Việc quản lý nhà nước về khu di tích Nguyễn Du bao gồm: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sáchphát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản
Trang 1TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Di tích lịch sử là tài sản vô giá trong kho tàng di sản lâu đời của dân tộc đangđược các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dânđang đặc biệt quan tâm Hơn nữa, trong những năm gần đây Kinh tế - Xã hội có nhiềuchuyển biến tích cực, đời sống vật chất tinh thần nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhucầu về văn hóa tâm linh ngày càng cao Các di tích tồn tại qua thời gian lâu dài và chịutác động mạnh mẽ từ điều kiện tự nhiên, chịu sự quá tải với số lượng khách lớn đếntham quan, còn tồn tại một số người dân địa phương ý thức kém làm ảnh hưởng xấu
đến khu di tích Vì vậy, để bảo tồn và phát triển khu di tích tôi xin chọn đề tài “Tăng cường quản lí nhà nước tại khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh” làm khóa luận tốt nghiệp của mình Đề tài nhằm giải quyết
được 3 mục tiêu cụ thể: i) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lí
di tích lịch sử văn hóa ii, Đánh giá thực trạng quản lí di tích khu di tích Nguyễn Du xãTiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt độngquản lý khu di tích iii,Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lí nhà nước tại khu ditích Nguyễn Du xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
Đề tài tập trung nghiên cứu tại Khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, tổng hợp, đánh giá các nội dung nghiên cứu trong khoảng thời gian 3 năm (2012, 2013, 2014) đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
Bên cạnh việc thu thập thông tin, các số liệu thứ cấp, đề tài đã tiến hành điều tra,phóng vấn 16 cán bộ trong Ban quản lý khu di tích, 16 người dân địa phương, 24 kháchđến tham quan khu di tích và 20 hộ kinh doanh tại Khu di tích lịch sử Nguyễn Du
Dưới đây là các nội dung chính của khóa luận:
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Trong nội dung này, đề tài đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đếnviệc quản lý di tích lịch sử: một số khái niệm liên quan đến quản lý di tích, di tích lịch
sử văn hóa, đặc điểm, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý di tích lịch sử
Nghiên cứu tham khảo những kinh nghiệm trong cách quản lý di tích một số địaphương trong nước Đây là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối vớicông tác quản lý khu di tích lịch sử ở hiện tại và tương lai
Trang 22 Thực trạng quản lý Khu di tích lịch sử Nguyễn Du.
Trên cơ sở phân tích các thông tin, tài liệu, số liệu trên địa bàn nghiên cứu vềxây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức bộ máy thực hiện quản lý khu di tích,công tác tuyên truyền nâng cao ý thức cho xã hội, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý viphạm qua các năm từ đó đánh giá chung về sự phát triển của Khu di tích lịch sử Đạithi hào Nguyễn Du Từ nghiên cứu và phân tích đó đã cho thấy:
Các chương trình bảo tồn và phát triển khu di tích sẽ phục vụ các tầng lớp nhândân, khách tham quan du lịch… Các dự án quy hoạch tại khu di tích bắt đầu tiến hành,tôn tạo ngay từ khi thành lập Ban quản lý, nhằm khôi phục lại những công trình di tíchlịch sử, văn hóa trải qua nhiều năm tháng đã bị hư hỏng và xuống cấp Xây dựng quyhoạch các hạng mục công trình với tổng diện tích là 50 ha, nổi bật là có dự án quyhoạch cụm di tích và xây dựng hạ tầng dịch vụ tổng hợp
Việc quản lý nhà nước về khu di tích Nguyễn Du bao gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sáchphát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hoá;
- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá;
- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũcán bộ chuyên môn về di sản văn hoá;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sảnvăn hoá;
- Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sảnvăn hoá;
- Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử
lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá
3 Kết quả đạt được: Việc tăng cường quản lý Khu di tích lịch sử Nguyễn Du đãđạt được những kết quả như: cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp, huy động thêmđược nhiều nguồn lực đầu tư, nâng cao vật chất, cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực chocán bộ, lượt khách tăng lên đáng kể, nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân
Trang 3Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý khu di tích chủ yếu là về điều kiện tựnhiên, nhân lực, ý thức của người dân.
Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả công tác quản lý:
Điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết tuy thuận lợi vào dịp lễ hội nhưng vàokhoảng tháng 8,9,10 thì mưa nhiều, có bão, lũ làm cho đường đi tham quan bị ảnhhưởng, các hạng mục bị ảnh hưởng, thiệt hại nặng nề Đây là yếu tố ảnh hưởng bất ngờkhiến cho các cán bộ trong Ban quản lý phải tìm hiểu và đưa ra những kế hoạchthường xuyên, liên tục thay đổi
Số lượng cán bộ trong khu di tích đang còn ít, chưa đảm bảo xử lý được hết cáccông việc trong khu di tích đặc biệt là đến dịp lễ hội Hơn nữa, các cán bộ này lại chịutrách nhiệm với công việc khác ngoài khu di tích làm cho hiệu quả quản lý có thểkhông được tốt và bản thân cán bộ cũng phải chịu nhiều áp lực từ việc đảm nhiệmcông việc ở nhiều nơi
Trình độ ngoại ngữ, khả năng giao tiếp, nắm bắt tâm lý của khách tham quan củamột số cán bộ còn hạn chế làm mất đi sự hài lòng của khách khi đến với khu di tích
Khu di tích hiện nay đang trong công cuộc đầu tư xây dựng đổi mới nên chắcchắn không thể tránh được những thiếu sót và việc quản lý chưa được quen thuộc.Ngoài ra, khi quy hoạch, xây dựng có làm ảnh hưởng đến ruộng lương, đường ngõ củamột số hộ nông dân mà Ban quản lý chưa có cách giải quyết thỏa đáng
Còn tồn tại 1 bộ phận người dân địa phương, khách tham quan thiếu tôn trọng,gây mất trật tự, phá hoại khu di tích
4 Giải pháp
Các giải pháp như: Tăng cường công tác quản lý và thực hiện quy hoạch, đẩymạnh công tác tổ chức quản lý khu di tích lịch sử, tăng cường công tác giới thiệu,quảng bá, huy động nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụchuyên môn, bảo tồn và phát triển khu di tích, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực,nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân, làm tốt công tác an ninh trật tự, vệ sinhmôi trường
5 Kết luận và kiến nghị Đề tài kết luận lại những vấn đề đã nghiên cứu đồngthời kiến nghị đối với Đối với Sở Văn hóa – Thể thao- Du lịch Hà Tĩnh và Ban quản lýKhu di tích lịch sử Nguyễn Du
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xi
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiêu cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Giá trị của di tích lịch sử văn hóa 10
2.1.3 Đặc điểm của quản lý về di tích lịch sử văn hóa 11
2.1.4 Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về di tích lịch sử 14
2.1.5 Nguyên tắc quản lý nhà nước về di tích lịch sử 16
2.1.6 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử 20
2.1.7 Nguyên tắc trùng tu di tích 26
2.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 27
2.1.9 Cuộc đời và sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du 29
2.2 Cơ sở thực tiễn 32
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý khu di tích lịch sử ở một số khu di tích lịch sử của Việt Nam 32
Trang 52.2.2 Bài học kinh nghiệm 34
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Khái quát chung về khu di tích đại thi hào Nguyễn Du 36
3.1.1 Quá trình xây dựng và hình thành khu di tích đại thi hào Nguyễn Du 36
3.1.2 Các công trình kiến trúc tiêu biểu của khu di tích 39
3.1.3 Những giá trị tiêu biểu của khu di tích đại thi hào Nguyễn Du 47
3.2 Phương pháp nghiên cứu 50
3.1.2 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 50
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN DỰ KIẾN 55
4.1 Thực trạng công tác quản lí hoạt động bảo tồn di tích 55
4.1.1 Mô hình quản lí, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn ban quản lí di tích khu di tích đại thi hào Nguyễn Du 55
4.1.2 Chính sách trùng tu, tu bổ, tôn tạo và quy hoạch các điểm di tích 57
4.1.3 Tổ chức kiểm kê, lập hồ sơ quản lý và hồ sơ xếp hạng di tích 63
4.1.4 Tổ chức lễ hội, các hoạt động du lịch, tuyên truyền quảng bá gắn với khu di tích 64
4.1.5 Huy động , quản lý, sử dụng các nguồn lực 72
4.1.6 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá 74
4.1.7 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực 75
4.1.8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá .77
4.1.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước tại khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du 78
4.1 Kết quả hoạt động thực tiễn của công tác quản lí khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du 81
4.1.1 Những mặt tích cực 81
4.1.2 Những mặt hạn chế 83
4.1.3 Nguyên nhân 84
Trang 64.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước tại khu di tích Đại thi hào
Nguyễn Du 84
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
5.1 Kết luận 87
5.2 Kiến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 91
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 : Phân bổ mẫu điều tra 51
Bảng 4.1 Một số công trình đã được trùng tu trong giai đoạn 2010-2015 58
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch chính của di tích 60
Bảng 4.2 Danh mục các di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng 64
Bảng 4.3 Một số lễ hội truyền thống của xã Tiên Điền 65
Bảng 4.5 Thống kê du khách đến với khu di tích trong 3 năm 2012-2014 67
Bảng 4.6 Nguồn tài chính sử dụng cho Khu di tích lịch sử Nguyễn Du 72
Bảng 4.7 Đánh giá của cán bộ quản lý về chế độ làm việc trong khu di tích 76
Bảng 4.8: Đánh giá chất lượng dịch vụ của khách tham quan 78
Bảng 4.9 Đánh giá của người dân địa phương về sự thay đổi của khu di tích Nguyễn Du 83
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Nhà tư văn 1 40
Hình 4.1: Nhà thờ Đại thi hào Nguyễn Du 41
Hình 4.2: Nhà trưng bày 43
Hình 4.3: Mộ Đại thi hào Nguyễn Du 44
Hình 4.5 Đền thờ Lam khê hầu Nguyễn Trọng 47
Hình 4.1: Mô hình quản lí khu di tích đại thi hào Nguyễn Du 55
Hình 4.1 Sơ đồ cán bộ quản lý trong khu di tích Nguyễn Du 57
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒBiểu đồ 4.1 Thành phần du khách đến với khu di tích Nguyễn Du năm 2014 69 Biểu đồ 4.1 Mức độ hài lòng của du khách về chất lượng phục vụ của nhân viên ban quản lý di tích Nguyễn Du năm 2014 70 Biểu đồ 4.2 Đánh giá của nhân viên về các lớp tập huấn đào tạo chuyên môn 76 Biểu đồ 4.3 Đánh giá của cán bộ về môi trường làm việc trong Ban quản lý 77
Biểu đồ 4.5 Số khách tham quan quay lại khu di tích Nguyễn Du tínhđến năm 2014 82
Trang 10PHẦN I: MỞ ĐẦU1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi mảnh đất, mỗi vùng quê khắp nơi trên đất nước Việt Nam nơi đâu cũng
có những di tích lịch sử, văn hóa, di tích cách mạng Đó là tài sản vô giá, hợp thành nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa của nhân loại Các di tích lịch sử là nơi chứa đựng các giá trị truyền thống, những giá trị đạo đức, thẩm mỹ và tín ngưỡng tâm linh, khơi gợi niềm tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước Do vậy, để phát triển đất nước theo hướng bền vững, cần coi trọng và quan tâm việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc trong đó phải kể đến các di tích lịch sử - văn hóa
Đến với Hà Tĩnh, một mảnh đất hữu tình- địa linh- nhân kiệt, với nền văn hóa núi Hồng- sông La, là miền đất giàu truyền thống cách mạng, giàu truyền thống hiếu học Nơi đây mỗi tên đất tên người đều gắn với một chiến công lịch sử vang dội Là vùng đất của một kho tàng di sản khổng lồ, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể trong đó có một di tích cấp quốc gia đặc biệt là khu di tích đại thi hào Nguyễn Du và nhiều di tích cấp tỉnh khác
Trong những năm qua, công tác quản lý và phát huy giá trị của khu di tích Nguyễn Du đã được các cấp, các ngành quan tâm và có sự phối, kết hợp chặt chẽ trong quản lý và phát huy giá trị của khu di tích Ban quản lý khu di tích đã xây dựng quy chế phối hợp, đưa ra các nội dung về bảo tồn và phát huy các giá trị của
di tích vào quy ước để nhân dân cùng biết và thực hiện Khu di tích ngày càng nổi tiếng và được đông đảo khách tham quan biết đến.
Tuy nhiên bên cạnh đó, công tác quản lý và phát huy giá trị của khu di tích còn một số hạn chế và vướng mắc nhất định, về công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi các di tích, nhìn về tổng thể vẫn được quan tâm thực hiện thường xuyên, nhưng
do nguồn kinh phí eo hẹp nên còn nhiều khó khăn, chưa tương xứng với tầm vóc của một Danh nhân văn hóa thế giới, nó mới chỉ mang tính lưu giữ để giới thiệu với du khách thân thế và sự nghiệp của Đại thi hào, xây dựng khu di tích chưa
có quy mô, chưa có khu nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý phục vụ nhu cầu của khách tham quan, các cửa hàng bán đồ lưu niệm tại khu di tích còn nghèo nàn sản
Trang 11phẩm, ấn phẩm về khu di tích và đặc sản của quê hương Mặc dù đã là một địa chỉ văn hoá để tham quan và nghiên cứu, nhưng sức hút và quy mô còn khiêm tốn so với tính chất của một Khu di tích quốc gia đặc biệt.
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tăng cường
quản lí nhà nước tại khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý các hoạt động tại khu di tích Nguyễn Du để từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước tại khu di tích
Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lí nhà nước tại khu di tích Nguyễn
Du xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiêu cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động tại khu di tích và hoạt động quản lý nhà nước tại khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du.
Trang 121.3.2.3 Phạm vi về thời gian
Đề tài tổng hợp, đánh giá các nội dung nghiên cứu trong khoảng thời gian 3 năm (2012, 2013, 2014) đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
Trang 13PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa
Theo Luật di sản văn hóa Việt Nam (2001) và Luật Di sản văn hóa bổ sung
và sửa đổi của Việt Nam (2009) thì DTLSVH là công trình xây dựng, địa điểm vàcác di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử,văn hóa, khoa học DTLSVH phải có một trong các tiêu chí sau:1) Công trình xâydựng địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địaphương; 2) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anhhùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến phát triển củaquốc gia hoặc cuả địa phương trong các thời kỳ lịch sử; 3) Địa chỉ khảo cổ học cógiá trị tiêu biểu; 4) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thểkiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạnphát triển kiến trúc, nghệ thuật
Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa đưa ramột khái niệm khoa học về di tích như sau: “Là những không gian vật chất cụ thể,khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhâncon người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [49, tr.17]
Qua những khái niệm trên về di tích lịch sử văn hóa, ta có thể rút ra đặc điểmchung của DSLSVH như sau:
Thứ nhất, di tích là một không gian cụ thể, khách quan như công trình, địa
điểm, các di vật, bảo vât quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó và cảnh quan thiênnhiên có sự kết hợp với các công trình kiến trúc hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động củacon người nằm trong khu vực cảnh quan thiên nhiên đó Di tích tồn tại cụ thể trongmột không gian và thời gian
Thứ hai, di tích không chỉ kết tinh những giá trị lao động xã hội của con người
trong lịch sử sáng tạo mà còn kết tinh những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoahọc Điều này hết sức quan trọng, khẳng định trước hết nó thuộc về sở hữu của ngườilao động sáng tạo ra nó, nhưng nó là tài sản của quốc gia vì bản thân nó đã chứa đựngnhững giá trị điển hình của xã hội
Trang 14Thứ ba, di tích gồm những bộ phận cấu thành: môi trường, cảnh quan thiên
nhiên xen kẽ, hoặc bao quanh di tích; những công trình, địa điểm liên quan tới sự kiệnlịch sử, hoặc nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa và những giá trị văn hóa tinh thầnhay còn gọi là văn hóa phi vật thể gắn với công trình, địa điểm đó
Với các đặc điểm này, khái niệm DSLSVH theo Luật di sản Việt Nam phảnánh đầy đủ nhất đặc điểm, nội dung giá trị của DSLSVH và được lựa chọn phục vụnghiên cứu
Phân loại DSLSVH nhằm thống kê, đánh giá đúng hiện trạng, giá trị kho
tàng di sản văn hóa cả vật thể và phi vật thể góp phần nghiên cứu khoa học, bảo
tồn, tôn tạo, khai thác và phát huy các giá trị của di tích lịch sử văn hóa
Theo Luật Di sản văn hóa, di tích được phân loại như sau:
Thứ nhất, nếu căn cứ vào giá trị tiêu biểu nhất mà di tích chứa đựng thì di tích
được chia thành các dạng sau: di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệthuật, danh lam thắng cảnh, các công trình đương đại
Các di tích khảo cổ:
-Di: là những gì của quá khứ còn để lại, lưu lại
Di tích khảo cổ: các loại dấu vết, vết tích của quá khứ con người còn lưu lạiđược khảo cổ học nghiên cứu
Trang 15- Di tích ghi dấu cuộc đời, sự nghiệp của các danh nhân, các vị anh hùng dân tộc.
- Di tích ghi dấu những kết quả lao động sáng tạo vinh quang của quốc gia
- Di tích ghi dấu tội ác của thực dân, đế quốc
- Các kỷ vật kỷ niệm, cổ vật, bảo vật gắn liền với tên tuổi các danh nhân, cácanh hùng dân tộc và các thời kỳ lịch sử, các tượng đài kỷ niệm
Các di tích kiến trúc nghệ thuật
Bao gồm: các công trình kiến trúc có giá trị cao về kỹ thuật xây dựng cũng như
về mỹ thuật trang trí, hoặc các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc, các bức bích họa, cáccông trình kiến trúc, ngoài ra trong các di tích này còn chứa đựng nhiều cổvật, bảo vậtquốc gia, vật kỷ niệm và những giá trị văn hóa phi vật thể như truyền thống văn hóa,truyền thuyết, các giá trị lịch sử, tâm linh, tôn giáo
Thứ hai, theo đầu mối quản lí và giá trị của di tích, danh thắng thì di tích danh
thắng được chia làm 3 loại:
Di tích quốc gia đặc biệt
Là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia Các di tích này được địaphương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa- Thểthao- Du lịch, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt vàquyết định các tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO)xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới như : PhongNha – Kẻ Bàng, Cố Đô Huế, Vịnh Hạ Long, Thánh địa Mỹ Sơn
Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia
Các di tích này được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịchUBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa thể thao du lịch ra quyết định xếp hạng di tíchquốc gia
Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương
Địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Gíam đốc Sở Văn hóa-Thể thao
và Du lịch, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tíchcấp tỉnh
Thứ ba, dựa vào hình thức quản lý, di tích được chia thành 3 loại:
- Do nhà nước trực tiếp quản lý;
- Di tích di cộng đồng dân cư (dưới hình thức tập thể) trực tiếp quản lý;
Trang 16- Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý.
Trong đó:
Di tích do Nhà nước trực tiếp quản lý: Đó là các di tích quốc gia đặc biệt và ditích quốc gia do các ban quản ly di tích được nhà nước thành lập trực tiếp quản lý.Nhà nước cấp lương, chi phí cho hoạt động thường xuyên, các chi phí sửa chữa… trựctiếp cho Ban quản lý di tích
Di tích do cộng đồng dân cư (hình thức tập thể quản lý) trực tiếp quản lý: Đó
là các di tích quốc gia, di tích địa phương cấp tỉnh được giao cho tổ chức nhân dântrực tiếp quản lý như đình làng, các chùa, đền thờ…
Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý như: nhà thờ dòng họ, nhà ở dân
cư trong các khu phố cổ, sắc phong, bảo vật của dòng họ…
Ngoài ra, các di sản văn hóa còn được phân chia thành 2 dạng, bao gồm: giá trịvăn hóa vật thể và phi vật thể
- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoahọc, bao gồm các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vậtquốc gia
- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề trình diễn và các hình thức lưugiữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật khoahọc, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống nếp sống, lễ hội, bí quyết vềnghề thủ công truyền thống, tri thức về y học, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực,
về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
2.1.1.2 Khái niệm quản lí nhà nước trong lĩnh vực di tích lịch sử văn hóa
a Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý là một hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lý tác động đến đốitượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Quản lý là phương thức làm cho những hoạt động hoàn thành với hiệu quảcao, bằng và thông qua những người khác
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người, một tổ chức Đốitượng quản lý cũng c ó thể là một cá nhân hay một nhóm người, cộng đồng hay một tổchức nhất định
Trang 17Quản lý phải là một quá trình liên tục; có tổ chức, có hướng đích của chủ thểquản lý tới đối tượng quản lý, sao cho sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội, nhằmđạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành.
(Quản lý di tích danh thắng gắn với phát triển du lịch ở Quảng Bình)
Quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội, là sự tác động có tổ chức vàđiều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của nhà nước đối với các quá trình xã hội, cáchành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội cũngnhư trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
Hiểu theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy
nhà nước từ hoạt động luật pháp, hành pháp đến tư pháp Hoạt động quản lý nhà nướcđược thực hiện bởi các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức chính trị kinh tế xã hội
và đoàn thể quần chúng, các đơn vị địa phương, công dân chấp hành pháp luật theoquy định của Nhà nước
Hiểu theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước là hoạt động của quyền hành pháp, tức
là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước Hoạt độngquản lý nhà nước chủ yếu thực hiện bởi các cơ quan hành chính Nhà nước bao gồm:
Chính Phủ, Bộ, các cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân (Vũ Thị Hồng Luyến, 2015).
Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản lý như sau: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là sự tác động có
tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”.(Hoàng Thị Uyên, 2013)
b Khái niệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử là một bộ phận của di sản văn hóa Việt Nam, là bằng chứng sinhđộng, quý báu về quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Một đất nước màkhông có di tích thì mất hết đi ý nghĩa, chính vì vậy các di tích cần được quản lý, bảo
vệ và phát huy giá trị để phục vụ cho lợi ích xã hội, đáp ứng nhu cầu của người dânmuốn tìm hiểu về lịch sử dân tộc, khẳng định niềm tự hào dân tộc, góp phần ổn địnhchính trị, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát triển kinh tế xã hội vì mục tiêu tiến tới xâydựng đất nước dân chủ, văn minh
Trang 18Trong hoạt động quản lý di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử nói riêngthì việc ban hành các văn bản pháp luật sẽ tạo cơ sơ pháp lý cho việc quản lý là việclàm tối cần thiết Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển đấtnước do nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hóa trong đó có di sản văn hóa đối với
sự phát triển bền vững của đất nước, Đảng và Chính phủ đã có nhiều quyết sách, banhành các văn bản pháp luật về quản lý di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử nóiriêng phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của đất nước
Từ những giải thích trên có thể rút ra rằng: Quản lý nhà nước về di tích lịch sử
là hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong việc
sử dụng nguồn lực nhà nước để xây dựng, ban hành pháp luật Đồng thời sử dụng phương tiện pháp luật để quản lý, tuyên truyền giáo dục, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật; xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về di tích lịch sử nói riêng, di sản văn hóa nói chung để ngày càng bảo vệ, phát huy một cách tối đa giá trị thực sự của nó (Vũ Thị Hồng Luyến, 2015).
2.1.2 Giá trị của di tích lịch sử văn hóa
Phân tích, đánh giá các giá trị của di tích một cách khoa học là điều kiện tiền đề
để bảo tồn và phát huy đúng các giá trị của DTLSVH trong các mục tiên kinh tế, xãhội, môi trường Các giá trị cụ thể của DTLSVH bao gồm: Giá trị lịch sử, giá trị vănhóa, giá trị khoa học và giá trị kiến trúc - nghệ thuật
Giá trị lịch sử của di tích là giá trị gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu cảquốc gia hoặc của địa phương, gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hung dân tộc.danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặcđịa phương trong các thời kỳ lịch sử
Giá trị văn hóa của di tích là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinhthần gắn với di tích do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thựctiễn, sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Trong mỗi di tíchđều chứa đựng trong đó những giá trị vật chất và tinh thần nhất định Giá trị vật chất
có thể là một công trình kiến trúc, một di vật…, giá trị tinh thần có thể là biểu hiện vềmột ngôn ngữ, tư tưởng, truyền thống tốt đẹp, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hộiliên quan đến di tích
Trang 19Giá trị khoa học của di tích là giá trị phục vụ cho con người nghiên cứu, khảosát, thu thập dữ liệu, phân tích mối quan hệ, các yếu tố tác động, sự tồn tại và pháttriển của sự vật hiện tượng liên quan đến DTLSVH Các giá trị của DTLSVH có thểphục vụ cho nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Giá trị khoa học sẽ phụthuộc vào các số liệu có liên quan, vào tính hiếm hoi, chất lượng hay tính đại diện, vàvào mức độ mà DTLSVH có thể đóng góp them những thông tin quan trọng.
Giá trị kiến trúc nghệ thuật của di tích là những giá trị nghệ thuật tổ chức, thiết
kế không gian, môi trường, vật liệu, kết cấu, trang trí của các công trình xây dựng, địađiểm, giá trị lớn về tư tưởng, thẩm mỹ, văn hóa để con người thưởng thức bằng cácgiác quan từ đó ngưỡng mộ trình độ, kỹ năng, kỹ xảo vượt lên trên mức thông thườngphổ biến
Ngoài ra, DTLSVH còn có thể là các giá trị về đa dạng sinh học, các giá trị về
hệ sinh thái, các gía trị về địa chất, địa mạo…
2.1.3 Đặc điểm của quản lý về di tích lịch sử văn hóa
Để làm rõ hơn bản chất của quản lý di tích lịch sử cần phải luận giải về đặcđiểm của hoạt động của nó Quản lý di tích lịch sử có những đặc điểm cơ bản sau:
a Quản lý di tích lịch sử là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến.
Tính tất yếu và phổ biến của hoạt động quản lý di tích lịch sử biểu hiện ở chỗ:Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Điều đó có nghĩa là conngười không thể tồn tại và phát triển nếu không quan hệ hoạt động với người khác.Khi con người cùng tham gia hoạt động với nhau thì tất yếu phải có một “ý chí điềukhiển” hay là phải có tác nhân quản lý nếu muốn đạt tới trật tự và hiệu quả Mặt khác,con người thông qua hoạt động để bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích, thỏa mãnnhu cầu mà thỏa mãn nhu cầu này lại phát sinh nhu cầu khác Chính vì vậy, hoạt độngquản lý di tích lịch sử tồn tại như một tất yếu ở trong khu di tích
b Hoạt động quản lý di tích lịch sử biểu hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản
lý và đối tượng quản lý.
Thực chất của mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý là mốiquan hệ giữa con người với con người Thông qua mối quan hệ giữa con người vớicon người để tác động làm phát triển khu di tích
Trang 20c Quản lý di tích lịch sử là tác động có ý thức.
Chủ thể quản lý di tích lịch sử tác động tới đối tượng quản lý là những conngười hiện thực để điều khiển hành vi, phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của họnhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức Chính vì vậy, tác động quản lý của chủ thểquản lý di tích lịch sử tới đối tượng quản lý phải là tác động có ý thức, nghĩa là tácđộng bằng tình cảm (tâm lý), dựa trên cơ sở tri thức khoa học (khách quan, đúng đắn)
và bằng ý chí (thể hiện bản lĩnh) Có như vậy chủ thể quản lý di tích mới gây ảnhhưởng tích cực tới đối tượng quản lý để từ đó bảo vệ, phát huy và không làm xâm hại
đến giá trị của khu di tích
d Quản lý di tích lịch sử là tác động bằng quyền lực.
Hoạt động quản lý di tích lịch sử được tiến hành trên cơ sở các công cụ, phươngtiện và cách thức tác động nhất định.Tuy nhiên, khác với các hoạt động khác, hoạtđộng quản lý di tích lịch sử chỉ có thể tồn tại nhờ ở yếu tố quyền lực (có thể coi quyềnlực là một công cụ, phương tiện đặc biệt) Với tư cách là sức mạnh được thừa nhận,quyền lực là nhân tố giúp cho chủ thể quản lý di tích lịch sử tác động tới đối tượngquản lý để điều khiển hành vi của họ Quyền lực được biểu hiện thông qua các quyếtđịnh quản lý, các nguyên tắc quản lý, các chế độ, chính sách, vv… Nhờ có quyền lực
mà chủ thể quản lý di tích lịch sử mới đảm trách được vai trò của mình là duy trì kỷcương, kỷ luật và xác lập sự phát triển ổn định, bền vững trong khu di tích Điều đánglưu ý là cách thức sử dụng quyền lực của chủ thể quản lý di tích lịch sử có ý nghĩaquyết định tính chất, đặc điểm của hoạt động quản lý, của văn hóa quản lý, đặc biệt làcủa phong cách quản lý
e Quản lý di tích lịch sử là tác động theo quy trình.
Các hoạt động quản lý di tích lịch sử thường được tiến hành trên cơ sở nhữngkiến thức chuyên môn, những kỹ năng tác nghiệp và được tiến hành theo một quytrình bao gồm: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Đó là quy trình chung chomọi nhà quản lý và mọi lĩnh vực quản lý Nó được gọi là các chức năng cơ bản củaquản lý và mang tính “kỹ thuật học” của hoạt động quản lý Với quy trình như vậy,hoạt động quản lý di tích được coi là một dạng lao động mang tính gián tiếp và tổnghợp Nghĩa là nó không trực tiếp tạo ra sản phẩm mà nhờ thực hiện các vai trò định
Trang 21hướng, thiết kế, duy trì, thúc đẩy và điều chỉnh để từ đó gián tiếp tạo ra nhiều sảnphẩm hơn và mang lại hiệu lực và hiệu quả cho khu di tích lịch sử.
g Quản lý di tích lịch sử là hoạt động để phối hợp các nguồn lực.
Thông qua tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình mà hoạt độngquản lý mới có thể phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài khu di tích lịch sử.Các nguồn lực được phối hợp bao gồm: nhân lực, vật lực, tài lực và tín lực Nhờ phốihợp các nguồn lực đó mà quản lý trở thành tác nhân đặc biệt quan trọng trong việc tạonên hợp lực chung trên cơ sở những lực riêng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trên cơ sởnhững sức mạnh của các bộ phận nhằm hoàn thành mục tiêu chung một cách hiệu quả
mà từng cá nhân riêng lẻ hay các bộ phận đơn phương không thể đạt tới
h Quản lý di tích lịch sử nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung.
Hiệu quả của các hoạt động cụ thể được đo bằng kết quả cuối cùng mà nó manglại nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể đến mức độ nào đó, còn hoạt động quản lý ditích lịch sử ngoài việc thỏa mãn nhu cầu riêng của chủ thể thì điều đặc biệt quan trọng
là phải đáp ứng lợi ích của đối tượng Ví dụ như, quản lý khu di tích lịch sử phải làmthỏa mãn nhu cầu của khách tham quan, người dân địa phương Nó là hoạt động vừaphải đạt được hiệu lực, vừa phải đạt được hiệu quả
Trong thực tiễn quản lý khu di tích lịch sử, không phải bao giờ mục tiêu chungcũng được thực hiện một cách triệt để Điều đó tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hộicủa những giai đoạn lịch sử nhất định.Những xung đột về lợi ích giữa chủ thể quản lý
di tích lịch sử với đối tượng quản lý thường xuyên tồn tại vì vậy, hoạt động quản lý ditích lịch sử xét đến cùng là phải đưa ra các tác động để khắc phục những xung độtấy.Mức độ giải quyết xung đột và thiết lập sự thống nhất về lợi ích là tiêu chí đặc biệtquan trọng để đánh giá mức độ ưu việt của các mô hình quản lý các di tích lịch sửtrong thực tế
i Quản lý di tích lịch sử là hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật.
Tính khoa học của hoạt động quản lý di tích lịch sử thể hiện ở chỗ cácnguyên tắc quản lý, phương pháp quản lý, các chức năng của quy trình quản lý vàcác quyết định quản lý phải được xây dựng trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm mà nhàquản lý có được thông qua quá trình nhận thức và trải nghiệm trong thực tiễn Điều
Trang 22đó có nghĩa là, nội dung của các tác động quản lý phải phù hợp với điều kiện kháchquan của môi trường và năng lực hiện có của khu di tích cũng như xu hướng pháttriển tất yếu của nó.
Tính nghệ thuật của hoạt động quản lý di tích lịch sử thể hiện ở quá trình thựcthi các quyết định quản lý trong thực tiễn và được biểu hiện rõ nét trong vận
dụng các phương pháp quản lý, việc lựa chọn các phong cách và nghệ thuật lãnh đạo
Tính khoa học và nghệ thuật trong quản lý di tích lịch sử không loại trừ nhau
mà chúng có mối quan hệ tương tác, tương sinh và được biểu hiện ở tất cả các nộidung của tác động quản lý Điều đó tạo nên đặc trưng nổi bật của hoạt động quản lý ditích lịch sử so với những hoạt động khác
k Mối quan hệ giữa quản lý di tích lịch sử và tự quản.
Quản lý di tích lịch sử và tự quản là hai mặt đối lập của một chính thể Điều đóthể hiện ở chỗ, nếu hoạt động quản lý di tích lịch sử được thực hiện một cách khoa họcnghĩa là không áp đặt quyền lực một chiều từ phía chủ thể mà là sự tác động qua lạigiữa chủ thể và đối tượng thì quản lý và tự quản lý có sự thống nhất với nhau Nhưvậy, quản lý theo nghĩa đích thực đã bao hàm trong nó cả yếu tố tự quản
Tuy nhiên, trong quá trình hướng tới tự do của con người, không phải khi nào
và ở đâu cũng có thể đạt tới sự thống nhất giữa quản lý và tự quản mà nó là một mâuthuẫn cần phải được giải quyết trong từng nấc thang của sự phát triển Quá trình đó có
thể được gọi là quản lý di tích lịch sử tiệm cận tới tự quản.(Bùi Đức Thành, 2014).
2.1.4 Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về di tích lịch sử
Để bảo vệ và giữ gìn di sản văn hóa không có công cụ nào hơn là phải sử dụngpháp luật Nhìn lại hệ thống pháp luật về di sản văn hóa nói chung và về di tích lịch sửvăn hóa nói riêng chúng ta nhận thấy nhà nước ta đã xây dựng và ban hành từ rất sớm
và ngày càng được hoàn thiện
Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sức lệnh số 65/ SL – sắc lệnhđầu tiên về công tác bảo tồn, bảo tàng Sắc lệnh gồm 6 điều trong đó nội dung chính
ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác Cổ học viện Sắc lệnh đã nhấn mạnh đến việcbảo tồn cổ tích là việc làm cần thiết của nhà nước Việc Nam Sắc lệnh quy định nhànước chi ngân sách cho việc bảo vệ, tu sửa di tích và công nhận các khoản trợ cấp choViện Đông phương Bác cổ học viện
Trang 23Ngày 28/6/1956 Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam raThông tư số 38-TT/TW gửi tới các cấp bộ Đảng về việc bảo vệ những di tích lịch sửvăn hóa, vừa uốn nắn những sai sót gây tổn hại cho kho tàng di sản văn hóa dân tộc,vừa đề ra một số việc phải làm là: nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử,danh lam thắng cảnh trong các cấp các ngành, các tổ chức xã hội và toàn dân; Đình chỉngay những hoạt động kinh tế đang phương hại trực tiếp đến một số di tích cụ thể;Tiến hành phân loại các di tích, cần có kế hoạch để tu bổ các di tích.
Ngày 29/10/1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 519/TTg, quy định vềthể lệ bảo tồn cổ tích Đây là văn bản pháp lý có giá trị thiết thực của Chính phủ trongviệc bảo vệ, giữ gìn các di sản văn hóa trong hai thập kỷ chống Mỹ cứu nước của nhândân ta Nghị định là kim chỉ nam cho mọi hoạt động công tác quản lý di sản văn hóa từnăm 1957- 1984 Nghị định này gồm 7 mục, 32 điều trong đó đề cập đến công tácquản lý di tích lịch sử, văn hóa ở các góc độ như liệt hạng di tích lịch sử, văn hóa, việctrùng tu, tôn tạo di tích, chế độ khen thưởng và kỷ luật đối với các tổ chức và cá nhân
có thành tích trong việc bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc
Ngày 31/3/1984, Hội đồng nhà nước đã ban hành và công bố pháp lệnh 14LCT/HĐND về việc “ Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắngcảnh” Pháp lệnh gồm 5 chương và 27 điều, đã xác định biện pháp quản lý nhà
nước đối với di sản văn hóa bao gồm: Kiểm kê, đăng ký và xác định loại hình di tích; Quy định chế độ bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; Thanh tra thi hành những quy định của pháp luật về bảo vệ, sử dụng di tích
Trang 24Ngày 11/11/2002 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã banhành nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy định chị tiết thi hành một số điều của Luật disản văn hóa.
Ngày 24/7/2001Ngày 24/7/2001 Bộ trưởng Bộ văn hóa Thông tin (nay là
Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch) ra quyết định số 1709/2001/QĐ – BVHTT phêduyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hoá và danhlam thắng cảnh
Ngày 06/02/2002 Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch) ban hành quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử, văn hoá vàdanh lam thắng cảnh
Ngày 18/02/2002, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 05/2002/ CT – TTg vềviệc tăng cường các biện pháp pháp lý, bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn đàobới trái phép các di chỉ khảo cổ học
Ngày 19/5/2009 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Chỉ thị 73 vềviệc tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu bổ vàphục hồi di tích Chỉ thị 73 đã tạo một hành lang pháp lý chặt chẽ để các đơn vị liênquan cùng vào cuộc thực hiện kiểm tra, giám sát việc trung tu di tích từ giai đoạn đầuđến khi hoàn thiện, tránh những sai lầm làm mất đi tính nguyên bản của di tích
Như vậy, qua sự trình bày ở trên chúng ta có thể thấy rằng sự ra đời của các vănbản pháp lý từ trước cho đến nay là không hề ít, nhưng trong giới hạn của luận vănkhông thể nêu hết cụ thể tất cả các văn bản mà ở đây chỉ nêu điển hình các văn bản đó.Bởi về cơ bản các văn bản pháp lý ra đời đều là những công cụ trợ giúp đắc lực giúpnhà nước ta ngày càng hoàn thiện những chính sách nhằm bảo tồn và phát huy nhữnggiá trị của di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử nói riêng
2.1.5 Nguyên tắc quản lý nhà nước về di tích lịch sử
Như đã đề cập ở trên quản lý nhà nước về di tích lịch sử là một trong những nộidung của quản lý nhà nước về văn hóa Vì vậy quản lý nhà nước về di tích lịch sửđược bao hàm trong quản lý nhà nước về văn hóa nói chung, nó dựa trên nguyên tắcĐảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ Đảng lãnh đạo là đề ra đườnglối chính sách, chiến lược, xác định các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ vàcác giải pháp lớn để định hướng cho sự phát triển của nền văn hóa thông qua các Nghị
Trang 25quyết của Đảng, công tác tư tưởng và công tác tổ chức của Đảng Đảng không làmthay nhà nước, nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, thể chế, thiết chế hoạt độngquản lý Mặt khác, phải phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị xã hội, các cộngđồng dân cư trong việc thực hiện các nhiệm vụ văn hóa.
Nguyên tắc tập trung dân chủ: Nguyên tắc này được thể hiện trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước ở một số khía cạnh cơ bản như sau:
- Thứ nhất, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước do nhân dân xây dựngnên Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước đều được tổ chức và hoạtđộng theo nguyên tắc này Nhân dân bầu ra đại diện cho mình trong cơ quan quyền lựcnhà nước là Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp Cơ quan quyền lực nhà nước lạibầu ra các thành viên của Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp là những cơ quan hànhchính nhà nước, xây dựng pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trênnguyên tắc tập trung – dân chủ Như vậy, nguyên tắc này được tuân thủ trong toàn bộmáy nhà nước
- Thứ hai, quyết định của cấp trên, của trung ương buộc cấp dưới, địa phươngphải thực hiện Đây là biểu hiện của sự tập trung quyền lực vào cơ quan cấp trungương, đồng thời dân chủ trong việc huy động sự chủ động, sáng tạo trong thực hiệnquyết định của các cấp địa phương
- Thứ ba, những vấn đề quan trọng của cơ quan nhà nước phải được đưa ra thảoluận tập thể và quyết định theo đa số Đây là biểu hiện của sự tập trung trong việcthống nhất ý kiến, dân chủ trong việc đóng góp ý kiến và quyết định cuối cùng
- Thứ tư, mọi vấn đề quan trọng của đất nước phải được Quốc hội thông qua,trước khi Quốc hội thảo luận và thông qua phải được đưa ra trưng cầu ý kiến của nhândân Biểu hiện của tập trung thông qua quyết định tối cao của Quốc hội, đồng thời dânchủ thể hiện trong việc lấy ý kiến của nhân dân
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất chỉ đạo mọi hoạt động của bộ máy nhà nước.Yêu cầu của nguyên tắc này là nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân
và vì dân, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa Nhà nước nắm quyền thống nhấtquản lý những vấn đề cơ bản, đồng thời giao quyền và trách nhiệm cho địa phương.Mỗi địa phương hay các đoàn thể có những phương thức lãnh đạo riêng của mình
Trang 26nhưng không được rời xa các phương hướng chỉ đạo, lãnh đạo của Nhà nước mà đềudựa trên cơ sở sự quản lý của Nhà nước.
Nguyên tắc quản lý theo ngành, theo địa phương và vùng lãnh thổ: Ở nguyên
tắc này Nhà nước là một thể thống nhất, bộ máy nhà nước hoạt động theo cấp hànhchính nhà nước, thực hiện theo quy định, cấp dưới phục tùng cấp trên Địa phươngphải phục tùng Trung ương Hệ thống các di tích lịch sử địa phương vừa chịu sự quản
lý của ngành, vừa chịu sự quản lý về lãnh thổ Hệ thống hành chính gồm 4 cấp: Trungương (Quốc hội, Chính phủ, Tỉnh, thành phố, Quận huyện, xã phường Nguyên tắc này
là sự kết hợp một cách khách quan từ xu hướng chuyên môn hóa theo ngành và phân
bổ sản xuất theo vùng lãnh thổ Cụ thể là bất cứ hoạt động của đơn vị nào đều chịu sựquản lý của cơ quan chủ quản và địa phương:
-Địa phương: Quản lý về mặt hành chính và xã hội đối với mọi đối tượng nằmtại địa phương cũng như quản lý nhà nước về kinh tế đối với tất cả các hoạt động diễn
ra tại địa phương theo mức độ được nhà nước cho phép
-Bộ, ngành: Chịu trách nhiệm quản lý kỹ thuật của ngành mình
Sự kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ được thực hiện như sau: -Thực hiện quản lý đồng thời cả hai chiều: Quản lý theo ngành và quản lý theolãnh thổ Có nghĩa là, các đơn vị đó phải chịu sự quản lý của ngành (Bộ) đồng thời nócũng phải chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương trong một số nộidung theo chế độ quy định
- Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành vàtheo lãnh thổ, không trùng lặp, bỏ sót về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
-Các cơ quan quản lý nhà nước theo mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụquản lý theo thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản hiệp quản, tham quản với cơquan nhà nước thuộc chiều kia, theo quy định cụ thể của Nhà nước Đồng quản là cùng
có quyền và cùng nhau ra quyết định quản lý theo thể thức liên tịch Hiệp quản là cùngnhau ra quyết định quản lý theo thẩm quyền, theo vấn đề thuộc tuyến của mình nhưng
có sự thương lượng, trao đổi, bàn bạc để hai loại quyết định của mỗi bên tương đắc vớinhau Tham quản là việc quản lý, ra quyết định của mỗi bên phải trên cơ sở được lấy ýkiến của bên kia
Trang 27Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Pháp chế xã hội chủ nghĩa là sự tôn trọng và thực hiện pháp luật xã hội chủ nghĩa một cách tự giác, nghiêm minh, đầy đủ, thống nhất thông qua những hành vi tích cực của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
tế, chính trị, xã hội, chính trị- xã hội…cũng như mọi công dân với kết quả thực hiện là
sự tôn trọng và thực hiện pháp luật ấy trong bộ máy nhà nước và ngoài xã hội.
Đòi hỏi mọi tổ chức, mọi cơ quan quản lý và cá nhân quản lý phải dựa trênpháp luật cuả nhà nước đã quy định, tránh sự tùy tiện, đứng ngoài và đứng trên phápluật Nhà nước XHCN là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, pháp luậtthể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân Do đó, tuân thủ pháp luật là đòi hỏi bắtbuộc đối với nhà nước Mặt khác việc thực hiện nguyên tắc này cũng sẽ góp phầnkiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước một cách hữu hiệu, ngăn chặn tình trạng thahóa quyền lực nhà nước, xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân Ở khíacạnh khác, việc tuân thủ nguyên tắc pháp chế sẽ tạo ra sự thống nhất, đồng bộ, tránh
sự chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ trống trong quá trình tổ chức hoạt động của bộ máynhà nước
Quản lý hành chính nhà nước là một trong những hoạt động chủ yếu trong bộmáy nhà nước ta, được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhànước, có nội dung là đảm bảo sự chấp hành pháp luật, nhằm tổ chức và chỉ đạo trực tiếp
và thường xuyên các công việc, nhiệm vụ và chức năng của nhà nước Trong đó, cácchủ thể quản lý hành chính nhà nước sử dụng pháp luật với tính chất là phương tiệnquan trọng để đảm bảo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, phương tiệnnày chỉ thực sự phát huy vai trò, tác dụng khi nó được tôn trọng và thực hiện nghiêmchỉnh trên thực tế, tức là phải tôn trọng và thực hiện triệt để và nghiêm chỉnh nguyên tắcpháp chế XHCN trong quản lý hành chính nhà nước Nguyên tắc này cũng đã được thểhiện tại Điều 12 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): Nhà nước quản lý
xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Quản lý nhà nước về di tích bằng pháp luật và tăng cường pháp chế: Quản lýnhà nước về di tích lịch sử bằng pháp luật và tăng cường pháp chế là một nguyên tắcquan trọng, là nền tảng, căn cứ để quản lý nhà nước về di tích Mọi người dân đều phảituân theo pháp luật, các vấn đề liên quan đến di tích đã được luật định nếu vi phạm thì
xử lý theo pháp luật Nguyên tắc này đòi hỏi mọi tổ chức và hoạt động quản lý nhà
Trang 28nước về di tích đều phải dựa trên cơ sở pháp luật Điều đó có nghĩa là hệ thống hànhchính nhà nước phải chấp hành pháp luật Các cơ quan chức năng về di tích khi banhành các quyết định quản lý hành chính phải phù hợp với nội dung và mục đích của
luật và các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn ( Nguyễn Quốc Việt, 2013).
Để thực hiện nguyên tắc này cần làm tốt những nội dung sau: Tổ chức thực hiệntốt pháp luật đã ban hành, xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về di tích vàtăng cường giáo dục ý thức pháp luật cho toàn dân
2.1.6 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử
Thực hiện hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa rất cần sự quản lý điềuhành của Nhà nước, nếu không, hoạt động quản lý sẽ bị lệch hướng, các di tích bịxuống cấp, không khai thác tối đa giá trị của các di tích Nhiều vấn đề như quy hoạchtổng thể các công trình di tích lịch sử, bảo vệ môi trường, trật tự an toàn xã hội, pháttriển du lịch … nếu không có vai trò của Nhà nước sẽ không thể giải quyết được
Nhằm bảo vệ và phát huy tối đa giá trị của các di tích lịch sử văn hóa, đảm bảocác mục tiêu về kinh tế, xã hội, môi trường, quản lý nhà nước về di tích lịch sử vănhóa có các nội dung chủ yếu theo quy định tại Điều 54 Luật di sản văn hóa năm 2001như sau:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sáchphát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa là một trong những nộidung quản lý nhà nước có tính quyết định đối với công tác quản lý nhà nước và thu hútkhách du lịch Nếu không được định hướng phát triển đúng sẽ gây ra lãng phí, kémhiệu quả do không phù hợp với thực tế tại địa phương Vì thế chính quyền cấp tỉnhphải hết sức quan tâm đến việc xây dựng và công khai kịp thời các chiến lược, quyhoạch, kế hoạch phát triển của địa phương Các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược,quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển chung của cả nước Đáp ứng nhu cầu của quátrình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới gắn liền với mục tiêu côngnghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Có như vậy, mỗi đơn vị hoạt động trong lĩnh vựcquản lý di tích lịch sử văn hóa mới có thể xây dựng được chiến lược và phát triểnchung của địa phương
Trang 292 Tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật chung của Nhà nước liên quan đến hoạt động quản lý văn hóa và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mang tính đặc thù của địa phương thuộc thẩm quyền.
Bản thân chính sách, pháp luật đối với nền kinh tế- xã hội của một đất nước nóichung và trong lĩnh vực văn hóa nói riêng mới chỉ là những quy định của Nhà nước, là
ý chí của Nhà nước bắt mọi chủ thể khác (trong đó có chính bản thân Nhà nước) phảithực hiện Vì vậy, để chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống các cơ quan nhà nước nóichung, chính quyền cấp tỉnh nói riêng phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh Chínhquyền cấp tỉnh phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về du lịchcho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trên địa bàn giúp họ nhận thức đúngđắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn; đảm bảo sự tuân thủ, thi hànhchính sách, pháp luật về quản lý di tích một cách nghiêm túc Mặt khác, chính quyềncấp tỉnh phải tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách, phápluật về di tích trên địa bàn tỉnh, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật Khôngtùy tiện thay đổi các chính sách của mình, nhanh chóng xóa bỏ các văn bản cũ trái vớicác văn bản mới ban hành, giảm tối đa sự trùng lặp, gây khó khăn cho hoạt động quản
lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Bên cạnh đó, để làm tốt công tác quản lý di tích văn hóa trên và phát triển dulịch, chính quyền cấp tỉnh cần phải tích cực cải thiện môi trường pháp lý, môi trườngđầu tư thông qua việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung củaNhà nước về quản lý di tích lịch sử phù hợp với điều kiện của ở địa phương Đồngthời, nghiên cứu và ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền mang tính đặcthù của địa phương
Mặt khác, hệ thống kết cấu cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất- kỹ thuật của cáckhu bảo tồn di tích là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch Vìvậy, chính quyền cấp tỉnh cần có các chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho đầu tư xây dựngkết cấu hạ tầng tại các khu di tích như: mở đường giao thông, xây dựng hệ thống điện,cung cấp nước sạch, phát triển hệ thống thông tin liên lạc, hỗ trợ trong việc tôn tạo các
di tích lịch sử văn hóa, các công trình kiến trúc, cảnh quan Ngoài ra, chính quyền cấptỉnh cần có chính sách nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt độngbảo tồn di tích
Trang 303 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá;
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản chung của toàn dân, sở hữu toàn dân, được quyđịnh trong Luật di sản văn hóa năm 2001 Tất cả mọi người dân Việt Nam đều cóquyền sử dụng cũng như bảo về và phát huy giá tị di sản văn hóa Vì vậy, bảo vệ vàphát huy giá trị di sản văn hóa không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân, tổ chức mà
là trách nhiệm của toàn xã hội Bảo vệ dựa trên ý thức của người dân
Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về di sản văn hóa đóng vai trò hết sứcquan trọng trong công cuộc huy động sự tham gia của người dân trong việc bảo tồn vàphát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Để tất cả mọi người dân đều biết quyền vànghĩa vụ của mình từ đó nhận thức được tầm quan trọng của mỗi người trong công tácbảo tồn di tích Các cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương cần có các hoạt độngtuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa Tổ chức các lớp tậphuấn, các buổi giao lưu văn hóa tại các điểm di tích nhằm khơi dậy niềm tự hào củangười dân nơi có di tích từ đó nâng cao ý thức và trách nhiệm của mỗi người Có nhưvậy thì hoạt động bảo vệ và phát huy các giá trị của di tích mới được bền vững và đemlại hiệu quả cao
4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hoá;
Khuyến khích các tổ chức cá nhân tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học,các hoạt động tìm hiểu về di tích nhằm đóng góp cho hoạt động bảo về và phát huy giátrị của di sản văn hóa Các hoạt đông nghiên cứu phải được sự cho phép của tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền và đảm bảo không làm ảnh hưởng đến giá trị của di sản Cáchành vi nghiên cứu gây thiệt hại đến chất lượng các công trình đều bị ngừng hoạtđộng, phải bồi thường và chịu trách nhiệm trước pháp luật
Cũng như trong các lĩnh vực ngành nghề khác, chất lượng nguồn nhân lựctrong hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa có ảnh hưởng không nhỏ đến sự pháttriển của lĩnh vực này
Để hoạt động quản lý di tích văn hóa của một quốc gia, một vùng, một địaphương phát triển, việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động quản
lý cần được quan tâm thực hiện thường xuyên Đặc biệt, tại địa phương để quản lý tốt
Trang 31cần có chiến lược, kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có nhưvậy mới khai thác hiệu quả các di tích Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ vàphát huy giá trị di sản văn hóa có tâm huyết, trình độ, năng lực chuyên môn Đào tạo, đàotạo lại nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật về di sản vănhóa cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa thông tin; đội ngũ quản lý, bảo vệ và tổchức hoạt động tại các di tích; có chế độ đãi ngộ hợp lý đối với những người trực tiếplàm công tác quản lý và bảo vệ di tích, những người có công truyền dạy và phổ biến disản văn hóa phi vật thể; tuyển chọn, xây dựng, đào tạo đội ngũ thuyết minh viên điểmtại các di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng; trước hết là tại các địa điểm di tích cókhả năng khai thác phục vụ du lịch.
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các hội về văn học nghệ thuật,khoa học và công nghệ tham gia các hoạt động bảo về và phát huy giá trị di sảnvăn hóa
Nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị disản văn hóa
Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa bao gồm:
1 Ngân sách nhà nước: Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách cho các hoạt độngbảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, bảo tang quốc gia, bảo vật quốcgia, di tích lịch sử cách mạng và di sản văn hóa phi vật thể có giá trị tiêu biểu
2 Các khoản thu từ hoạt động sử dụng và phát huy di sản văn hóa: Tổ chức, cánhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý, sử dụng di tích, sưu tập, bảo tàng được thuphí tham quan và lệ phí sử dụng di tích, sưu tập, bảo tàng theo quy định của pháp luật
3 Tài trợ và đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài: Nhànước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giátrị di sản văn hóa
Việc đóng góp, tài trợ cho các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóađược xem xét ghi nhận bằng các hình thức thích hợp
Ban quản lý di tích cơ sở, người phụ trách di tích (người trụ trì đền , chùa, nhàthờ …) phải có phương thức thu nhận, quản lý sử dụng nguồn công đức hiệu quả,
Trang 32đúng mục đích, công khai, có sổ sách rõ ràng, chi tiêu minh bạch, phục vụ tốt cho hoạtđộng quản lý, bảo vệ tu bổ, tôn tạo di tích.
6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
Tổ chức khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích tích tốt trongcông tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
Nhằm khuyến khích các tổ chức cá nhân có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ ditích, các hoạt động sưu tầm, nghiên cứu khoa học, phát hiện và giao nộp các di vậtphục vụ cho công tác bảo tồn giá trị di tích đều được tôn vinh, khen thưởng theo quyđịnh của pháp luật
Ban quản lý di tích cần có các hoạt động tổ chức, chỉ đạo khen thưởng các tổchức, cá nhân có đóng góp to lớn trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản vănhoá;đồng thời nêu cao tấm gương của các tổ chức, cá nhân đó để nhiều toàn dân, các
tổ chức, cá nhân khác được biết và noi theo
7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
Nhà nước có chính sách và biện pháp đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước,
tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên
cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phùhợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; góp phần phát huy giá trị di sản văn hóa thếgiới, tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Nhànước khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức, cá nhân nướcngoài tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam theoquy định của pháp luật
Nội dung hợp tác quốc tế về di sản văn hóa bao gồm:
1 Xây dựng và thực hiện chương trình, dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ và pháthuy giá trị di sản văn hóa;
2 Tham gia các tổ chức và điều ước quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sảnvăn hóa;
Trang 333 Nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ hiện đạitrong lĩnh vực bảo quản, tu bổ di tích, xây dựng bảo tàng, khai quật khảo cổ;
4 Trao đổi các cuộc triển lãm về di sản văn hóa;
5 Hợp tác trong việc bảo hộ di sản văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài;
6 Đào tạo, bồi dưỡng, trao đổi thông tin và kinh nghiệm trong việc bảo vệ vàphát huy giá trị di sản văn hóa
8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá.
Thanh tra nhà nước về văn hóa thông tin thực hiện chức năng thanh tra chuyênngành về di sản văn hóa có nhiệm vụ: Thanh tra việc chấp hành pháp luật về di sản vănhóa; Thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ và phát huy giá trị di sản vănhóa; Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật
về văn hóa; Tiếp nhận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về di sản văn hóa;Kiến nghị các biện pháp để đảm bảo thi hành pháp luật về di sản văn hóa
Người nào phát hiện được di sản văn hóa mà không tự giác khai báo, cố tình chiếmđoạt hoặc có hành vi gây hư hại, hủy hoại thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xửphạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thườngtheo quy định của pháp luật; di sản văn hóa đó bị Nhà nước thu hồi
Trong quá trình quản lý di tích sẽ phát sinh các hành vi tiêu cực như thâm hụtcông quỹ, các hạng mục công trình không được quy hoạch theo đúng tiến độ và chấtlượng công trình không đảm bảo, lạm dụng chức quyền để trục lợi cá nhân…Do đó,chính quyền cấp tỉnh phải chỉ đạo Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động bảo quản,
tu bổ và phục hồi di tích; thah tra, kiểm tra nhằm phát hiện, xử lý dứt điểm kịp thời các
tổ chức, các nhân lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích để trục lợi, hoạt động
mê tín di đoan hoặc thực hiện những hành vi trái với pháp luật trái với thuần phong
mỹ tục; hướng dẫn những người hảo tâm cung tiến những đồ thời phù hợp với di tích
Các ngành chức năng và UBND cấp huyện, cấp xã thường xuyên kiểm tra việcchấp hành các quy định về bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường tại các điểm ditích, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật các chành vi
vi phạm, đưa hoạt động kinh doanh dịch vụ tại các điểm di tích vào kỷ cương nền nếp
Để thực hiện tốt nội dung này, chính quyền cấp tỉnh cần làm tốt công tác tuyên truyền,
Trang 34phổ biến, giáo dục pháp luật và những quy định của tỉnh về đầu tư khai thác các khu ditích trên địa bàn; nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cán bộ quản lý cũng như ngườidân địa phương nơi có di tích
2.1.7 Nguyên tắc trùng tu di tích
Trùng tu và tôn tạo di tích là hoạt động sửa chữa về kỹ thuật, điều chỉnh sự biếndạng, khắc phục những hư hại của di tích, bổ sung một số thành phần mới cho di tíchnhằm phát huy những giá trị của khu di tích Theo Luật Di sản văn hóa và quy chế 05của Bộ Văn hóa - Thông tin thì tu bổ là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố tôn tạo di tích Hoạtđộng trùng tu, tôn tạo di tích phải tuân thủ các vấn đề thuộc các nguyên tắc như: Tu sửa lạinhững chỗ đã bị hư hại nhưng không làm mất đi giá trị của nó trả lại cho di tích kết cấu vàhình dáng vốn có của nó, làm cho di tích có độ bền vững về mặt kết cấu để tồn tại lâu dàitrước mọi tác động của khí hậu, thời tiết và thử thách của thời gian
Nguyên tắc trùng tu, tôn tạo di tích
- Tuân theo quy định của Luật Di sản Văn hóa
- Bảo tồn di tích trên cơ sở tuân thủ các Luật và văn bản dưới luật về di sản vănhóa của nước CHXCN Việt Nam;
- Tôn trọng và giữ gìn tối đa các thành phần gốc, ưu tiên sử dụng các giải pháp
kỹ thuật như chắp ghép, nối vá…để tu bổ, bảo quản các cấu kiện hư hỏng;
- Giữ gìn đặc điểm về chất liệu hình dáng và kết cấu mang tính chân xác, cấukiện thay thế phải tuân theo nguyên tắc khoa học bảo tồn;
- Phục hồi di tích phải dựa trên cơ sở có đầy đủ tài liệu khoa học như kếtquản khảo cổ, tư liệu lịch sử, giá trị hiện tồn của di tích…để đảm bảo tính chân xáccủa di tích;
- Cần đảm bảo tính bền vững của công trình, sử dụng vật liệu phù hợp với vậtliệu nguyên gốc của di tích như đá, gỗ lim;
Quá trình nghiên cứu quy hoạch bảo tồn phát huy giá trị được tiến hành qua các bước:
- Khảo sát, điền dã, tổng hợp, đánh giá, phân loại các di sản văn hóa làm cơ sởcho việc xây dựng phương án bảo tồn có trọng điểm để có giải pháp tu bổ, phục hồi ditích Xây dựng hệ thống giá trị lịch sử, văn hóa của di tích, Xác định các thành phầncông tình cần bảo tồn nguyên gốc; thành phần tôn tạo Xây dựng kịch bản hoạt động
Trang 35văn hóa phi vật thể Để hoàn thiện không gian kiến trúc, làm nổi bật giá trị lịch sử, gắnkết các hoạt động văn hóa truyền thống với cuộc sống đương đại, nhưng không ảnhhưởng đến giá trị văn hóa và giá trị lịch sử.
- Nghiên cứu, tạo lập môi trường tốt để khai thác tiềm năng du lịch, dịch vụ.Tạo thành tuyến du lịch di tích kết hợp tìm hiểu văn hóa
- Đưa ra những định hướng trong công tác bảo tồn, tôn tạo di tích và giải phápphát triển không gian cho khu vực xung quanh
- Đưa ra những giải pháp phát triển và xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹthuật của khu di tích, trên cơ sở bảo tồn không gian cảnh quan
- Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan cho từng di tích bao gồm mặt bằng côngtrình và không gian quy hoạch- kiến trúc Trong đó xác định giải pháp bảo tồn, tu bổ
- Tổ chức không gian kiến trúc và cảnh quan cho khu vực phát huy giá trị ditích; xác định chiều cao, màu sắc, tầm nhìn và các điểm nhấn cảnh quan Các côngtrình tôn tạo và phát huy giá trị di tích như tượng đài, hệ thống điêu khắc mô hình hóacác giá trị đặc trưng của di tích Đối với hệ thống cảnh quan: ưu tiên sử dụng cây địaphương, tận dụng tối đa các yếu tố thiên nhiên và nhân tạo hiện có Cậy theo 4 loạichủ yếu: cây bóng mát, cây trang trí, thảm hoa, cỏ
- Xét đến tính hiện tồn của di tích để xác định diện tích bảo vệ mang tính địađiểm hay khu vực chứa các yếu tố cấu thành di tích (kể cả yếu tố trong lòng đất);
- Xét đến các yếu tố tinh thần văn hóa cảnh quan cấu thành di tích để xác địnhkhu vực bảo vệ cảnh quan di tích;
- Căn cứ kế thừa hiện trạng khoanh vùng bảo vệ di tích và các vấn đề thực tếphát sinh trên thực địa trong quá trình triển khai cắm mốc giới gần đây
2.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
- Yếu tố tự nhiên
Yếu tố tự nhiên ảnh hưởng rất lớn tới việc quản lý di tích Bởi các di tích chạydài suốt chiều dài vùng lãnh thổ Việt Nam, nằm trọn trong vùng nhiệt đới nhưng phân
bố thành 3 vùng khí hậu riêng biệt miền bắc mang khí hậu cận nhiệt đới ẩm, Bắc trung
bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền nam và nam trung bộ mang đặc điểm nhiệt đớiXavan Hệ thống di tích Việt Nam nằm trong sự khác nhau về điều kiện địa lý, điềukiện khí hậu Do vậy môi trường của hệ thống các di tích ở Việt Nam đã và đang chịu
Trang 36tác động của rất nhiều yếu tố của thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt khiến cho việc quản
lý khu di tích trở lên khó khắn hơn, tốn thêm các khoản kinh phí do phải xây dựng, tu
bổ lại khu di tích
- Yếu tố kinh tế - xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, với nhu cầu phát triển kinh tế và nâng caođời sống của người dân trong khu vực, việc xây dựng các cơ sở hạ tầng tại khu vực lâncận di tích, hoặc thậm chí trong phạm vi bảo vệ của các di tích như mở đường, san lấpmặt bằng lấn biển, xây dựng bến bãi cầu cảng, xây dựng các công trình phục vụ dânsinh… đã và đang diễn ra, gây ảnh hưởng đến môi trường di tích ở các cấp độ khác nhau
a) Sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao nhu cầu sống của người dân cư ngụtrong phạm vi bảo vệ của các di tích: Hiện tượng dân cư sống trong phạm vi bảo vệcủa di tích là rất phổ biến Sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao tiện nghi của ngườidân khu vực di tích đã gây những tác động không nhỏ đến sự bền vững của môi trườngtại các di tích
b) Hoạt động của các khu công nghiệp, các nhà máy, các cơ sở sản xuất tiểu thủcông nghiệp nằm trong khu di tích: Với đặc điểm là một nước nông nghiệp với số laođộng nông nghiệp chiếm 80% lao động trong cả nước Các cơ sở sản xuất công nghiệpnhư nhà máy, khu công nghiệp, khu chế xuất tại các vùng miền có số lượng ít và phân
bố không đồng đều nên số lượng các di tích chịu ảnh hưởng của hoạt động côngnghiệp tới môi trường không nhiều Tuy nhiên do phần lớn các nhà máy, khu côngnghiệp sử dụng máy móc thiết bị và công nghệ lạc hậu, chưa chú trọng tới yếu tố môitrường trong sản xuất, mức độ gây ô nhiễm tới môi trường các di tích này là khá lớn
- Yếu tố con người
Yếu tố con người ảnh hưởng vô cùng lớn đến quản lý di tích bởi vì con người làtổng hòa của các mối quan hệ Việc quản lý có tốt hay không là do yếu tố con người vìliên quan đến chất lượng, trình độ học thức, năng lực của nhân lực Con người cũngảnh hưởng tới việc quản lý di tích lịch sử bởi ý thức, nếu như ý thức tốt thì việc quản
lý di tích dễ dàng và hiệu quả, ngược lại nếu ý thức không tốt sẽ gây ra những khókhăn, bất lợi cho việc quản lý khu di tích từ đó sẽ không bảo tồn được khu di tích hoặclàm chậm lại sự phát trienr của các di tích đó
- Các yếu tố khác
Trang 37Một số tác động do các hoạt động văn hóa du lịch ảnh hưởng đến môi trườngtại di tích: Đặc trưng của hoạt động khai thác du lịch ở nhiều di tích tôn giáo tínngưỡng thường tập trung một vài tháng trong năm với số lượng khách rất lớn nên xảy
ra tình trạng quá tải hệ thống hạ tầng phục vụ khách tham quan, du lịch Từ đó dẫn đếnviệc gia tăng lượng rác thải, nước thải và chất thải không kiểm soát và làm nhiễm bẩncác nguồn nước, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của di tích Do đặc thù về địahình, nước thải tại một số di tích đã được thải ra tự nhiên, chưa có bể thu gom, xử lý,
dễ dẫn đến ô nhiễm nguồn nước Các vấn đề rác thải và nước thải là một trong nhữngtác động ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường tại các di tích ở các cấp độ khác nhau;Hoạt động của các cơ sở dịch vụ du lịch như nhà nghỉ, khách sạn, các cơ sở hạ tầnggiao thông bến thuyền, bến xe, nhà ga cáp treo, các quầy bán hàng lưu niệm, dịch vụ
ăn uống…tại các di tích là nguồn phát sinh chất thải gây ô nhiễm gây ô nhiễm môitrường nước, môi trường đất và môi trường không khí, đồng thời làm ảnh hưởng đếncảnh quan chung của khu di tích; Sự thiếu ý thức của khách du lịch cũng thể hiệntrong việc mua động vật hoang dã và những sản phẩm từ rừng như thú nhồi, cao, mậtgấu, phong lan, cây thuốc… đây là hành động gián tiếp thúc đẩy việc khai thác cạnkiệt các nguồn tài nguyên rừng làm nguy hại đến giá trị đa dạng sinh học của các khu
di tích
Quá trình thực hiện các dự án bảo tồn tôn tạo và khai thác giá trị di tích: Các dự
án tu bổ, tôn tạo và khai thác giá trị di tích có những tác động tích cực tới di tích nhưbảo vệ di tích, tạo cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ tốt khách tham quan, du lịch Tuy nhiênviệc mở rộng các công trình phụ trợ cũng có những tác động tiêu cực như việc xây dựngtrên quỹ đất trống sẽ làm ảnh hưởng tới cảnh quan chung, làm thay đổi cơ cấu sử dụngđất, phá vỡ môi trường cảnh quan cũng như gây ảnh hưởng lâu dài tới hệ sinh thái tại các
Trang 38tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn) Theo tộc phả họ Nguyễn Tiên Điền, lên 3 tuổi Nguyễn Du được phong Hoằng tín đại trung thành môn vệ uýxuất thân Thu Nhạc Bá Với hàm ấy Nguyễn Du đã đứng trong hàng ngũ sỹ tịch củatriều đình nhà Lê, Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nghiễm thôi giữ chức Tể tướng vềtrí sỹ tại quê, Nguyễn Du cũng theo cha về quê Năm Bính Thân (1776), NguyễnNghiễm mất lúc Nguyễn Du 11 tuổi, hai năm sau, năm Mậu Tuất (1778) bà Trần ThịTấn cũng qua đời, Nguyễn Du trong cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ.
-Năm Quý Mão (1783), Nguyễn Du dự khoa thi Hương ở trấn Sơn Nam và đậuTam Trường, sau đó giữ chức Chánh thủ hiệu hiệu quân hùng hậu ở Thái Nguyên (do
là con nuôi một vị quan họ Hà ở Thái Nguyên - sau khi vị quan họ Hà mất, Nguyễn
Du được kế chân làm chức đó) Nguyễn Du lấy vợ là bà Đoàn Thị Huệ, người làng
An Hải, huyện Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình) con gái ĐoànNguyễn Thục, đỗ Tiến sỹ năm Nhâm Thân (1752), từng giữ chức Trấn thủ Nghệ An
Năm Giáp Thân (1784) kiêu binh nổi loạn, dinh thự Nguyễn Khản ở phườngBích Câu bị đốt Năm Bính Ngọ (1786), Tây Sơn đánh ra Thuận Hoá rồi tiến ra Bắc
Hà, Trịnh Tông bị bắt và tự tử, kết thúc 216 năm ‘ Vua Lê chúa Trịnh” Năm MậuThân (1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Quang Trung, Lê Chiêu Thốngcầu cứu nhà Thanh, Nguyễn Du lánh nạn về tại nhà anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn tạiThái Bình Năm Tân Hợi (1791), Nguyễn Quýnh, anh thứ 4 cùng cha khác mẹ chốnglại Tây Sơn, bị bắt giết, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền bị xoá sạch
Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du định trốn vào Gia Định theoNguyễn Ánh, không thành, bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Thận bắt giam và nhờ mốithân tình với anh ruột là Nguyễn Nễ, nên được Nguyễn Thận tha cho về Năm NhâmTuất (1802), Gia Long lên ngôi, tháng 8 năm đó Nguyễn Du được bổ làm Tri huyệnPhù Dung (phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam); tháng 11 được bổ làm Tri phủ ThườngTín, trấn Sơn Nam (tỉnh Hà Tây) Mùa đông năm Quý Hợi (1803), Nguyễn Du được
cử cùng phái bộ nghênh tiếp sứ thần nhà Thanh sang sắc phong cho vua Gia Long.Mùa thu năm Giáp Tý (1804), Nguyễn Du cáo bệnh từ chức về quê Mùa Xuân năm
Ất Sửu (1805), vua Gia Long triệu vào kinh, được thăng Đông các điện học sĩ, tước
Du Đức hầu (hàm ngũ phẩm) Tháng 9 năm năm Đinh Mão (1807) giữ chức giámkhảo thi Hương ở Hải Dương, sau xin nghỉ về quê Mùa hạ năm Kỷ Tỵ (1809), có chỉ
Trang 39bổ ông giữ chức Cai Bạ tỉnh Quảng Bình Tháng 9 năm Nhâm Tuất (1812), Nguyễn
Du xin tạm nghỉ về quê 2 tháng để xây mộ cho anh là Nguyễn Nễ Tháng 2 năm QuýDậu (1813) có chỉ triệu về kinh, được thăng hàm Chánh điện học sĩ, cử đi sứ TrungQuốc với tư cách là Tuế Cống Chánh sứ Tháng 4 năm Giáp Tuất (1814), Nguyễn Du
trở về nước, có tập thơ “Bắc Hành tạp lục”, được vua Gia Long thăng chức Hữu
Tham tri bộ Lễ (hàm Tam phẩm) và tước Du Đức hầu
Mùa thu năm Kỷ Mão (1819), được cử làm Đề Điệu trường thi Quảng Nam,ông dâng biểu từ chối và được chuẩn y Tháng 8 năm Canh Thìn (1820), vua Gia Longmất, vua Minh Mạng lên ngôi, có lệnh cử ông làm Chánh sứ sang nhà Thanh báo tang
và cầu phong, nhưng chưa kịp đi thì bị cảm bệnh mất tại kinh thành Huế vào ngày 10tháng 8 niên hiệu Minh Mệnh năm đầu (dương lịch là 16/9/1820) Hưởng thọ 55 tuổi
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du để lại cho hậu thế gồm:
- Chữ Hán: Thanh Hiên Thi Tập; Nam Trung Tập Ngâm; Bắc Hành Tạp Lục.
- Chữ Nôm: Văn tế thập loại chúng sinh; Văn tế Trường Lưu nhị nữ; Thác lời
trai phường nón; Đoạn Trường Tân Thanh - Tập thơ vĩ đại nhất của Nguyễn Du mànhân dân ta thường gọi là Truyện Kiều
Truyện Kiều là tác phẩm đạt đến đỉnh cao của tinh hoa văn hoá nhân loại,Truyện Kiều là đề tài tranh luận, nghiên cứu sôi nổi nhất trong những thế kỷ qua.Truyện Kiều được nhân dân ta đón đọc một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thànhvấn đề xã hội Từ các bậc vua chúa, quan lại, văn nhân, sĩ tử đến cả những người dânkhông biết chữ cũng học thuộc lòng và lấy làm vui thích Năm 1830, vua Minh Mạng,một người thông minh, hiếu học, tinh thông nho học và sùng đạo Khổng, say mêTruyện Kiều, đã mở đợt bình Kiều đầu tiên Nhà vua đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâmvịnh và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại để cho đời sau Đến đời Tự Đức, nhàvua thường triệu tập các nhà khoa bảng trong triều để bình và vịnh Kiều Vua Tự Đức
đã từng trách cứ các quần thần về việc mê Kiều với câu nói được truyền tụng khắp
nước thời bấy giờ: "Mê gì mê đánh tổ tôm, mê ngựa hậu bổ, mê nôm Thuý Kiều".
Sang thế kỷ XX, Truyện Kiều có ảnh hưởng sâu rộng trong các lĩnh vực đờisống xã hội Do yêu thích Truyện Kiều nên đã có nhiều loại hình nghệ thuật vănchương chung quanh Truyện Kiều như: Tập Kiều, lẩy Kiều, bình Kiều, vịnh Kiều Thậm chí còn dùng Truyện Kiều để bói toán vận hạn tốt xấu Truyện Kiều được dựng
Trang 40thành phim, đưa lên sân khấu tuồng, chèo, cải lương, hội hoạ Và còn có từ điểnTruyện Kiều để độc giả, các nhà nghiên cứu điển tích, ngữ nghĩa
Bên cạnh kiệt tác Truyện Kiều đã làm rung động hàng triệu triệu người trêntoàn thế giới, thì các tác phẩm thơ chữ Hán của Nguyễn Du để lại cho nền văn họcnước nhà đồ sộ đã giúp cho chúng ta hiểu được những tâm sự, những điều trông thấy
và cảm nhận cuộc sống xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.Những cống hiến, đóng góp lớn lao của Nguyễn Du cho nền văn học nước nhà, sựphát triển văn hóa của nhân loại đã đưa Nguyễn Du lên tầm Nhà thơ vĩ đại của dân tộcViệt Nam và là một trong những Danh nhân văn hóa thế giới
( Đinh Sỹ H ng, 2005) ồng, 2005) 2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý khu di tích lịch sử ở một số khu
di tích lịch sử của Việt Nam
Như chúng ta đều biết: quá trình đổi mới, hội nhập khu vực, thế giới đã tạo
ra cho đất nước một thế và lực mới, kinh tế - xã hội phát triển, vị thế được nângcao Đồng thời cũng xuất hiện những mặt trái như áp lực di dân tự do, di dân từnông thôn đến đô thị, vấn đề nhà ở, việc làm Nằm trong cái chung, hoạt động vănhóa, thể thao và du lịch (VHTTDL) cũng chịu những tác động tích cực và tiêu cựccủa quá trình này
Riêng đối với di tích lịch sử - văn hóa cũng có những thuận lợi và phát triển mới.Việc trùng tu, tôn tạo di tích được quan tâm hơn; lượng khách đến tham quan, khámphá, nghiên cứu ngày một tăng; công tác nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh Trongthời gian qua, nhiều di tích lịch sử - văn hóa đã được Bộ VHTTDL, chính quyền địaphương quan tâm, nhiều sáng tạo trong việc phát huy nguồn lực xã hội để đầu tư, trùng
tu, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích trên địa bàn nên đạt hiệu quả cao
Một kinh nghiệm thực tế từ TP.HCM là để làm tốt chính sách bảo tồn di sảnvăn hóa, ngành VHTTDL thành phồ đã tranh thủ sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, sựphối hợp nhiệt tình của các ngành hữu quan cùng tham gia bảo vệ di sản văn hóa Cụthể, lãnh đạo TP đã chỉ đạo ngành VHTTDL kiểm kê, hệ thống hóa tài nguyên di tíchtrên địa bàn; chỉ đạo các ban ngành khi các công trình, dự án mới (liên quan đến ditích) xây dựng phải được sự đồng ý của ngành VHTTDL Bên cạnh đó, ngành