Tính cấp thiết của đề tài Di sản văn hóa dưới nước UCH gồm có UCH vật thể và phi vật thể đã và đang được các nhà nghiên cứu khoa học nói riêng và Chính phủ các nước trên thế giới nói ch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
LÊ THỊ THANH HUYỀN
PHÁT TRIỂN DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA DƯỚI NƯỚC Ở QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội – 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
LÊ THỊ THANH HUYỀN
PHÁT TRIỂN DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA DƯỚI NƯỚC Ở QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS Nguyễn Xuân Trung
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập, không sao chép bất cứ tài liệu nào và chưa từng được công bố nội dung ở đâu, bất kỳ nơi nào; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình!
Tác giả
Lê Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC, KINH DOANH DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA DƯỚI NƯỚC 11
1.1 Một số vấn đề lý luận 11
1.2 Một số vấn đề thực tiễn 30
Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ KINH DOANH DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA DƯỚI NƯỚC Ở QUẢNG NAM 41
2.1 Tổng quan phát triển du lịch UCH ở Quảng Nam: phân tích theo mô hình FTS 41
2.2 Đánh giá tiềm năng du lịch UCH ở Quảng Nam từ góc độ các nhà đầu tư và chuyên gia du lịch 47
2.3 Nhận thức xã hội về UCHT qua thực tiễn điều tra 49
2.4 Thực trạng phát triển du lịch di sản văn hóa dưới nước ở Quảng Nam 50
2.5 Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng khai thác và kinh doanh du lịch UCH ở Quảng Nam 54
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ KINH DOANH DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA DƯỚI NƯỚC Ở QUẢNG NAM 57
3.1 Quan điểm, cơ hội và thách thức đối với khai thác, kinh doanh du lịch UCH ở Quảng Nam 57
3.2 Giải pháp khai thác, kinh doanh UCHT ở Quảng Nam 59
3.3 Một số kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước 72
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 83
Trang 5ICOMOS International Council on
Monuments and Sites
Hội đồng Di chỉ và Di tích quốc
tế
OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PADI Professional Association of
Diving Instructors
Hiệp hội Hướng dẫn viên lặn biển chuyên nghiệp
UCH Underwater Cultural Heritage Di sản văn hóa dưới nước
UCHT Underwater Cultural Heritage
Tourism
Du lịch Di sản văn hóa dưới nước
UNESCO United Nations Educational
Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP HÌNH
Hình 1.1: Nguồn thu nhập của bảo tàng Mary Rose năm 2008 33
Hình 2.1: Mô hình FTS - C.A.Gunn’s “The Functioning Tourism System”, 1988 42
Hình 2.2: Nhận thức xã hội về du lịch UCH 50
Hình 3.1: Các liên kết quan trọng của Nhà đầu tư gắn với UCH 64
Hình 3.2: Các liên kết quan trọng của Doanh nghiệp KDDL với các bênliên quan 67
HỘP Hộp 1.3: Đến năm 2016, Việt Nam vẫn chưa có khái niệm“Du lịch Di sản văn hóa dưới nước” 27
Hộp 1.4: Doanh thu bảo tàng Vasa ước tính 300 triệu USD mỗi năm 31
Hộp 1.5: Những con số ấn tượng tại bảo tàng Viking, Roskilde, Đan Mạch 38
Hộp 2.1: Những con số đáng kể cho ngành du lịch ở Quảng Nam năm 2015 43
Hộp 2.2: Đánh giá tiềm năng du lịch UCH ở Quảng Nam của các nhà đầu tư và chuyên gia 48
Hộp 2.3: Nhà trưng bày di sản biển Cù Lao Chàm miễn phí vé vào cửa 50
Hộp 2.4: Nhà trưng bày Lâm Dũ Xênh hoạt động mang tính chất philợi nhuận 52
Hộp 2.5: Chưa có hoạt động lặn biển liên quan đến Tàu đắm 53
Hộp 3.1: Cần nâng cao nhận thực của cộng đồng về vai trò to lớn củadu lịch UCH 58
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Di sản văn hóa dưới nước (UCH) gồm có UCH vật thể và phi vật thể đã và đang được các nhà nghiên cứu khoa học nói riêng và Chính phủ các nước trên thế giới nói chung vô cùng quan tâm, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị vốn có của nó (trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả chỉ xét đến văn hóa vật thể - cụ thể
là các con tàu đắm và thương cảng cổ) Tuy nhiên, ở Việt Nam cho tới tận ngày
nay, các UCH chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu, bảo tồn và phát triển đúng mức Vì thế, du lịch di sản văn hóa dưới nước (UCHT) ở nước ta lại càng chưa phát triển hoặc chỉ mới manh nha ý tưởng phát triển một cách đơn lẻ, tự phát của một số
các cá nhân, tổ chức nhỏ cụ thể như ở tỉnh Quảng Nam
Trong những năm gần đây, các vấn đề về biển Đông căng thẳng cùng sự phát triển nền kinh tế du lịch, đã kéo theo sự chú ý của một số các nhà đầu tư (kéo theo
sự tham gia của các nhà khoa học trong và ngoài nước) đối với UCH Và nhờ các tác động của họ cùng các cơ quan quản lý văn hóa, đã làm thay đổi tầm nhìn và sự quan tâm của Chính phủ Việt Nam đối với UCH Cụ thể: Các cuộc “Hội thảo Quốc
tế Khảo cổ học dưới nước” được tổ chức vào năm 2014 tại thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, ngày 05-07/01/2017 tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; các chương trình nghiên cứu Khảo cổ học dưới nước được tổ chức thường niên bởi Viện Khảo cổ học, các cuộc Khai quật tàu đắm ở biển Bình Châu (Quảng Ngãi), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), biển Phú Quốc (Kiên Giang) … đã được triển khai Đặc biệt, Quyết định thành lập Trung tâm Khảo cổ học dưới nước (năm 2013) thuộc Viện Khảo cổ học đã làm thay đổi toàn bộ cục diện của ngành nghiên cứu Khảo cổ
học dưới nước ở Việt Nam
Như vậy, Chính phủ Việt Nam đã thực sự có cái nhìn cấp thiết về việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị UCH; điều này đã đem đến cho ngành du lịch Việt Nam một hướng đi rất tốt trong việc không những có thể quảng bá sâu rộng hơn về UCH của Việt Nam mà song song theo đó, là việc phát triển tiềm lực kinh tế
du lịch thông qua phát triển kinh doanh văn hóa di sản dưới nước
Trang 8Với sự phát triển ngành du lịch liên quan đến các UCH của các nước trên thế giới như Thụy Điển, Canada, Mỹ, Tây Ban Nha, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc …
bỏ xa Việt Nam hàng nửa thế kỷ, thì việc nghiên cứu sâu về các UCH đồng thời với việc bảo tồn, quảng bá, phát huy các giá trị vốn có của UCH là vô cùng cấp thiết đối
với Việt Nam hiện nay
Trong xu thế toàn cầu hóa, nhu cầu được hiểu biết, khám phá văn hóa thế giới của con người nói chung ngày càng tăng đã khiến Việt Nam không thể lãng phí thời gian thêm nữa trong việc đưa Việt Nam trở thành một điểm đến tuyệt vời trong ngành du lịch Bên cạnh sự đáp ứng nhu cầu hiểu biết của khách du lịch về UCH,
đó còn là sự giáo dục một cách trực tiếp đến họ về ý thức bảo tồn và gìn giữ các Di
sản nói chung, UCH nói riêng
Nghiên cứu này sẽ giúp các nhà quản lý về kinh tế - du lịch, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp phát triển về du lịch nhìn nhận một cách toàn cục về tiềm năng kinh tế vô cùng to lớn của Việt Nam, để có thể đưa ra các định hướng phát triển tốt cho nền kinh tế du lịch Việt Nam nói chung, du lịch UCH nói riêng trong tương lai
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Công trình nghiên cứu về UCH:
- Arthur de Graauw, Ancient Ports and Harbours (Thương cảng và bến cảng cổ): Đây là một công trình nghiên cứu của tác giả Arthur de Graauw, trình bày việc thu thập, nhận diện và xác định hơn 4000 các bến cảng và cảng cổ đại dựa trên các tác phẩm của 68 tác giả cổ xưa và một số các tác giả hiện đại Tác phẩm là một tài liệu tuyệt vời cho các nhà lịch sử học, khảo cổ học nhằm nghiên cứu sâu hơn về bề dày lịch sử và các giá trị của các di sản biển
- Thuyền truyền thống Việt Nam – Viện nghiên cứu Di sản Văn hóa biển Quốc gia Hàn Quốc; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam: Đây là nghiên cứu của Viện nghiên cứu Di sản Văn hóa biển Quốc gia Hàn Quốc về văn hóa biển Việt Nam và các loại thuyền truyền thống của Việt Nam Trong đó, có mô tả về các con tàu đắm ở biển Đông Việt Nam đã được khai quật Nghiên cứu này cho tác giả hiểu
Trang 9biết sâu sắc hơn về các con tàu cổ xưa bị đắm ở bờ biển Việt Nam và tiềm năng về UCH ở Việt Nam là rất lớn
- Roxanna M Brown, History of Shipwreck Excavation in Southeast Asia (Lịch sử các cuộc khai quật tàu đắm ở Đông Nam Á): Nghiên cứu cho biết lịch các cuộc khai quật tàu đắm ở Đông Nam Á trong đó con tàu phát hiện được ở Hội An
có niên đại khoảng (1500 – 1510)
- ICOMOS, Charter on the Protection and Management of Underwater Cultural Heritage (Điều lệ Bảo vệ và Quản lý di sản văn hóa dưới nước): Đây là Điều lệ về bảo vệ và quản lý UCH được phê chuẩn bởi ICOMOS vào năm 1996 Điều này được thiết kế để khuyến khích các hành động bảo vệ và quản lý UCH
Công trình nghiên cứu về khai thác du lịch UCH
- UNESCO, The benefit of the Protection of Underwater Cultural Heritage for Sustainable Growth, Tourism and Urban Development (Những lợi ích từ việc bảo tồn Di sản văn hóa dưới nước đối với sự tăng trưởng bền vững, du lịch và phát triển
đô thị): Đây là một tư liệu quý giá đối với đề tài nghiên cứu của tác giả Công trình nghiên cứu này của UNESCO đã chỉ ra rất rõ về các lợi ích mang lại từ việc bảo tồn các UCH (nói rõ hơn là UCH có giá trị rất lớn trong việc kinh doanh du lịch, kéo theo việc phát triển đô thị và đảm bảo tăng trưởng bền vững cho địa phương/ quốc gia) Nghiên cứu cho tác giả thấy rõ tiềm năng để phát triển du lịch gắn với UCH ở
Quảng Nam hiện nay
- Lluís Abejez, Pere Izquierdo, Jordi Tresserras, Opportunities arising for national economies from the valorization of underwater cultural heritage though a sustainable development strategy (Cơ hội tăng trưởng các nền kinh tế quốc dân từ việc gìn giữ giá trị di sản văn hóa dưới nước thông qua chiến lược phát triển bền vững): Nghiên cứu cho tác giả hiểu biết về các giá trị của UCH, các cơ hội tăng trưởng và phát triển nền kinh tế thông qua việc gìn giữ các giá trị UCH; và phát
triển du lịch gắn với UCH chính là chiến lược phát triển bền vững
- UNESCO, Underwater Cultural Heritage and Its Potentials for Sustainable Maritime and Coastal Tourism (Di sản văn hóa dưới nước và tiềm năng đối với Du
Trang 10lịch biển bền vững): Nghiên cứu cho thấy UCH là rất quan trọng đối với du lịch UCH là tài sản của nhân loại nói chung, cần được bảo vệ Các UCH là rất phong phú, đa dạng UCH có ý nghĩa rất lớn và thúc đẩy du lịch Cần phải đầu tư vào
UCH, bảo tồn nó và điều đó sẽ thúc đẩy phát triển ngành du lịch
2.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Công trình nghiên cứu về UCH: Đỗ Thanh Bình và Nguyễn Thị Thu Thủy,
Thương điếm các nước phương Tây ở Đại Việt Thế kỷ 17: Đây là nghiên cứu của hai tác giả về sự ra đời, đặc điểm và hoạt động của các thương điếm các nước phương Tây ở nước Đại Việt vào thế kỷ 17 trong đó có thương điếm Hội An của người Hà Lan (1633 – 1654) Nghiên cứu này cho thấy một phần các hoạt động thương mại của thương cảng cổ Hội An xa xưa Công trình của Trần Kì Phương,
“Đại Chiêm Hải Khẩu – Hội An: Một cảng - thị quốc tế sầm uất thời vương quốc Champa” Đây là một nghiên cứu cho biết Đại Chiêm Hải Khẩu – Hội An (thương cảng cổ Đại Chiêm, Hội An) là một trong những cảng thị sớm nhất ở Đông Nam Á
cổ đại đặc biệt là thời vương quốc Champa Đây là những tài liệu khẳng định bề dày lịch sử và giá trị văn hóa – lịch sử rất cao của thương cảng cổ Hội An
Công trình nghiên cứu về khai thác du lịch UCH: Cho đến nay, ngoài một vài
bài báo mang tính thông tin, tác giả chưa tiếp cận được bất kỳ một nghiên cứu bài bản, tổng thể nào về du lịch UCH ở Việt Nam cũng như ở Quảng Nam
2.3 Nhận xét, đánh giá tổng quan các tài liệu nghiên cứu đã có
Bình luận về các nghiên cứu liên quan: Các nghiên cứu là các tài liệu tham
khảo vô cùng quý giá mà tác giả đã có thể tiếp cận được Nhờ các nghiên cứu của các chuyên gia, các nhà khoa học trong và ngoài nước về UCH và các vấn đề liên quan đến UCH, mà tác giả có thể hiểu biết được một cách sâu sắc và rõ rệt nhất về các giá trị UCH Tác giả còn có kiến thức và hiểu biết rằng các nước trên thế giới đã
đi trước chúng ta từ rất lâu trong việc gìn giữ, bảo tồn UHC để từ đó, dựa vào UCH,
là việc phát triển nền kinh tế bền vững, là việc gia tăng các cơ hội tăng trưởng nền kinh tế và GDP quốc gia Và phát triển du lịch gắn với UCH là một tầm nhìn mới,
xu thế mới không phải của riêng Việt Nam mà còn là của cả thế giới
Trang 11Bình luận về kết quả và giá trị của các nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu của
các chuyên gia, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước là các kết quả nghiên cứu
có tính tin cậy rất cao, có giá trị và thậm chí là những tư liệu hết sức quý giá đối với nhân loại Các nghiên cứu có giá trị không chỉ riêng trong vấn đề nghiên cứu, trên phương diện lý thuyết mà còn có giá trị sâu trong việc ứng dụng thực tiễn Tác giả cảm thấy rất hài lòng khi được thừa kế các kết quả và giá trị của các nghiên cứu đó trong nghiên cứu của mình
Bình luận về vấn đề sẽ được nghiên cứu trong luận văn: Vấn đề sẽ được
nghiên cứu trong luận văn là vấn đề hết sức cấp thiết cho việc phát triển kinh tế du lịch của Việt Nam nói chung, của tỉnh Quảng Nam nói riêng Nghiên cứu sẽ đưa ra cho các nhà quản trị du lịch, các doanh nghiệp thấy được các khái niệm, các giá trị, các hoạt động ứng dụng thực tiễn của thế giới đối với về UCH, về UCHT Nghiên cứu sẽ cho thấy tiềm năng của UCH trong việc phát triển kinh tế du lịch, đưa ra các ứng dụng và phương pháp khai thác và kinh doanh du lịch gắn với UCH đối với quốc gia Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Nam nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá tiềm năng và thực trạng khai thác các di sản văn hóa dưới nước ở Quảng Nam (Việt Nam) cho mục tiêu phát triển du lịch, từ đó đề xuất các mô hình khai thác và kinh doanh loại hình du lịch này, nhằm góp phần đa dạng hóa loại hình
du lịch của Việt Nam đồng thời góp phần bảo tồn các di sản văn hóa dưới nước ở
Quảng Nam
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về UCH (cụ thể là Tàu đắm và Thương
cảng cổ) và các mô hình kinh doanh du lịch gắn liền với UCH
+ Phân tích, đánh giá thực trạng khai thác và kinh doanh du lịch, các mô hình
du lịch gắn với các UCH trên thế giới hiện nay; qua đó rút ra những kinh nghiệm về kinh doanh du lịch UCH ở Quảng Nam
Trang 12+ Phân tích, khảo sát, đánh giá tình hình khai thác và kinh doanh du lịch UCH
ở Quảng Nam hiện nay và tiềm năng về du lịch UCH ở Quảng Nam
+ Đề xuất các mô hình khai thác và giải pháp kinh doanh du lịch UCH ở
Quảng Nam song song với việc bảo tồn và phát huy các UCH đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là Phát triển du lịch dưới góc
độ Khai thác và kinh doanh du lịch UCH ở Quảng Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Do tiếp cận dưới góc độ của doanh nghiệp và nhà đầu tư kinh doanh du lịch, luận văn này phân tích phát triển du lịch dưới góc độ khai thác, kinh doanh du lịch
di sản văn hóa dưới nước ở Quảng Nam
+ Về nội dung: Di sản văn hóa dưới nước rất đa dạng, có nhiều loại hình khác nhau Tuy nhiên, do điều kiện có hạn, luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu về các tàu đắm và thương cảng cổ
+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu toàn bộ các tàu tắm và thương cảng cổ thuộc khu vực tỉnh Quảng Nam Vì vậy, các khảo sát của tác giả tập trung chủ yếu ở Quảng Nam Trong một số trường hợp, tác giả có mở rộng khảo sát ở các địa phương lân cận thuộc khu vực miền Trung (Việt Nam) để có những đánh giá so sánh và xem xét khả năng kết nối giữa các địa phương về phát triển du lịch
+ Về thời gian: Các con tàu bị đắm và các thương cảng cổ tồn tại từ xưa đến nay ở Quảng Nam và thực trạng khai thác, kinh doanh UCHT ở Quảng Nam tính đến năm 2016 Do đó, các nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập là những dữ liệu từ trước đến nay Riêng hoạt động khảo sát thực địa của đề tài được thực hiện từ giữa năm 2016 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận của luận văn
Thứ nhất, đề tài luận văn tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc nhìn của doanh nghiệp “Phát triển du lịch UCH” được xem xét dưới góc độ khai thác và kinh
Trang 13doanh du lịch UCH của các nhà đầu tư, các tổ chức kinh doanh du lịch Thuật ngữ
“Phát triển” ở đây còn hàm ý là kinh doanh và khai thác một cách bền vững
Thứ hai, đề tài luận văn tiếp cận đa ngành, liên ngành: văn hóa học, nhân học, khảo cổ học, lịch sử học, kinh tế học – quản trị kinh doanh và xã hội học Luận văn
có cách tiếp cận như vậy bởi vì chủ đề nghiên cứu mang đậm tính chất đa ngành
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Vì luận văn tiếp cận đa ngành và liên ngành nên các phương pháp nghiên cứu cũng mang đậm tính chất liên ngành Cụ thể các phương pháp nghiên cứu sau:
(i) Các phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp (nghiên cứu tại bàn- desk study)
Các tài liệu được sử dụng ở phương pháp này được tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu là các sách, báo, các công trình nghiên cứu trên thế giới
và Việt Nam từ mạng internet, các Viện nghiên cứu như Trung tâm Khảo cổ học dưới nước – Viện Khảo cổ học Việt Nam, Viện nghiên cứu Italy, Đại học Quốc gia Hàn Quốc, Bảo tàng Quốc gia Thái Lan, các tài liệu từ UNESCO, các tư liệu từ cá nhân các nhà khoa học thế giới: Ph.D Damien Leloup – Giám đốc Trung tâm Khảo
cổ học dưới nước Scripps – Institute of Oceanography – USA and France, Ph.D Sahabhum Bhumtitterat – Phó giám đốc Ban Nghệ thuật – Viện Khảo cổ học Thái Lan, Kiến trúc sư – Nhà nghiên cứu bảo tàng James Thomas Hicks – Hiệp hội Kiến trúc sư New York – Mỹ…
Sau khi thu thập các tài liệu, tác giả tiến hành phân loại, sàng lọc và tiến hành phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh các dữ liệu liên quan để luận giải cho vấn đề nghiên cứu của luận văn
Phương pháp nghiên cứu này được áp dụng chủ yếu ở chương 1 của luận văn
Để có cơ sở phân tích, luận văn còn áp dụng mô hình FTS Gunn để phân tích
về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch UCH: đây là khung lý thuyết được Gunn trình bày năm thành tố quan trọng cấu thành một hệ thống du lịch nói chung Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm: Dùng phương pháp này để tổng hợp toàn bộ các kinh nghiệm có được để đưa ra các kết luận tổng quan nhất
Trang 14(ii) Các phương pháp nghiên cứu thực địa
- Phương pháp quan sát và trải nghiệm: Tác giả đã tiến hành quan sát khu vực
tập trung nhiều khách du lịch đến Hội An, Quảng Nam để có cái nhìn tổng thể về vấn đề phát triển du lịch UCH ở đây, đã tham quan một số di sản dưới nước ở Quảng Nam Bản thân tác giả cũng đã trải nghiệm việc lặn biển để quan sát các di
sản và thử cảm giác du lịch với tư cách là một người khách du lịch Cụ thể:
Tác giả tham gia tour lặn biển tại đảo Cù Lao Chàm (Phụ lục 2.1.3a); tác giả tham quan Nhà trưng bày di vật tàu đắm Cù Lao Chàm (Phụ lục 2.1.3b); tác giả tham quan Nhà trưng bày di vật tàu đắm tư nhân Lâm Dũ Xênh (Phụ lục 2.1.3c); tác giả tham quan vùng thương cảng cổ Hội An (Phụ lục 2.1.3d)
Các hoạt động này được tác giả thực hiện vào mùa hè năm 2016 Phương pháp này giúp cho tác giả có cái nhìn thực tế, sâu sắc và rõ rệt về đối tượng nghiên cứu,
từ đó mở lối cho tác giả có thêm được các tư duy và kiến thức sâu sắc, cụ thể về di sản văn hóa dưới nước, về thực trạng khai thác và kinh doanh UCHT ở Quảng Nam
và các vùng lân cận và rất nhiều các kiến thức thực tế khác nhằm góp phần nghiên cứu tốt hơn luận văn này
- Phương pháp điều tra: tác giả đã sử dụng phương pháp này để nắm bắt số
lượng khách du lịch và số lượng lao động đã và đang tham gia vào lĩnh vực này Cụ thể: tác giả chọn thời điểm mùa hè (mùa du lịch) và hai ngày cuối tuần, thời tiết đẹp
để tham gia tour du lịch lặn biển ở đảo Cù Lao Chàm Trong khoảng thời gian đó, tác giả có chủ động đếm số lượng khách trên tàu trong một chuyến đi là bao nhiêu (trung bình 40 người), tổng số tàu đang hoạt động/ngày (khoảng 10 tàu – số liệu do các thuyền trưởng/ thuyền viên trên tàu cung cấp), điều tra số lao động (trung bình 6 người/ tàu); số khách du lịch tham quan bảo tàng Cù Lao Chàm khoảng 50
người/ngày, bảo tàng Lâm Dũ Xênh trung bình 3 người/ngày …
- Tác giả sử dụng bảng hỏi để điều tra nhu cầu thị trường về du lịch di sản văn hóa dưới nước (UCHT) Kết quả khảo sát 100 người (ở các ngành nghề lĩnh vực khác nhau), thì có 1% là có nghe đến “di sản văn hóa dưới nước”, 0% người biết
đến khái niệm “du lịch di sản văn hóa dưới nước” (xem phụ lục 2.1.4)
Trang 15- Phương pháp chuyên gia: tác giả đã tham vấn các chuyên gia trong nước và
một số các chuyên gia trong và ngoài nước như Hàn Quốc, Mỹ, Pháp: Ông James Thomas Hicks – chuyên gia Bảo tàng học, kiến trúc sư thuộc Hiệp hội Kiến trúc sư New York, Hoa Kỳ, thiết kế trưởng của công ty Thiết kế THINC, New York, Hoa Kỳ; Ông Damien Leloup – Giám đốc trung tâm khảo cổ học dưới nước, Viện nghiên cứu Hải dương học, UC San Diego, California, Hoa Kỳ; Ông Sahabhum Bhumtitterat – Phó giám đốc Ban Nghệ thuật, Viện khảo cổ học Thái Lan; Ông Jongin Choi – chủ tịch tập đoàn Naver, Hàn Quốc; Ông Lee Dong Hyun – Chuyên gia, Giảng viên, Học viện lặn biển Seoul, Hiệp hội Hợp tác Thương mại Lặn biển, Hàn Quốc; Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Tổng giám đốc công ty cổ phần Hanoi Red Tours (thuộc tập đoàn HVG); Ông Nguyễn Hai – Phó Giám đốc Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam; Ông Nguyễn Nay – Giám đốc Bảo tàng Quảng Nam; Ông Võ Văn Thơ – Phó giám đốc Sở thông tin và truyền thông Quảng Nam; Ông Đoàn Sung, chuyên gia lặn biển, chuyên gia cổ vật – Chủ tịch HĐQT công ty Đoàn Ánh Dương; Ông Trần Thịnh, chuyên gia khảo cổ học dưới nước – Viện khảo cổ học Việt Nam Ông Đoàn Long – chuyên gia marketing, giám đốc truyền thông – công ty CP
Traconimex JSC (xem Phụ lục 2.1.5)
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đề tài phân tích và làm rõ tiềm năng về du lịch UCH; đánh giá thực trạng khai thác và kinh doanh du lịch UCH ở Quảng Nam
- Đề tài nêu gợi ý các mô hình, định hướng, cách thức khai thác và phát triển kinh tế du lịch gắn liền với các Di sản Tàu đắm và thương cảng cổ
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch di sản văn
hóa dưới nước (UCHT)
Trang 16Chương 2: Thực trạng khai thác và kinh doanh du lịch Di sản văn hóa dưới
nước (UCHT) ở Quảng Nam
Chương 3: Một số giải pháp khai thác và kinh doanh du lịch Di sản văn hóa
dưới nước (UCHT) ở Quảng Nam
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC, KINH
DOANH DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA DƯỚI NƯỚC
1.1 Một số vấn đề lý luận
1.1.1 Du lịch di sản văn hóa
Di sản văn hóa là di sản của các hiện vật vật lý và các thuộc tính phi vật thể
của một nhóm hay xã hội được kế thừa từ các thế hệ trước, đã duy trì đến hiện nay
và dành cho các thế hệ mai sau Di sản văn hóa bao gồm tài sản văn hóa (như các tòa nhà, cảnh quan, di tích, sách, tác phẩm nghệ thuật, và các hiện vật), văn hóa phi vật thể (như văn hóa dân gian, truyền thống, ngôn ngữ và kiến thức) và di sản tự nhiên (bao gồm cảnh quan có tính văn hóa quan trọng và đa dạng sinh học) [15] Thuật ngữ “Di sản văn hóa” được thay đổi nội dung đáng kể trong những thập niên gần đây, một phần nhờ vào các tư duy và cách thức của UNESCO đã đưa ra
Di sản văn hóa không dừng lại ở đền chùa hay tập hợp các đối tượng liên quan Nó cũng bao gồm các truyền thống hay các hoạt động sống được thừa kế từ tổ tiên chúng ta và truyền lại cho con cháu chúng ta như truyền miệng, nghệ thuật biểu diễn, tập quán xã hội, các nghi lễ, các lễ hội, các kiến thức, các hoạt động có liên quan đến thiên nhiên và vũ trụ hay các kiến thức, kỹ năng để sản xuất đồ thủ công truyền thống [52]
Di sản văn hóa bao gồm vật thể và phi vật thể, tự nhiên và văn hóa, các tài sản động và không động được kế thừa từ quá khứ Nó vô cùng có giá trị đối với một đất nước ở hiện tại và trong tương lai Cập nhật, bảo tồn và giáo dục về Di sản văn hóa
là điều thiết yếu cho sự tiến hóa của con người và văn hóa của họ [16]
Các địa điểm hay khu vực có Di sản văn hóa là những nơi đại diện cho tập hợp rộng lớn và phong phú các sáng tạo của con người trên toàn cầu và trong suốt tiến trình lịch sử loài người Cùng với sự phát triển to lớn của tri thức nhân loại, sự vận động không ngừng và khả năng ảnh hưởng của du lịch ngày càng gia tăng, đó chính
Trang 18là sự hiếu kỳ và ham hiểu biết về thế giới, nhu cầu rộng lớn để được tham quan và trải nghiệm cá nhân về những xã hội khác nhau của con người [18]
Một số ví dụ về Di sản văn hóa trên thế giới
Thị trấn cổ Cuenca: là một đô thị trong tỉnh Cuenca, cộng đồng tự trị Castile-La
Mancha, Tây Ban Nha Đô thị này có diện tích là 911,06 km2 Thành lịch sử Cuenca được UNESCO đưa vào danh sách Di sản Thế giới tại kỳ họp thứ 20, năm 1996
Di chỉ mộ đá Antequera: là một quần thể các mộ đá nằm gần Antequera, tỉnh
Málaga, miền Nam Tây Ban Nha Quần thể này bao gồm mộ đá Menga, Viera nằm ngay ngoài thị trấn và El Romeral cách đó vài km Cả ba khu mộ đá này khác nhau
về độ tuổi cũng như cấu trúc thiết kế nhưng đều là những đại diện cho cấu trúc cự thạch lớn nhất và đầy đủ nhất ở châu Âu Quần thể di tích này đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào ngày 15 tháng 7 năm 2016
Cảng hải quân Karlskrona: được thành lập vào cuối thế kỷ 17, trên hai hòn
đảo Wamo và Trosso, Thụy Điển; được biết đến như là một hải cảng ra vào và là một căn cứ hải quân Với nhà máy đóng tàu, âu tàu, những ngôi nhà theo lối kiến trúc Baroque, những khu vực sản xuất lương thực bao quanh và những công sự, Karlskrona đã trở thành thành phố lớn thứ 3 ở Thụy Điển vào giữa thế kỷ 18 Chiến tranh thế giới và trận cháy đã thiêu hủy gần như toàn bộ thành phố Là Di sản Văn hóa Thế giới vào kỳ họp thứ 22, năm 1998 của UNESCO
Cung điện và pháo đài của Nữ hoàng ở Thủ đô của Vương quốc Anh (Tháp Luân Đôn): là một di tích lịch sử nằm ở trung tâm Luân Đôn, Anh, trên bờ
Bắc của sông Thames Tháp là một pháo đài, cung điện hoàng gia và nhà tù (dành cho các tù nhân hoàng gia có địa vị cao, chẳng hạn Nữ hoàng Elizabeth I từng bị giam tại đây) Nơi đây còn có một khu vực hành hình và tra tấn, một kho vũ khí, một kho bạc, một vườn thú, Royal Mint – xưởng đúc tiền của hoàng gia Anh, một đài quan sát, và từ năm 1903 là nơi lưu giữ Các Vương miện của Vương quốc Anh Năm 1988, UNESCO công nhận Tháp Luân Đôn là Di sản Văn hóa Thế giới
Pompeii là tàn tích một thành bang La Mã bị chôn vùi một phần gần Napoli,
Italia hiện nay trong vùng Campania, thuộc địa giới công xã Pompei Cùng với
Trang 19Herculaneum, thành phố chị em của nó, Pompeii đã bị phá huỷ, và bị chôn vùi hoàn toàn, trong một vụ phun trào hai ngày của núi lửa Vesuvius năm 79 sau Công nguyên
Một số ví dụ về Di sản văn hóa ở Việt Nam
Thánh địa Mỹ Sơn: thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam,
là tổ hợp bao gồm nhiều đền đài Chăm Pa, trong một thung lũng đường kính 2 km, bao quanh bởi đồi núi Đây từng là nơi tổ chức cúng tế của vương triều Chămpa cũng như là lăng mộ của các vị vua Chămpa hay hoàng thân, quốc thích Thánh địa
Mỹ Sơn được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của Ấn Độ giáo ở khu vực Đông Nam Á, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới tại phiên họp thứ 23, năm 1999
Phố cổ Hội An: là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng
đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía Nam Hội An từng là thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ 17 và 18 UNESCO công nhận đô thị cổ Hội An là Di sản Văn hóa Thế giới tại kỳ họp lần thứ
23, ngày 4 tháng 12 năm 1999
Quần thể di tích Cố đô Huế: là những di tích lịch sử - văn hóa do triều
Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế, Việt Nam Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993
Hoàng thành Thăng Long: là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành
Thăng Long – Đông Kinh và tỉnh thành Hà Nội bắt đầu từ thời kì tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII qua thời Đinh – Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời
Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam Ngày 1/8/2010, UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới (xem Phụ lục 1.7)
Trang 20Du lịch di sản văn hóa (hay còn gọi là du lịch di sản): theo The National
Trust for Historic Preservation, Hoa Kỳ, Du lịch Di sản giống như “đi du lịch để trải nghiệm những địa điểm, di tích, di vật và các hoạt động mà chúng mô tả một cách chân thực về những câu chuyện và con người ở trong quá khứ” và “du lịch Di sản bao gồm văn hóa, lịch sử và tài nguyên thiên nhiên” Theo Jascha M Zeitlin và Steven W Burr: “Du lịch di sản là du lịch tập trung vào khía cạnh lịch sử và di sản văn hóa Nó bao gồm các sự kiện và lễ hội cũng như là các khu di tích và các địa điểm tham quan/ địa điểm du lịch có liên quan đến con người, lối sống và các truyền thống trong quá khứ.”[30] Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng “Du lịch Di sản
là một kiểu hình du lịch cho những trải nghiệm và kiến thức thực tế về tất cả những
gì thuộc về quá khứ có liên quan đến sự sống của muôn loài hay các hoạt động vật chất và tinh thần của con người đã mất đi hoặc vẫn còn tồn tại đến ngày nay.”
Lợi ích của Du lịch di sản văn hóa
Du lịch di sản văn hóa mang lại lợi ích cho cộng đồng và một đất nước, về tổng thể là:
- Tạo việc làm và phát triển kinh doanh: ngành du lịch hiện là ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp tỉ lệ lớn GDP quốc gia đối với các nước trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ… Đối với Việt Nam, du lịch đang là ngành kinh tế đóng góp 6,6% GDP quốc gia Trong đó, du lịch đóng góp khoảng 6.035 triệu việc làm, chiếm khoảng 11,2% trong tổng số việc làm của các ngành cộng lại Du lịch di sản văn hóa là một trong những ngành kinh tế hẹp có tiềm năng đóng góp rất lớn số lượng việc làm cho đất nước, đặc biệt là đối với các vùng miền có nhiều di sản văn hóa
- Đa dạng hóa nền kinh tế địa phương: ngoài các ngành phát triển kinh tế địa phương như: nông – lâm – ngư nghiệp, xây dựng, cơ khí … thì du lịch di sản không chỉ góp phần đa dạng hóa ngành nghề cho địa phương mà còn tạo nên nguồn thu nhập lớn cho địa phương đó
- Tạo cơ hội cho các quan hệ đối tác: du lịch di sản tạo nên các cuộc gặp gỡ và giao lưu cho các đối tác từ các chương trình hội nghị, hội thảo, hay các chương trình du lịch, tham quan, trải nghiệm … từ đó, các tổ chức, doanh nghiệp có cơ hội
Trang 21giao lưu và hợp tác trên các phương diện như nghiên cứu, kinh doanh, đào tạo… Ví
dụ sau các chương trình Hội nghị Khảo cổ học dưới nước, các doanh nghiệp đã có thể kết nối với các chuyên gia tư vấn về du lịch, về di sản nhằm đưa ra các chương trình phát triển du lịch gắn với các di sản đó
- Thu hút du khách quan tâm đến lịch sử và vấn đề bảo tồn di sản tại nước sở tại: Nhờ du lịch di sản văn hóa, mà du khách trên khắp thế giới biết đến lịch sử, biết đến các di sản văn hóa, lịch sử của đất nước đó, hiểu được sự quan tâm, bảo tồn, lưu giữ hay phát triển các giá trị văn hóa của chính đất nước mà họ đang đi du lịch Nhờ
du lịch di sản vănhóa mà du khách ở các nước phương Tây như Anh, Mỹ, Tây Ban Nha… hay các nước phương Đông như Hàn Quốc, Nhật, Singapore… mới biết đến Quần thể Di tích Cố đô Huế, Hội An, Quần thể di tích Tràng An hay Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh, Nhã nhạc Cung đình Huế… của Việt Nam
- Giữ gìn và bảo tồn truyền thống và văn hóa địa phương: Nhờ có du lịch di sản, người dân địa phương có ý thức hơn trong việc giữ gìn và bảo tồn các di sản, kéo theo việc lưu giữ được các truyền thống và văn hóa địa phương nhằm gia tăng
và thu hút du khách thập phương đến du lịch ở địa phương đó
- Tạo các nguồn đầu tư địa phương cho các tài nguyên lịch sử: Với mục đích phát triển kinh tế du lịch, mục đích thu hút du khách thập phương tới tham quan địa phương trong việc gia tăng lợi nhuận kinh tế, các nhà đầu tư thường đầu
tư thêm về các vấn đề bảo tồn di tích và phát triển mạnh các dịch vụ xoay quanh các di tích đó Điều này sẽ khiến cho địa phương đó ngày càng phát triển và có thêm nhiều nguồn thu nhập Ví dụ, Quảng Nam đang thu hút một số các nhà đầu
tư đầu tư bảo tàng quanh khu vực biển Cù Lao Chàm, nơi có nhiều di sản văn hóa dưới nước Do đó, các du khách tham quan bảo tàng và sử dụng các dịch vụ liên quan, đã khiến cho địa phương có thêm thu nhập kéo theo việc cải thiện đời sống và dân trí của địa phương đó
- Xây dựng niềm tự hào của cộng đồng trong Di sản: Địa phương nào cũng có niềm tự hào về miền đất, quê hương của họ Việc du khách thập phương đến tham quan các di sản khiến người dân địa phương lại càng cảm thấy tự hào về miền đất
Trang 22các di sản của họ Điều này truyền lửa rộng lớn tới quy mô lớn hơn như từ địa phương xã huyện, kéo theo tỉnh thành, hay đất nước đó Ví dụ: Người dân Ninh Bình tự hào khi có quần thể di tích Tràng An được công nhận là di sản văn hóa thế giới, điều này không chỉ người dân Ninh Bình, mà toàn thể người dân quốc gia Việt Nam đều cảm thấy tự hào về điều này khi nhìn ra thế giới
- Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của khu vực: Một đất nước giàu có sẽ giàu có từ thiên nhiên, địa lý, đến văn hóa, truyền thống, đến các di sản nói chung
Do vậy, du lịch di sản kéo du khách thập phương đến quốc gia này, khiến quốc gia này được coi trọng và đánh giá hơn trên trường quốc tế, kéo theo tầm ảnh hưởng trong khu vực của quốc gia đó Ví dụ từ sau khi UNESCO công nhận Nhã nhạc Cung đình Huế, Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh … là di sản văn hóa thế giới thì các nhà nghiên cứu khoa học cũng như các nhà kinh tế trên thế giới đánh giá cao hơn về văn hóa và chiều sâu lịch sử của Việt Nam, rộng lớn hơn là văn hóa nói chung của khu vực Đông Nam Á
Một số hình ảnh về du lịch di sản văn hóa trên thế giới
Khách du lịch tham quan Tháp Eiffel, Paris: Tháp Eiffel là một công trình
kiến trúc bằng thép nằm trên công viên Champ-de-Mars, cạnh sông Seine, thành phố Paris Vốn có tên nguyên thủy là “Tháp 300 mét” (Tour de 300 mètres), công trình do Gustave Eiffel cùng các đồng nghiệp xây dựng nhân Triển lãm thế giới năm 1889, cũng là dịp kỷ niệm 100 năm Cách mạng Pháp Trở thành biểu tượng của “kinh đô ánh sáng”, tháp Eiffel là một trong những công trình kiến trúc nổi tiếng nhất toàn cầu Từ khi khánh thành cho tới năm 2007, tháp đã có hơn 236 triệu lượt khách viếng thăm Riêng năm 2007, tháp Eiffel đã đón tiếp gần 7 triệu du khách, giữ vị trí công trình thu phí thu hút nhất trên thế giới (Theo Wikipedia) (xem Phụ lục 1.8)
Khách tham quan đài phun nước Trevi, Rome, Ý: đài phun nước ở quận
Trevi, Rome, Ý được thiết kế bởi kiến trúc sư người Ý Nicola Salvi và hoàn thiện bởi Pietro Bracci Cao 26,3m và rộng 49,5m, nó là đài phun nước Baroque lớn nhất
ở thành phố này và là một trong những đài phun nước nổi tiếng nhất thế giới Đài
Trang 23phun nước này xuất hiện rất nhiều trong các bộ phim nổi tiếng Hầu hết các du khách đến Ý đều đến tham khu đài phun nước này (xem Phụ lục 1.9)
Một số hình ảnh về du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam
Khách du lịch đến di sản văn hóa thế giới phố cổ Hội An, Quảng Nam: là
một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ 17 và 18 Trước thời kỳ này, nơi đây cũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùng con đường tơ lụa trên biển Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo Đô thị cổ Hội An được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào cuối 1999 (theo Wikipedia) Đây là địa điểm du lịch di sản văn hóa vô cùng nổi tiếng và thu hút rất nhiều các du khách trên thế giới (xem Phụ lục 1.10)
Khách du lịch đến di sản văn hóa thế giới Cố đô Huế: Kinh đô Huế là thủ
đô của quốc gia Việt Nam thống nhất từ năm 1802, sau khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế mở đầu cho nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Huế kết thúc sứ mệnh là thủ đô Việt Nam vào năm 1945 khi vị hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn là Bảo Đại thoái vị Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể thế giới năm
1993 và 2003 (theo Wikipedia) Mỗi năm, Huế tiếp đón hàng triệu triệu du khách khắp thế giới Ngày 26/12/2016, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tổ chức lễ đón du khách thứ 2,5 triệu trong năm 2016 là bà Pfister Nelda đến từ Thụy Sĩ (xem Phụ lục 1.11)
1.1.2 Du lịch di sản văn hóa dưới nước
Di sản văn hóa dưới nước
Trang 24Theo Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa dưới nước của UNESCO được thông qua vào ngày 2/11/2001, “Di sản văn hóa dưới nước” (UCH) có nghĩa là tất cả các
dấu vết của sự tồn tại của nhân loại mang tính văn hóa, lịch sử hoặc khảo cổ nằm một phần hoặc hoàn toàn dưới nước, theo chu kỳ hoặc liên tục, trong ít nhất 100 năm, chẳng hạn như:
(i) Các địa điểm, cấu trúc, nhà cửa, đồ tạo tác và hài cốt con người, cùng với bối cảnh khảo cổ và tự nhiên của chúng;
(ii) Tàu thuyền, máy bay các phương tiện vận tải hoặc bộ phận đi kèm, hàng hóa và các đồ đạc khác, cùng với bối cảnh khảo cổ và tự nhiên của chúng; và
(iii) Các hiện vật mang các đặc tính thời tiền sử (UNESCO, 2001)
Hộp 1.1: Lợi ích từ Di sản văn hóa dưới nước (UCH)
- UCH có vai trò lớn trong nghiên cứu khoa học và giáo dục Các di tích thời tiền sử bị ngập nước có vài trò rất quan trọng trong việc hiểu biết về sự phát triển văn minh của nhân loại Tương tự, các con tàu đắm cung cấp thông tin quan trọng
về sự trao đổi văn hóa, giao thương và các ảnh hưởng lẫn nhau trong quá khứ, trong khi các thành phố, các khu vực nhà ở, khu vực hoạt động tôn giáo bị ngập chìm đưa ra các dữ liệu rất quan trọng về đời sống văn hóa, tâm linh, các nghi lễ tôn giáo … tại địa phương đó
- UCH mở ra các cơ hội để làm giàu thêm văn hóa, để giải trí và phát triển bền vững Nó là một hình thức thú vị và hấp dẫn của di sản nói chung và được đánh giá cao của cộng đồng nhờ những câu chuyện bí ẩn, đặc trưng bao quanh khu vực dưới nước của nó
- UCH cung cấp các cơ hội dài hạn trong việc phát triển du lịch văn hóa và giải trí, đặc biệt đóng góp đáng kể vào việc phát triển đô thị Cộng đồng được tiếp cận với khảo cổ học dưới nước, dưới các hình thức tham quan bảo tàng hay trải nghiệm lặn biển cùng với việc bảo tồn các di sản văn hóa có liên quan trong khi hứa hẹn về tài chính lâu dài trong tương lai
Nguồn: UNESCO, The benefit of the Protection of UCH for Sustainable Growth,
Tourism and Urban Development
Ví dụ về Di sản văn hóa dưới nước trên thế giới
Ngọn hải đăng Alexandria, Ai Cập – một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ
đại là ngọn đèn biển được xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên (khoảng
280 - 247) trên hòn đảo Pharos tại Alexandria, Ai Cập làm tín hiệu thông báo của
Trang 25cảng, và sau này là một ngọn hải đăng Chiều cao đèn biển được ước tính khá khác biệt từ 120 đến 140 mét (393 – 450 ft) nó là một trong những công trình nhân tạo cao nhất Trái đất trong nhiều thế kỷ Hải đăng ngừng hoạt động và bị phá huỷ nặng
nề sau hai trận động đất trong thế kỷ 14; một số di vật của nó vẫn còn được các thợ lặn tìm thấy tại đáy biển Cảng phía đông Alexandria năm 1994 Những tàn tích khác đã được khám phá qua các bức ảnh vệ tinh (xem Phụ lục 1.1)
Cảng La Mã cổ đại Ostia được xây dựng trên cửa sông Tiber thành một khu
phức hợp khổng lồ dưới thời Hoàng đế Claudius và được đặt tên là Portus – có nghĩa là cảng Cảng Ostia được mở rộng dưới thời các Hoàng đế kế tiếp như Trajan, Hadrian và có chức năng như một căn cứ quân sự cho những cuộc viễn chinh vĩ đại nhất của đế chế La Mã cổ đại Ostia cũng là cảng giao thương thương mại giá trị lớn với các loại hàng may mặc, trang sức, ngũ cốc, vật dụng cần thiết khác để cung cấp cho thành phố thủ đô của La Mã cổ đại Ostia bây giờ là địa điểm du lịch nổi tiếng thu hút rất nhiều du khách khắp nơi trên thế giới (xem Phụ lục 1.2)
Cung điện Cleopatra là một di tích dưới nước nằm trong quần thể di tích
thành phố Alexandria cổ đại bị đắm chìm dưới đáy đại dương được các nhà khảo cổ phát hiện vào năm 1998 Thành phố Alexandria cổ đại phát triển thịnh vượng trong suốt 700 năm trải qua nhiều biến cố lịch sử, tuy nhiên Alexandria lại bị phá hủy bởi thảm họa thiên nhiên Năm 365 SCN, hàng loạt các trận động đất lớn gây ra sóng thần kinh hoàng đã nhấn chìm một phần thành phố Alexandria Cung điện Cleopatra nơi vị nữ vương của Ai Cập cổ cùng với người tình của mình là Marc Anthony từng
tự vẫn để tránh rơi vào tay người Roman (xem Phụ lục 1.3)
Ví dụ về Di sản văn hóa dưới nước ở Việt Nam
Đạn và súng thần công thời Nguyễn (thế kỷ 19) được trục vớt tại biển Bình
Sơn – Quảng Ngãi hiện được trưng bày ở Bảo tàng tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi Đây
là những cổ vật giá trị văn hóa và lịch sử cao, là minh chứng cho các hoạt động
“quân sự” thời Nguyễn ở nước ta vào khoảng thế kỷ 19 (xem Phụ lục 1.4)
Quả cân đồng hơn 700 năm tuổi, vật dụng thủy thủ đoàn, là một trong những
cổ vật được tìm thấy trong con tàu đắm ở vùng biển Bình Châu, tuy nhiên vẫn chưa
Trang 26xác định được đó là vật dụng của thủy thủ đến từ nước nào Các nhà khảo cổ học vẫn trong quá trình nghiên cứu (xem Phụ lục 1.5)
Di cốt song táng trong di tích Xóm Ốc (huyện đảo Lý Sơn) được khai quật
năm 1997 (niên đại cách nay 2000 đến 2.500 năm): là di cốt cho thấy các hoạt động chôn cất tử thi của cư dân huyện đảo Lý Sơn xưa kia (xem Phụ lục 1.6)
Tàu đắm
Theo UNESCO, một con tàu đắm là tàn tích của một con tàu đã bị đắm, được
tìm thấy hoặc ở trên cạn hoặc ở dưới đáy của hệ thống nước (sông, biển) Sự đắm tàu có thể do vô tình hay cố ý UNESCO ước tính trên toàn thế giới có hơn ba triệu con tàu bị đắm, một số lên đến hàng ngàn năm tuổi nằm dưới đáy đại dương [43b] Các con tàu đắm nổi tiếng thế giới
Tàu đắm RMS Titanic: là con tàu khổng lồ đi vào lịch sử và nổi tiếng kể từ
khi bị chìm vào tháng 4 năm 1912 trong khi đã di chuyển được hai phần ba quãng đường từ Queenstown, Ireland qua Đại Tây Dương để đến New York Xác tàu Titanic nằm khoảng 370 dặm (600km) về phía Nam – Đông Nam ngoài khơi Newfoundland, Bắc Đại Tây Dương, nằm ở độ sâu khoảng 12.500 feet (3800m) Công ty RMS Titanic đã tổ chức các cuộc triển lãm quy mô lớn trên khắp thế giới
về các hiện vật được trục vớt ở trên tàu Rất nhiều các chương trình triển lãm về con tàu Titanic thu hút rất đông du khách đến tham dự trong đó có triển lãm du lịch được gọi là “Titanic: Triển lãm các hiện vật” được tổ chức ở nhiều thành phố khác nhau trên khắp thế giới và thu hút hơn 20 triệu người xem (Wreck of the RMS Titanic)
USS Indianapolis: được nhớ đến như là thảm họa tồi tệ nhất của hải quân Mỹ
trong Thế chiến thứ II, con tàu bị đánh chìm sau khi bị tàu ngầm I-58 Nhật tấn công 300 thủy thủ biến mất sau vài phút, 900 thủy thủ còn lại nhấp nhô trên mặt biển, sau 4 ngày được cứu tuy nhiên 317 trong số đó thiệt mạng do sự tấn công của các loài sống trong đại dương
HMS Endeavour: con tàu nổi tiếng đã đưa thuyền trưởng James Cook trong
chuyến đi đầu tiên khám phá thế giới vào năm 1768 đến 1771
Trang 27The Griffin:là con tàu đầu tiên cho hành trình đến Hồ Lớn Là con tàu có ba
cột buồm lớn được xây dựng bởi nhà thám hiểm người Pháp Rene-Robert Cavelier
Shackleton’s Endurance: con tàu của nhà thám hiểm vĩ đại người Ireland gốc
Anh Ernest Shackleton đã bị mắc kẹt và chìm dưới băng trên biển Weddell trên đường đi từ Anh đến Nam Cực (năm 1916)
MV Dona Paz: được biết đến như con tàu Titanic châu Á – một con tàu đắm
chết người, trở thành thảm họa hàng hải đẫm máu nhất trong lịch sử thời bình, cướp
đi sinh mạng của 4.386 người Dona Paz có nguồn gốc từ Nhật Bản, được thiết kế chỉ dành cho 608 người
Các con tàu đắm đã được phát hiện ở Việt Nam
Tàu cổ Hòn Cau (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ~1690): Tàu cổ Hòn Cau được
phát hiện và khai quật đầu tiên tại vùng biển gần kề đảo Hòn Cau, Bà Rịa – Vũng Tàu vào năm 1990 – 1992 Tàu cổ cách đảo Hòn Cau 15km, chìm sâu dưới cát biển
từ 0,6m đến 1m, ở độ sâu 40m Cuộc khai quật được Bảo tàng lịch sử quốc gia tổ chức với sự tham gia của công ty Visal hợp đồng với công ty Hallstorm Holdings Oceanic của Thụy Điển cung cấp các thiết bị lặn Hiện vật thu được qua cuộc khai quật chủ yếu là gốm sứ, với số lượng khoảng 60.000 hiện vật, hầu hết chúng xuất
xứ từ lò Cảnh Đức Trấn, Sơn Đầu, Đức Hóa – Trung Quốc Niên đại tuyệt đối của con tàu được xác định là vào năm 1690 [48]
Tàu cổ Hòn Dầm (tỉnh Kiên Giang, ~ thế kỷ 15): Tàu đắm vùng biển Hòn
Dầm được khai quật vào tháng 5 năm 1991 Con tàu nằm ở độ sâu hơn 17m và bị vùi trong cát biển có điểm tới 2m Tàu có chiều dài gần 30m và chiều rộng gần 7m Trên tàu mang hàng hóa chủ yếu là gốm sứ Sawankhalok của Thái Lan có niên đại vào khoảng thế kỷ 15 Tổng số hiện vật thu được 10.000 mẫu chủ yếu là gốm men màu xanh ngọc và một số ít các loại men khác như màu chì, da lươn, vàng nâu… Trang trí chủ yếu là kỹ thuật khắc chìm, in vào xương đất và phủ men bên ngoài
Tàu cổ Cà Mau (tỉnh Cà Mau, ~1723 – 1735): được khai quật vào những
năm 1998 – 1999 Tàu nằm ở độ sâu 35m, thân được làm bằng gỗ kim giao, kích thước dài 24m và rộng 8m Trên thân tàu có nhiều vết cháy và hàng hóa trên tàu bị
Trang 28lửa cháy làm biến dạng hoặc bị dính lại thành từng cục, các khóa bằng đồng bị đập méo, bẻ gãy khiến các nhà khảo cổ học cho rằng con tàu này có thể đã gặp cướp biển đốt hoặc bị hỏa hoạn Số lượng hiện vật thu được từ con tàu gồm hơn 60.000 Hàng hóa trên tàu chủ yếu là gốm sứ men trắng vẽ lam từ các lò vùng Cảnh Đức Trấn, Quảng Châu (Trung Quốc) Con tàu được kết luận có thể thuộc thời Ung Chính, Trung Quốc (1723 – 1735)
Tàu cổ Bình Thuận (tỉnh Bình Thuận, ~1573 – 1620): Tàu cổ Bình Thuận
được phát hiện và khai quật trong vùng biển tỉnh Bình Thuận vào năm 2001 – 2002 dưới sự cộng tác của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và công ty Visal và Tiến sĩ Michael Flecker Dấu tích còn lại của con tàu có chiều dài 23,4m và rộng 7,2m với kết cấu 25 khoang Kết quả khai quật thu được hơn 60.000 hiện vật đa số là đồ gốm
sứ hoa lam của các lò vùng Quảng Đông và Phúc Kiến, Trung Quốc Trang trí trên
đồ gốm thể hiện đậm nét phong cách dân gian Trung Quốc, đời Minh Mạng Con tàu được xác định có niên đại vào khoảng 1573 – 1620 (niên hiệu Vạn Lịch) [48]
Tàu cổ Bình Châu: vào tháng 6 năm 2013, Bảo tàng Lịch sử quốc gia phối
hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi cùng công ty TNHH Đoàn Ánh Dương đã tổ chức khai quật con tàu đắn tại vùng biển xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Tàu lộ rõ với chiều dài từ đuôi đến phần mũi tàu còn lại
là 20,5m, chiều ngang rộng nhất phía sau tàu là 5,6m, thân tàu được chia làm 13 khoang với 12 vách ngăn Con tàu đã bị cháy trước khi chìm Hàng hóa trong tàu chủ yếu là đồ gốm sứ bao gồm các chủng loại thuộc dòng gốm men nâu, men ngọc
có các loại hình: hũ, lọ, chậu Các loại hình thuộc dòng đồ gốm men ngọc, đồ sứ hoa lam, đồ sứ men trắng xanh được xác định là các loại đồ gốm sứ thuộc thế kỷ 13, các đồng tiền tìm được có niên đại muộn nhất cũng là thế kỷ 13 [48,tr59]
Con tàu đắm đã được khai quật và trục vớt cổ vật ở Quảng Nam
Tàu cổ Cù Lao Chàm (~ thế kỷ 15): Tàu cổ Cù Lao Chàm được đặt tên theo
địa điểm nó được phát hiện Đầu năm 1990, con tàu này được ngư dân phát hiện cách đảo Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam khoảng 20km về phía đông Con tàu chở đầy đồ gốm của Việt Nam, nằm ở độ sâu 70m cách mặt biển Con tàu được tiến
Trang 29hành khảo sát, khai quật từ năm 1997 đến 1999 bởi Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt
Nam, công ty Saga và Visal, dưới văn bản cấp phép khai quật của Bộ Văn hóa
Thông tin và Văn phòng Chính phủ Việt Nam tháng 02 năm 1997
Theo phân tích của Viện Lâm nghiệp Việt Nam, con tàu được làm từ gỗ Tếch
– thứ gỗ chuyên dùng để đóng tàu Kích thước tàu dài 29,40m, nơi rộng nhất 7,2m, lòng tàu chia làm 19 khoang, là một trong những chiếc tàu đắm lớn nhất trong lịch
sử châu Á Qua hai năm khai quật, đoàn đã thu về được 240.000 hiện vật bao gồm
đồ gốm men, đồ sành, đồ kim loại, đồ gỗ, đồ đá và di cốt người Những đồ gốm có nguồn gốc từ Trung Quốc, Thái Lan, Chăm Pa, Đại Việt Con tàu được xác định là tàu cổ, thuộc thế kỷ XV [48,tr.56]
Hộp 1.2: Chưa có tàu đắm ở Việt Nam được bảo tồn trên bờ
Dù đã được khai quật nhưng không có bất cứ một con tàu đắm nào ở Việt Nam được bảo tồn, lưu giữ trên bờ cho đến nay Một số con tàu bị phá hủy do vô tình hay cố ý sau khi được trục vớt Một số tàu được khai quật nhưng xác tàu vẫn nằm ngoài đại dương, chỉ có các di vật trên tàu (cổ vật) được trục vớt lên và bảo tồn, trưng bày trong một số các bảo tàng (tư nhân hoặc nhà nước) Ví dụ điển hình như tàu cổ Bình Châu (phát hiện ở biển Bình Châu, Quảng Ngãi) hay tàu cổ Cù Lao Chàm (phát hiện ở biển Cù Lao Chàm, Quảng Nam) xác tàu vẫn ở ngoài khơi trong khi di vật trên tàu được trưng bày trong Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi, Bảo tàng
Cù Lao Chàm hay Bảo tàng tư nhân Lâm Dũ Xênh Vì thế, Di sản văn hóa dưới nước của Việt Nam nói riêng, của thế giới nói chung đã bị mất dần hoặc không được bảo tồn đúng nghĩa
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Thương cảng cổ: Thương cảng là một khái niệm chỉ một vị trí trên bờ biển
hay ven bờ có chứa một hay nhiều bến cảng nơi các con tàu có thể cập cảng và vận chuyển người hay hàng hóa đến hoặc đi từ đất liền
Các thương cảng cổ nổi tiếng thế giới
Thương cảng Manila – Philipines: Cảng Manila là nơi mà người Tây Ban
Nha đặt chân đầu tiên lên vùng đất này, ngày nay, nó là hải cảng to lớn nhất Philippines Cảng Manila thuộc vịnh Manila nằm ở hai bờ của sông Pasig Cảng được chia thành 3 khu; gồm khu Nam cảng, khu Bắc cảng và khu Cảng quốc tế
Trang 30Hiện nay, lượng hàng hóa xuất cảng hàng ngày lên đến 30 triệu tấn Cảng Manila được xem là một trong 30 cảng lớn nhất thế giới [27].
Cảng Pompeii – Italia: là tàn tích một thành bang La Mã bị chôn vùi một
phần gần Napoli, Italia hiện nay trong vùng Campania, thuộc địa giới công xã Pompeii Cùng với Herculaneum, thành phố chị em của nó, Pompeii đã bị phá huỷ
và bị chôn vùi hoàn toàn dưới 4 – 6m bởi tro núi lửa và đá bọt, trong một vụ phun trào hai ngày của núi lửa Vesuvius năm 79 sau Công nguyên
Nơi này đã biến mất trong 1,700 năm trước khi nó bất ngờ được khám phá năm 1599 và năm 1748 Từ đó, việc khai quật Pompeii đã cung cấp một cái nhìn bên trong rất chi tiết về cuộc sống của một thành phố ở thời cực thịnh của Đế chế
La Mã Pompeii đã là một điểm đến du lịch trong hơn 250 năm và là Di sản Thế giới của UNESCO tại Ý thu hút đông khách nhất, với khoảng 2,5 triệu du khách mỗi năm (Pompeii – https://en.wikipedia.org/wiki/Pompeii)
Các thương cảng cổ trên thế giới được bảo tồn và quảng bá mạnh mẽ góp phần phát triển nền kinh tế du lịch các nước trên thế giới như: Long Beach (California, US), Rotterdam (Hà Lan), Sydney (Úc), Portus Tiberinus, Portus Claudius, Portus Trajanus and Ostia (Rome), Kantharos, Munychia, Zea (Athens) …
Các thương cảng cổ ở Việt Nam
Vân Đồn (Quảng Ninh), Hội An (Quảng Nam), Phố Hiến (Hưng Yên), Thanh
Hà – Bao Vinh (Thành phố Huế), Hà Tiên (Kiên Giang), Hội Thống (Hà Tĩnh), Óc
Eo (An Giang)
Thương cảng cổ ở Quảng Nam
Đại Chiêm Hải Khẩu (Cảng Cửa Đại) - Hội An chính là một cảng-thị đã
được thiết lập từ thời tiền sử để điều hành một hệ thống thương mại xa bờ hoặc giao lưu quốc tế cũng như một hệ thống trao đổi ven sông của cư dân nội địa ở miền trung du và thượng du Dựa trên các cứ vật khảo cổ học rất phong phú tìm thấy trong văn hóa Sa Huỳnh ở vùng Hội An và lưu vực sông Thu Bồn với các di tích
Trang 31tiêu biểu như Lai Nghi, Gò Dừa, Hoàn Châu, v.v., có niên đại từ thế kỷ thứ 2 trước
CN đến thế kỷ thứ 2 CN, chúng ta biết rằng nền kinh tế-xã hội của vùng này đã phát triển rất cao… Đại Chiêm Hải Khẩu - Hội An là một trong những cảng-thị được hình thành sớm nhất ở vùng Đông Nam Á [36,49]
Du lịch Di sản văn hóa dưới nước
Từ các khái niệm về Di sản văn hóa dưới nước, du lịch Di sản văn hóa, tác giả
quan niệm rằng, “Du lịch Di sản văn hóa dưới nước (UCHT) là kiểu hình du lịch tập trung vào khía cạnh di sản văn hóa dưới nước, cho các kiến thức lý thuyết, các trải nghiệm thực tế về các di sản văn hóa dưới nước bao gồm tất cả các hoạt động tham quan trên bờ hay các hoạt động bơi lặn ở dưới nước”
Một số hình ảnh về UCHT trên thế giới
Khách du lịch đến chiêm ngưỡng Tàu đắm tại bảo tàng Vasa, Thụy Điển:
Vasa là chiến hạm mới nhất của Hải quân Hoàng gia Thụy Điển bắt đầu cuộc hành trình ngắn ngủi của mình vào ngày 10 tháng 8 năm 1628 Sau khi đi được 1300m, sau một cơn gió mạnh, chiếm hạm bị lật úp trên hải cảng Stockholm, làm 53 người chết Sau 333 năm ngày bị đắm, 1961 Vasa được trục vớt, bảo tồn tại Bảo tàng Vasa, Thụy Điển Khách du lịch khắp nơi trên thế giới khi đặt chân đến Thụy Điển,
họ không bao giờ bỏ qua con tàu Vasa này (Phụ lục 1.13)
Khách tham gia du lịch lặn biển tại Goa, Ấn Độ: Nằm ở phía tây của Ấn Độ
giáp với biển Ả Rập, Goa thành phố nhỏ bé thu hút 2 triệu lượt khách mỗi năm và được xem là trung tâm du lịch của Ấn Độ Goa có hệ thống bãi biển tuyệt vời trong
đó Dona Paula là điển hình Du lịch lặn biển tại Goa hiện đang thu hút rất nhiều du khách khắp nơi trên thế giới (Phụ lục 1.14)
Tiềm năng phát triển du lịch UCH ở Việt Nam
Tàu cổ Bình Châu, Quảng Ngãi: Một số con tàu cổ được phát hiện ở biển
Bình Châu, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi được cho là những con tàu xa xưa của các thương gia đến từ Tây Ban Nha, hoặc Hà Lan (Đông Ấn Hà
Trang 32Lan) bị đắm chìm hàng trăm năm trước (có con tàu được xác định bị đánh chìm vào khoảng 700 năm trước) Các cổ vật được trục vớt từ một trong số những con tàu ở đây có niên đại đến hơn 700 năm trước Sau một số các đợt nghiên cứu và điều tra khu vực biển Bình Châu, các nhà khoa học phát hiện đây không chỉ có một vài mà rất nhiều các con tàu bị đắm, và nơi đây được ví như “nghĩa địa tàu cổ” Khu vực biển Bình Châu có tiềm năng vô cùng lớn trong việc khai thác UCHT
Tàu cổ Cù Lao Chàm: con tàu này được phát hiện tại vùng biển Cù Lao
Chàm, xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Con tàu chứa “kho cổ vật
500 năm” được các đơn vị trong và ngoài nước thu thập hơn 255.000 cổ vật còn nguyên vẹn sau hai cuộc khai quật từ năm 1997 đến 2007 Hiện các cổ vật trục vớt
từ con tàu này được trưng bày tại bảo tàng Di sản biển Cù Lao Chàm Còn xác tàu vẫn nằm ở ngoài khơi biển Cù Lao Chàm Sẽ là tiềm năng rất lớn cho các hoạt động lặn biển ngắm tàu cổ
Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi: là bảo tàng được đánh giá là có nguồn tư
liệu, hiện vật dồi dào, phong phú, trưng bày rất nhiều các cổ vật khác nhau Đặc biệt, bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi hiện trưng bày hơn 500 cổ vật là các di sản văn hóa dưới nước được khai quật từ các con tàu đắm ở các vùng biển thuộc Quảng Ngãi và các tỉnh lân cận
Bảo tàng Cù Lao Chàm, Quảng Nam: nơi đây trưng bày hơn 1000 hiện vật
được trục vớt từ các con tàu đắm Cù Lao Chàm và Bình Châu bao gồm các loại hình như đĩa, bát, hộp phấn, chén, hũ, bình Tỳ Bà, ấm Kendi với các họa tiết hoa văn trang trí nhiều chủ đề chim muông, hoa lá, cây cỏ, phong cảnh, người … và một
số các đồ dùng của thủy thủ đoàn Gần 600 tiêu bản hiện vật cổ có niên đại thế kỷ
13 [35b]
Và rất nhiều các di sản văn hóa dưới nước có tiềm năng trong việc phát triển
du lịch như thương cảng Hội An, thương cảng Cù Lao Chàm, thương cảng Phố Hiến, thương cảng Thanh Hà …
Tổng quan phát triển UCHT ở Việt Nam
Trang 33Hiện nay, du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam dường như vẫn còn là một khái niệm chưa rõ ràng đối với các nhà hoạch định chính sách, quản trị du lịch cũng như nhà đầu tư – kinh doanh du lịch, do vậy du lịch di sản văn hóa Việt Nam chưa thực
sự phát triển Nói cách khác, phát triển một cách manh mún, nhỏ lẻ, không có hệ thống, không chuyên nghiệp ở một số các địa phương nhỏ có Di sản văn hóa như Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An…
Đối với di sản văn hóa dưới nước, Việt Nam thậm chí chưa có khái niệm UCHT, càng không có bất cứ hoạt động nào về UCHT
Hộp 1.3: Đến năm 2016, Việt Nam vẫn chưa có khái niệm
“Du lịch Di sản văn hóa dưới nước”
Mặc dù, Việt Nam đã có nhiều các hoạt động liên quan đến Di sản văn hóa dưới nước (nằm trong chủ đề nghiên cứu của Khảo cổ học dưới nước) như khai quật tàu đắm giữa sự hợp tác của các cơ quan như Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi, các tỉnh Bình Thuận, Quảng Nam… cùng các đơn vị khai quật trong và ngoài nước như Visal, Đoàn Ánh Dương; tuy nhiên, ngoài việc phục vụ cho nghiên cứu khoa học, các cuộc khai quật chưa đáp ứng/ hoặc chưa được khai thác để phục vụ cho các nhu cầu khác của cộng đồng, của xã hội như vấn đề phát triển du lịch gắn với các di sản văn hóa dưới nước hay các hoạt động giải trí, văn hóa như lặn biển, tham quan các di sản văn hóa dưới nước Có một vài các hoạt động nhỏ lẻ, tự phát của một vài cá nhân hay doanh nghiệp trong việc mở các Nhà trưng bày các di sản văn hóa biển như Nhà trưng bày Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Nhà trưng bày Lâm Dũ Xênh (Quảng Ngãi) Tuy nhiên, các hoạt động đó không gắn liền với cụm từ “UCHT”, không
có bất cứ một tổ chức hay doanh nghiệp nào được biết đến gắn liền với cụm từ
“UCHT”
Nguồn: Tác giả tổng hợp
1.1.3 Các yếu tố tác động đến sự phát triển Du lịch UCH
Yếu tố nội tại - Nguồn tài nguyên có sẵn (Điểm UCHT): Theo mô hình FTS
của Gunn, để phát triển UCHT, điều quan trọng đầu tiên là địa phương/ vùng miền/ đất nước đó phải có các UCH Đó chính là nguồn “tài nguyên có sẵn” – yếu tố nội tại bắt buộc phải có Vì nếu như không có UCH – nguồn tài nguyên quan trọng thì không thể nào phát triển du lịch liên quan đến UCH được
Trang 34Dưới góc độ kinh doanh, người bán hàng phải có hàng để bán Do vậy, để bán được hàng là các hoạt động “dịch vụ du lịch” liên quan đến UCH, người bán hàng phải kiến tạo ra các sản phẩm để bán, để tạo ra được các sản phẩm, phải có nguồn nguyên liệu tạo nên sản phẩm Trong khái niệm này, UCH chính là nguồn nguyên liệu để tạo nên các “sản phẩm hoàn hảo” để bán cho khách hàng (khách du lịch) Người mua hàng mua “sự hiểu biết về các con tàu đắm tại địa phương đó”, người mua hàng mua “sự trải nghiệm lặn biển ở địa phương đó” hay mua “sự trải nghiệm thực tế về các cổ vật có niên đại hàng trăm năm” … Vì vậy, nguồn tài nguyên Di sản văn hóa dưới nước có sẵn tại địa phương đó chính là yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc khai thác và kinh doanh UCHT
Sự truyền thông, quảng bá của các doanh nghiệp kinh doanh ngành du lịch: Đây là một trong năm yếu tố quan trọng nhất (theo mô hình FTS của Gunn)
không thể thiếu trong việc phát triển UCHT Truyền thông, quảng bá giúp cộng đồng trên khắp thế giới có thông tin, hiểu biết về UCH của quốc gia; thu hút cộng đồng đến với các UCH Truyền thông, quảng bá gia tăng nhu cầu của khách hàng –
là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển UCHT
Nhu cầu mong muốn của khách du lịch nội địa và quốc tế: là một trong năm
yếu tố quan trọng nhất (theo mô hình FTS của Gunn) trong việc phát triển UCHT Nhu cầu càng lớn tức là cầu trên thị trường càng lớn, thì tiềm năng phát triển kinh doanh càng lớn, cơ hội bán hàng (là các dịch vụ liên quan đến UCH) là lớn
Hệ thống các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu khách hàng: là một trong năm yếu
tố quan trọng nhất (theo mô hình FTS của Gunn) trong việc phát triển UCHT Hệ thống các dịch vụ càng hoàn thiện, càng chuyên nghiệp thì hiệu quả khai thác kinh doanh UCHT càng cao Hệ thống các dịch vụ càng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, thì càng gia tăng giá trị của sản phẩm UCHT, điều này sẽ khiến cho nhu cầu của khách hàng càng được gia tăng thêm, kéo theo nguồn cầu về UCHT trên thị trường càng mở rộng
Chính sách phát triển văn hóa và du lịch của Chính phủ nói chung, tỉnh
Quảng Nam riêng sẽ làm cơ sở, nền tảng và là động lực cho ngành UCHT phát
Trang 35triển Các chính sách đối với ngành càng tốt, càng thu hút nhiều đầu tư vào ngành, thu hút nhu cầu của cộng đồng đi du lịch đến Việt Nam, càng gia tăng lợi nhuận và tăng cao GDP quốc gia
Các yếu tố khác (cơ sở hạ tầng, môi trường, văn hóa địa phương, văn hóa
quốc gia, chính sách xã hội, dân trí…) có ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp đến ngành Cơ sở hạ tầng tốt, sẽ khiến việc di chuyển của khách hàng đến điểm UHCT thuận lợi, hay môi trường sạch đẹp, trong lành càng gia tăng sự hài lòng của du khách Văn hóa địa phương, quốc gia càng độc đáo, đặc trưng càng hấp dẫn và thu hút du khách
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá khai thác, kinh doanh du lịch UCH
Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh UCHT: tiêu chí này cho biết con số
các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực UCHT Tiêu chí này cho thấy ngành UCHT có hay không hấp dẫn các doanh nghiệp trong việc khai thác UCH và phát triển kinh doanh Số lượng doanh nghiệp kinh doanh UCHT càng cao, chứng tỏ
UCHT là ngành kinh doanh đầy hấp dẫn và hướng tới sự phát triển bền vững
Số lượt khách du lịch (nội địa và quốc tế): tiêu chí này cho biết số lượt
khách du lịch đến vùng/ quốc gia đó trong một giai đoạn thời gian nào đó (ngày, tháng, năm) Tiêu chí này cho thấy UCHT của vùng/ quốc gia có phát triển trong giai đoạn thời gian đó hay không Đây là tiêu chí rất quan trọng vì đó chính là con
số cụ thể nhất để đưa lên bài toán về doanh thu, lợi nhuận của ngành
Số lượng lao động trong ngành: tiêu chí đánh giá nguồn việc làm có được từ
hoạt động UCHT Điều này đánh giá UCHT phát triển hay không? Có hấp dẫn các nguồn lực lao động hay không? Số lượng lao động trong ngành càng chiếm tỉ lệ
cao, thì ngành càng phát triển
Doanh thu của ngành: là tiêu chí quan trọng cho thấy kết quả kinh doanh của
ngành sau một giai đoạn nào đó Doanh thu được đưa ra cụ thể bằng các con số, các con số sẽ đánh giá các hoạt động kinh doanh của ngành là hiệu quả hay không và
đánh giá các tiềm năng hoạt động kinh doanh trong tương lai Doanh thu của ngành trong một năm bằng tổng số lượt du khách tới vùng/quốc gia nhân với chi tiêu trung
Trang 36bình/du khách Doanh thu của ngành càng cao, chứng tỏ ngành càng phát triển, càng
thu hút sự đầu tư và nguồn nhân lực vào ngành trong tương lai
Lợi nhuận của ngành: là tiêu chí quan trọng nhất cho thấy kết quả kinh
doanh cuối cùng của ngành sau một giai đoạn nào đó Lợi nhuận được đưa ra cụ thể bằng các con số, các con số sẽ đánh giá các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
là hiệu quả hay không và đánh giá các tiềm năng hoạt động kinh doanh của ngành
trong tương lai Lợi nhuận của ngành bằng doanh thu của ngành trừ đi chi phí ngành đã chi ra Lợi nhuận của ngành càng cao, chứng tỏ ngành càng phát triển,
càng thu hút sự đầu tư và nguồn nhân lực vào ngành trong tương lai
GDP ngành đóng góp cho quốc gia: Là con số quan trọng cho thấy sự phát
triển của UCHT và mức độ đóng góp của ngành đối với nền kinh tế quốc gia Chỉ số GDP càng cao, càng cho thấy sự phát triển của ngành trong nền kinh tế quốc gia
1.2 Một số vấn đề thực tiễn
1.2.1 Mô hình khai thác và kinh doanh Du lịch UCH ở các nước trên thế giới
Các con tàu bị đắm ngoài khơi ở các vùng biển trên thế giới được phát hiện, trục vớt và bảo tồn cùng với các di vật trên tàu trong các bảo tàng Và với tiềm năng
to lớn về các di sản văn hóa dưới nước đó, các nước trên thế giới đã khai thác và phát triển du lịch thành công [45]
1.2.1.1 Mô hình khai thác và kinh doanh du lịch gắn với bảo tàng
Trên thế giới có nhiều mô hình khai thác và kinh doanh du lịch gắn với bảo tảng và đã rất thành công Điển hình như một số trường hợp sau:
Bảo tàng Vasa (Thụy Điển) (Xem thêm Phụ lục 1.2.1.1)
Bảo tàng Vasa, Thụy Điển trưng bày chiến hạm Vasa [48a] Chiến hạm Vasa
là chiếm hạm mới nhất của Hải quân Hoàng gia Thụy Điển, dài 69m, cao hơn 50m, nặng 1200 tấn cùng 10 cột buồm, 64 khẩu pháo, 120 tấn dằn, và hàng trăm tác phẩm điêu khắc Ngày 10/8/1628, chiến hạm vừa mới bắt đầu cuộc hành trình, chỉ mới cách bờ khoảng 1300m, sau một cơn gió lớn con tàu bị lật và chìm sâu dưới đáy biển, trên hải cảng Stockholm Vào năm 1961, 333 năm sau ngày bị đắm, Vasa được trục vớt và bảo tồn trong bảo tàng Vasa Ngày nay, con tàu vĩ đại Vasa trở
Trang 37thành hình ảnh nổi bật nhất mà bất cứ du khách nào đến Thụy Điển, đều mong muốn được chiêm ngưỡng Bảo tàng này đón hơn 1 triệu lượt khách mỗi năm Tính
từ 1961 đến nay, hơn 30 triệu lượt khách đã mang về cho thành phố Stockholm khoảng 300 triệu đô la Mỹ
Hộp 1.4: Doanh thu bảo tàng Vasa ước tính 300 triệu USD mỗi năm
Cuộc khảo sát năm 2009 cho thấy bảo tàng Vasa thu hút du khách mọi lứa tuổi, độ tuổi trung bình là 41 trong đó, 20% du khách là người dân Thụy Điển, 80% là người nước ngoài (trong đó khoảng 13% là đến từ Đức và Mỹ, 6% đến từ Tây Ban Nha) Khách du lịch đến từ Nga gia tăng nhanh chóng với tỉ lệ từ 3% lên đến 7,5% trong hơn 1 năm Ước tính, bảo tàng Vasa thu hút lượng khách du lịch khổng lồ, trung bình mỗi người khách du lịch chi tiêu khoảng 200 Euro mỗi ngày (cho khách sạn, thức ăn và các chi phí đi lại khác) ở Stockholm và Vasa đạt doanh thu 300 triệu USD mỗi năm
Nguồn: UNESCO
Các bảo tàng Great Lake Maritime (ở Mỹ) (Xem thêm Phụ lục 1.2.1.2)
Có bảy bảo tàng di sản văn hóa dước nước ở vùng Hồ Lớn, Vermont và Champlain, nước Mỹ Bao gồm: Bảo tàng Door County Maritime; Bảo tàng Great Lake Shipwreck; Bảo tàng Lake Champlain Maritime; Trung tâm Lake Superior Maritime Visitors; Bảo tàng Marquette Maritime; Bảo tàng Michigan Maritime; Bảo tàng Ship Valley Camp; Bảo tàng Wisconsin Maritime
Nguồn thu của họ bao gồm các khoản đóng góp, tài trợ, các hợp đồng các chương trình và dự án riêng biệt, hội phí và các thu nhập khác như chương trình tuyển sinh, học phí các chương trình, bán hàng và phân phối các khoản hiến tặng Trung bình mỗi năm, có khoảng 91.978 lượt khách du lịch đến tham quan trên mỗi bảo tàng Riêng Lake Superior Maritime Visitors Center, thu hút khoảng 400.000 du khách mỗi năm Ngân sách bảo tàng rơi vào khoảng 110,000 đến 2 triệu đô la Mỹ tùy thuộc vào quy mô của các cuộc triển lãm, các chương trình, giờ
mở cửa…
Năm 1995, có 34,5 triệu du khách tới Michigan, Mỹ Năm 2000, ngành công nghiệp du lịch Michigan đã kiếm về 12,8 tỷ đô la Mỹ, với 173.000 nhân viên, với 3,8 tỷ đô la tiền lương, Với khoảng 90% lượng khách du lịch ở lại qua đêm tại
Trang 38Michigan, đã khiến cho Michigan mang về cho chính quyền địa phương 800 triệu
đô la tiền thuế
Bảo tàng Mary Rose (Anh) (Xem thêm Phụ lục 1.2.1.3)
Bảo tàng Mary Rose, thành phố Portsmouth, nước Anh trưng bày các hiện vật
và tàu chiến Mary Rose Mary Rose là tàu chiến của Hải quân Anh dưới thời vua Henry VIII triều nhà Tudor Được xây dựng năm từ 1509 – 1510
Năm 1545, sau 34 năm hoạt động, nó bị chìm ở Solent, phía bắc eo biển của Isle of Wight sau khi dẫn đầu cuộc tấn công vào một hạm đội gale của Pháp Năm
1971, Mary Rose được khám phá và được trục vớt vào năm 1982 sau gần 500 năm
ở dưới đáy biển Chiến hạm được trưng bày trong bảo tàng trong thành phố cảng Portsmouth Ban đầu, con tàu này được trưng bày tạm thời trong một khu bảo tồn nhưng sau đó, một bảo tàng mới sau đó được xây dựng và mở cửa vào năm 2013 Mặc dầu bộ sưu tập trong bảo tàng Mary Rose được công nhận là bộ sưu tập quan trọng của quốc gia, nhưng Mary Rose không phải là bảo tàng thuộc quyền quản lý quốc gia, do vậy, bảo tàng này không có ngân sách từ Nhà nước, nguồn thu nhập của nó đến từ khách du lịch, các khoản tài trợ và các khoản đóng góp và của các đơn vị đỡ đầu
Theo một cuộc khảo sát năm 2008, nguồn thu của Mary Rose, 29% đến từ khách tham quan du lịch, 21% từ đơn vị đỡ đầu, 35% là tài trợ của quỹ Di sản Quốc gia, phần còn lại là của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác Chính quyền địa
phương chỉ ủng hộ 2% trong đó (Hình 1.1) Bảo tàng Mary Rose chính thức mở cửa
vào ngày 31/05/2013 Họ đã tiếp đón 100.000 lượt khách chỉ mới 8 tuần sau đó
Trang 39Hình 1.1: Nguồn thu nhập của bảo tàng Mary Rose năm 2008
Nguồn: UNESCO
Bảo tàng Khảo cổ học dưới nước Arqua, Cartagena (Tây Ban Nha) (Xem thêm Phụ lục 1.2.1.4)
Bảo tàng Quốc gia Arqua (Cartagena) này chịu trách nhiệm về việc nâng cao
nhận thức của công chúng về Di sản văn hóa dưới nước của Tây Ban Nha, thúc đẩy
sự bảo tồn và phát huy các giá trị của nó Bảo tàng có hai không gian cụ thể: một là dành cho các công trình hải quân và hàng hải và một là dành cho các tàu đắm và cảng biển thuộc Địa Trung Hải
Bảo tàng có đặc trưng là trưng bày tàu đắm Phoenic “Mazaron I” thế kỷ 17 trước Công nguyên được khai quật gần Cartagena Việc cải tạo toàn bộ trung tâm thành phố Cartagena và khu vực cảng của nó năm 2008 bao gồm việc xây dựng bảo tàng và phục hồi lại giảng đường La Mã ở gần đó Bốn năm sau, du lịch của thành phố đã gia tăng lên 10% Con số này đã đánh dấu sự thành công của phát triển du lịch vùng
Dự án bảo tàng dưới nước Alexandria (Ai Cập) (Xem thêm Phụ lục 1.2.1.5)
Trang 40Trong suốt 40 năm nghiên cứu khảo cổ mãnh liệt tại vùng vịnh hải cảng Alexandria và Abukir, đã xuất hiện sự tồn tại của khu di tích cổ bị ngập chìm dưới đáy đại dương bao gồm “Portus Magnus” (là tên gọi bằng tiếng Latinh của Cảng Lớn, là một trong số những cảng La Mã cổ đại) từ thời Ptolemaic (là những triều đại cuối cùng của Ai Cập cổ đại, đế chế của họ kéo dài 275 năm, từ năm 305 đến năm
30 trước Công nguyên), di tích ngọn hải đăng Alexandria, 3 thành phố bị ngập chìm
và những còn tàu đắm cổ trong đó có soái hạm của hạm đội Napoleon Thêm nữa, là hàng ngàn những cổ vật quan trọng khác được phát hiện và xác định
Trong khi bảo tàng chưa được xây dựng, một cuộc triển lãm quốc tế “Những kho báu Ai Cập bị chìm dưới đại dương” đã được tổ chức ở một số quốc gia nói về các khám phá ở Alexandria Đó là một thành công rất to lớn, thể hiện sự quan tâm mạnh mẽ của quốc tế đối với các tìm kiếm phi thường Sau Berlin, Paris, Madrid, cuộc triển lãm đã đã tới Turin và Yokohama, Nhật Bản Cuộc triển lãm được chiêm ngưỡng bởi 3 triệu lượt khách du lịch khiến cho nó trở thành một trong những cuộc triển lãm đáng chú ý nhất trong những năm gần đây Tổng thu về là con số đáng kể, một phần trong đó được đóng góp vào kế hoạch xây dựng bảo tàng dưới nước ở Alexandria (khoảng 1,6 triệu đô la Mỹ)
Mặc dù thành công từ cuộc triển lãm là rất lớn nhưng tự thân thành phố Alexandria vẫn chưa có nhiều lợi nhuận Một nghiên cứu năm 2006 cho biết sức chứa du khách của Alexandria bị hạn chế trong khi các chi phí khách sạn thì cao mặc dầu không có nhiều du khách nước ngoài tới Thu nhập sẽ tăng lên đáng kể nếu
số lượng du khách ở lại tăng lên, có nghĩa cần có nhiều hơn các hoạt động văn hóa
và giải trí thu hút khách du lịch
Dự án xây dựng bảo tàng dưới nước Alexandria để chứa đựng tất cả các khám phá từ cảng Alexandria và Abukir đã nhận được sự chào đón rất nhiệt tình của cả thành phố
Việc tạo ra bảo tàng dưới nước Alexandria sẽ dẫn đến những lợi ích trực tiếp (trong ngành công nghiệp du lịch) và gián tiếp (ngành công nghiệp xây dựng) cho thành phố này Sẽ tạo ra nguồn việc khổng lồ cho thành phố từ các dịch vụ khách