột Xơnur 47

2.3 Giá trị mỹ thuật và ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur 58

2.4 Cột Xơnur phản ánh đặc điểm nghệ thuật tạo hình dân gian Cơtu… 76

Tiểu kết………79

Chương 3 : CỘT XƠNUR VÀ ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI CƠTU 3.1 Đời sống tín ngưỡng của người Cơtu 81

3.2 Cột Xơnur và vai trò của nghi lễ hiến sinh trong đời sống 86

3.3 Xơnur trong một số nghi lễ quan trọng tổ chức hiến sinh trâu 101

3.4 Một số trình diễn xung quanh cột Xơnur 111

Tiểu kết……… 116

Chương 4: MỘT SỐ BIẾN ĐỔI CỦA CỘT XƠNUR TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA - TÍN NGƯỠNG HIỆN NAY 4.1 Một số biến đổi đời sống xã hội Cơtu 118

4.2 Một số biến đổi của cột Xơnur trong đời sống văn hóa - tín ngưỡng 124

4.3 Nhận định về sự biến đổi và nhận thức về vấn đề bảo tồn các giá trị của Xơnur trong bối cảnh hiện nay 138

Tiểu kết……… 149

KẾT LUẬN 151

DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 154

TÀI LIỆU THAM KHẢO 155

GHI CHÚ TỪ NGỮ VIỆT-CƠTU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 168

PHỤ LỤC 173

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong bức tranh văn hóa tộc người vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, dân tộc Cơtu có vai trò quan trọng về mặt lịch sử, đặc trưng ngôn ngữ, phong tục tập quán, hoạt động giao thương, đời sống lễ hội, nghệ thuật tạo hình,… góp phần làm nên sự đa dạng và bản sắc của nhóm người nói ngôn ngữ Môn - Khmer ở Việt Nam

Về mặt ngôn ngữ học, tên gọi tộc người Cơtu/Katu được đại diện cho nhánh ngôn ngữ Katuic thuộc ngữ hệ Môn - Khmer ở Việt Nam và Lào Về mặt dân tộc học, Cơtu là một trong những dân tộc hiện nay ở Việt Nam còn bảo lưu nhiều nét đặc trưng văn hóa nguyên thủy, thể hiện trên nhiều lĩnh vực, trong đó có nghệ thuật tạo hình dân gian Về nghệ thuật tạo hình mang nét đặc trưng riêng, thể hiện trên các loại hình như điêu khắc tượng tròn, mặt nạ, kiến trúc nhà mồ, nhà cộng đồng, trang phục, đặc biệt là cột tế Xơnur trong nghi lễ hiến sinh trâu

1.2 Trong đời sống nghệ thuật tạo hình dân gian Cơtu, Xơnur là tác phẩm điêu khắc đặc sắc trên cả góc độ mỹ thuật lẫn yếu tố tâm linh, trở thành một biểu tượng đặc trưng của một trong những tộc người quan trọng của nhóm Môn - Khmer

ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên Xơnur cùng với kiến trúc Gươl là nơi tập trung nhiều motif trang trí giàu ý nghĩa về giá trị nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh, làm nên một hình ảnh rất biểu trưng của làng Cơtu Trong mối tương quan trên khu vực

cư trú rộng hơn, cột tế Xơnur gắn với nghi lễ hiến sinh trâu mang đậm nét văn hóa

cư dân Môn - Khmer, phản ánh đặc điểm xã hội, đời sống tâm linh và thực hành tín ngưỡng dân tộc Cơtu qua hệ thống “ngôn ngữ biểu tượng”, trong ý nghĩa hướng tới một cuộc sống ấm no, yên vui Tìm hiểu cột Xơnur gắn liền với nghi lễ hiến sinh sẽ góp phần giải mã, tìm hiểu về mặt nguồn gốc và ý nghĩa, gắn với đời sống văn hóa

và tín ngưỡng, những giá trị phản ánh đặc trưng văn hoá tộc người Cơtu

1.3 Trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa Cơtu, từ nhiều góc độ tiếp cận, với quan điểm, phương pháp khác nhau đã đưa đến nhiều giả thuyết, nhận định khác nhau về ý nghĩa biểu tượng của cột tế Xơnur Nhiều nghiên cứu thông qua việc thống kê, ghi chép, khảo tả, đã tìm hiểu, giải mã ý nghĩa các hình tượng hoa văn

Trang 7

điêu khắc, trang trí trên Xơnur về khía cạnh tạo hình hơn là khía cạnh tâm linh và xã hội Mặt khác, những nghiên cứu này, hoặc theo xu hướng đơn lẻ, thiếu tính hệ thống, hoặc mang tính khái quát chung mà chưa đặt Xơnur như một đối tượng nghiên cứu độc lập Thực tế này đặt ra vấn đề nghiên cứu tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng Xơnur một cách hệ thống và chuyên sâu hơn, bằng những phương pháp tiếp cận và quan điểm liên ngành, dưới góc độ lý thuyết chuyên ngành Văn hóa học và các chuyên ngành gần trong nghiên cứu về biểu tượng là Ký hiệu học, Cấu trúc luận, Nhân học biểu tượng

Mặt khác, trong bối cảnh xã hội phát triển cùng với quá trình mở rộng giao thương, giao lưu, đã tác động đến môi trường hình thành và tồn tại của cột Xơnur, dẫn đến những biến đổi mang tính tất yếu và chủ quan Trong đó, sự biến dạng, giản lược hay thay thế cột Xơnur trong một số lễ đâm trâu là một trong những điểm đáng quan tâm, cả trên khía cạnh tạo hình lẫn tính thiêng Sự biến đổi của Xơnur về mặt hình thức và ý nghĩa, một mặt dẫn đến việc đánh mất ý nghĩa nhân sinh của nghi lễ hiến sinh trâu, mặt khác gây nên những nhận thức sai lệch gắn với cảnh bạo lực, giết hại súc vật của một nghi lễ quan trọng của dân tộc Cơtu

1.4 Biểu tượng là một loại ngôn ngữ, là chìa khóa để khám phá đời sống văn

hóa của cộng đồng tộc người Toàn thư quốc tế về phát triển văn hoá của UNESCO

nhận định văn hoá là tập hợp các hệ thống biểu tượng, biểu tượng là nền tảng của văn hóa, biểu tượng có vai trò quan trọng đối với thực tế đời sống cũng như nghiên cứu khoa học [144] Biểu tượng và nghiên cứu biểu tượng nói chung là một vấn đề

đã được quan tâm ở nhiều cộng đồng tộc người, của nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau, trên nhiều khía cạnh Ở Việt Nam, xu hướng nghiên cứu biểu tượng nói chung thường được dẫn dắt và khám phá dưới góc độ văn hóa dân gian, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, nghệ thuật tạo hình/điêu khắc, Tuy nhiên, vẫn chưa

có nhiều công trình tiếp cận nghiên cứu ý nghĩa biểu tượng của cột tế của một tộc người cụ thể trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng Thực tế đó đặt ra yêu cầu tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng của cột tế Xơnur, góp phần cung cấp thêm dẫn chứng nghiên cứu trường hợp cụ thể về ý nghĩa biểu tượng của cột hiến sinh ở một tộc

Trang 8

người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer ở Việt Nam và Đông Nam Á Hơn thế, việc lựa chọn cột Xơnur trong nghi lễ hiến sinh làm đối tượng nghiên cứu, luận án

sẽ mang đến những quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận mới, nhìn nhận mới mang tính liên ngành Văn hóa học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, tìm hiểu ý nghĩa và vai trò biểu tượng của cột tế Xơnur trong nghi lễ hiến sinh đối với đời sống văn hóa và tín ngưỡng, phản ánh những giá trị đặc trưng của văn hóa Cơtu truyền thống

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát quy trình chế tác, ghi chép, giải thích các motif, hoa văn trang trí, qua đó nêu lên được những giá trị đặc trưng về mặt nghệ thuật tạo hình và ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur;

- Tìm hiểu ý nghĩa, vai trò của cột Xơnur đối với đời sống xã hội và tín ngưỡng của người Cơtu, thông qua các nghi lễ hiến sinh cụ thể

- Xem xét đánh giá sự biến đổi của cột Xơnur trong bối cảnh hiện nay về mặt hình thức cũng như nội dung, vai trò, ý nghĩa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

tộc Cơtu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về không gian nghiên cứu:

Luận án lựa chọn địa bàn nghiên cứu là vùng cư trú lâu đời của người Cơtu, trong đó tập trung vào địa bàn huyện Hiên, nay là huyện Đông Giang và Tây Giang, tỉnh Quảng Nam Các điểm lựa chọn đảm bảo tính điển hình và đáp ứng được sự đa dạng, khách quan và đa chiều của đối tượng nghiên cứu:

- Địa bàn huyện Đông Giang và Tây Giang là cư trú chủ yếu và lâu đời của người Cơtu, nghiên cứu thực hiện ở các xã Dang, A Vương, Ka Dăng, Mà Cooih,

Ta Lu, A Rooi, Prao,

Trang 9

- Địa bàn nghiên cứu đảm bảo đủ các nhóm Cơtu vùng thấp đến cao gồm: [a] Nhóm vùng cao (xã Dang, Tây Giang; Ka Dăng, Đông Giang); [b] Nhóm vùng giữa (xã A Vương, Tây Giang; xã Ma Cooih, Tà Lu, Arooi, Za Hung, Prao, Đông Giang); [c] Nhóm vùng thấp (xã Sông Côn, Đông Giang)

- Địa bàn nghiên cứu đảm bảo đủ các vùng cư trú: [i] Vùng cư trú xa trung tâm, thuần dân tộc (xã Ka Dăng, Đông Giang; xã Dang, Tây Giang); [ii] Vùng trung tâm, giao thông thuận lợi, cận cư xen cư với người Kinh (xã Tà Lu, Za Hung, Đông Giang); [iii] Vùng sát với đô thị phát triển (xã Sông Côn, thị trấn Prao)

- Địa bàn nghiên cứu đối sánh: xã Hòa Phú (Hòa Vang, Đà Nẵng), xã Thượng Long và Thượng Quảng (huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế) được chọn làm điểm nghiên cứu đối sánh với tính chất là địa bàn di cư của người Cơtu

* Về thời gian nghiên cứu:

Khung thời gian nghiên cứu được xác định là trong khoảng những năm

1930-1940 của thế kỷ XX đến nay Mốc thời gian này dựa trên tác phẩm Những kẻ

săn máu của Le Pichon xuất bản năm 1938, là nguồn tư liệu sớm nhất cho đến hiện nay viết về dân tộc Cơtu, mà luận án tham khảo và nghiên cứu cùng với nguồn tư liệu thu thập từ thực địa Trên cơ sở đó, thời gian nghiên cứu biến đổi được xác định trong những năm gần đây, dưới tác động của quá trình đổi mới, thực hiện định canh định cư và đô thị hóa ở vùng miền núi

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

- Đóng góp vào lý thuyết nghiên cứu ý nghĩa biểu tượng nói chung và cột hiến sinh nói riêng một trường hợp nghiên cứu cụ thể bằng phương pháp tiếp cận liên ngành và đa ngành

- Cách tiếp cận mới và tư liệu nghiên cứu về cột tế của một trong những tộc người hiện còn bảo lưu nhiều nét văn hóa đặc sắc thông qua việc tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng của cột tế Xơnur trong nghi lễ hiến sinh trâu

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 10

- Đóng góp luận cứ cho việc khẳng định các giá trị, những nét đặc trưng của nghệ thuật tạo hình Xơnur trong đời sống văn hóa Cơtu

- Đóng góp luận cứ vào khẳng định ý nghĩa biểu tượng của cột tế Xơnur đối với đời sống tâm linh và đời sống xã hội người Cơtu

- Đóng góp luận cứ cho việc định hướng tổ chức lễ hội đâm trâu một cách hợp lý, phản ánh bản sắc văn hóa truyền thống qua giá trị cột Xơnur, nghi lễ hiến tế

và những trình diễn xung quanh, vừa đáp ứng yêu cầu bảo tồn vừa là nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần hiện nay của đồng bào Cơtu

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở tham khảo, kế thừa các phương pháp nghiên cứu của những công trình nghiên cứu về biểu tượng trong đời sống văn hóa, để đảm bảo tính mới cũng như phù hợp với chuyên ngành Văn hóa học, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong quá trình nhận thức và tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur một cách hệ thống và chuyên sâu Luận án xác định và sử dụng các phương pháp nghiên cứu của ngành Nhân học biểu tượng, Ký hiệu học, Dân tộc học, Cấu trúc luận, để làm rõ vai trò và ý nghĩa biểu tượng của cột tế Xơnur trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng Những phương pháp này sẽ giúp nghiên cứu sinh tìm hiểu vai trò, ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur từ góc độ nhiều góc độ: những nhận định chung về các motif và biểu tượng gắn với cột tế trong nghi lễ hiến sinh; những diễn giải của người Cơtu gắn với quan niệm về nhân sinh quan, vũ trụ quan; và đưa ra những nhận định của tác giả luận án Đó là những phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp điền dã Dân tộc học: Phương pháp này được sử dụng trong quá trình điền dã, cùng ăn ở, cùng làm tại các làng của người Cơtu: [i] Tiến hành quan sát tổng quan về điểm nghiên cứu một cách có chủ ý, nhằm có được những thông tin và nhận định chung về đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Phương pháp này quan sát nhưng không tham dự, thực hiện quan sát từ xa để miêu tả, ghi chép Dân tộc học [ii] Tiến hành phỏng vấn hồi cố các vị già làng, nghệ nhân điêu khắc, nghệ nhân diễn xướng,… theo các nội dung đã được chuẩn bị, nhằm thu thập các nguồn thông tin dữ liệu truyền thống về đời sống, phong tục tập quán nói chung

Trang 11

và các nghi lễ hiến sinh trâu, cột tế nói riêng [iii] Tiến hành ghi chép, vẽ, chụp ảnh các cột Xơnur, chép các motif hoa văn trang trí, các chủ đề chạm khắc, hệ màu sắc Phương pháp quan sát tham dự của Nhân học: Phương pháp này được sử dụng nhằm công khai tham dự trực tiếp vào thực hành một số nghi lễ hiến sinh trâu hiện nay của người Cơtu Phương pháp quan sát tham dự của Nhân học được thực hiện không có sự chuẩn bị, mà một cách ngẫu nhiên theo thực tế trên địa bàn nghiên cứu, có người Cơtu sinh sống và tổ chức lễ hội Đây là một phương pháp nghiên cứu với quá trình quan sát dài, thu thập thông tin phản ánh bản chất sự việc và hiện tượng một cách tự nhiên, khách quan [i] Tiến hành tham dự nghi lễ đâm trâu trong đám cưới, bỏ mả, mừng lúa mới, khánh thành nhà cộng đồng,…; tham dự từ công đoạn chọn gỗ và tạo tác Xơnur cho đến khi kết thúc lễ cưới và lễ bỏ mả; Cụ thể, nghiên cứu sinh đã thực hiện được 5 đợt quan sát tham dự gồm: lễ đám cưới (thôn Ch’net, xã A Ting; thôn Xà Ơi, xã A vương; thôn Kala, xã Dang); lễ bỏ mả (thôn A réc, xã A vương; thôn Cha ke, thôn A prung, xã Thượng Long), lễ khánh thành Gươl (thôn Xà ơi, xã A vương; thôn Ka Nưm, TT Prao; thôn Tu Ngung, xã A Rooi; Khe Tre, Nam Đông), lễ cầu cúng sức khỏe (thôn Bđhu, xã Dang), lễ cơm mới (TT Tây Giang) [ii] Tiến hành quan sát, ghi chép thông tin qua phỏng vấn tại chỗ những người tham gia nghi lễ (nghệ nhân, thanh niên, chủ lễ, chủ nhà, cán bộ văn hóa,…)

về các motif và hoa văn trang trí trên Xơnur trong nghi lễ đám cưới, lễ ăn cơm mới,

lễ cúng bỏ mả, về quá trình chuẩn bị, về mục đích lễ tế, ý nghĩa của các nghi lễ cúng sống, của máu vật tế,… [iii] Tiến hành chụp ảnh các hoạt động chạm khắc, cúng tế, chuẩn bị thực phẩm, chuẩn bị lễ phục, kiểm tra nhạc cụ,

Phương pháp phỏng vấn Xã hội học: là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu định tính, thu thập thông tin về sự biến đổi của cột Xơnur về hình thức và chức năng, ý nghĩa hiện nay Nghiên cứu sinh đã thực hiện hơn 50 cuộc phỏng vấn dài ngắn khác nhau, sử dụng các câu hỏi định tính, câu hỏi mở đối với các đối tượng nắm giữ thông tin chính, những người hiểu biết về văn hóa tộc người, hay đã từng tham gia lễ hội, nghi lễ như các già làng, chủ làng, nghệ nhân điêu khắc, thanh niên, phụ nữ và một số người làm quản lý văn hóa,…

Trang 12

Phương pháp hệ thống và phân loại: Phương pháp này giúp thống kê và phân loại các loại hình cột tế Xơnur, từ đó tìm ra mẫu số chung và những biến thể, trong từng nghi lễ và các vùng cư trú khác nhau Trên cơ sở đó, luận án sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá về ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng qua các nghi lễ hiến sinh cụ thể Phương pháp này tìm hiểu nguồn gốc

và ý nghĩa các hoa văn, motif trang trí cột Xơnur với các biểu tượng về mặt hình khối, hình học, màu sắc, tên gọi,… trong tương quan về mẫu số chung của các tộc người về ý nghĩa biểu tượng văn hóa Trên cơ sở đó, đối sánh ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur trong không gian nghi lễ hiến sinh và không gian xã hội Cơtu

Phương pháp phân tích cấu trúc: Sử dụng trong nghiên cứu vai trò, chức năng và ý nghĩa của cột Xơnur trong tổng thể cấu trúc của nghi lễ hiến sinh và trong tổng thể cấu trúc xã hội Cơtu, từ đó đi sâu phân tích, tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur trên góc độ xã hội và tâm linh Phương pháp phân tích cấu trúc giúp tìm ra mô hình ẩn sâu trong đó, xác định những mối liên hệ giữa nội dung và hình thức cấu trúc của cột Xơnur trong không gian tâm linh, và phản ánh các khía cạnh

xã hội rộng lớn hơn, tránh cái nhìn đơn lẻ, thiếu hệ thống đối với các yếu tố cấu thành cột Xơnur cũng như môi trường xung quanh như không gian, thời gian, các nghi lễ, diễn xướng và vật tế,… từ đó, thấy được thế giới quan, nhân sinh quan của chủ thể sáng tạo

Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được, luận án tiến hành phân tích, so sánh và tổng hợp nhằm trình bày và đưa ra những đánh giá, nhận định về ý nghĩa biểu tượng cột hiến tế nói chung và cột Xơnur nói riêng, từ đó khẳng định những giá trị, ý nghĩa đặc trưng của nó trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng người Cơtu

6 Dự kiến đóng góp khoa học của luận án

Luận án lựa chọn đề tài Cột Xơnur trong đời sống văn hóa - tín ngưỡng của

dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam, với mong muốn:

- Đóng góp về mặt phương pháp luận trong tiếp cận biểu tượng Xơnur dưới góc độ lý thuyết của chuyên ngành Văn hóa học; phương pháp tiếp cận liên ngành

Trang 13

và đa ngành đối với cột hiến sinh dựa trên lý thuyết nghiên cứu của Ký hiệu học, Cấu trúc luận, Nhân học biểu tượng;

- Đóng góp về mặt khoa học trong việc lựa chọn Xơnur làm đối tượng nghiên cứu chính, độc lập có tính hệ thống với tư cách là một biểu tượng; Xem xét, tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng Xơnur một cách chuyên sâu, có hệ thống, trên cả hai khía cạnh tâm linh và xã hội;

- Đóng góp thêm cứ liệu về trường hợp cụ thể cho lý thuyết liên quan đến vai trò, đặc điểm, tính chất cột lễ hiến sinh; khẳng định vai trò của cột Xơnur trong nhiều khía cạnh đối với đời sống văn hóa xã hội của người Cơtu

- Đóng góp thêm những luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn từ xem xét thực trạng biến đổi văn hóa truyền thống hiện nay ở vùng dân tộc thiểu số trước tác động ngày càng mạnh mẽ của xu hướng đổi mới và phát triển, thông qua tìm hiểu và đánh

giá sự biến đổi cột tế Xơnur trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng của người Cơtu

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu (8tr), Kết luận (3tr), Tài liệu tham khảo (13tr), Phụ lục (40tr), phần chính văn luận án có 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, Cơ sở lý thuyết vận dụng và khái quát về dân tộc Cơtu (32tr)

Chương 2: Cột Xơnur và nghệ thuật tạo hình của người Cơtu (37tr)

Chương 3: Cột Xơnur và đời sống tín ngưỡng của người Cơtu (37tr)

Chương 4: Một số biến đổi của cột Xơnur trong đời sống Văn hóa - Tín ngưỡng của người Cơtu hiện nay (33tr)

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT

VẬN DỤNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC CƠTU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu biểu tượng và cột hiến sinh

- Những nghiên cứu của học giả nước ngoài

Trong đời sống văn hóa - xã hội, biểu tượng được nghiên cứu bởi nhiều luận thuyết, dưới góc độ chuyên ngành lẫn liên ngành như Văn hóa học, Nhân học biểu tượng, Xã hội học, Dân tộc học, Ký hiệu học, Ngôn ngữ học, Nghệ thuật học,… Trong nghiên cứu hiện đại, có nhiều hướng tiếp cận khác nhau tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng, song hướng tiếp cận dựa trên nền tảng lý thuyết của chuyên ngành Ký hiệu học, Cấu trúc luận, Nhân học biểu tượng,… là được chú ý và quan tâm hơn cả

Các công trình nghiên cứu biểu tượng dưới góc độ Ký hiệu học chú trọng những yếu tố cấu thành ký hiệu, bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt, và những quy luật chi phối chúng, xem hệ thống các ký hiệu được sử dụng với một ý nghĩa nhất định trong một bối cảnh xã hội cụ thể, mang lại cho biểu tượng những ý nghĩa cụ thể Tiểu biểu là công trình của Roland Barthes về giải mã các thần thoại theo mô hình cấu trúc về ký hiệu giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt [78; 79] Trong nghiên cứu biểu tượng dưới góc độ Cấu trúc luận, tác giả F Saussure cho rằng ý nghĩa được sinh ra thông qua một hệ thống các khác biệt được cấu trúc trong ngôn ngữ, là quá trình lựa chọn và kết hợp các ký hiệu Trong đó, ký hiệu được tạo ra bởi cái biểu hiện (trung gian) và cái được biểu hiện (ý nghĩa), không phải bởi việc liên hệ đến các thực thể trong thế giới thực mà hơn thế, ý nghĩa của chúng còn được tạo ra bằng việc liên hệ lẫn nhau giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện [36; 140]

Các công trình nghiên cứu ý nghĩa biểu tượng dưới góc độ Nhân học biểu tượng luôn được đề cao đó là bối cảnh ra đời và tồn tại của biểu tượng, gắn với điều kiện văn hóa - xã hội tộc người nhất định Điều này được Leslie White khẳng định trong chuyên luận Biểu tượng: Nguồn gốc và cơ sở ứng xử của con người,

Trang 15

rằng bối cảnh của việc cung cấp ý nghĩa của biểu tượng rất quan trọng [135, tr 451-463], do đó, phải xem xét trong những bối cảnh nhất định mà nó được sinh ra hay lý do để tồn tại

Công trình Biểu tượng trong nghi lễ của người Ndembu của Victor Turner

nghiên cứu tìm hiểu cấu trúc xã hội và tiến trình xã hội người Ndembu Ông cho rằng, biểu tượng luôn gắn với quá trình xã hội, do đó không thể phân tích các biểu tượng mà không nghiên cứu chúng trong một chuỗi thời gian có quan hệ với các sự kiện, phải xem xét biểu tượng trong bối cảnh cụ thể, là môi trường hình thành, tồn tại của nó, đối với biểu tượng tôn giáo, đó là bối cảnh nghi lễ [103, tr 242-274]

Trong công trình của Lucien Lévy Bruhl nghiên cứu về Kinh nghiệm thần bí

và các biểu tượng ở người nguyên thủy, tác giả đã có nhưng phân tích và chỉ dẫn sâu sát và cụ thể khi bàn về bản chất và chức năng của các biểu tượng Với những dẫn chứng sinh động về tín ngưỡng nguyên thủy của các tộc người ở Đông Nam Á, Châu Á, ông đã chỉ ra những chức năng tự nhiên và tượng trưng, tôn giáo và xã hội của các hình thức thờ cúng vật tổ, cây, núi, vị trí linh thiêng, linh hồn,… Quan điểm nghiên cứu của ông đề cao sự tham dự hay kinh nghiệm của con người trong mối quan hệ thần bí với tự nhiên bằng biểu tượng “Con người tác động vào tự nhiên bằng phương tiện là các biểu tượng, có nghĩa là bằng những sự tham gia có điều khiển cũng là con người tin vào giá trị kinh nghiệm thần bí và tin vào những cuộc can thiệp của các thế lực siêu nhiên trong dòng chảy các sự biến” [67, tr 313]

Công trình Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới của tác giả Jean Chevalier và

Alain Gheerbrant được xem là công cụ định hướng trong việc tra cứu tìm hiểu nguồn và ý nghĩa của một số biểu tượng mang tính phổ biến và chung nhất, làm cơ

sở cho việc so sánh đối chiếu với các motif, biểu tượng Công trình đã trình bày khá quy mô và đầy đủ về biểu tượng trong thế giới văn hóa, về những khái niệm, định nghĩa, lý giải về ý nghĩa của các biểu tượng, huyền thoại, chiêm mộng, phong tục,

cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số,… cung cấp “một bảng định hướng chứ không phải một sưu tập các định nghĩa”, giúp chúng ta phân định về mặt thuật ngữ

Trang 16

biểu tượng với biểu hiện, vật hiệu, phúng dụ, ẩn dụ, loại suy, triệu chứng, dụ ngôn, dạng thức,… [58]

Các công trình nghiên cứu về cột hiến sinh cũng khá hiếm hoi, hầu như không có công trình nghiên cứu độc lập mà chỉ nhắc đến trong những mô tả ngắn gọn, gắn với nghi lễ hiến sinh hoặc về nghệ thuật tạo hình nói chung Tác giả G

Condominas khi nghiên cứu Chúng tôi ăn rừng Đá-Thần Gôo, trong phần viết về lễ

hiến tế trâu kết nghĩa của trưởng làng Mnông, có mô tả về hình dáng cột tế, và đưa

ra một vài nhận xét về quá trình chuẩn bị, đó là “vật ấn tượng nhất trong trang trí nghi lễ, là một công việc có tầm quan trọng to lớn đòi hỏi phải rất thận trọng về mặt

ma thuật” [37, tr 42] Nghiên cứu Lễ đâm trâu của người Bana ở tỉnh

Kontum-Cuộc lễ của P.P Guilleminet cho biết việc chuẩn bị tìm kiếm và trang trí cột lễ được thực hiện trong nhiều ngày với nhiều người tham gia [75, tr 128-197] Cột tế được mô tả trong nghi lễ hiến sinh tiến hành quy mô, cẩn trọng và linh thiêng, hướng tới các vị thần linh tối cao, tuy nhiên, lại không có một lời nhận xét về ý nghĩa, nguồn gốc các motif, hình vẽ, điêu khắc

- Những nghiên cứu của học giả trong nước

Trên góc độ nghiên cứu cụ thể, một số chuyên khảo của tác giả Nguyễn Từ Chi được xem là “mẫu hình” trong nghiên cứu biểu tượng văn hóa bằng phương pháp liên ngành Dân tộc học, Nghệ thuật học và Nhân học Một trong những motif

đã được ông “dành nhiều thời gian nghiên cứu và dày công giải mã” đó là đồ họa

hình mặt trời trên trống đồng Đông Sơn trong bài viết Sức sống Đông Sơn [16]

Những ý tưởng nghiên cứu của cố tác giả Nguyễn Từ Chi tiếp tục được tác giả

Nguyễn Duy Thiệu giới thiệu trong bài viết Từ Chi và khát vọng còn dang dở về

mặt trời Đông Sơn trên Tây Nguyên, trong đó có “những ghi chép về nhà mồ và tượng nhà mồ của người Bana, Giarai” Tuy không trực tiếp nghiên cứu về cột tế trâu, tuy nhiên, cách tiếp cận và giải mã các motif trang trên trên nhà mồ người Giarai đã mở ra một hướng giải mã ý nghĩa hoa văn nói chung Trong khi giải mã các motif, bố cục và màu sắc, ông đã đưa ra nhiều giả thuyết về “cây vũ trụ”, sự

Trang 17

phân tầng thế giới “tầng trời”, “cảnh sinh hoạt”, “tầng dưới mặt đất”, “ngày và đêm”,… [93]

Trong hai bài nghiên cứu Cạp váy Mường và Hoa văn cạp váy hoa văn hình

học ông sử dụng phương pháp liên ngành nghiên cứu hoa văn, motif, đã giúp ông khám phá nguồn gốc lịch sử-văn hóa tộc người Từ những mối liên hệ của các hệ hoa văn, motif trang trí, đặc điểm trang phục đến chức năng cạp váy, ông đã đưa ra những nhận định về nguồn gốc, ý nghĩa hệ hoa văn, motif trang trí trên cơ tầng văn hóa của người Mường “Đây không chỉ là một kiểu thức ăn mặc, một lề thói trang trí Đây là những yếu tố hằng xuyên của một lối sống” [15, tr 87-100, 101-122]

Trong các công trình nghiên cứu về các tộc người Miền Trung - Tây Nguyên, cột hiến sinh cũng ít được nhắc đến, hoặc chỉ là những mô tả ngắn gọn, gắn với nghi lễ hiến sinh hoặc về nghệ thuật tạo hình nói chung Đầu tiên có thể kể đến

Quanh chuyện cảnh quan và bộ mặt tộc người của tác giả Nguyễn Từ Chi Ông giả thiết về mối liên hệ của cây cột tế của người Bana trong vai trò kết nối trời đất, thần linh và con người, ông bàn rộng sang “văn hóa cự thạch” là vật nối trục dọc trời với đất, mà có khi được hiểu là ngọn núi hay cột đá Ông đã đưa ra nhận định quan trọng khi cho đó là vật thiêng, vật thông linh giữa trời với đất, thần linh và con người [15, tr 440-445]

Tác giả Ngọc Anh nghiên cứu Các hình thức thờ phụng bộ lạc ở vùng Đông

Á và Đông Nam Á có đề cập đến nghi lễ đâm gấu của người Ainư (Nhật Bản), đã cho rằng “hình thức quan trọng và phổ biến nhất trong nghi thức dâng tế vật hi sinh

ở bộ lạc Ainư là những cây gỗ đặc biệt được bào nhẵn… Đây tựa hồ như vật trung gian làm cầu nối giữa con người và các thần linh” [5, tr 89]

Những nghiên cứu về lễ hội nói chung và nghi lễ đâm trâu nói riêng ở Tây Nguyên của tác giả Ngô Văn Doanh đã có những mô tả đề cập đến cột tế hay cột

buộc trâu Trong công trình Những phong tục lạ ở Đông Nam Á ông cho rằng hiến

sinh tế thần là một tín ngưỡng phổ biến của các dân tộc ở đây, trong đó có đề cập đến cột tế của các tộc người ở Tây Nguyên (Việt Nam) là cột Gâng (Gưng), người Kachin (Myanmar) là cột Shađong và người Bali (Indonesia) Ở người Kachin trong

Trang 18

lễ Manao, người ta làm hai cột tế Shađong (cột đực và cột cái) có dáng tựa như thanh kiếm cắm xuống đất [26, tr 12-13] Nghiên cứu về lễ đâm trâu ở Tây Nguyên, ông cho rằng đây là lễ hội quan trọng và tưng bừng nhất của đồng bào Tuy nhiên, ông dành nhiều về mô tả quy trình lễ đâm trâu, cùng với một vài ông nhận định hiếm hoi về cột tế: “Cột Gưng không chỉ là buộc trâu mà còn là nơi các thần linh sẽ về chứng kiến lễ cúng… Trên ngọn cây nêu được cài nhiều hình trang trí đan hoặc vẽ Bên cạnh cột Gưng chôn một cây gạo - biểu tượng cho sức sống

mãnh liệt” [26, tr 8-12] Trong một nghiên cứu khác về Lễ hội bỏ mả các dân tộc

Bắc Tây Nguyên, cột tế cũng được tác giả Ngô Văn Doanh nhắc đến rất ngắn gọn và

ít thông tin, lý giải tên gọi Gâng Kơpao là cột buộc trâu hay Gâng l’mo là cột buộc

bò [25, tr 198] Có chung đối tượng nghiên cứu, tác giả Nguyễn Duy Thiệu trong

một số công trình nghiên cứu về văn hóa các dân tộc ở Tây Nguyên như: Hoa văn

trên nhà Rông Bahnar (1980), Chất Thượng trên văn hoa trống đồng (1988), đáng lưu ý là bài viết Cột ăn trâu (1992),… đã bàn đến các motif trang trí mang ý nghĩa

trên cột [91; 92]

Trong Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên, tác giả Lưu Hùng cho ta biết sự phổ

biến của nghi lễ hiến sinh, là nét văn hóa lâu đời còn bảo lưu trong đời sống các tộc người Thượng, tuy nhiên không đưa ra nhiều nhận định về cột tế Ông cho rằng trung tâm diễn ra các nghi thức cúng bái là cột lễ buộc con trâu tế Tùy từng loại lễ đâm trâu và phong tục tộc người, cột lễ không giống nhau Đặc biệt, các tộc người Thượng lấy cây gạo hay cây bông gòn làm cột lễ đâm trâu, và dấu tích sau các lễ cúng này là những cây gòn mọc xanh tốt trong làng “Có trường hợp cột dựng đơn giản, nhưng nhiều khi cột lễ (cây nêu) làm cầu kỳ, là cả một công trình nghệ thuật tổng hợp dùng gỗ, tre, kết hợp điêu khắc hội họa [50, tr 177-178]

Trong ghi chép về Lễ hội dâng trâu của người Êđê, cột tế trâu Pơlang được

nhận định là cây vũ trụ (Pơlang Kbao): “Cây vũ trụ cao chừng bảy tám mét, có cắm dao thép quanh thân để biểu tượng sức mạnh thần linh Trên đỉnh có gắn cây tre non uốn hình mặt trăng lưỡi liềm tượng trưng cho vũ trụ… Đây là cột vũ trụ có chức

Trang 19

năng đón mời linh hồn tổ tiên thần thánh về dự, vừa hút linh khí thiên nhiên để giao đãi với mặt đất, núi đồi” [71, tr 1220]

Điểm qua một số công trình nghiên cứu về cột tế cho thấy, trên phạm vi Trường Sơn - Tây Nguyên, tầm quan trọng của nghi lễ hiến sinh đã được nhiều học giả thừa nhận Tuy nhiên, trong những nghiên cứu khái quát, hoặc đi sâu vào một vài lĩnh vực cụ thể, cột tế chưa được chú ý nhiều khi tiếp cận văn hóa tộc người, đã dẫn đến việc bỏ qua đối tượng nghiên cứu quan trọng và thú vị này Các công trình nghiên cứu thường tiếp cận tổng quan, thiếu những nghiên cứu chuyên sâu, xem cột

tế là đối tượng trung tâm Điều này cho thấy, cần có sự đánh giá chuyên sâu về vai trò cột tế dưới góc độ ý nghĩa biểu tượng trong các nghi lễ hiến sinh ở các tộc người

cụ thể, không chỉ về giá trị mỹ thuật, tâm linh mà cả giá trị xã hội

1.1.2 Tình hình nghiên cứu văn hóa Cơtu và cột Xơnur

- Tình hình nghiên cứu văn hóa Cơtu

Công trình về dân tộc Cơtu sớm nhất cho đến hiện nay là “Les Chasseurs de

Sang” (Những kẻ săn máu) của Le Pichon, đăng trong tập san BAVH, (số 4, tập 25),

xuất bản năm 1938 [134] Năm 2011, công trình được tác giả Tạ Đức dịch và nhà xuất bản Thế Giới phát hành [60] Những ghi chép về vùng đất, đời sống, sinh hoạt

và tín ngưỡng của dân tộc Cơtu được phản ánh trong 8 chương sách Trong chương

mô tả về “Làng, những ngôi nhà và nghệ thuật Katu”, “Những lễ hội và những vũ điệu” cung cấp nhiều thông tin, tư liệu về nghệ thuật điêu khắc, trang trí trên những công trình kiến trúc và tín ngưỡng, về lễ hội đâm trâu - không gian hiện diện của Xơnur, cùng với các chú thích, hình vẽ, ảnh chụp minh họa,… là nguồn tư liệu chân thực nhất về dân tộc Cơtu trong những năm đầu thế kỷ XX [PL1: a.1-12, tr.175-177] Trong những năm tiếp theo, nhiều công trình về người Cơtu được xuất bản với những mục đích khác nhau, chủ yếu cung cấp thông tin khái quát về một số tộc

người, ít đi sâu nghiên cứu chuyên ngành Tiêu biểu như Minority groups in the

republic of Vietnam (Các nhóm thiểu số ở Việt Nam Cộng hòa), Sons of the

mountains: Ethnohistory of the Vietnamese central highlands to 1954 (Những đứa

con của núi rừng: Lịch sử tộc người cao nguyên Việt Nam đến năm 1954); The

Trang 20

montagnards of South Viet Nam, A Study of nine tribes của Mole R L (Tộc người miền núi ở Nam Việt Nam: Ghi chép về 9 bộ tộc) [131; 139]

Trong số các học giả nước ngoài nghiên cứu về dân tộc Cơtu thời kỳ này, không thể không nhắc tới nhà ngôn ngữ - Dân tộc học Costello Nancy, với rất nhiều công trình, bài viết về người Cơtu ở Việt Nam và Lào Đáng chú ý là những nghiên cứu về Ngôn ngữ học, đóng góp giá trị cho “Tủ sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt

Nam” như Ngữ vựng Katu (Trung tâm học liệu, Bộ giáo dục xuất bản, 1971), từ

điển Katu-Vietnamese-English (Từ điển Katu-Việt-Anh), được xuất bản bởi Summer Institute Linguitics (Viện Ngôn ngữ Mùa hè, Mỹ, 1991), Sẽ thiếu sót nếu

không nhắc đến những công trình xuất bản ở Lào như: Death and burial in Katu

culture (Cái chết và tang ma trong văn hóa Katu, 1980); Katu society: A

Harmonious way of life (Xã hội Katu: Một lối sống hài hòa, 2003),… [124; 125; 126] Trong đó, chúng ta dễ dàng nhận ra những nét tương đồng, mối liên hệ giữa dân tộc Cơtu ở Lào và Việt Nam

Gần đây, nghiên cứu của các học giả nước ngoài đáng lưu ý là các công trình, báo cáo của hai nhà Nhân học Thụy Điển là A Kai và A Nikolas Tiêu biểu là

Forests, Spirits and High Modernist Development: A Study of Cosmology and Change among the Katuic Peoples in the Uplands of Laos and Vietnam (Rừng,

Thần linh và sự phát triển của chủ nghĩa hiện đại: Một nghiên cứu về Vũ trụ luận

và sự biến đổi giữa người Katu ở vùng cao Lào và Việt Nam), đã được Arhem Nikolas chọn làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Nhân học Mới nhất là bài viết

của Arhem Kaj về Animism and the hunter’s dilemma: Hunting, sacrifice and

asymmetric exchange among the Katu of Vietnam (Thuyết vật linh và thế lưỡng nan của thợ săn: Săn bắn, hiến tế và sự trao đổi không tương xứng ở người Katu Việt Nam, 2016) [116; 117; 118]

Nghiên cứu của các học giả trong nước trước năm 1975 chưa nhiều, có thể

kể đến như Ngọc Anh, Mạc Đường, Võ Quang Nhơn, Lan Đình,… Sau năm 1975, bắt đầu xuất hiện nhiều bài viết về dân tộc Cơtu của các nhà Dân tộc học trên một

số tạp chí chuyên ngành như Đôi nét về quan hệ hôn nhân gia đình người Pacô,

Trang 21

Pahi và Catu ở tây Thừa Thiên Huế (Nguyễn Hữu Thấu, 1976), Về quan hệ hôn

nhân và gia đình người Cơtu (Phạm Quang Hoan, 1979),… nhưng chỉ là “đôi nét”,

“bước đầu” tìm hiểu [45; 90] Năm 1984, Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (tập

2-Các tỉnh phía Nam; tái bản năm 2013) được xuất bản, đánh giá là công trình Dân tộc học đầu tiên dựng lên bức tranh toàn cảnh, là “bách khoa thư” về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Phần viết về dân tộc Cơtu được giới thiệu khái quát, ngắn gọn (16 trang) nhưng đầy đủ các thành tố văn hóa đặc trưng [104]

Năm 1984, công trình Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên do Nguyễn

Quốc Lộc chủ biên, đánh dấu một bước tiến trong nghiên cứu về các nhóm dân tộc

ở Bình Trị Thiên nói chung và người Cơtu nói riêng, từ sau 1975 của giới Dân tộc học ở miền Trung [65] Đây là công trình nghiên cứu và giới thiệu đặc trưng văn hóa “Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên”, được đánh giá là công trình đầu tiên viết về dân tộc Cơtu, Bru-vân Kiều, Tà ôi, Chứt đầy đủ, hệ thống và cụ thể nhất ở miền Trung Tuy nhiên, nhận thấy, nội dung về nghệ thuật điêu khắc trong các chương mặc dù được đánh giá là rất phong phú và nổi bật nhưng nội dung sơ lược Giới thiệu về nghệ thuật tạo hình Cơtu qua kiến trúc Gươl, nhà mồ và Xơnur, tuy nhiên dung lượng quá ít đối với lĩnh vực đặc sắc nhất của tộc người này

Những năm cuối thế kỷ XX và đầu XXI được đánh giá là giai đoạn phát triển nghiên cứu về người Cơtu mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chuyên sâu, ghi nhận nhiều công trình, bài viết trên tất cả các lĩnh vực ngôn ngữ, kinh tế, luật tục, lễ hội, tín

ngưỡng, kiến trúc, tổ chức xã hội, dòng họ, Tiêu biểu như: Nghệ thuật tạo hình

của các dân tộc ít người ở Quảng Nam Ðà Nẵng của Trần Ánh [6], Tìm hiểu văn

hóa Katu của Tạ Đức [33], Katu-Kẻ sống đầu ngọn nước của Nguyễn Hữu Thông chủ biên [97], Góp phần tìm hiểu văn hóa Cơ Tu của Lưu Hùng [51], Tiếng thông

dụng C’tu - Kinh và văn hóa làng C’tu của Briu Liếc [63], Ngôn ngữ biểu tượng

trong đời sống văn hóa của người Cơtu của Đinh Hồng Hải [39],… Nghiên cứu về

Hình tượng con trâu trong tâm thức của người Cơ Tu của Nguyễn Thượng Hỷ [55],

Thế giới quan của người Katu-Những biểu hiện sinh động qua hình tượng động vật

của Trần Đức Sáng, đã có sự tìm hiểu và lý giải motif điêu khắc từ chính người

Trang 22

dân Theo Trần Đức Sáng, những hình tượng đó phản ánh đặc điểm môi trường nơi

cư trú, cũng như ước mơ của họ trong cuộc sống gắn với núi rừng Trường Sơn [82,

tr 98-111] Tuy đã xem xét các hình tượng trang trí dưới góc độ ký hiệu, biểu tượng văn hóa, nhưng những nghiên cứu này lại chưa chỉ ra được vai trò, chức năng xã hội của các biểu tượng

Như vậy, những công trình nghiên cứu về dân tộc Cơtu thời kỳ đầu chủ của các học giả người Pháp hoặc là Mỹ Tuy nhiên, các công trình mang tính tổng quan,

ít mang tính chuyên sâu, trong đó, lĩnh vực nghệ thuật tạo hình bị bỏ quên, Xơnur không được chú ý khảo sát mô tả như một đối tượng nghiên cứu độc lập Những công trình nghiên cứu trước 1975 khá hạn chế về đội ngũ chuyên gia về vùng Trường Sơn - Tây Nguyên Rất hiếm bài viết về dân tộc Cơtu, chủ yếu được nhắc đến trong khảo cứu chung, đăng trên tập san chuyên ngành Đến những năm cuối thế kỷ XX đầu XXI là thời kỳ xuất hiện nhiều chuyên khảo về văn hóa Cơtu một cách cụ thể, chuyên sâu Điểm qua những công trình, bài viết nghiên cứu nổi bật về dân tộc Cơtu, cho thấy nổi lên một vài khoảng trống Đặc biệt, chưa có một công trình độc lập nào nghiên cứu về Xơnur, mà chỉ được đề cập chung, ngắn gọn, sơ sài với những mô tả đơn thuần về đặc điểm hình dáng, cấu tạo Chính vì vậy, hướng nghiên cứu của luận án sẽ góp phần bổ khuyết khoảng trống này

- Tình hình nghiên cứu cột Xơnur

Trong Les Chasseurs de Sang (Những kẻ săn máu) Le Pichon đã mô tả lễ hội

đâm trâu, Xơnur và đưa ra nhận định: “Các giả thiết về cây cột hiến tế rất đa dạng, nhưng theo tôi, vào thời rất xa xưa, nó được dùng trong các lễ hiến tế người và là sự cách điệu hình sinh thực khí” [60, tr 37] Nhận định của ông về Xơnur có hai điểm đáng lưu ý là: [i] dùng để hiến tế người; [ii] hình sinh thực khí cách điệu Nhận định này đã mở ra một hướng tiếp cận nghiên cứu và thảo luận cho luận án, trong mục tiêu làm rõ các giá trị và ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur Mặt khác, việc Xơnur cách điệu ở trang bìa của tác phẩm cho thấy, ngoài giá trị tạo hình cũng như vai trò trong tín ngưỡng, nó được xem như là một hình ảnh biểu trưng của làng Cơtu, bên cạnh những tác phẩm kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu khác [PL1: a.1, tr.175]

Trang 23

Trong Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên, điêu khắc và hội họa được

đánh giá là hai môn nghệ thuật hấp dẫn “đập vào mắt” trước tiên khi đến thăm một ngôi làng Cơtu Tuy nhiên, nó lại chỉ được trình bày khái quát trong một dung lượng ít ỏi, thoáng qua Đáng lưu ý là nhận định cho rằng, “trên cột đâm trâu có nhiều hình tượng liên quan đến cõi sống, cõi chết, nhiều đường dây thông từ đất lên trời (Đung Yang)” [65, tr 217] Nhận định này củng cố cho hướng giải mã tìm hiểu

ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan tộc người

Trong Nghệ thuật tạo hình của các dân tộc ít người ở Quảng Nam Ðà Nẵng

[6], tác giả Trần Ánh chọn cột đâm trâu là một trong những đối tượng khảo sát chính dưới góc độ tạo hình và ý nghĩa motif và cho rằng nó có mối liên hệ với thần lúa, hồn lúa Tuy nhiên, nhận định đó chỉ dừng lại ở việc giải thích nguồn gốc các motif hình tượng trang trí đơn thuần mà chưa được đi sâu phân tích dưới góc độ ý nghĩa biểu tượng Hơn nữa, ông cho rằng Xơnur của người Cơtu thường ít đặc sắc hơn, mà khá đơn giản và thống nhất theo một khuôn mẫu, từ quy mô, vóc dáng, hoa văn, nguyên liệu Nhìn tổng thế về nghi lễ hiến sinh cũng như đời sống nghệ thuật tạo hình của người Cơtu, chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với nhận định này Hơn nữa, trang trí Xơnur là một công việc công phu, cần nhiều thời gian, với sự tham gia của những “nghệ nhân dân gian” tài năng

Công trình Góp phần tìm hiểu văn hóa Cơ Tu của tác giả Lưu Hùng, Xơnur

được mô tả khá ngắn gọn trong phần viết về lễ hội đâm trâu, ông không cung cấp thêm những nhận định hay lý giải mới nào, bởi theo ông “hiểu biết của họ về những

ý nghĩa biểu tượng sâu xa trên cột lễ đã nhạt nhòa, mơ hồ và bị quên lãng” [51, tr 256] Trên khía cạnh tạo hình, như một số ý kiến, tác giả cho rằng Xơnur đó là sự

mô tả cánh tay của người phụ nữ trong điệu múa nghi lễ Trên khía cạnh tín ngưỡng, theo ông dù là kiểu nào, “cột tế đều là hình thức cột hay cây thông quan giữa trời với trần thế, giữa thế giới thần linh với con người”, xuất hiện không chỉ riêng ở tộc Cơtu Những nhận định này góp thêm ý kiến khẳng định về vai trò tâm linh của Xơnur

Trang 24

Công trình Tiếng thông dụng C’tu - Kinh và văn hóa làng C’tu của tác giả

Bh’ríu Liếc, đã tạo nên một “mốc” mới trong nghiên cứu về dân tộc Cơtu, không phải bởi tính học thuật mà lần đầu tiên được viết bởi chính người Cơtu, với một niềm tự hào và ý thức về bản sắc văn hóa của dân tộc mình Nội dung cuốn sách được trình bày trong 14 chương, với hai phần chính Chương X trình bày về lễ hội

và văn hóa văn nghệ, Xơnur được mô tả ngắn gọn, trong bối cảnh lễ hội đâm trâu, như những gì chúng ta vẫn thường thấy lâu nay, mà không có thông tin hay nhận định nào đáng lưu ý từ tác giả người Cơtu [63]

Tìm hiểu văn hóa Katu của Tạ Đức tuy là một cuốn sách nhỏ, được trình bày không theo quy cách chương mục, nhưng thông qua 24 câu hỏi đã làm rõ những khía cạnh nổi bật của văn hóa Cơtu, vốn thu hút sự quan tâm các nhiều đối tượng lâu nay như: nguồn gốc, vật tổ, tục săn máu, nhà làng, nhà mồ, vũ điệu, trang phục, tục đâm trâu,… Trong đó, Xơnur được trình bày trong hai mục “Cột tế Katu có gì đặc sắc?” và “Cột tế Katu và truyền thuyết Ja rai” [33, tr 49-54, 55-57] Có thể nói đây là tác giả đầu tiên, qua cách tiếp cận đối sánh trên diện rộng về sự phổ biến của tục hiến sinh ở Đông Nam Á, từ những gợi ý của Le Pichon về sự giống nhau giữa người Cơtu với người Dayak ở Borneo và đảo Tân Guinee, đã đưa ra nhiều nhận định “táo bạo” về Xơnur “Cùng với nhà Gươl, cột tế là trung tâm tín ngưỡng của mỗi làng Katu, là giá trị giàu tính biểu tượng, tính nghệ thuật và nhân văn nhất của văn hóa truyền thống Katu”, là biểu tượng cho cái trục vũ trụ ở trung tâm thế giới…” [33, tr 49] Đây là những nhận định gợi mở hướng tiếp cận tìm hiểu và làm

rõ ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur

Tác giả Đinh Hồng Hải trong công trình Nhà Gươl của Người Cơtu, lần đầu

tiên đã đặt ra vấn đề về phương pháp nghiên cứu các motif, hình tượng trang trí trên kiến trúc và tác phẩm nghệ thuật, qua cách tiếp cận “ngôn ngữ tạo hình” (ngôn ngữ hình hình học và ngôn ngữ hình hình tượng) [38] Đặc biệt, luận án tiến sĩ chuyên

ngành Nhân học văn hóa Ngôn ngữ biểu tượng trong đời sống văn hóa của người

Cơtu của Đinh Hồng Hải đã đề cập đến hệ thống biểu tượng và văn hóa của người Cơtu qua việc tìm hiểu, giải mã các ý nghĩa qua ngôn ngữ đặc thù của văn hóa trên

Trang 25

cơ sở lý thuyết tiến hóa đa tuyến và sinh thái văn hóa Trong các “biểu tượng trọng tâm”, biểu tượng văn hóa tiêu biểu nhất của cây trong văn hóa Cơtu chính là cây cột

lễ Tác giả cũng đã đưa ra một số nhận định về hình dáng, ý nghĩa và vai trò của Xơnur từ việc tìm hiểu ý nghĩa các motif hoa văn trang trí, sự liên hệ về tính phổ biến của cột lễ trong đối sánh với các tộc người khác [39] Tuy nhiên, Xơnur vẫn chưa được tìm hiểu một cách độc lập, những kiến giải vẫn thiên về ý nghĩa tâm linh,

mà chưa đi sâu vào khía cạnh ý nghĩa xã hội

Như vậy, việc xem xét các công trình nghiên cứu theo chiều đồng đại và lịch đại cho thấy, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu Xơnur trong nghi lễ hiến sinh một cách chuyên sâu, có hệ thống với tư cách là một đối tượng độc lập, tiếp cận bằng phương pháp liên ngành, xem xét Xơnur trên cả vai trò tâm linh lẫn vai trò

xã hội Những nhận định về cột Xơnur đã đặt ra cho luận án nhiều hướng tiếp cận, gợi mở vấn đề trong việc chứng minh một cách hệ thống và logic về ý nghĩa biểu tượng trên góc độ văn hóa và tín ngưỡng Hơn nữa, việc xem xét các công trình nghiên cứu theo chiều đồng đại và lịch đại cho thấy, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu Xơnur trong nghi lễ hiến sinh một cách chuyên sâu dưới góc độ Văn hóa học, có hệ thống với tư cách là một đối tượng khảo cứu độc lập, ở người Cơtu nói riêng và các dân tộc thiểu số vùng Trường Sơn - Tây Nguyên nói chung

1.2 Các lý thuyết nghiên cứu và quan điểm tiếp cận ý nghĩa biểu tượng của cột lễ hiến sinh

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

- Biểu tượng

Biểu tượng là một loại ký hiệu đặc biệt, thể hiện nội dung thực tế của một điều nào đó Biểu tượng văn hóa khác ký hiệu thông thường ở chỗ chứa đựng mối liên hệ tâm lý với tồn tại mà nó biểu trưng (A.A Radugin) [3, tr 51-52] Nếu ký hiệu đơn giản và có thể ví như cánh cửa đi vào thế giới vật thể của các ý nghĩa (hình ảnh và khái niệm), thì biểu tượng là cánh cửa dẫn vào thế giới phi vật thể của các ý niệm [2, tr 25] Biểu tượng là những vật, sự kiện, âm thanh, lời nói hoặc các hình thức văn viết mà loài người gán cho nó một ý nghĩa nào đó Hình thức đầu tiên của

Trang 26

biểu tượng là thông qua ngôn ngữ, nhưng con người cũng giao tiếp bằng cách sử dụng các ký hiệu và biểu tượng trong nghệ thuật, nhảy múa, âm nhạc, kiến trúc, quần áo, nghi lễ, tôn giáo,… [44, tr 605-606] Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng Chính mối quan hệ này tạo cho biểu tượng sức truyền cảm và sự tác động mà ký hiệu thông thường không có (S Freud) [Dẫn lại: 58, tr xxiv] Biểu tượng là ngôn ngữ của cái bất khả tri giác, hay nói cách khác,

để tri giác cái bất khả tri giác, người ta dùng một vật môi giới gọi là biểu tượng Biểu tượng bao gồm từ hình tượng trong tác phẩm văn nghệ đến biểu tượng, biểu trưng, biểu hiện, đến các khuôn mẫu ứng xử trong đời sống nghi thức hằng ngày hoặc trong các dịp phân kỳ tiết tấu đời sống xã hội (Đoàn Văn Chúc) [17, tr 32] Biểu tượng là một hình thái biểu hiện của văn hóa - ký hiệu hàm nghĩa Nó được sáng tạo ra nhờ vào năng lực “biểu tượng hóa” của con người theo phương thức dùng hình ảnh này để bày tỏ nghĩa kia nhằm để nhận thức và khám phá ra một giá trị trừu xuất nào đó Biểu tượng được xem như là “đơn vị cơ bản” của văn hóa,

và là hạt nhân “di truyền xã hội” đầu tiên của loài người [42, tr 28]

Xem xét các định nghĩa cho thấy, biểu tượng được nhìn nhận từ rất nhiều góc

độ Trong các công trình nghiên cứu, biểu tượng được xem xét đa dạng hơn về đối tượng cũng như một nội hàm trừu tượng và đa nghĩa, vừa khái quát vừa chuyên biệt, phản ánh sự phức tạp về hình thức và ý nghĩa của nó trong đời sống: dưới góc

độ Văn hóa học của A.A Radugin chú trọng đến biểu tượng là cánh cửa dẫn vào thế giới phi vật thể của các ý niệm; dưới góc độ Phân tâm học, S Freud nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa biểu tượng với cuộc sống tiềm thức của nội tâm; C.G Jung lại chú trọng bối cảnh xã hội của biểu tượng

Như vậy, biểu tượng là sự vật, hiện tượng được xem như là một loại ký hiệu đặc biệt, là ngôn ngữ của cái bất khả tri giác, có mối liên hệ nhất định với hình thức biểu hiện vật chất, biểu đạt những ý nghĩa nhất định hay phản ánh ý niệm ẩn chứa sâu bên trong, cái khác sâu xa của hình thức tồn tại và được cộng đồng thừa nhận

Trang 27

- Cột, biểu tượng cột, biểu tượng cột tế

Trong từ điển biểu tượng của J.E Cirlot, cột (Pillar) đứng độc lập có liên quan đến trục thế giới, như cột trụ, cột buồm và cây; cột (Column) khi đứng độc lập

có sự liên quan các nhóm biểu tượng trong vũ trụ, tượng trưng cho “trục vũ trụ” như cây, bậc thang, cột hiến sinh, cột buồm, thánh giá, [132, tr 60-61, 255] Tương tự,

trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Jean Chevalier và Alain Gheerbrant,

từ dẫn chứng các nền văn hóa đã đưa ra nhận định: Cột hoặc trụ cũng là biểu tượng của trục thế giới (người Celtic); theo hướng vũ trụ luận và tinh thần luận, cột là cây đời là cây vũ trụ, cây của những thế giới, cột nối liền dưới với trên, cái của con người với cái của thần linh (người Do Thái); cột là trục của cái thiêng hay trục thiêng của xã hội (người Atlantes) Cột theo nghĩa vật liên kết đất với trời, trong một số trường hợp, cũng là tảng đá làm lễ hiến sinh Trên đỉnh của nó, tức là ở phần trên trời, con vật được hiến sinh Đặc biệt, cột trụ còn được xem là tượng trưng cho nguyên lý tổ chức xã hội: Người Achilpa (Úc) xem cây cột nghi lễ của thần sáng tạo thế giới Numbakula có chức năng dùng để “trật tự hóa thế giới”, “liên lạc với thiên giới” và “xác định phương hướng” [58, tr 212-216]

Như vậy, khái niệm về cột/cây trước hết có nội hàm phản ánh từ đặc điểm tự nhiên đến chức năng xã hội như trụ/trụ đỡ, thẳng đứng/kết nối, trục/tâm điểm, ; biểu tượng cột gắn với vai trò từ quan niệm đến vai trò trong đời sống và thực hành tín ngưỡng, những giá trị và ý nghĩa của nó trong nghi lễ hiến sinh, góp phần hình thành nên ý nghĩa biểu tượng cây cột tế Khái niệm về biểu tượng cột tế được nhìn nhận khá thống nhất về nội hàm và ý nghĩa, biểu thị qua các nội hàm về tính cộng đồng, tính đa nghĩa, tính liên hệ, tính xã hội…

- Cột tế Xơnur của người Cơtu

“Xơnur” là khái niệm người Cơtu dùng để chỉ cây cột gỗ hình trụ, được trang trí chạm khắc sơn vẽ nhiều màu, dựng ở giữa sân làng, dùng để buộc trâu tế thần trong các nghi lễ hiến sinh quy mô và quan trọng, nhằm đạt mục đích cầu mùa màng tốt tươi, cầu khỏe mạnh, cầu được yên ổn Xơnur hiện diện trong nghi lễ hiến

tế, là cách người Cơtu dâng lễ vật trâu tế còn sống lên cho thần linh (cúng sống),

Trang 28

làm vui lòng thế lực uy quyền để đạt ước nguyện Như vậy, nguồn gốc và nội hàm khái niệm “Xơnur” được xem xét và nhận định gắn chặt với nghi lễ hiến sinh trâu

- Nghi lễ hiến sinh/hiến tế

Hiến sinh là một hành động tín ngưỡng nhưng không phải là hành động thông thường, mà “cúng dâng trọng thể”, “cúng bái quy mô”, theo nghi thức và có kèm

theo âm nhạc, vật tế là vật quý nhất Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, hiến

là dâng phẩm vật cho người trên, sinh là súc vật làm thịt để tế thần, tế là cúng thần phật hoặc tổ tiên [4, tr.194] Như vậy, hiến sinh hay hiến tế là nghi lễ làm cho một con vật, đồ vật hoặc con người nào đó trở thành thiêng liêng, dâng những cái quý giá nhất hay phẩm vật cho người trên một cách trân trọng và tự nguyện, nhằm cầu mong, khát vọng của con người Trong hiến sinh, vật hiến tế càng quý thì “năng lượng tinh thần” mà con người nhận được càng lớn Như vậy, với việc gắn chặt với nghi lễ hiến sinh, cột lễ Xơnur của người Cơtu cho thấy vai trò và chức năng to lớn đối với đời sống tín ngưỡng

- Tín ngưỡng, đời sống tín ngưỡng

Tín ngưỡng theo nghĩa rộng là toàn bộ những biện pháp quan hệ với đối tượng thờ cúng, theo nghĩa hẹp là sự tín điều, hay sự sùng bái một vật hay cá nhân,

sự vật nào đó; đi liền với nó là những nghi thức, những chuẩn mực về hành vi, quan niệm và thực hành [2, tr 453] Theo học giả Đào Duy Anh, tín ngưỡng là “lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [4, tr 283] Như vậy, tín ngưỡng là “niềm tin tôn giáo” và ước vọng của mỗi cá nhân hay cộng đồng, phản ánh một khía cạnh đời sống tinh thần quan trọng của con người

Đời sống tín ngưỡng là toàn bộ hệ thống niềm tin, đức tin, sự ngưỡng vọng của con người vào cái siêu nhiên, cái sùng kính, cái thiêng, mang tính cộng đồng, phản ánh qua những quan niệm, thực hành, quá trình thiêng hóa, nghi lễ, vật tế, không gian, thời gian,… tạo nên đời sống tâm linh bên cạnh đời sống vật chất, đời sống xã hội Đời sống lễ nghi tín ngưỡng hàm chứa nhiều lớp giá trị mang tính biểu tượng cao, phản ánh giá trị nhân văn, bản sắc văn hóa của cộng đồng

Trang 29

1.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu và quan điểm tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu ý nghĩa biểu tượng của cột tế Xơnur

Cũng như sự phức tạp của định nghĩa về văn hóa, thực tế cho thấy, có bao nhiêu nhà Văn hóa học thì cũng có bấy nhiêu lý thuyết nghiên cứu về văn hóa, tựu trung đều hướng đến tiếp cận liên ngành Tính liên ngành trong nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và văn hóa nói riêng đang trở thành xu hướng chiếm lĩnh Trong quá trình nghiên cứu các lý thuyết và quan điểm tiếp cận liên ngành về ý nghĩa biểu tượng, luận án áp dụng một số chuyên ngành như Ký hiệu học, Cấu trúc

luận, Nhân học biểu tượng,… để nghiên cứu cột tế Xơnur

Nghiên cứu biểu tượng dưới góc nhìn Ký hiệu học tìm hiểu bản chất của hệ thống ngôn ngữ ký hiệu đặc thù, được hình thành từ mối quan hệ giữa các yếu tố hình thức là “cái biểu đạt” và nội dung là “cái được biểu đạt” Để phản ánh được bản chất của nó trong giao tiếp xã hội, C Sanders Peirce đã phân định: Hình tượng (Icon) có thể hiểu được bằng sự giống nhau; Chỉ số (Index) có thể hiểu bằng mối liên lạc thực; Biểu tượng (Symbol) có thể hiểu theo sự ước lệ [Dẫn lại: 95, tr 126-127] Việc xác định các yếu tố cấu thành và phân định ký hiệu giúp ta nhận biết rõ hơn về đối tượng nghiên cứu là cột Xơnur trong đời sống văn hóa tín ngưỡng Cơtu Trong nghiên cứu Xơnur, việc áp dụng cấu trúc này sẽ giúp nhận diện các lớp

“ngôn ngữ biểu tượng” ẩn dụ đằng sau hình thức trang trí, các motif hoa văn cụ thể Khuynh hướng tiếp cận “chỉnh thể” của IU M Lotman cho rằng mọi hiện tượng văn hoá đều có những đặc điểm Ký hiệu học Nói cách khác, Văn hoá học trước hết là Ký hiệu học văn hoá Từ đó, Lotman không tán thành hướng tiếp cận các hiện tượng kí hiệu học theo “nguyên tử luận” (Atomisme) của Bắc Mĩ và Tây

Âu, xem đơn vị nhỏ nhất là ký hiệu, ông đã tìm cách tiếp cận các hiện tượng kí hiệu học theo hướng chỉnh thể (Holisme) [56] Áp dụng quan điểm “chỉnh thể” trong nghiên cứu Xơnur sẽ tránh được cái nhìn phiến diện để thấy được tính nhất quán trong các biểu hiện ý nghĩa trên cấu trúc tổng thể Xơnur

Nghiên cứu biểu tượng dưới góc nhìn Cấu trúc luận xem xét văn hóa với tư cách là tổng thể các hệ thống ký hiệu, hệ thống ngôn ngữ ký hiệu Theo F Saussure,

Trang 30

ngôn ngữ là một cấu trúc hệ thống ký hiệu gồm “cái biểu đạt” (le signifiant) và “cái được biểu đạt” (le signifié), từ đó chủ trương sử dụng Cấu trúc luận đi tìm ý nghĩa biểu tượng qua mối quan hệ giữa các hệ thống siêu ký hiệu, trong một chỉnh thể hệ thống [36; 140] C Lévi Strauss cũng cho rằng mọi nền văn hoá có thể được xem là một tổng thể hệ thống biểu tượng mà hàng đầu là ngôn ngữ, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật khoa học, tôn giáo Tất cả các hệ thống đó nhắm đến

sự thể hiện một số mặt của thực tại thể xác và thực tại xã hội, và hơn thế nữa, thể hiện các quan hệ mà hai loại hình thực tại đó và bản thân các hệ thống biểu tượng

có với nhau [Dẫn lại: 58, tr xxiii] Mặt khác, Lévi Strauss xem xét biểu tượng qua

“phân loại nhị nguyên”, một điểm đặc trưng phổ quát của nhận thức con người, phản ánh tư duy lưỡng hợp [121] Sau này V Turner cũng đã đề cập đến dưới cách tiếp cận về tính lưỡng phân khi nghiên cứu về biểu tượng của người Ndembu Quan điểm này giúp đi sâu nghiên cứu cột Xơnur trên khía cạnh của đặc điểm cấu trúc lưỡng phân hay tính chất đối ngẫu qua hệ thống chủ đề, motif hoa văn trang trí bố cục cặp đôi và đối xứng [103]

Những lý thuyết nghiên cứu và quan điểm trên cho thấy việc tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur phải được đặt trong mối quan hệ của chúng với một hệ thống hay cấu trúc xã hội bao quát, rộng hơn Xơnur phải được xem xét một cách chỉnh thể trong sự thống nhất về cấu trúc (bố cục, hoa văn, motif trang trí, màu sắc,…) và trong mối liên hệ, tương tác các yếu tố nghi lễ (gồm vật tế, trang phục, nhạc cụ, hành vi, lời khấn, kiêng cữ, thời gian thiêng, không gian thiêng, hành động thiêng,…) Cách tiếp cận này đảm bảo sự diễn giải thống nhất về mặt ý nghĩa giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong nghi lễ hiến sinh, được hình thành trên cơ sở cấu trúc vật chất và tư tưởng, cấu trúc tâm linh và cấu trúc xã hội, phản ánh những mối quan hệ xã hội có tính chất quyết định

Nghiên cứu biểu tượng dưới góc nhìn Nhân học biểu tượng (Symbolic

Anthropology) nghiên cứu ý nghĩa trong đời sống xã hội của con người: Làm cách nào tri nhận và diễn giải những gì diễn ra xung quanh mình, và bằng cách nào, trên

Trang 31

nền tảng sự hiểu biết của mình, chúng ta sáng tạo nên những thế giới thông tin cần chia sẻ, hoặc hệ thống ý nghĩa văn hoá [40]

Nhân học biểu tượng còn gọi là Nhân học diễn giải (Interpretive Anthropology) đề cao bối cảnh xã hội trong giải mã ý nghĩa biểu tượng, R Firth nhấn mạnh vai trò của Nhân học là “liên kết và giải thích” các sự kiện thông qua biểu tượng luận với cấu trúc xã hội và sự kiện xã hội trong những “điều kiện cụ thể” Quan điểm này coi trọng cấu trúc và sự kiện xã hội như là một đặc trưng vừa

là tiền đề khi giải thích ý nghĩa biểu tượng: “Giải thích ý nghĩa của các biểu tượng trong các nền văn hóa mà họ đang nghiên cứu và sự lý giải trung gian để hiểu xa hơn về các tiến trình trong đời sống xã hội” [76, tr 65-77] Thực tế biểu tượng tồn tại trong những nền văn hóa khác nhau sẽ có ý nghĩa khác nhau, do đó phải được lý giải và thông hiểu trong khung cảnh xã hội nhất định

Quan điểm này cũng được Leslie White bàn đến trong chuyên luận Biểu

tượng: Nguồn gốc và nền tảng ứng xử của con người, cho rằng bối cảnh của việc cung cấp ý nghĩa biểu tượng rất quan trọng, do đó phải xem xét bối cảnh biểu tượng được sinh ra hay lý do để tồn tại [135, tr 451-463] Sau này, Edith Turner cũng

khẳng định lại khi bàn về Nhân học biểu tượng: Nhân học biểu tượng diễn giải các

biểu tượng trong ngữ cảnh của tiến trình xã hội và đời sống văn hoá [128, tr 25-29]

Victor Turner khi nghiên cứu về Biểu tượng trong nghi lễ của người Ndembu đã chỉ

ra khía cạnh xã hội của nghi lễ, được phản ánh qua giá trị biểu tượng, biểu tượng luôn gắn với quá trình xã hội, do đó phải nghiên cứu chúng trong bối cảnh cụ thể, là môi trường hình thành, tồn tại của nó [103, tr 242-274] Sự nhấn mạnh về “bối cảnh xã hội” là yếu tố quan trọng trong việc tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng, nhắc nhở chúng ta về chú ý xã hội Cơtu khi nghiên cứu Xơnur Mặt khác, những quan điểm trên đã đưa vấn đề nghiên cứu của luận án gần hơn với mục tiêu đặt ra, cụ thể và rõ ràng hơn so với những cách tiếp cận khác: Giải mã ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur trong bối cảnh văn hóa của người Cơtu, từ cụ thể đến rộng lớn, từ không gian nghi lễ hiến sinh đến không gian đời sống xã hội

Trang 32

Trên góc độ lý thuyết và phương pháp tiếp cận, Nghiên cứu biểu tượng: Một

số hướng tiếp cận lý thuyết (2014), của Đinh Hồng Hải mang đến một cái nhìn tổng quan về tình hình và xu hướng nghiên cứu biểu tượng nói chung và Việt Nam nói riêng, những ý kiến đánh giá nhận định về hướng tiếp cận lâu nay và hướng tiếp cận liên ngành của Cấu trúc luận, Ngôn ngữ học, Ký hiệu học, Nhân học,… trong đó

“Ký hiệu học là bộ môn khoa học đóng vai trò nền tảng cho khoa học nghiên cứu về biểu tượng” [40, tr 35] Theo ông nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam là cách tiếp cận “bán chính thức”, các công trình nghiên cứu mới chỉ “đọc biểu tượng” [40, tr 452-453] Ý kiến này đã tác động đến định hướng nghiên cứu Xơnur theo cách

“chính thức”: Áp dụng lý thuyết và phương pháp luận của chuyên ngành Nhân học biểu tượng và nghiên cứu Xơnur với tư cách là đối tượng độc lập

Như vậy, trên cơ sở xem xét các lý thuyết nghiên cứu và quan điểm tiếp cận

ý nghĩa biểu tượng, luận án xác định áp dụng lý thuyết của một số chuyên ngành lấy biểu tượng làm đối tượng nghiên cứu trung tâm với những lý thuyết và phương pháp luận giải mã ý nghĩa biểu tượng Luận án sử dụng lý thuyết nghiên cứu liên ngành trên cơ sở thừa nhận và kế thừa các quan điểm, luận thuyết của các học giả đi trước của chuyên ngành gần là Ký hiệu học, Cấu trúc luận và Nhân học biểu tượng trong tiếp cận và giải mã ý nghĩa biểu tượng của Xơnur trên khía cạnh tâm linh và

xã hội, trên cơ sở đề cao điều kiện/bối cảnh xã hội Cơtu, kết hợp những kiến giải

của chủ thể với diễn giải của nhà nghiên cứu

1.2.3 Một số khuynh hướng nghiên cứu ý nghĩa biểu tượng của cột tế Xơnur gắn với tín ngưỡng và mỹ thuật

- Nghiên cứu cột tế Xơnur gắn với nghi lễ hiến sinh

Khuynh hướng nghiên cứu này đi sâu tìm hiểu mối quan hệ mật thiết giữa cột

tế và nghi lễ hiến sinh cả về quan niệm lẫn thực hành Xơnur của người Cơtu có nguyên nhân ra đời gắn với mục đích hiến tế, có môi trường tồn tại là không gian nghi lễ hiến tế Do đó, không thể nghiên cứu Xơnur một cách độc lập tách rời các nghi lễ hiến sinh cụ thể Người Cơtu tiến hành nghi lễ hiến sinh là cách thức dâng cái quý giá của mình một cách trân trọng và tự nguyện, lên các vị thần linh Từ góc

Trang 33

độ lý thuyết hiến sinh là tế sống, dâng cúng thần linh con vật còn sống cho thần linh, ta thấy, người Cơtu có sự phân biệt giữa nghi thức “cúng sống” và “cúng chín”

là hai giai đoạn của nghi lễ, dành cho trâu tế; Xơnur gắn với giai đoạn “cúng sống” Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ và tầm quan trọng của nghi cụ

với nghi lễ trong hiến tế Tác giả E.B Tylor trong Văn hóa nguyên thủy, dựa trên

nghi lễ hiến sinh của các tộc người trên thế giới, đã cho rằng việc hiến tế xuất phát

từ nhu cầu tâm linh, một hình thái biểu thị đức tin của con người và cộng đồng ở một trình độ phát triển xã hội và nhận thức nhất định, hướng tới thế lực siêu nhiên, thần linh qua các nghi lễ cúng tế, hiến sinh Mục đích của nghi lễ hiến sinh dựa trên nguyên lý ứng xử của con người thời bấy giờ là dựa vào thiên nhiên, tinh thần đùm bọc, bảo vệ, hòa hợp với thiên nhiên làm gốc và nguyên lý ứng xử xã hội là hiến sinh cho cộng đồng, đề cao đức hy sinh cho tập thể, tôn vinh bổn phận, nghĩa vụ Như vậy, ý nghĩa sâu xa của nghi lễ hiến tế chính là ước mong, cầu khẩn về một sự bình yên, vĩnh cửu cho cuộc sống của con người [34, tr 946-958]

- Nghiên cứu cột tế Xơnur gắn với mối liên hệ biểu tượng hóa

Tác giả Hegel trong tác phẩm Mỹ học, khi bàn về loại hình nghệ tạo hình là

kiến trúc và điêu khắc, đã cho rằng nghệ thuật đáp ứng một nhu cầu nguyên thủy đó

là nhu cầu muốn hiểu hiện và cụ thể hóa biểu tượng vả ý nghĩa nảy sinh từ tinh thần khiến cho chúng được con người tạo nên xem như tác phẩm của anh ta và được anh

ta khách thể hóa cũng giống như con người dòng ngôn ngữ trao đổi với nhau và hiểu nhau về những điều họ suy nghĩ, tượng tượng và cảm xúc [42, tr 36] Quan điểm này dẫn dắt chúng ta đi tìm hiểu ý nghĩa các biểu tượng trong sự “cụ thể hóa biểu tượng”

Một trong những cách tiếp cận nghiên cứu cột Xơnur được nhiều học giả, lưu

ý nhất đó là mối liên hệ giữa Xơnur với hình tượng điệu múa thiêng Padil dơ dá trong thực hành lễ hiến sinh cầu mùa, từ hình thể, cấu trúc đến ý nghĩa của điệu múa Nghiên cứu cột Xơnur gắn với hình tượng Padil dơ dá nhằm tìm hiểu ước vọng của cộng đồng, được biểu hiện dưới những phong tục và nghi tiết linh thiêng

có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử tộc người là tục hiến sinh cúng nữ thần lúa

Trang 34

Xét về mặt tạo hình cũng như trong mối tương quan về nguồn gốc hình thành, nhiều ý kiến cho rằng Xơnur là sự thể hiện hình tượng người phụ nữ Cơtu đang múa điệu Padil dơ dá Ngoài hình dáng eo thon, những hoa văn trên thân cột đều mang tính nữ, như “trang điểm” cho vẻ đẹp người phụ nữ Hơn nữa, trong truyền thuyết Cơtu, thần lúa được biết đến là người phụ nữ mang phục trang có màu sắc nổi bật, gần gũi với hình ảnh Xơnur được sơn vẽ sặc sỡ bởi màu trắng, đỏ và đen Trong quan niệm về thế giới quan, thần lúa là một vị nữ thần, người cai quản

và phân phát lúa trong gia đình là “Bà chủ lúa” Trong đời sống, người phụ nữ Cơtu

có vai trò rất quan trọng gắn nông nghiệp mà trực tiếp là cây lúa cả về thực tế lẫn tâm linh, quy trình từ lúc trỉa đến lúc thu hoạch, từ trên rẫy cho đến trong kho thóc, đều liên quan đến người phụ nữ

1.3 Khái quát về dân tộc Cơtu

1.3.1 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm cư trú và dân cư

- Điều kiện tự nhiên

Địa bàn cư trú dân tộc Cơtu là vùng đất thuộc ba huyện vùng cao tỉnh Quảng Nam (huyện Nam Giang, Tây Giang, Đông Giang), và phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế (huyện Nam Đông) Đây là vùng núi non trùng điệp, phần lớn đổ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Phía Tây Bắc có ngọn núi A - Taouat cao nhất vùng (2.500m) kéo dài từ Lào sang tới Thừa Thiên Huế; phía Nam có núi Ngọc Linh Ngoài ra, có một số núi cao ở huyện Nam Giang như La Ê (1.659m), núi La Dêê (1.521m); ở huyện Tây Giang vùng giáp biên giới Việt Lào có núi Tr’Hy (2.300m), núi Cacan Aron (1314m), núi Tà Xiêu cao nhất vùng (2.053m); vùng Đông Giang là nơi có các ngọn núi thấp như núi núi Hòn Châng (1513m), núi Kà Dăng

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuộc điều kiện của khí hậu vùng đông Trường Sơn, nên ở đây hình thành nên hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa khô bắt đầu từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 9; mùa mưa từ đầu tháng 9 đến cuối tháng 2 năm sau Lượng mưa bình quân hàng năm có khi lên tới 2650 mm Số ngày nắng ở ba huyện này hàng năm hơn nhau không đáng kể Vào mùa mưa rét, sương

mù thường xuất hiện ở phía tây và tây bắc (vùng Tây Giang)

Trang 35

Hệ thống sông ngòi ở đây khá dày đặc Vùng Tây Giang có hai con sông lớn

là sông Lăng và sông A Vương Vùng Đông Giang có hai con sông chính là sông Côn và sông Vàng

Hệ thực vật ở đây mang đặc điểm của vùng Trường Sơn Tính phong phú của thảm thực vật Trường Sơn làm cho miền núi ở đây giàu có và đa dạng về động thực vật khác nhau đến từ hai hướng đó Ở đây có hơn 500 loài thực vật bậc cao, thuộc

121 chi, 124 họ Trong đó có nhiều loại gỗ có giá trị như gõ đỏ, kiềm kiền, chò chỉ, chò đen, chò nâu, dầu lông, táu, huỳnh, giẻ, huỳnh đàn, trâm, sơn gụ, kim giao, mít nài, bứa, thị, muồng, trai… [74, tr 117] Thảm thực vật ở đây mang đặc trưng nhiệt đới ẩm vùng Trường Sơn, trong đó rừng tự nhiên là thảm thực vật chủ đạo Hầu như các loại thú ở rừng Việt Nam đều có thể tìm thấy ở rừng nơi đây như nai, hươu, hoẵng, bò rừng, trâu rừng, sơn dương, khỉ và gấu, hay những loại quý hiếm như công, trĩ, gà lôi lam mào trắng, gà lôi mào đen,…

- Đặc điểm cư trú

Trên vùng núi cao, điểm sinh sống của người Cơtu tập trung dọc triền dốc và thung lũng của sông Giằng, sông Cái và sông Bung Hệ sông Thu Bồn, Vu Gia - Trường Giang với các phụ lưu như một mạng thương lộ dàn trải thành nhiều nhánh nối kết miền tây Quảng Nam và các vùng phụ cận lại để cùng xuôi về biển, tạo nên

sự gắn bó giữa Tây Nguyên - Quảng Nam với cửa cảng ở duyên hải Hiện nay, xu hướng cư trú tập trung theo đường giao thông chiếm ưu thế so với tập quán truyền thống nhằm đảm bảo đi lại, giao thương thuận lợi

Địa bàn cư trú của người Cơtu tập trung ở ba huyện Tây Giang, Đông Giang

và Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, và ở huyện Nam Đông, một số ít ở huyện A Lưới

Ở Quảng Nam, người Cơtu cư trú trong 10 xã và thị trấn của huyện Đông Giang là

Cà Dăng, Tư, Ba, Sông Kôn, Jơ Ngây, ATing, Tà Lu, Mà Cooih, Zà Hung, ARooi

và Thị trấn Prao; 10 xã thị trấn của huyện Tây Giang là Cho’ơm, Axan, Tr’hy, Lăng, A Tiêng, Bhalle, Ga Ry, A Nông, Dang và A Vương; 12 xã và thị trấn của huyện Nam Giang là Thạnh Mỹ, Cà Dy, Tabling, Chà Val, La Dêê, La Êê, Đắk Pree, Đắk pring, Zuôi, Chơ Chun, Đắk Tôi và Tà Pơơ

Trang 36

- Dân cư: Dân số và sự phân bố

Trong bức tranh 54 thành phần dân tộc ở Việt Nam, người Cơtu xếp thứ 25 với dân số hơn 61.000 người Ngoài ra, ở Lào có gần 15.000 người cư trú ở vùng núi cao thuộc nhóm Lào Thơng, bao gồm những tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khmer [94, tr.31] Dân số Cơtu hiện có 61.588 người, trong đó nam là 31.038, nữ là 30.550 người, được phân bố như sau: Người Cơtu tập trung đông nhất ở tỉnh Quảng Nam là 45.715 người (22.972 nam, 22.743 nữ); Thừa Thiên Huế là 14.629 người (7.438 nam, 7.193 nữ); Đà Nẵng là 950 người (478 nam, 472 nữ) Hiện nay, xuất phát từ điều kiện giao thông thuận tiện, nhu cầu phát triển, người Cơtu đã đi học tập, làm việc và sinh sống ở gần 40 tỉnh thành trong cả nước [7]

Theo số liệu của Ban Dân tộc Quảng Nam, năm 2014, dân số người Cơtu trên toàn tỉnh là 50.244 người, 8.576 khẩu Trong đó, huyện Tây Giang năm 2014, có 17.201 người, trong Cơtu là 15.803 người, Kinh là 1.336 người Huyện có 14 dân tộc, trong đó chủ yếu người Cơtu chiếm hơn 93%, cư trú trong 10 xã thị trấn của huyện: Xã Ch’ơm (1.368 người), xã A Xan (1.771 người), Tr’hy (1.042 người), xã Lăng (1.864 người), A Tiêng (2.490 người), Bhalê (2.242 người), Ga Ry (720 người), A Nông (649 người), Dang (1.492 người), A Vương (1.770 người) Huyện Đông Giang năm 2014 có 6.467 hộ, 24.688 khẩu, trong đó Cơtu là 18.904 người; Kinh là 5.665 người Huyện Nam Giang năm 2014 có 25.797 người, trong đó Cơtu

là 15.251 người; Kinh là 5.396 người; Ve là 2.586 người; Tà Riêng là 2.209 người

- Điều kiện tự nhiên, xã hội và dân số các điểm nghiên cứu

* Thị trấn Prao: là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của huyện miền núi Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, trên trung điểm giao thông nối tỉnh lỵ Tam Kỳ 140

km về phía Tây Bắc và thành phố Đà Nẵng khoảng 80km về phía Tây; nối thị trấn Thạnh Mỹ (huyện Nam Giang) và trung tâm huyện Tây Giang Địa giới Prao như sau: phía Đông giáp xã Tà Lu, phía Nam giáp xã Za Hung, phía Tây giáp xã Avương (huyện Tây Giang), phía Bắc giáp huyện Nam Đông (tỉnh Thừa Thiên Huế) Tổng diện tích tự nhiên là 3.130,85 ha, trong đó đất sản xuất là 426,5 ha, đất rừng 1,218 ha, còn lại là đất nhà ở Dân số năm 2012 là 4.376 người, trong đó, nữ

Trang 37

2.254 người, nam 2.122 người với 1.032 hộ; người Cơtu chiếm 65,2%; người Kinh chiếm 33.6% và một số dân tộc ít người khác như Nùng, Tày, Ca Dong, Thái [110]

* Xã Arooi: nằm cách trung tâm hành chính huyện Đông Giang 10 km về phía Tây Nam Về địa giới hành chính xã Arooi: phía Tây giáp xã Avương và phía Nam giáp xã Dang (huyện Tây Giang), phía Đông giáp với xã Zà Hung và phía Bắc giáp thị trấn Prao; (huyện Đông Giang) Xã Arooi hiện nay có 5 thôn: A Điêu, Tu Ngung, A Bung, AĐhur (ADung) và Ka Đắp Địa hình xã Arooi tương đối phức tạp, chủ yếu là đồi núi cao Theo số liệu năm 2015, diện tích đất lâm nghiệp toàn xã

là 2.556,6 ha Dân số xã Arooi, theo số liệu thống kê năm 2014, có 1.261 người, trong đó nam 616 người, nữ 645 người; người Cơtu chiếm 98% dân số [112]

* Xã Za Hung: nằm cách trung tâm hành chính huyện Đông Giang khoảng 5km về phía Tây Nam, trên tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua với chiều dài 10 km

Về địa giới hành chính xã Zà Hung: phía Đông giáp xã Tà Lu và xã Jơ Ngây, phía Bắc giáp thị trấn Prao, phía Tây giáp xã A Rooi và phía Nam giáp xã Mà Cooih Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 2.704,75 ha Về địa hình, địa mạo, xã Zà Hung

có địa hình đồi núi phức tạp, chủ yếu là đồi núi cao, độ dốc lớn và bị chia cắt bởi hệ thống khe suối Hiện tại xã Zà Hung có 6 thôn: A Xanh 1, A Xanh 2, Xà Nghìn 1,

Xà Nghìn 2, Kà Dâu và Gố Dân số người Cơtu chiếm đa số với khoảng 1078 khẩu với 279 hộ, chiếm 97.3% dân số toàn xã

* Xã Mà Cooih: Xã Mà Cooih nằm ở phía Nam, cách trung tâm thị trấn Prao khoảng 18km Ranh giới hành chính xã Mà Cooih: phía Đông giáp xã Kà Dăng, phía Bắc giáp xã Za Hung, phía Nam giáp xã Tà Pơơ (huyện Nam Giang), phía Tây giáp xã Dang (huyện Tây Giang) Tổng diện tự nhiên toàn xã là 17.818,3 ha Cơ cấu diện tích các loại đất sản xuất trên địa bàn xã năm 2012 như sau: đất nông nghiệp là 473,67 ha chiếm 2,6% diện tích đất tự nhiên; đất lâm nghiệp 14.901,77 ha chiếm 83,63% Xã Mà Cooih có 7 thôn: A Zal, A Đền, Tà Rèng, Trờ Gung, A Xờ và A

Dớ, A Bông Năm 2015, dân số toàn xã là 504 hộ 2099 khẩu, trong đó dân tộc Cơtu chiếm phần lớn thành phần dân cư [114]

Trang 38

* Xã Kà Dăng: nằm về phía Đông Nam cách trung tâm huyện khoảng 45km,

có địa hình hiểm trở, nhỏ hẹp, chủ yếu là đồi núi cao, độ dốc lớn, bị sông suối chia cắt, nên giao thông đi lại khó khăn Xã Kà Dăng địa giới hành chính: phía Đông giáp xã Đại Hưng (huyện Đại Lộc), phía Nam giáp thị trấn Thạnh Mỹ (huyện Nam Giang), phía Bắc giáp xã Jơ Ngây và xã A Ting, phía Tây giáp xã Mà Cooih (huyện Đông Giang) Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 7.362,67 ha; trong đó diện tích đất nông - lâm nghiệp là 6967,38 ha, chiếm 94,63% tổng diện tích tự nhiên Dân số năm 2013 có 438 hộ, 1797 khẩu, trong đó người Cơtu chiếm 98% dân số [113]

* Xã A Vương: là một xã thuộc huyện Tây Giang, có địa giới: phía Nam giáp

xã Dang và A Tiêng, phía Tây giáp xã Bhalê, phía Đông giáp TT Prao huyện Đông Giang, phía bắc giáp xã Thượng Long (huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế) Xã nằm trên trục đường Hồ Chí Minh nên giao thông thuận lợi Xã có diện tích 148,16km2 Dân số toàn xã năm 2015 là 504 hộ với 2.055 khẩu, phân bố dân cư thưa thớt không tập trung trong 9 thôn; thành phần dân số người Cơtu chiếm 85%

so với người Kinh [111]

* Xã Dang: là một xã miền núi nằm về phía Đông, cách trung tâm hành chính huyện khoảng 25km về phía Đông-Nam Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 8.616,60 ha, được chia làm 8 thôn: Arui, Tưr, Ađâu, K’xêêng, Z lao, A Lua, Kla và thôn Ktiếc Ranh giới hành chính xã: Phía Đông giáp xã Màcooih (huyện Đông Giang), phía Nam giáp xã Zuôih (huyện Nam Giang), phía Tây giáp xã Lăng, phía Bắc giáp xã A Vương và xã Bhalêê (huyện Tây Giang) Địa hình xã Dang đồi núi cao chiếm trên 80%, bị chia cắt bởi hệ thống các sông, suối dày đặc Xen lẫn giữa các dãy núi liên tiếp là các thung lũng nhỏ, các vùng đất sản xuất nông nghiệp, các khu dân cư Địa hình có xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông Dân số toàn xã có

1587 người, trong đó nam 818 người, nữ 769 người

1.3.2 Tộc danh, nguồn gốc tộc người và đặc trưng ngôn ngữ

Về tộc danh, trong lịch sử đã từng xuất hiện nhiều tên gọi khác nhau để chỉ tộc người này như: Cao, Hạ, Phương, Ca Tang, Ca tu, Cơ tu, A taouat, Teu, Kato, Cao, Nguồn Ta, Kao, Khat, Thap, Phuang, Kaoto, Kanto, Cùng với thời gian,

Trang 39

nhiều tên gọi đã biến mất Hiện nay, chỉ còn lại hai tên gọi được sử dụng phổ biến nhất đó là “Cơtu” và “Katu” Theo danh mục công bố của nhà nước Việt Nam năm

1979, thống nhất tên gọi “Cơtu” cùng với các tên gọi khác (Ca tu, Cao, Phương, Hạ,

Ca Tang,…) Tuy nhiên, tên gọi “Katu” lại xuất hiện nhiều hơn trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học chuyên ngành, các nhà Dân tộc học Hai tên gọi này hiện nay cũng có những lý giải khác nhau, nhưng đều dựa trên những chứng cứ

về ngôn ngữ và ý thức tộc người cùng với những đặc điểm về văn hóa, xã hội, được chính người Cơtu và mọi người thừa nhận

Về nguồn gốc tộc người, trong bức tranh các tộc người ở Trung Bộ, khó có thể xác định một cách chính xác thời điểm có mặt của các nhóm tộc người thuộc ngôn ngữ Môn - Khmer nói chung và nhóm Katuic nói riêng Tuy nhiên, sự hiện diện và cư trú ổn định của các nhóm Cơtu, Bru - Vân Kiều, Pacoh - Tà Ôi ở Việt Nam hiện nay cho thấy, có thể đã từ rất sớm họ đã sinh tụ trên một địa bàn rộng hơn, kéo dài từ Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến Quảng Nam và lan xuống tận biển Sau đó, vì nhiều nguyên do, họ đã có sự dịch chuyển lên phía Tây

Về đặc trưng ngôn ngữ, dân tộc Cơtu thuộc phân nhánh ngôn ngữ Katuic, của ngôn ngữ Môn-Khmer là một trong những ngữ hệ Nam Á, cư trú chủ yếu ở khu vực Trường Sơn và vùng Thượng Lào Hệ thống ngôn ngữ Nam Á được nhận định là ngôn ngữ bản địa của khu vực Đông Nam Á, trong đó, Môn - Khmer là một nhóm ngữ hệ lớn với 144/167 ngôn ngữ được sử dụng Ngữ hệ Nam Á có khoảng 166 ngôn ngữ, tập trung nhất ở Đông Nam Á, và một phần ở Nam Á, trong đó ngôn ngữ nhiều người dùng nhất là tiếng Việt với gần 77 triệu người [46; 115]

Ở Đông Nam Á, Katuic có 3 phân nhánh chính gồm 18 nhóm tộc người, trong đó có người Katu/Cơtu, cư trú ở Việt Nam, Lào Trong bức tranh ngôn ngữ Đông Nam Á, tiếng Cơtu giữ lại nhiều đặc điểm của Nam Á cổ, vì vậy là nguồn tư liệu quý để phục nguyên hệ thống này Tiếng Cơtu đại diện cho nhóm Môn - Khmer

ở Bắc và trung Trung Bộ Việt Nam Tiếng Cơtu được dùng để định danh phân nhóm ngôn ngữ Katuic Tỉ lệ vốn từ chung giữa tiếng Tà ôi với tiếng Cơtu là 50%, giữa Bru-Vân Kiều với Cơtu là 41%, cho thấy vị thế trong nhóm Katuic [87, tr 9]

Trang 40

Hiện nay, bên cạnh tiếng Cơtu, họ còn sử dụng tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai Tuy nhiên, mức độ sử dụng tùy thuộc vào mục đích và nhu cầu Người Cơtu sử dụng tiếng Cơtu khi giao tiếp với nhau, hay trong hát ru, kể chuyện và trong cúng

tế, nghi lễ đâm trâu Nhưng, trong quá trình giao tiếp xã hội, họ sử dụng ngôn ngữ phổ thông là tiếng Việt, nhất là tầng lớp thanh niên, công chức, giáo viên

1.3.3 Đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội

Đặc điểm kinh tế của người Cơtu phản ánh cơ tầng chung của văn hóa nhóm Katuic, với vai trò chủ đạo của hệ thống canh tác nương rẫy, mang đặc tính dựa vào

tự nhiên và yếu tố tâm linh Kỹ thuật canh tác giản đơn: dùng dao chặt phát cây cối, đốt cây khô lấy tro, gieo hạt bằng chọc lỗ, tuốt lúa bằng tay; công cụ thô sơ như dao phát, rựa chặt, gậy chọc lỗ, cuốc, gùi, sản lượng thấp và bấp bênh Sản lượng mùa

vụ hoàn toàn phụ thuộc sự ưu đãi của thiên nhiên, vào việc tìm được mảnh đất tốt, không bị thú rừng, thiên nhiên ưu đãi Tuy nhiên, hiện nay một phần lương thực đã được hỗ trợ từ canh tác lúa nước, bởi sự thu hẹp diện tích rẫy

Trồng trọt nương rẫy không tạo ra nguồn dự trữ lớn, không trở thành hàng hoá trao đổi mà chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu tín ngưỡng Trên rẫy, cây trồng chủ đạo là lúa nhưng ngô, sắn lại trở thành nguồn lương thực chính nhờ sản lượng nổi trội Do vậy, đồng bào phải dựa vào một số sản phẩm khai thác từ rừng như măng, mây, đót, mật ong, thịt thú rừng Tính chất tự túc thể hiện rõ trong vai trò quan trọng của hoạt động săn bắn, hái lượm, khai thác lâm thổ sản, giải quyết sự bấp bênh, thiếu hụt lương thực, nhất là lúc giáp vụ, mất mùa Tuy nhiên, hiện nay chính sách đóng cửa rừng đã hạn chế phần nào hoạt động kinh tế khai thác tự nhiên Hoạt động chăn nuôi với cách thức chăn thả rông, không chuồng trại, chỉ dựa vào kinh nghiệm (tự giao phối, tự kiếm thức ăn, tự tìm chỗ cư trú, ), nên hệ thống vật nuôi ít cả về số lượng và thành phần Ngoài ra, còn phải kể đến sự chi phối mạnh mẽ của tín ngưỡng, tâm linh đối với hoạt động này Tính chất tự nhiên trong hoạt động này còn được thể hiện ở mục đích: không phải để phục vụ cho trồng trọt (cung cấp sức kéo, phân bón), phương tiện vận chuyển, cấp thực phẩm trao đổi, mà chủ yếu là để chứng tỏ sự giàu có của gia đình, một phần lấy thịt, trứng nhưng

Ngày đăng: 22/05/2017, 16:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A. Belik (2000), Văn hoá học những lý thuyết Nhân học văn hoá, Đỗ Lai Thuý, Hoàng Vinh, Huyền Giang dịch, Tạp chí VHNT, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá học những lý thuyết Nhân học văn hoá
Tác giả: A.A. Belik
Năm: 2000
2. A.A. Radughin (cb., 2001), Từ điển bách khoa Văn hóa học, Vũ Đình Phòng dịch, Viện Nghiên cứu VHNT, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Văn hóa học
3. A.A. Radughin (2004), Văn hóa học - Những bài giảng, Vũ Đình Phòng dịch, Từ Thị Loan hiệu đính, Viện VHTT, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học - Những bài giảng
Tác giả: A.A. Radughin
Năm: 2004
4. Đào Duy Anh (1996), Hán Việt Từ điển, tái bản, Nxb. KHXH , H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt Từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1996
5. Ngọc Anh (sưu tầm, biên soạn, 2002), Các hình thức thờ phụng của bộ lạc, Nxb. VHDT-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức thờ phụng của bộ lạc
Nhà XB: Nxb. VHDT-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
6. Trần Ánh (1986), Nghệ thuật tạo hình của các dân tộc ít người ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Luận văn tốt nghiệp cử nhân, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tạo hình của các dân tộc ít người ở Quảng Nam - Đà Nẵng
Tác giả: Trần Ánh
Năm: 1986
7. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương (2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ, Nxb. Thống Kê, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ
Tác giả: Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương
Nhà XB: Nxb. Thống Kê
Năm: 2010
8. Nguyễn Chí Bền (2006), Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam, Nxb. KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 2006
9. Nguyễn Chí Bền (2013), Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố. Nxb. KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 2013
10. Văn Thu Bích (1999), “Nghệ thuật cồng chiêng trong đời sống dân tộc Cơ tu”, tạp chí Văn hoá Quảng Nam, số 15, tr 34-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật cồng chiêng trong đời sống dân tộc Cơ tu”, tạp chí "Văn hoá Quảng Nam
Tác giả: Văn Thu Bích
Năm: 1999
11. Phan Thị Xuân Bốn (2005), “Craveh - Nal, một làng Cơ Tu điển hình”, Đặng Nghiên Vạn (cb.), Tìm hiểu con người miền núi Quảng Nam, Ban Dân tộc Quảng Nam, Tam Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Craveh - Nal, một làng Cơ Tu điển hình”, Đặng Nghiên Vạn (cb.), "Tìm hiểu con người miền núi Quảng Nam
Tác giả: Phan Thị Xuân Bốn
Năm: 2005
12. Bronislow Malinowski (2006), “Ma thuật, khoa học và tôn giáo”, Dương Bích Hạnh dịch, Đức Hạnh hiệu đính, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Những vấn đề nhân học tôn giáo, Tạp chí Xưa & Nay - Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma thuật, khoa học và tôn giáo”, Dương Bích Hạnh dịch, Đức Hạnh hiệu đính, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, "Những vấn đề nhân học tôn giáo
Tác giả: Bronislow Malinowski
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2006
13. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, tái bản lần thứ tư, Nxb. Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 2001
14. Nguyễn Từ Chi (1986), Hoa văn các dân tộc Giarai - Bana, Sở VHTT Gia Lai - Kon Tum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn các dân tộc Giarai - Bana
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Năm: 1986
15. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, Nxb. VHTT và Tạp chí VHNT, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb. VHTT và Tạp chí VHNT
Năm: 1996
16. Nguyễn Từ Chi (2014), “Sức sống Đông Sơn”, Tạp chí Bảo tàng và Nhân học, số 1, tr. 6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức sống Đông Sơn”, Tạp chí "Bảo tàng và Nhân học
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Năm: 2014
18. Chris Barker (2011), Nghiên cứu Văn hóa - Lý thuyết và thực hành, Đặng Tuyết Anh dịch, Nguyễn Thị Hiền, Đoàn Thị Tuyến hiệu đính, Nxb. VHTT, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Văn hóa - Lý thuyết và thực hành
Tác giả: Chris Barker
Nhà XB: Nxb. VHTT
Năm: 2011
19. Nguyễn Ngọc Chương (2010), Việt tỉnh thư (sử thi), Nxb. Thế giới, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt tỉnh thư (sử thi)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chương
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2010
20. Claude Lévi Strauss (2006), “Cấu trúc của huyền thoại”, Trương Huyền Chi dịch, Đào Hùng hiệu đính, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Những vấn đề nhân học tôn giáo, Tạp chí Xưa & Nay - Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc của huyền thoại”, Trương Huyền Chi dịch, Đào Hùng hiệu đính, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, "Những vấn đề nhân học tôn giáo
Tác giả: Claude Lévi Strauss
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2006
21. Clifford Geertz (2006), “Tôn giáo như một hệ thống văn hóa”, Trương Huyền Chi dịch, Đức Hạnh hiệu đính, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Những vấn đề nhân học tôn giáo, Tạp chí Xưa & Nay - Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo như một hệ thống văn hóa”, Trương Huyền Chi dịch, Đức Hạnh hiệu đính, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, "Những vấn đề nhân học tôn giáo
Tác giả: Clifford Geertz
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ảnh 43: Hình vịt trang trí trên Gương - Cột xơnur trong đời sống văn hóa   tín ngưỡng của dân tộc cơtu ở tỉnh quảng nam
nh 43: Hình vịt trang trí trên Gương (Trang 187)
Ảnh 130: Hình vẽ cột Xơnur trang trí trên vách Gươl (thôn A Liêng, xã A Ting, - Cột xơnur trong đời sống văn hóa   tín ngưỡng của dân tộc cơtu ở tỉnh quảng nam
nh 130: Hình vẽ cột Xơnur trang trí trên vách Gươl (thôn A Liêng, xã A Ting, (Trang 208)
Ảnh 135: Hình Xơnur in trong thiệp  năm mới 2014 của Huyện ủy- UBND  huyện Đông Giang (Quảng Nam) [Lê - Cột xơnur trong đời sống văn hóa   tín ngưỡng của dân tộc cơtu ở tỉnh quảng nam
nh 135: Hình Xơnur in trong thiệp năm mới 2014 của Huyện ủy- UBND huyện Đông Giang (Quảng Nam) [Lê (Trang 210)
Ảnh 138: Hình vẽ cột Xơnur trên  đường phố (TT Tây Giang, Qu Nam) [Lê Anh Tuấn, 2014] - Cột xơnur trong đời sống văn hóa   tín ngưỡng của dân tộc cơtu ở tỉnh quảng nam
nh 138: Hình vẽ cột Xơnur trên đường phố (TT Tây Giang, Qu Nam) [Lê Anh Tuấn, 2014] (Trang 211)
Ảnh 137: Hình cột Xơ - Cột xơnur trong đời sống văn hóa   tín ngưỡng của dân tộc cơtu ở tỉnh quảng nam
nh 137: Hình cột Xơ (Trang 211)
Hình 1: Trang trí  cột Xơ - Cột xơnur trong đời sống văn hóa   tín ngưỡng của dân tộc cơtu ở tỉnh quảng nam
Hình 1 Trang trí cột Xơ (Trang 216)
2.7. Hình vẽ Xơnur - Cột xơnur trong đời sống văn hóa   tín ngưỡng của dân tộc cơtu ở tỉnh quảng nam
2.7. Hình vẽ Xơnur (Trang 216)
Hình 2: Trang trí Xơnur và - Cột xơnur trong đời sống văn hóa   tín ngưỡng của dân tộc cơtu ở tỉnh quảng nam
Hình 2 Trang trí Xơnur và (Trang 217)
Hình 3: Trình di - Cột xơnur trong đời sống văn hóa   tín ngưỡng của dân tộc cơtu ở tỉnh quảng nam
Hình 3 Trình di (Trang 217)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w