1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tồn đọng án dân sự trong thi hành án ở việt nam hiện nay các giải pháp khắc phục

122 291 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết nghiên cứu tồn đọng án dân sự trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay Thi hành án dân sự THADS là hoạt động quan trọng nhằm đưa bản án, quyết định có hiệu lực pháp luậ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ ĐÀO

TåN §äNG ¸N D¢N Sù TRONG THI HµNH ¸N ë VIÖT NAM HIÖN NAY - C¸C GI¶I PH¸P KH¾C PHôC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ ĐÀO

TåN §äNG ¸N D¢N Sù TRONG THI HµNH ¸N ë VIÖT NAM HIÖN NAY - C¸C GI¶I PH¸P KH¾C PHôC

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MINH TUẤN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Đào

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU LỰC CỦA THADS VÀ ĐIỀU KIỆN KHẮC PHỤC, HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ÁN TỒN ĐỌNG 8

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU LỰC CỦA THADS 8

1.1.1 Khái niệm về THADS 8

1.1.2 Án dân sự tồn đọng và nguyên nhân án dân sự tồn đọng 10

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả THADS 12

1.2 ĐIỀU KIỆN KHẮC PHỤC, HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG TỒN ĐỌNG ÁN ÁN DÂN SỰ 16

1.2.1 Hành lang pháp lý cơ bản bảo đảm cho công tác THADS hiệu quả hơn 16

1.2.2 Hệ thống tổ chức THADS được thành lập tương đối phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và tính chất đặc thù của hoạt động THADS 17

1.2.3 Mối quan hệ phối hợp trong công tác THADS 18

1.2.4 Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về THADS của cá nhân, tổ chức được nâng lên 18

1.3 HỆ THỐNG CÁC NHÓM NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN GÂY NÊN TỒN ĐỌNG ÁN DÂN SỰ 18

Kết luận Chương 1 20

Trang 5

Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THADS VÀ PHÁP LUẬT

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ÁN DÂN SỰ TỒN ĐỌNG TRONG

THI HÀNH ÁN 21

2.1 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH 21

2.1.1 Những quy định cụ thể trong Luật THADS năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành 21

2.1.2 Về những điểm mới liên quan đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS năm 2014 32

2.2 QUY ĐỊNH TRONG CÁC VĂN BẢN CÓ LIÊN QUAN 34

2.2.1 Quy định đã được ghi nhận tại Luật THADS nhưng không quy định chi tiết tại các văn bản pháp luật chuyên ngành dẫn đến những khó khăn cho việc thực thi nhiệm vụ của cơ quan THA 34

2.2.2 Quy định pháp luật chuyên ngành tồn tại nội dung mâu thuẫn với Luật THADS 36

2.2.3 Văn bản do địa phương ban hành chưa đồng bộ, thống nhất với pháp luật về THADS 37

2.2.4 Quy định của pháp luật THADS còn tồn tại nội dung chưa phù hợp với quy định chung của pháp luật 38

2.3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI 39

Kết luận Chương 2 41

Chương 3: CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG ÁN DÂN SỰ TỒN ĐỌNG 42

3.1 VỀ BỘ MÁY, TỔ CHỨC THADS 42

3.1.1 Trên thế giới 42

3.1.2 Bộ máy tổ chức THADS theo quy định của pháp luật Việt Nam 44

3.2 BIÊN CHẾ LÀM CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 50

3.2.1 Tổng số biên chế trong toàn hệ thống 50

3.2.2 Những tồn tại, hạn chế trong cơ cấu tổ chức, bộ máy, biên chế có ảnh hưởng đến số lượng án dân sự tồn đọng 50

Trang 6

3.3 TÀI CHÍNH, CƠ SỞ VẬT CHẤT PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 54

3.3.1 Kinh phí, cơ sở vật chất 54

3.3.2 Tồn tại, hạn chế về kinh phí và cơ sở vật chất 54

3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI 56

3.4.1 Về công tác cán bộ 56

3.4.2 Về kinh phí, cơ sở vật chất 57

Kết luận Chương 3 59

Chương 4: BẢN ÁN CỦA TÕA ÁN VỚI HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 60

4.1 THỰC TRẠNG VỀ BẢN ÁN CỦA TÕA ÁN 60

4.1.1 Thực trạng án dân sự tồn đọng và chất lượng của các bản án 60

4.1.2 Một số dạng bản án Tòa đã tuyên khó thi hành 63

4.1.3 Nguyên nhân của tình trạng án tuyên không rõ khó thi hành 69

4.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BẢN ÁN, KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG ÁN TUYÊN KHÔNG RÕ, CÓ SAI SÓT, KHÓ THI HÀNH 71

Kết luận Chương 4 73

Chương 5: Ý THỨC TUÂN THỦ, THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CỦA NGƯỜI DÂN 74

5.1 THỰC TRẠNG Ý THỨC TUÂN THỦ, THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CÔNG TÁC PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ THADS 74

5.1.1 Thực trạng ý thức tuân thủ, thực hiện pháp luật của người dân 74

5.1.2 Công tác phổ biến giáo dục pháp luật về THADS 75

5.2 Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI DÂN TRONG THADS 75

5.2.1 Ý thức về tự nguyện THA 75

5.2.2 Đương sự chưa nhận thức đầy đủ về các quyền được pháp luật quy định 77

Trang 7

5.3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI 84

5.3.1 Giải pháp nâng cao nhận thức pháp luật của người dân thông qua phổ biến giáo dục pháp luật 84

5.3.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về THADS có liên quan đến quyền, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức đương sự trong THADS 86

Kết luận Chương 5 88

Chương 6: HIỆU QUẢ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN, BAN NGÀNH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 89

6.1 SỰ PHỐI HỢP CỦA CÁC CƠ QUAN BAN NGÀNH CÓ LIÊN QUAN ẢNH HƯỚNG ĐẾN VIỆC TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 89

6.1.1 Phối hợp trong việc giao nhận vật chứng trong THA 93

6.1.2 Phối hợp trong việc tổ chức kiểm sát đối với hoạt động THADS 93

6.1.3 Việc phối hợp trong hoạt động THADS đối với người đang THA phạt tù 95

6.1.4 Về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc chỉ đạo các cơ quan có liên quan trên địa bàn phối hợp tổ chức THADS 96

6.1.5 Về Ban Chỉ đạo THADS 98

6.1.6 Sự phối hợp của các cơ quan khác có liên quan 99

6.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI 102

6.2.1 Xây dựng và hoàn thiện thể chế về quan hệ phối hợp 102

6.2.2 Ràng buộc trách nhiệm phối hợp của các cá nhân, cơ quan có liên quan trong Luật 102

6.2.3 Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong THADS 103

6.2.4 Phối hợp với trại giam, trại tạm giam 104

6.2.5 Phối hợp với các cơ quan có liên quan và cấp ủy, chính quyền địa phương 104

Kết luận Chương 6 105

KẾT LUẬN 106

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Số liệu về án dân sự còn tồn đọng qua từng năm trong

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu tồn đọng án dân sự trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay

Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động quan trọng nhằm đưa bản

án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay của Toà án, quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành trong thực tế, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân và ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội

Trong quá trình tổ chức thi hành án (THA), cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS), Chấp hành viên (CHV) trực tiếp tác động đến người được THA, người phải THA và những người có liên quan để giáo dục, thuyết phục

họ tự nguyện thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo nội dung bản án, quyết định Trường hợp người phải THA không tự nguyện thi hành hoặc cố tình chây ỳ, chống đối cản trở việc THA, CHV áp dụng biện pháp cưỡng chế để buộc họ thực hiện nghĩa vụ của mình Do đó, khác với giai đoạn xét xử và giải quyết tranh chấp trước đó, quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự được xác định trong bản án, quyết định (trên giấy), thì hoạt động THA lại trực tiếp tác động đến các quyền nhân thân và tài sản - các quyền, lợi ích thiết thân của người phải THA, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người phải THA và gia đình họ

Vì vậy, trong THADS các đương sự thường phản ứng gay gắt, quyết liệt và tìm mọi cách để chống đối, cản trở việc THA, làm cho các quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định chậm được thực hiện hoặc không thực hiện được

Mặt khác, do đặc thù của hoạt động THADS, việc CHV, cơ quan THA

tổ chức THA nhanh hay chậm, đều có ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các bên đương sự, trong khi đó, các bên đương sự lại luôn tìm mọi cách tác động

cả về tinh thần lẫn vật chất tới CHV - người trực tiếp tổ chức THA để đẩy

Trang 11

nhanh hoặc kéo dài quá trình THA Do đó, hoạt động THA rất nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực trong đội ngũ công chức, CHV làm công tác THA Những vấn đề này không được xử lý kịp thời sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan THA nói riêng và cơ quan nhà nước nói chung, làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật, không phù hợp với các tiêu chí của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Để tăng cường hiệu quả của hoạt động THADS, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước tiến hành cải cách về mặt tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có CQTHADS Nhằm đưa chủ trương của Đảng tại Đại hội IX về cải cách tư pháp vào cuộc sống, trong những năm vừa qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết và các Luật liên quan đến cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung và CQTHADS nói riêng như: Nghị quyết

số 08/NQTW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác THADS, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị

về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Pháp lệnh THADS sửa đổi năm 2004, Luật THADS năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan đến THADS Những văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới về tổ chức và hoạt động của CQTHADS Trên cơ sở đó, nhiều bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án án đã được các CQTHADS kịp thời đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật đạt kết quả tương đối cao, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, giữ gìn kỷ cương phép nước và thực hiện dân chủ, công bằng xã hội

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác THADS vẫn còn những bất cập chưa được giải quyết kịp thời như: Hệ thống văn bản pháp luật nói

Trang 12

chung và các văn bản pháp luật THADS nói riêng vẫn còn nhiều khoảng trống, chưa điều chỉnh hết các quan hệ phức tạp nảy sinh trong thực tiễn THADS; mô hình tổ chức bộ máy các CQTHADS chưa thực sự khoa học; phối hợp trong THADS chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp; tình trạng vi phạm pháp luật, tiêu cực, sách nhiễu trong tổ chức THADS vẫn diễn ra, nhất là tình trạng nhiều bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực pháp luật, nhưng không được tổ chức thi hành dứt điểm, bị tồn đọng qua nhiều năm và số lượng vụ việc tồn đọng tăng dần theo từng năm, điều đó đã làm giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân đối với các CQTHADS nói riêng và làm suy giảm hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước ta nói chung

Tình trạng tồn đọng án dân sự trở thành một vấn đề “nhức nhối” hiện nay, cần có sự tìm hiểu đầy đủ, đánh giá, luận giải toàn diện trên nhiều phương diện Tác giả luận văn cho rằng muốn giải quyết tình trạng "án tồn đọng", nâng cao hiệu quả THADS, cần phải nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân

vì sao có tình trạng án tồn đọng Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp thiết thực, khả thi để tháo gỡ tình trạng này Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác

giả lựa chọn đề tài: "Tồn đọng án dân sự trong THADS ở Việt Nam hiện nay - Các giải pháp khắc phục” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề THADS, nhận thấy vấn đề này

đã được một số cơ quan, nhà luật học, nhà khoa học ở trong nước quan tâm, dành thời gian nghiên cứu, ví dụ: tác giả Nguyễn Quang Thái có công trình:

"Đổi mới tổ chức và hoạt động THADS ở Việt Nam", (Luận văn thạc sĩ Luật

học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003); Tác giả Nguyễn Công

Long có công trình: "Các biện pháp cưỡng chế THADS", (Luận văn thạc sĩ

Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội); tác giả Lê Anh Tuấn có công trình:

"Đổi mới thủ tục THADS Việt Nam", (Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại

Trang 13

học Luật Hà Nội, 2004); tác giả Nguyễn Đức Nghĩa có công trình: "Cơ sở lý luận và thực tiễn khắc phục án tồn đọng trong THADS ở Việt Nam hiện nay",

(Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005);

Tác giả Đặng Đình Quyền có công trình “Hiệu quả áp dụng pháp luật trong

THADS ở Việt Nam” (Luận án tiến sỹ Luật học, Học viện Chính trị - Hành

chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2012; tác giả Nguyễn Thanh Huy, “quan niệm thế nào về việc THADS tồn đọng”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên

đề, 2012; Tác giả Huỳnh Minh Khánh, “Trao đổi về một số vướng mắc trong công tác THADS”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 1 - 2013; tác giả Lê Quỳnh Nga có công trình: “THADS - qua thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học quốc gia Hà Nội, 2014”; tác giả Hoàng Thế Anh có công trình "Giám sát THADS ở Việt Nam hiện nay" (Luận

án tiến sỹ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, 2015”) Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của trường Đại học luật Hà Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật; một số bài viết đăng trên các tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật

Kết quả nghiên cứu: Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về THADS ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau Ở một số công trình cũng đã đề cập đến vấn đề thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

THADS nhưng trong những năm gần đây, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về án dân sự tồn đọng ở Việt Nam từ góc độ nghiên cứu, tiếp cận của chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Tiếp thu có chọn lọc các công trình nghiên cứu, các bài viết đồng thời, bằng kinh nghiệm thực tiễn và hiểu biết của mình, tác giả trình bày trong luận văn về cơ sở lý luận của án tồn đọng, làm rõ thêm những yếu tố ảnh hướng đến quá trình tổ chức THADS là nguyên nhân dẫn đến tình trạng án dân sự

tồn đọng như hiện nay

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích: Thông qua các hoạt động nghiên cứu lý luận và đánh giá thực

trạng của việc THADS tồn đọng để tìm ra những hạn chế, bất cập, nguyên nhân dẫn đến số lượng án tồn đọng có xu hướng ngày càng tăng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, giúp giải quyết án dân sự tồn đọng có hiệu quả

- Nhiệm vụ: Luận văn xác định các nhiệm vụ cần thực hiện là trả lời

cho các câu hỏi nghiên cứu, đó là:

+ Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng tồn đọng án dân sự nhiều như hiện nay ở Việt Nam? Các giải pháp đưa ra để khắc phục tình trạng này là gì?

Để trả lời câu hỏi nghiên cứu này, tác giả cho rằng cần đi trúng vấn đề, cần tìm hiểu, đưa ra các luận chứng khoa học làm sáng tỏ các luận điểm khoa học, tương ứng với các nguyên nhân của thực trạng án tồn đọng như sau:

+ Luận điểm 1: Tồn đọng án dân sự nhiều một phần xuất phát từ nguyên nhân pháp luật về THADS còn nhiều bất cập, vướng mắc

+ Luận điểm 2: Tồn đọng án dân sự nhiều còn do các nguồn lực bảo đảm cơ bản cho công tác THADS chưa tương xứng

+ Luận điểm 3: Tồn đọng án dân sự nhiều xuất phát từ bản án chưa thực sự khách quan, công bằng và xa rời thực tế của Tòa án

+ Luận điểm 4: Tồn đọng án dân sự nhiều còn do ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa cao

+ Luận điểm 5: Tồn đọng án dân sự nhiều do thiếu sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành chức năng

Tương ứng với từng luận điểm kể trên, tác giả dự kiến sẽ lồng ghép làm

rõ ở các Chương của luận văn cả phương diện: cơ sở lý luận của vấn đề, thực trạng và đưa ra các giải pháp liên quan ở từng chương của Luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Án dân sự tồn đọng tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Tác giả không đi sâu vào các vụ việc dân sự cụ

Trang 15

thể, mà chỉ nghiên cứu dưới góc độ lý luận pháp luật về “án dân sự tồn đọng”, chỉ ra các nguyên nhân thực trạng tồn đọng án dân sự và đưa ra một số giải pháp khắc phục Do hạn chế về mặt thời gian, điều kiện nghiên cứu, tác giả luận văn cũng chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích dựa trên số liệu án dân sự tồn đọng ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 - 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các

phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam về pháp luật và xây dựng pháp luật, cũng như các phương pháp, các cách tiếp cận về pháp luật khách quan, khoa học khác

Mác Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên

cứu như phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh để làm sáng tỏ những vấn

đề đặt ra trong nhiệm vụ của Luận văn

Chẳng hạn, để có cái nhìn toàn diện về thực trạng tồn đọng án dân sự ở Việt Nam, tác giả sử dụng đồng thời các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp các số liệu Hoặc để có thể đưa ra các luận giải thuyết phục, tác giả cũng so sánh các mô hình THADS ở một số nước trên thế giới với Việt nam

để tìm ra những tương đồng, khác biệt từ đó đưa ra những kiến giải góp phần khắc phục tồn đọng án dân sự ở Việt Nam v.v…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn sẽ nghiên cứu toàn diện lý luận về giải quyết án dân sự tồn đọng, thực tiễn giải quyết án dân sự tồn đọng ở Việt Nam trong thời gian gần đây (giai đoạn 2010 - 2015), qua đó Luận văn đã phân tích và chỉ ra những hạn chế về thể chế, thực tiễn THA tồn đọng, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật, giúp giải quyết án tồn đọng có hiệu quả Góp phần duy trì kết quả THA bền vững, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người

Trang 16

dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước đối với hoạt động THADS nói chung và giải quyết tồn đọng án dân sự nói riêng

Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề mang tính lý luận trong giải quyết tồn đọng án dân sự tại Việt Nam - một trong những vấn đề đang được Nhà nước, xã hội và nhân dân hết sức quan tâm Luận văn là tài liệu có giá trị tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc tổ chức thi hành pháp luật nói chung, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân và duy trì trật tự, ổn định kinh tế - xã hội

7 Kết cấu của luận văn

Trên cơ sở xác định câu hỏi nghiên cứu là: “Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng tồn đọng án dân sự nhiều như hiện nay ở Việt Nam? Các giải pháp đưa ra để khắc phục tình trạng này là gì?” và các luận điểm khoa học tương ứng

đã nêu ở mục 3, khác với cách bố cục 3 chương truyền thống, ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn bao gồm

6 chương tương ứng với từng luận điểm Mỗi luận điểm là một nguyên nhân quan trọng kèm theo đó là các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng và đồng thời

là các giải pháp, trên cơ sở bám sát tên gọi của đề tài "Tồn đọng án dân sự trong THADS ở Việt Nam hiện nay - Các giải pháp khắc phục”

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về những yếu tố ảnh hưởng

đến hiệu lực tổ chức THADS và điều kiện khắc phục, hạn chế án dân sự tồn đọng

Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến tồn đọng

Trang 17

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU LỰC CỦA THADS VÀ ĐIỀU KIỆN KHẮC PHỤC,

HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ÁN TỒN ĐỌNG

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH

HƯỞNG ĐẾN HIỆU LỰC CỦA THADS

1.1.1 Khái niệm về THADS

THADS là hoạt động quan trọng nhằm đưa bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay của Toà án, quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành trong thực tế, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân và ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền thì công tác THADS càng trở nên quan trọng, đảm bảo nguyên tắc thượng tôn pháp luật và thúc đẩy hiệu lực của nền tư pháp, đảm bảo niềm tin, sự tôn trọng của công dân đối với Nhà nước

Bàn về khái niệm THA nói chung, THADS nói riêng, hiện còn có những

ý kiến khác nhau nhưng tập trung cơ bản ở hai quan niệm: (1) Coi THA là giai đoạn của tố tụng, bởi lẽ có xét xử thì phải có THA, công tác THA dựa trên cơ

sở của công tác xét xử Xét xử và THA là hai mặt thống nhất của quá trình bảo

vệ lợi ích của đương sự; (2) Coi THA là dạng hoạt động hành chính - tư pháp, bởi lẽ cho rằng: THA là dạng hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Theo quan niệm này thì tố tụng là quá trình tiến hành giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật; quá trình này trải qua nhiều giai đoạn nhưng các giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất và xét xử là giai đoạn

Trang 18

cuối cùng của quá trình tố tụng cho nên bản án, quyết định của toà án là kết quả cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng [58]

Trên thực tế, THA nói chung và THADS nói riêng là quá trình diễn ra sau quá trình xét xử của toà án Bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động THA Vì vậy, có thể nói không

có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt động THA Tuy nhiên, THA lại không phải là giai đoạn tố tụng (cuối cùng); bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật không phải là cơ sở duy nhất để tiến hành các hoạt động THA; THA đòi hỏi những nguyên tắc, thủ tục và cách thức hoạt động riêng Để có thể tiến hành các hoạt động THA thì phải có quyết định THA, phải có kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử lí và phải dựa trên những quy định cụ thể về THA [58]

Trong THADS thì Quyết định THA gắn liền với tổ chức THA, việc ra quyết định thi hành án được quy định cụ thể đối với từng trường hợp tại Điều

5 của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật THADS

Mặt khác, theo Quyết định số 02/2006/QĐ - BTP ngày 14 tháng 4 năm

2006 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về của Chế độ thống kê THADS, giải thích từ ngữ tại Phụ lục 2, Thông tư số 01/2013/TT-BTP ngày 03 tháng 01 năm 2013 của

Bộ Tư pháp hướng dẫn Chế độ báo cáo thống kê THADS thì đơn vị tính trong thống kê THADS bằng việc và giá trị, trong đó việc THADS được tính trên cơ

sở quyết định THADS Mỗi quyết định THADS được tính là một việc [8]

Do đó, một bản án, quyết định, căn cứ vào tình hình thực tế Thủ trưởng

cơ quan THADS có thể ra một quyết định THADS hay nhiều quyết định THADS Như vậy, trong THADS chỉ có khái niệm “việc THADS”, mỗi một quyết định THA là một việc THADS mà không có khái niệm “án THADS”

Vì vậy, có thể hiểu việc THADS là quyết định THADS của Thủ trưởng

cơ quan THADS nhằm đưa bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực

Trang 19

hoặc chưa có hiệu lực nhưng được thi hành ngay hoặc các quyết định khác

theo quy định của pháp luật ra thi hành trên thực tế

1.1.2 Án dân sự tồn đọng và nguyên nhân án dân sự tồn đọng

* Khái niệm

- Khái niệm án dân sự tồn đọng

Mặc dù khái niệm án tồn đọng cũng được sử dụng nhiều trong các báo cáo, thống kê của ngành Toà án và trong các tài liệu của Hệ thống THADS cũng

sử dụng thuật ngữ này một cách khá phổ biến, nhưng cho đến nay, chưa có khái niệm chính thức về “án dân sự tồn đọng” Pháp lệnh THADS trước đây, Luật THADS 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS năm 2014 đều chưa quy định cụ thể thời hạn bắt buộc cơ quan THADS phải tổ chức thi hành xong một quyết định THA Do đó, về nguyên tắc cơ sở pháp lý để xác định tồn đọng án dân sự (sau đây gọi là án tồn đọng) gặp nhiều khó khăn

Theo từ điển Tiếng Việt, thì tồn đọng là sự kéo dài, chưa thể thực hiện được, chưa được xử lý, giải quyết trong một thời hạn cụ thể nào đó một công việc Do đó, việc THADS tồn đọng hiểu một cách đơn giản là những việc THADS (những quyết định THA) chưa được thực hiện trong một thời gian nhất định theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, "án dân sự tồn đọng" là gồm cả

những quyết định thi hành phần dân sự trong bản án hình sự, cách hiểu này

không đúng, vì đó là “án hình sự” Do đó, “án dân sự tồn đọng” cần được

hiểu là “việc thi hành án dân sự tồn đọng”

Qua hoạt động thực tiễn và quy định của Chế độ thống kê THADS, thì hoạt động THADS được xác định theo từng kỳ báo cáo: Kỳ báo cáo thống kê THADS được tính theo ngày dương lịch, bắt đầu từ ngày 01/10 của năm trước

và kết thúc vào ngày cuối cùng của các tháng tương ứng với kỳ thống kê đó Năm báo cáo thống kê THADS kết thúc vào ngày 30/9 năm sau Kỳ báo cáo

Trang 20

thống kê THADS bao gồm 12 kỳ, tương ứng với từng tháng Kết thúc mỗi kỳ, thì cơ quan THADS tiến hành rà soát, khoá sổ và thống kê kết quả THA theo từng kỳ Từ những phân tích nêu trên, theo tác giả luận văn, án dân sự tồn đọng có thể được hiểu theo nghĩa sau đây:

Án dân sự tồn đọng gồm tất cả các việc thi hành án (quyết định THA) chưa thi hành xong tại các kỳ báo cáo, chưa được xoá sổ thụ lý phải chuyển sang kỳ sau để thi hành tiếp

- Các loại việc được coi là tồn đọng (chuyển kỳ sau)

Theo quy định tại Thông tư số 01/2013/TT-BTP ngày 03/1/2013 của

Bộ Tư pháp hướng dẫn Chế độ báo cáo thống kê THADS, Thông tư số 08/2015/TT-BTP ngày 26 tháng 6 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2013/TT-BTP ngày 03 tháng 01 năm 2013, thì việc THADS được chuyển sang kỳ sau bao gồm:

+ Việc tạm đình chỉ THADS: Là những việc THA đang tổ chức thi hành, nhưng người có thẩm quyền kháng nghị tạm đình chỉ THA và những việc Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định tạm đình chỉ THA khi có quyết định thụ lý đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp

+ Việc hoãn THADS: Là những việc THADS được Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định hoãn thi hành theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định hoặc khi xuất hiện các căn cứ theo quy định tại Điều 48 Luật THADS

+ Việc THADS dở dang: Là những việc cơ quan THADS qua xác minh

đã xác định được người phải THA có điều kiện THA (có tài sản để thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc có khả năng để thực hiện các nghĩa vụ về hành vi), nhưng chưa tổ chức thi hành xong tại thời điểm báo cáo

+ Việc chưa thi hành được: Là những việc cơ quan THADS mới ra quyết định THA ngay tại thời điểm khoá sổ để xây dựng báo cáo thống kê THADS, nhưng chưa xác định được đương sự có hay không có điều kiện THA

Trang 21

+ Số chưa có điều kiện thi hành: Là những việc mà người phải THA không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải THA, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để THA hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế THA hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý

để THA; Người phải THA phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác; Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải THA, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng

+ Lý do khác: Là những việc THA mà cơ quan THADS chưa tổ chức thi hành xong tại thời điểm khoá sổ xây dựng báo cáo thống kê, bao gồm: bản

án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành, vụ việc chưa có sự thống nhất ý kiến giữa các cơ quan hữu quan về đường lối giải quyết, tài sản kê biên, phải giao theo bản án quyết định nhưng chưa xử lý được và tạm ngưng THADS để giải quyết khiếu nại, tố cáo

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả THADS

* Yếu tố chủ quan:

(1) Xuất phát từ cơ quan THADS:

- Năng lực, trình độ của một bộ phận CHV, cán bộ, công chức làm công tác THADS còn hạn chế, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong tổ chức thi hành bản án, quyết định có hiệu lực được phân công thi hành;

- Công tác rà soát, phân loại án, báo cáo thống kê THADS, lập kế hoạch tổ chức và giám sát việc tổ chức THA chưa được tiến hành thường xuyên, nhiều trường hợp còn thiếu chính xác khiến cho việc tổ chức đôn đốc THA chưa kịp thời;

- Một số cơ quan THA chưa thật sự chủ động, tích cực trong việc giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc tổ chức thi hành các bản án, quyết

Trang 22

định của Tòa án nhằm thi hành dứt điểm bản án, quyết định và tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo phối hợp THADS nhằm phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong công tác THADS;

- Việc phân bổ nguồn lực về con người trong công tác THA chưa đáp ứng yêu cầu, có nơi bố trí chưa phù hợp

(2) Xuất phát từ cá nhân và cơ quan, tổ chức có liên quan đến THADS

- Ý thức chấp hành pháp luật của người phải THA chưa tốt, nhiều trường hợp người phải THA chây ỳ, chống đối, cản trở việc THA

- Những bản án, quyết định Tòa án tuyên không rõ, có sai sót, không có tính khả thi, cơ quan THA đề nghị giải thích, đính chính, xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhưng chậm được đáp ứng dẫn tới bản án, quyết định bị chậm thi hành hoặc không thể thi hành được

- Những vụ việc THA còn có ý kiến khác nhau giữa các ngành, chính quyền địa phương chưa kịp thời được giải quyết

- Nhiều việc bên phải THA là các cơ quan Nhà nước không tự nguyện thi hành trong khi chưa có cơ chế hữu hiệu buộc các đơn vị này phải thi hành

- Việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật THADS còn chậm, nhiều quy định của Luật THADS và các Luật khác liên quan không còn phù hợp thực tiễn, chưa được nghiên cứu, sửa đổi hoặc bổ sung kịp thời làm cản trở việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án dẫn tới việc gia tăng án tồn đọng

* Yếu tố khách quan:

(1) Một số quy định của pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn gây khó khăn

trong công tác THA:

- Thời điểm phát sinh hiệu lực các văn bản giao dịch của Luật Đất đai

và Luật Nhà ở khác nhau dẫn đến việc kê biên, xử lý tài sản gắn liền trên đất gặp nhiều phức tạp, không thể giải quyết dứt điểm được dẫn đến khiếu nại kéo dài, hậu quả là án tồn đọng

Trang 23

- Bất cập giữa Luật THADS và Luật phá sản về quy định cưỡng chế để thi hành các quyết định về phá sản Theo Nghị định số 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 của Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản, theo

đó, Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản chỉ có quyền đề nghị Thẩm phán ra các quyết định tuyên bố giao dịch mà doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện vô hiệu; doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhằm bảo toàn tài sản; thu hồi tài sản hay phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý tài sản Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản chỉ được phép quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế THA theo quy định pháp luật về THADS, nhưng Luật THADS không cho phép CHV ra các quyết định về THA Do đó, CHV làm Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản không thể tự mình thực hiện công vụ ngoài phạm vi pháp luật cho phép)

- Luật THADS quy định về nghĩa vụ chứng minh điều kiện THA của người được THA Đây là quy định gây khó khăn cho người được THA trong việc tự mình tiến hành xác minh điều kiện THA của người phải THA Bởi lẽ: Việc xác minh điều kiện THA phải có xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố (hoặc Trưởng thôn), UBND cấp xã hoặc cá nhân, tổ chức nắm giữ những thông tin về tài sản của người phải THA Nếu thiếu một trong các thành viên

có trách nhiệm này xác nhận thì biên bản xác minh điều kiện THA không có giá trị pháp lý Tuy nhiên, trên thực tế, Tổ trưởng tổ dân phố, hoặc cá nhân, tổ chức tuy nắm rõ điều kiện của người phải THA, nhưng hầu hết họ sợ trách nhiệm và ngại va chạm nên không giám cung cấp Mặt khác, do tính chất giữ

bí mật thông tin của một số ngành, nghề nên các cơ quan này không cung cấp cho một cá nhân về tài sản của đối tượng mà họ đang quản lý, theo dõi Trong khi đó, hiện nay Nhà nước chưa có cơ chế buộc các tổ chức, cá nhân nắm giữ

Trang 24

thông tin về tài sản của người phải THA có nghĩa vụ cung cấp khi có yêu cầu, nên việc người được hành án gặp không ít khó khăn khi tự mình tiến hành việc xác minh điều kiện THA của người phải THA

(2) Những bản án, quyết định của Tòa án mà đương sự là người nước ngoài, mà quốc gia nơi người đó mang quốc tịch chưa có hiệp định tương trợ

tư pháp với Việt Nam, khiến cho việc ủy thác tư pháp không thể thực hiện được, vì: Đương sự là người phải thi hành khoản nộp ngân sách nhà nước, chưa thi hành xong phần nghĩa vụ của mình, nhưng hiện tại đã trở về nước và không để lại tài sản gì ở Việt Nam, cơ quan THA đã thực hiện mọi biện pháp, nhưng việc THA không thể đạt được kết quả do không xác minh được địa chỉ, thu nhập của người phải THA; hoặc có xác minh được địa chỉ, nhưng cơ quan THA không thể tiến hành các thủ tục ủy thác tư pháp được do Việt Nam chưa

có Hiệp định tương trợ tư pháp với nước người đó cư trú về vấn đề này Trường hợp nếu thực hiện việc yêu cầu nước sở tại công nhận và cho thi hành bản án tại nước đó thì hiện nay chưa quy định cơ quan nào có trách nhiệm thực hiện việc này (vì đây là khoản thu cho ngân sách nhà nước) Ngoài ra, một số trường hợp khác như: Trường hợp người nước ngoài phạm tội, bị bắt, khi đưa

vụ án ra xét xử, Tòa án tuyên vô tội và họ đã hồi hương, nhưng tang vật vụ án

mà họ được nhận lại vẫn đang bảo quản tại kho cơ quan Điều tra hoặc kho cơ quan THA chưa xử lý được vì nhiều lý do Như vậy, những vụ việc này chắc chắn tồn đọng lâu dài tại cơ quan THA, nhưng không có hướng giải quyết

(3) Luật THADS quy định về giảm giá tài sản đã kê biên (mỗi lần giảm giá không quá 10%) cho đến khi giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế Với quy định này thì thời gian xử lý vụ việc chắc chắn sẽ kéo dài (như tài sản kê biên ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa… có giá trị lớn nhưng khó bán); nhất là sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người có tài sản thuộc sở hữu chung, bởi: người phải THA có thể chỉ có vợ hoặc chồng có nghĩa vụ thực hiện việc THA

Trang 25

* Những yếu tố mang tính đặc thù của hoạt động THA: Để đảm bảo thi

hành các nghĩa vụ về tài sản hoặc nghĩa vụ về hành vi thì điều kiện tiên quyết

là người đó phải có điều kiện THA Do đó, nếu người đó không có điều kiện THA thì việc THA không thể tiến hành THA:

(1) Người phải THA không có tài sản, thu nhập hợp pháp để THA hoặc

không xác định được nơi cư trú của đương sự, đặc biệt đối với trường hợp người phải THA đang chấp hành hình phạt tù, không có tài sản

(2) Người phải THA có tài sản nhưng giá trị nhỏ, không đáng kể để THA (3) Người phải THA chỉ có tài sản để kê biên, phát mãi nhưng không

bán được, mà người được THA không đồng ý nhận để trừ vào số tiền được THA và người phải THA không có tài sản nào khác

(4) Người phải thi hành nghĩa vụ giao vật đặc định mà vật đó đã mất,

hư hỏng mà hai bên không thỏa thuận được về phương thức thanh toán, cơ quan THA đã hướng dẫn các đương sự khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc bồi thường nhưng chưa có quyết định giải quyết của Tòa án

1.2 ĐIỀU KIỆN KHẮC PHỤC, HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG TỒN ĐỌNG ÁN

ÁN DÂN SỰ

1.2.1 Hành lang pháp lý cơ bản bảo đảm cho công tác THADS hiệu quả hơn

Thể chế cho công tác THADS không ngừng được hoàn thiện Trải qua

03 Pháp lệnh THADS của các năm 1989, 1993 và năm 2004, đến năm 2008, theo yêu cầu trong giai đoạn mới, Luật THADS được Quốc hội thông qua và năm 2014 được sửa đổi, bổ sung Với hình thức văn bản pháp luật chuyên ngành là Luật THADS, cùng hệ thống các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này đã được ban hành tương đối đầy đủ, từ Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Thông tư liên tịch và văn bản pháp quy trong nội bộ Ngành, cơ quan THADS (06 Nghị định, 18 Thông

tư liên tịch và 25 Thông tư về THADS và hàng chục Quy chế phối hợp )

Trang 26

Các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật chuyên ngành về THADS nêu trên điều chỉnh cơ bản đầy đủ các lĩnh vực của công tác THADS

Hiện, các văn bản về THADS vẫn được tiếp tục rà soát, để tập trung xây dựng, sửa đổi, bổ sung, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, phù hợp với những văn bản mới được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp gần đây, nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật về THADS, tạo điều kiện thuận lợi cho

cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo vệ tốt hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong công tác THADS

1.2.2 Hệ thống tổ chức THADS được thành lập tương đối phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và tính chất đặc thù của hoạt động THADS

Căn cứ quy định của Luật THADS và Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ, Hệ thống tổ chức THADS đã được tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất theo chuyên ngành THADS, với mô hình: Tổng cục THADS trực thuộc Bộ Tư pháp, Cục THADS cấp tỉnh trực thuộc Tổng cục THADS, Chi cục THADS cấp huyện trực thuộc Cục THADS cấp tỉnh Việc tổ chức hệ thống THADS theo ngành dọc đã tăng cường vị thế cơ quan THADS, tương xứng chức năng, nhiệm vụ được giao, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, chỉ đạo chuyên ngành, thống nhất từ trung ương đến cấp huyện, nhưng không xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương với công tác THADS Đã đảm bảo cơ chế vận hành có hiệu quả, thông suốt, gắn chặt với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, UBND thành phố, các quận ủy, huyện ủy và UBND các quận, huyện và sự phối hợp công tác có hiệu quả của các Sở, ban, ngành trên địa bàn, nhất là VKSND, TAND,

cơ quan Công an và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các quận, huyện

Cơ cấu, bộ máy của hệ thống tổ chức THADS từng bước được kiện toàn với việc thành lập các Vụ và tương đương thuộc Tổng cục THADS, các Phòng thuộc Cục THADS giúp cho Tổng cục trưởng, Cục trưởng quản lý, điều hành công việc chặt chẽ, chất lượng hơn [10, tr 10] Tổ chức bộ máy và

Trang 27

đội ngũ công chức các cơ quan THADS đã được quan tâm kiện toàn và ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; kỷ luật, kỷ cương hành chính được siết chặt và ngày càng đi vào nề nếp

1.2.3 Mối quan hệ phối hợp trong công tác THADS

Từ việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan, tổ chức trong THADS, các cơ quan, tổ chức đã chủ động hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình và thực hiện tương đối hiệu quả hơn mối quan

hệ phối hợp trong THADS [10, tr.14] Công tác phối hợp kết hợp với các ban,

bộ, ngành Trung ương, với cấp ủy, chính quyền địa phương được chú trọng hơn; nhiều Quy chế phối hợp liên ngành đã được ký kết (với Bộ Công an, TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam ) và triển khai nghiêm túc, có hiệu quả từ

Trung ương đến địa phương, góp phần huy động được sự quan tâm, ủng hộ

của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị, góp phần tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi để các cơ quan THADS thực hiện hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao

1.2.4 Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về THADS của cá nhân, tổ chức được nâng lên

Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về THADS của cá nhân, tổ chức đã được nâng lên Nhiều trường hợp người phải THA tự nguyện thi hành nghĩa vụ THADS của mình, nhất là trong các đợt đặc xá Một số người được THA đã chủ động thực hiện việc xác minh điều kiện THA để bảo vệ quyền lợi của mình, hạn chế tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước v.v [10, tr.11]

1.3 HỆ THỐNG CÁC NHÓM NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN GÂY NÊN

TỒN ĐỌNG ÁN DÂN SỰ

+ Nhóm 1: Tồn đọng án dân sự nhiều một phần xuất phát từ nguyên nhân pháp luật về THADS còn nhiều bất cập, vướng mắc

Trang 28

+ Nhóm 2: Tồn đọng án dân sự nhiều còn do các nguồn lực bảo đảm cơ bản cho công tác THADS chưa tương xứng

+ Nhóm 3: Tồn đọng án dân sự nhiều xuất phát từ bản án chưa thực sự khách quan, công bằng và xa rời thực tế của Tòa án

+ Nhóm 4: Tồn đọng án dân sự nhiều còn do ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa cao

+ Nhóm 5: Tồn đọng án dân sự nhiều do thiếu sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành chức năng

Trang 29

Kết luận Chương 1

Như vậy, từ những vấn đề lý luận liên quan đến THADS nói chung và

án dân sự tồn đọng nói riêng, Chương I đã cho thấy vấn đề án dân sự tồn đọng vẫn cón có những quan niệm khác nhau, trong khi các văn bản về THADS cũng chưa có quy định nào liên quan đến việc xác định tiêu chí án tồn đọng (hiện đang sử dụng thuật ngữ “án chuyển kỳ sau”) Do vậy, trong Chương này, tác giả có làm rõ về khái niệm án dân sự tồn đọng, nêu ra các yếu tố, đồng thời xác định rõ nhóm nguyên nhân chính dẫn đến án dân sự tồn đọng

Có thể nói việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về THADS nói chung và tồn đọng án dân sự nói riêng cho ta thấy ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn, giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể về THADS cũng như những tồn tại, hạn chế dẫn đến tình trạng án dân sự còn tồn đọng như hiện nay để có nghiên cứu, đề ra những giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm thúc đẩy công tác THADS phát triển bền vững và giảm lượng án tồn đọng

Trang 30

Chương 2

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THADS VÀ PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ÁN DÂN SỰ TỒN ĐỌNG TRONG THI HÀNH ÁN

Hoạt động THADS là hoạt động của Nhà nước, do Hệ thống các

CQTHADS đảm nhiệm, tổ chức thi hành thông qua các CHV và công chức làm công tác THADS Việc tổ chức THADS phải tuân theo quy định của pháp luật và thực hiện theo trình tự, thủ tục nhất định, do vậy, nếu các quy định pháp luật về THA nói riêng và quy định pháp luật có liên quan đến THA nói chung, phù hợp, rõ ràng, dễ thực hiện, là hành lang pháp lý vững chắc cho công tác THADS, ngược lại, nếu văn bản về THADS còn có sự chồng chéo, mâu thuẫn hoặc chưa rõ ràng thì gây khó khăn, thậm chí là cản trở đến việc tổ chức THADS Thực tiễn nghiên cứu về công tác THADS và các văn bản pháp luật về THADS cũng như văn bản có liên quan đến công tác THADS, tác giả nhận thấy một số quy định trong lĩnh vực này còn có những hạn chế, bất cập,

là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng án dân sự bị tồn đọng (tác giả chỉ đề cập đến những bất cập của pháp luật THADS và pháp luật liên quan có ảnh hưởng, là nguyên nhân gây nên án tồn đọng), cụ thể:

2.1 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ CÁC VĂN

THA không có đầy đủ các nội dung quy định và người được THA không yêu

Trang 31

cầu xác minh thì cơ quan THADS thực hiện theo khoản 1 Điều 1 Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ:

Thông báo để đương sự bổ sung nội dung đơn yêu cầu THA trước khi ra quyết định THA Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan THADS mà người được THA không bổ sung đúng nội dung quy định tại Điều 31 Luật THADS thì cơ quan THADS không thụ lý đơn yêu cầu THA

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1, Điều 34 Luật THADS về các trường hợp từ chối nhận đơn yêu cầu THADS không có trường hợp người được THA không bổ sung đúng nội dung quy định tại Điều 31 Luật THADS

Do vậy, trong trường hợp này nếu cơ quan THADS không thụ lý đơn yêu cầu THADS của người được THA là chưa đúng với quy định tại Điều 34, nếu thụ

lý đơn thì chưa đúng với quy định tại Điều 31, Luật THADS Chính từ những quy định chưa rõ ràng, chưa cụ thể dẫn đến việc nhiều trường hợp người được THA không được nhận đơn, không được thụ lý THA, quyền lợi của một số người dân chưa được bảo đảm, người dân đi lại nhiều lần, cơ quan THADS phải có nhân lực để tiếp đón, hướng dẫn, ảnh hưởng đến quá trình tổ chức

- Về xác minh điều kiện THA: Điều 44 Luật THADS năm 2008 quy

định, việc xác minh điều kiện THA phải lập thành biên bản, có xác nhận của (1) Tổ trưởng Tổ dân phố, (2) UBND cấp xã, (3) Công an xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh Do đó, dẫn đến cách hiểu là nếu thiếu một trong

ba chữ ký xác nhận của người có trách nhiệm nêu trên thì biên bản xác minh điều kiện THA không có giá trị pháp lý Tuy nhiên, trên thực tế, Tổ trưởng Tổ dân phố tuy nắm rõ điều kiện của người phải THA, nhưng thường đi làm vắng, không thường xuyên ở nhà nên khó liên hệ, mặt khác việc xác nhận vào biên bản

có liên quan đến trách nhiệm, có sự va chạm với đương sự, do đó tâm lý người

ký biên bản nhất là Tổ trưởng Tổ dân phố có phần do dự, thậm chí ngại không

Trang 32

muốn ký, trong khi pháp luật chưa quy định hay chính sách đãi ngộ cũng như quy trách nhiệm đối với họ, nên họ thường không nhiệt tình hợp tác

- Quy định về đình chỉ THA: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 50

Luật THADS thì người phải THA là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản

mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho

tổ chức khác Quy định này thực tế không tránh khỏi khiếu nại của đương sự nếu áp dụng quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh tại Điều 46 Nghị định

số 88/2006/NĐ-CP và Điều 158 Luật Doanh nghiệp, theo đó người đại diện theo pháp luật, tất cả các thành viên của doanh nghiệp bị giải thể liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác chưa thanh toán trong trường hợp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Mặt khác, quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 50 Luật THADS về phần nêu trên tạo kẽ hở pháp lý để doanh nghiệp thực hiện giải thể nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản, các khoản nợ trái pháp luật trong hoạt động THA [50, tr 11], dẫn đến tình trạng một

số lượng án không nhỏ liên quan đến doanh nghiệp không thực hiện được dứt điểm, bị tồn đọng

- Chuyển giao quyền, nghĩa vụ THA đối với doanh nghiệp nhà nước giải thể, cổ phần hoá

Điểm d khoản 1 Điều 54 Luật THADS quy định trường hợp giải thể thì

cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải thể thông báo cho cơ quan THADS biết trước khi ra quyết định Trên thực tế, nội dung này khó thực hiện do cơ quan có thẩm quyền giải thể doanh nghiệp (cơ quan đăng ký kinh doanh) không thể biết doanh nghiệp giải thể đang phát sinh tranh chấp với ai, tại địa bàn nào để thông báo [50, tr 12]

Luật THADS quy định về trách nhiệm THA trong trường hợp doanh nghiệp giải thể trái pháp luật do lỗi của cơ quan ra quyết định giải thể Thực tiễn phát sinh việc giải thể trái pháp luật do lỗi của chính doanh nghiệp bị giải thể mà Luật THADS chưa quy định

Trang 33

Tại điểm e khoản 1 Điều 54 của Luật THADS quy định: “Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ THA của mình thì sau khi chuyển đổi, doanh

nghiệp đó tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ THA” [39] Theo Điều 10 Nghị

định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần thì công ty cổ phần không

có trách nhiệm thanh toán khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước đã chuyển đổi, nếu sau thời điểm chuyển đổi, công ty cổ phần không được bàn giao trách nhiệm thanh toán Điều đó dẫn đến những vụ việc mà bên phải THA là các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã chuyển thành công ty cổ phần rất khó tổ chức THA do công ty cổ phần không được bàn giao trách nhiệm, đó là trở ngại lớn dẫn đến án loại này thường bị tồn đọng

- Điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ THA: Điều kiện tiên quyết để được xét

miễn, giảm là người phải THA không có tài sản để thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước [39, Điều 61], tuy nhiên Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có hướng dẫn cụ thể về những trường hợp được coi

là không có tài sản để thi hành Việc này dẫn đến nhiều cách hiểu, quan điểm khác nhau trong quá trình thực hiện công tác xét miễn, giảm Ví dụ: Không thống nhất về việc thực hiện thủ tục xét miễn, giảm đối với trường hợp đã kê biên, bán đấu giá tài sản của người phải THA để đảm bảo thi hành khoản nộp ngân sách nhà nước nhưng không bán được vì xác định thực tế người phải THA có tài sản Trường hợp người phải THA (theo bản án) không còn cư trú tại địa phương, không xác định được nơi cư trú cuối cùng nên không xác định được điều kiện của người phải THA, người đó có phạm tội mới hay không, có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để THA Vì vậy, thực tế ở một số địa phương không thể tiến hành miễn, giảm THA đối với những trường hợp này

Mặt khác, theo quy định tại khoản 1, Điều 26 Nghị định số

Trang 34

58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009, sửa đổi, bổ sung bằng khoản 15, Điều 1, Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ:

Người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đã thi hành được ít nhất bằng 1/50 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch thì được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 Luật THADS [20, Điều 1]

Quy định “đã thi hành được ít nhất bằng 1/50 khoản phải thi hành” là quy định bắt buộc để xét miễn, giảm Tuy nhiên, như đã nói ở trên, thực tế số lượng vụ án có khoản phải thi hành trên 5,000,000đ (Năm triệu đồng) là rất lớn mà người phải THA hoàn toàn không có điều kiện để nộp dù là 1/50, do vậy rất khó khăn trong công tác xét miễn, giảm, dẫn đến những việc loại này trở thành án tồn đọng kéo dài tại cơ quan THADS

- Về phong tỏa tài khoản: Theo quy định tại khoản 3 Điều 67 Luật THADS thì: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phong toả tài khoản, CHV phải áp dụng biện pháp cưỡng chế …” [39] Trong khi đó,

theo quy định tại khoản 1, Điều 45 của Luật THADS năm 2008 thì thời hạn tự nguyện THA là 15 ngày, như vậy, nếu CHV áp dụng khoản 3, Điều 67 để áp dụng biện pháp cưỡng chế là vi phạm nghiêm trọng đến quyền của người phải THA do chưa hết thời hạn tự nguyện THA Do vậy, quá trình tổ chức THA, các CHV còn lúng túng khi vụ việc rơi vào những trường hợp này, mất thời gian xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ từ Cục hoặc Tổng cục THADS Trường hợp không đồng nhất quan điểm sẽ phát sinh văn bản qua lại nhiều lần, kéo dài thời gian, không kịp thời phong tỏa tài sản, tài sản dễ bị tẩu tán, không thi hành dứt điểm được vụ việc

- Kê biên, xử lý tài sản của người phải THA gắn liền với tài sản của người khác

+ Đối với việc xử lý nhà ở của người phải THA được xây dựng trên đất

Trang 35

của người khác, thì trong nhiều trường hợp, người phải THA chỉ có tài sản duy nhất là ngôi nhà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng nằm trên đất mượn, cơ quan THADS đã tiến hành kê biên ngôi nhà để đảm bảo THA, nhưng hầu như không thể xử lý tiếp được Trong khi đó, Luật Nhà ở không cấm chủ sở hữu nhà đã có Giấy chứng nhận quyền sở hữu tham gia các giao dịch Khi các giao dịch này được thực hiện, phát sinh tranh chấp, sau đó

có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, đến giai đoạn THA, cơ quan THA thường gặp phải khó khăn, mất nhiều thời gian, chi phí [50, tr.14]

+ Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở để kê biên bảo đảm THA: Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì đăng ký là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sở hữu hoặc sử dụng tài sản phải đăng ký, nhưng cũng theo quy định tại Điều 168, nguyên tắc này sẽ bị loại trừ nếu trường hợp pháp luật có quy định khác Theo khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở thì quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng Như vậy, nhà ở cũng là một trong những loại tài sản thuộc diện loại trừ của Điều 168 Bộ luật Dân sự vì theo quy định trên quyền sở hữu đối với nhà ở được chuyển kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng Vấn

đề là trường hợp chủ sở hữu nhà là người phải THA đã tiến hành bán ngôi nhà

đó, hợp đồng bán nhà đã được công chứng tại Phòng công chứng (hoặc Văn phòng công chứng), nhưng người mua chưa làm thủ tục sang tên đối với ngôi nhà đó, theo Bộ luật dân sự và Luật Đất đai thì quyền sử dụng đất chưa được chuyển giao cho người mua (vì chưa đăng ký), nhưng theo khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở thì ngôi nhà đã được chuyển quyền sở hữu cho người mua Trường hợp này, cơ quan THADS xử lý ngôi nhà trên để THA gặp phải sự phản ứng gay gắt của đương sự, cũng như sự vướng mắc giữa các quy định của pháp luật Nếu không kê biên nhà đất của người phải THA (trường hợp

Trang 36

vẫn còn Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, dù nhà

đã bán và có công chứng) thì người được THA sẽ khiếu nại vì cho rằng CHV tạo điều kiện cho người phải THA tẩu tán tài sản, vụ việc tiếp tục bị kéo dài, nhiều

vụ việc trong số những vụ việc này nằm trong danh sách tồn đọng, kéo dài

- Định giá tài sản đã kê biên

+ Về việc CHV xác định giá tài sản kê biên theo khoản 3 Điều 98 Luật THADS và Điều 15 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, thực tế nhiều cơ quan chuyên môn không biết hoặc không tạo điều kiện cho cơ quan THADS, nhưng

chưa quy định cơ chế bắt buộc cơ quan chuyên môn phải có ý kiến [50, tr 15]

Do vậy, quá trình định giá tài sản kê biên thường bị kéo dài, thậm chí có

những vụ không thực hiện được

+ Về quyền yêu cầu định giá lại tài sản kê biên: Trường hợp đương sự

có yêu cầu định giá lại tài sản kê biên trước khi có thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 99 Luật THADS thì CHV tổ chức định giá lại tài sản kê biên Điều luật không quy định được yêu cầu đến lần thứ mấy, thực tế có trường hợp người phải THA lợi dụng quy định này để yêu cầu định giá lại nhiều lần nhằm kéo dài việc THADS

- Xử lý tài sản bán đấu giá không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc tài sản bán đấu giá không thành

Điều 100 của Luật THADS về giao tài sản để THA quy định:

Trường hợp đương sự thoả thuận để người được THA nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được THA thì CHV lập biên bản

về việc thoả thuận; việc giao tài sản để trừ vào số tiền được THA được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thoả thuận Như vậy, theo tinh thần Điều luật này thì việc giao tài sản để THA phải có sự thỏa thuận của các bên đương sự [39, Điều 100]

Trang 37

Tuy nhiên, Điều 104 Luật THADS về xử lý tài sản bán đấu giá không thành quy định như sau:

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì CHV ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá Mỗi lần giảm giá không quá 10% giá

đã định Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế

mà người được THA không nhận tài sản để trừ vào số tiền được THA

thì tài sản được trả lại cho người phải THA [39, Điều 104]

Trong trường hợp này Luật THADS lại không quy định rõ là cần có thỏa thuận của các bên đương sự không hay chỉ cần người được THA đồng ý

là cơ quan THA thực hiện việc giao tài sản cho người đó để khấu trừ tiền THA Trong khi đó, hiện nay các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật THADS cũng không quy định cụ thể thêm về vấn đề này Do vậy, trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được THA đồng ý nhận tài sản bán đấu giá không thành, nhưng người phải THA không đồng ý giao, thì chưa có sở pháp lý để giao tài sản đó cho người được THA Cơ quan THA vẫn phải tổ chức hạ giá, bán tài sản là không khả thi

- Thứ tự thanh toán tiền THA

Điểm b khoản 2 Điều 47 Luật THADS quy định:

Số tiền THA thu theo quyết định cưỡng chế THA nào thì thanh toán cho những người được THA đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được THA theo các quyết định THA khác tính đến thời điểm thanh toán [39, Điều 47]

Trên thực tế, quá trình tổ chức THA cho thấy từ quy định của luật như trên dẫn đến nhiều cách hiểu, hiểu không thống nhất, chủ yếu hiểu theo 02 cách sau: (1) Chỉ những người được THA đã có đơn yêu cầu THA tính đến

Trang 38

thời điểm có quyết định cưỡng chế nhưng quyết định cưỡng chế đó phải căn

cứ theo đơn yêu cầu THA của họ mới được thanh toán Đối với những người

được THA không thuộc quyết định cưỡng chế đó, mặc dù đã có đơn yêu cầu THA trước khi có quyết định cưỡng chế, thì không được ưu tiên thanh toán;

(2) Thanh toán cho tất cả những người được THA đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó không phụ thuộc vào việc đơn yêu cầu THA có phải là căn cứ để ra quyết định cưỡng chế hay không

Từ những cách hiểu không thống nhất như trên, nhiều vụ việc đã đến giai đoạn cuối của quá trình THA nhưng việc vẫn bị kéo dài hoặc tồn đọng, không đáp ứng được yêu cầu hợp pháp của người được THA và những người

có liên quan do có tranh chấp trong việc ưu tiên thanh toán

- Tương trợ tư pháp về THADS

Khoản 3 Điều 126 Luật THADS quy định đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, CHV làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định trường hợp cơ quan ban hành giấy tờ có trụ sở ở nước ngoài thì thực hiện trả lại giấy tờ như thế nào?

Mặt khác, Điều 181 Luật THADS quy định:

1 Việc yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong THA, việc tiếp nhận và xử lý uỷ thác tư pháp về THA của nước ngoài trong quá trình THA được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp 2 Cơ quan THADS có yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong THA phải lập hồ sơ uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp [39, Điều 181]

Việc THADS đối với bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài hiện nay pháp Luật THADS hiện hành chưa có quy định cụ thể thủ tục uỷ thác tư pháp

Trang 39

quốc tế về THADS hoặc việc xác minh điều kiện THA và thực hiện việc THA tại nước ngoài như thế nào Do đó, việc chỉ đạo về tổ chức THA đối với người nước ngoài có khó khăn, vụ việc thường bị kéo dài

- Về Ban chỉ đạo THADS: Theo quy định tại Điều 13,

NĐ74/2009/NĐ-CP, các địa phương đã thành lập Ban Chỉ đạo THADS cấp tỉnh, cấp huyện, tuy nhiên, quá trình hoạt động đã gặp một số khó khăn, vướng mắc, hạn chế: Nhận thức về thẩm quyền, nguyên tắc hoạt động của một số Ban Chỉ đạo chưa đầy đủ, thống nhất; Chưa xác định rõ phạm vi, nội dung các vụ việc cần có Ban chỉ đạo tham gia giải quyết; Một số Ban Chỉ đạo THADS hoạt động hiệu quả chưa cao, còn có biểu hiện chỉ đạo chưa kịp thời, thiếu chủ động, thiếu quyết liệt, làm chậm tiến độ của việc giải quyết công việc, ngược lại có nơi, có lúc, có việc, Ban Chỉ đạo có biểu hiện lạm quyền (khi tính chất hành chính được chú trọng, công tác THADS lại chịu sự chi phối khá lớn của chính quyền địa phương) làm giảm tính độc lập của cơ quan THADS… do đó, nhiều vụ việc chưa được tổ chức cưỡng chế kịp thời, làm ảnh hưởng tiến độ giải quyết vụ việc THADS

Tóm lại: Qua phân tích ở một số điểm liên quan đến những hạn chế, bất

cập của luật THADS 2008 và văn bản hướng dẫn Thi hành Luật này cho thấy:

(1) Luật THADS chưa xác định hoạt động THADS là hoạt động tố

tụng, là khâu cuối cùng của việc thực hiện quyền tư pháp, do đó, có sự cắt khúc, tách rời giữa hoạt động xét xử với hoạt động THA [47, tr.17] Trách nhiệm, quyền hạn của Tòa án đối với việc thi hành các bản án, quyết định của mình còn hạn chế, nhất là việc giải quyết những hệ quả, vướng mắc trong trường hợp kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án hay Viện kiểm sát dẫn đến thay đổi nội dung các bản án đã có hiệu lực đang được thi hành hoặc đã thi hành xong; trách nhiệm theo dõi, thống kê việc thi hành các bản án, quyết định cũng chưa được Tòa án quan tâm thực hiện; thẩm quyền kiểm sát, thanh tra đối với công tác THADS chưa rõ ràng

Trang 40

(2) Một số quy định về quyền, trách nhiệm của các bên trong THA còn

bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là việc Luật quy định người được THA có trách nhiệm xác minh điều kiện THA, gây khó khăn cho người được THA, nhất là việc xác minh tại các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tín dụng Bên cạnh đó việc quy định trong trường hợp người được THA yêu cầu CHV tiến hành xác minh thì phải chịu chi phí, gây tốn kém cho người dân

(3) Một số quy định của Luật THADS về trình tự, thủ tục THA còn bất

cập, thiếu thống nhất, chưa đồng bộ với pháp luật có liên quan trong các lĩnh vực đất đai, nhà ở, tài chính, ngân hàng, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính [47, tr 16], nhất là các quy định về kê biên, phong tỏa tài sản THA, đấu giá tài sản THA, xử lý tài sản THA trong trường hợp là tài sản cầm cố, thế chấp; chưa có biện pháp, chế tài cần thiết, đủ sức mạnh để răn đe đối với người phải THA, dẫn tới việc chấp hành pháp luật của người phải THA chưa nghiêm, cố tình chây ỳ, không tự nguyện THA nhằm kéo dài việc THA

(4) Luật THADS đã có quy định về miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với

khoản thu nộp ngân sách nhà nước, tuy nhiên, quy định này còn chưa sát với thực tiễn, nhất là đối với số án dân sự bị tồn đọng chưa giải quyết được trước 01/7/2009, trong đó có những việc mà các cơ quan THADS đã thực hiện đầy

đủ các trình tự, thủ tục và áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để tổ chức thi hành trong nhiều năm nhưng không có kết quả dẫn đến tốn kém công sức, kinh phí từ ngân sách nhà nước và những khoản thu đối với người đã bị kết án về hành vi phạm tội trước đây, nhưng nay hành vi phạm tội này đã được miễn chấp hành hình phạt theo Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự

(5) Việc xác định trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phối

hợp thực hiện một số nhiệm vụ công tác THADS trên địa bàn ở các quy định của Luật còn chưa cụ thể

Ngày đăng: 22/05/2017, 12:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thế Anh (2015), Giám sát THADS ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ Luật học, Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát THADS ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Thế Anh
Năm: 2015
2. Hoài Bắc (2015), Công tác THADS có chuyển biến tích cực, http://noichinh.vn, (truy cập ngày 25/9/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác THADS có chuyển biến tích cực
Tác giả: Hoài Bắc
Năm: 2015
3. Ban Cán sự Đảng Bộ Tƣ pháp (2013), Báo cáo tổng kết 20 năm công tác THADS (1993-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo tổng kết 20 năm công tác THADS (1993-2012)
Tác giả: Ban Cán sự Đảng Bộ Tƣ pháp
Năm: 2013
4. Ban cán sự Đảng Bộ Tƣ pháp (2015), Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Ban cán sự Đảng Bộ Tƣ pháp
Năm: 2015
5. Đá Bàn (2016), Vì sao nhiều án dân sự khó thi hành, kéo dài, http://www.thesaigontimes.vn, (truy cập 15/6/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao nhiều án dân sự khó thi hành, kéo dài
Tác giả: Đá Bàn
Năm: 2016
6. Đinh Duy Bằng (2012), “Những hạn chế khi tổ chức CQTHADS”, Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, tr. 44 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hạn chế khi tổ chức CQTHADS”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Đinh Duy Bằng
Năm: 2012
7. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49 - NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49 - NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
8. Bộ Chính trị (2014), Kết luận số 92-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 92-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
9. Bộ Tƣ pháp (2013), Thông tư hướng dẫn Chế độ báo cáo thống kê THADS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn Chế độ báo cáo thống kê THADS
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 2013
10. Bộ Tƣ pháp (2014), Báo cáo tổng kết 04 năm thi hành Luật THADS 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 04 năm thi hành Luật THADS 2008
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 2014
11. Bộ Tƣ pháp (2015), Báo cáo kết quả công tác THADS năm 2015 và nhiệm kỳ 2011 - 2015, định hướng nhiệm kỳ 2016 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác THADS năm 2015 và nhiệm kỳ 2011 - 2015, định hướng nhiệm kỳ 2016 - 2020
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 2015
12. Bộ Tƣ pháp (2015), Báo cáo về tình hình, kết quả thi hành những vụ án lớn liên quan đến thu hồi tài sản cho Nhà nước phục vụ buổi làm việc của Chủ tịch nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình, kết quả thi hành những vụ án lớn liên quan đến thu hồi tài sản cho Nhà nước phục vụ buổi làm việc của Chủ tịch nước
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 2015
13. Bộ Tƣ pháp (2015), Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 2015
14. Bộ Tƣ pháp (2016), Thi hành án dân sự 70 năm xây dựng và trưởng thành, NXB Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành án dân sự 70 năm xây dựng và trưởng thành
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Nhà XB: NXB Tƣ pháp
Năm: 2016
15. BTP-TANDTC-VKSNDTC (2010), Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT- BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS
Tác giả: BTP-TANDTC-VKSNDTC
Năm: 2010
16. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thu hồi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thu hồi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
17. Chính phủ (2006), Nghị định hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
18. Chính phủ (2009), Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về cơ quan quản lý THADS, CQTHADS và công chức làm công tác THADS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về cơ quan quản lý THADS, CQTHADS và công chức làm công tác THADS
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
20. Chính phủ (2013), Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
21. Chính phủ (2014), Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w