1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại thành phố hà nội

88 409 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực trạng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở nước ta cũng bộc lộ nhiều hạn chế, như: còn một số đối tượng người khuyết tật chưa được hưởng trợ giúp; thủ tục, điều kiệ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ TRANG

PH¸P LUËT VÒ TRî GIóP X· HéI

§èI VíI NG¦êI KHUYÕT TËT - Tõ THùC TIÔN

T¹I THµNH PHè Hµ NéI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ TRANG

PH¸P LUËT VÒ TRî GIóP X· HéI

§èI VíI NG¦êI KHUYÕT TËT - Tõ THùC TIÔN

T¹I THµNH PHè Hµ NéI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU CHÍ

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

PHẠM THỊ TRANG

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 7

1.1 Người khuyết tật và vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã hội 7

1.1.1 Khái niệm người khuyết tật 7

1.1.2 Đặc điểm của người khuyết tật 11

1.1.3 Vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã hội 16

1.2 Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 16

1.2.1 Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 16

1.2.2 Sự cần thiết phải có pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 19

1.2.3 Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 20

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 28

2.1 Thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 28

2.1.1 Đối tượng được trợ giúp xã hội 29

2.1.2 Trình tự, thủ tục hưởng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 33

2.1.3 Quyền lợi về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 39

2.1.4 Nguồn tài chính và cơ quan tổ chức thực hiện 45

2.2 Thực tiễn thực hiện trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật tại Thành phố Hà Nội 48

Trang 5

2.2.1 Tình hình người khuyết tật và công tác người khuyết tật trên địa

bàn Thành phố Hà Nội 48

2.2.2 Đối tượng được trợ giúp xã hội 52

2.2.3 Trình tự, thủ tục hưởng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 58

2.2.4 Quyền lợi về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 60

2.2.5 Nguồn tài chính và cơ quan tổ chức thực hiện 65

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 66

3.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 66

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 71

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 82

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống, không phải ai cũng gặp may mắn, thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển, trái lại họ thường xuyên phải đối mặt với những rủi ro, bất hạnh, biến cố… vì nhiều nguyên nhân khác nhau Khi rơi vào hoàn cảnh như vậy, nhu cầu khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng trở thành cấp thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc Do đó, có thể nhận thấy, trợ giúp xã hội là biện pháp tương trợ cộng đồng đầu tiên mà con người tìm đến để giúp nhau vượt qua những tình huống khó khăn Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc một hay nhiều chức năng nào đó của bộ phận cơ thể bị suy giảm Do khuyết tật nên họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, lao động và tham gia hoạt động xã hội Do đó việc bảo đảm sự bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với người khuyết tật là nghĩa vụ của gia đình, xã hội và Nhà nước

Là mắt xích quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, với truyền thống nhân đạo của dân tộc, người khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 đều khẳng định người khuyết tật là công dân - thành viên của xã hội, được hưởng đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, được chung hưởng thành quả

xã hội Vì khuyết tật, nên người khuyết tật có quyền được xã hội trợ giúp để thực hiện được quyền bình đẳng và tham gia tích cực vào các hoạt động của

xã hội, đồng thời khuyết tật, họ được miễn trừ một số nghĩa vụ công dân

Xã hội ngày càng phát triển song hành với các chiến lược phát triển kinh tế thì những chủ trương chính sách phát triển xã hội thông qua các chính sách đảm bảo đời sống an sinh xã hội của người dân cũng ngày càng được chú

Trang 7

trọng Hiện nay, người khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các cơ hội tiếp cận các hoạt động, dịch vụ nhằm nâng cao năng lực, tạo thuận lợi cho việc hội nhập đời sống của cộng đồng Bản thân người khuyết tật không thể hội nhập vào cuộc sống cộng đồng nếu đó chỉ là sự nỗ lực của bản thân mà còn cần được sự quan tâm chia sẻ, tạo thuận lợi từ gia đình, cộng đồng và xã hội để người khuyết tật có thể dễ dàng hoà nhập với cộng đồng và xã hội từ

đó phát huy được khả năng của mình

Tuy nhiên, thực trạng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở nước ta cũng bộc lộ nhiều hạn chế, như: còn một số đối tượng người khuyết tật chưa được hưởng trợ giúp; thủ tục, điều kiện hưởng trợ giúp rườm rà; mức trợ giúp hiện hành cho người khuyết tật còn thấp… Vì những lý do đó, tôi lựa chọn đề

tài “Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật - Từ thực tiễn tại

Thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn góp

phần hoàn thiện pháp luật và thực tiễn trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

ở Thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung

2 Tình hình nghiên cứu

Hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật có ý nghĩa thực tiễn

vô cùng to lớn đối với công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội

Vì vậy, vấn đề này đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu Trong số các công trình đã được công bố, có thể kể tên một số công trình liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn là:

- Luận án tiến sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người

khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Báo năm 2008;

- Luận văn thạc sỹ Luật học “Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật” của Hồ Thị Trâm năm 2013;

- Luận văn thạc sỹ Luật học “Chế độ bảo trợ đối với người khuyết tật” của Nguyễn Đức Hoàng năm 2013;

Trang 8

- Luận văn thạc sỹ công tác xã hội “Đánh giá việc thực hiện chính sách

trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở xã Hợp Đồng, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội” của Nguyễn Thị Quỳnh năm 2014;

- “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt

Nam” của Mai Ngọc Cường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009;

- Giáo trình Luật Người khuyết tật năm 2011 của Trường đại học Luật

Hà Nội do Nguyễn Hữu Chí chủ biên;

- Bài viết “Pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật tại Việt

Nam - Thực tiễn và một số kiến nghị” của Nguyễn Hiền Phương trên tạp chí

Luật học số đặc san năm 2013;

- Bài viết “Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam và phương hướng hoàn

thiện” của Lê Thị Hoài Thu trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 năm 2014;

- Bài viết “Một số bất cập trong áp dụng pháp luật về bảo trợ xã hội

đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của Hoàng Kim Khuyên số 10

năm 2015

Những công trình nghiên cứu trên nhìn chung đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật trên từng khía cạnh và mức độ khác nhau Tuy vậy, công trình nghiên cứu về vấn

đề trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật một cách hệ thống và toàn diện thì vẫn còn ít, nhất thực tiễn thực hiện trên địa bàn Thành phố Hà Nội là chưa có công trình nghiên cứu nào Vì vậy, tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài này, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật và thực tiễn tại Thành phố Hà Nội, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện về vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, dựa trên cơ sở lý luận đó để đánh giá về

Trang 9

thực trạng các quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội và đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật nhằm đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thực tiễn về vấn đề bảo vệ, hỗ trợ và thực hiện hóa quyền của người khuyết tật Với mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

Đánh giá về những quan điểm hiện hành và từ đó xây dựng nội dung lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật như: Xây dựng khái niệm trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, xác định các nguyên tắc cơ bản trong việc trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Đánh giá nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, bao gồm những ưu nhược điểm và hạn chế của các quy định của pháp luật hiện hành Việc đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật nhằm phát hiện những bất cập, hạn chế cơ bản của các quy định pháp luật hiện hành Đánh giá thực tiễn thực hiện và áp dụng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hà Nội

Xây dựng các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật Những phương hướng này cần bám sát và thể hiện đúng chủ trương chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước nhằm đảm bảo và hỗ trợ người khuyết tật Các giải pháp đưa ra cần có tính khả thi và có cơ sở khoa học, được dựa trên cơ sở lý luận và những đánh giá về thực trạng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:

Hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh về vấn đề trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật bao gồm: Luật về người khuyết tật, và các văn bản pháp luật khác có liên quan

Trang 10

Các quan điểm khoa học đã được công bố trong các công trình nghiên cứu về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Luận văn được xác định giới hạn nghiên cứu như sau:

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy định pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở Việt Nam kể từ khi có luật về người khuyết tật năm

2010 cho đến hiện nay và có so sánh với các quy định pháp luật trước đó

Những nghiên cứu của luận văn hướng tới hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu và mục đích nghiên cứu, luận văn được tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu Đối với từng nội dung cụ thể, đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử

6 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn

Luận văn là công trình nghiên cứu về hệ thống lý luận về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật cũng như đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật

về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật Do đó luận văn sẽ góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận mới về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Kết quả nghiên cứu của luận văn có tính ứng dụng thực tiễn Một là, luận văn

đóng góp những căn cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trợ

giúp xã hội đối với người khuyết tật ở Việt Nam Hai là, luận văn sẽ góp phần

đóng góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức công tác xã hội và người khuyết tật áp dụng các quy định của pháp luật một cách hiệu quả

Trang 11

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về người khuyết tật và pháp

luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Chương 2: Thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người

khuyết tật và thực tiễn thực hiện tại Thành phố Hà Nội

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp

luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1 Người khuyết tật và vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã hội

1.1.1 Khái niệm người khuyết tật

Vào những năm 1970, trong các văn bản quốc tế thường dùng hai từ

tiếng Anh “disability” (khuyết tật) và “handicap” (không hội nhập được) để nói về người khuyết tật Từ “disability” được dùng để nói về một loạt những

hạn chế về mặt chức năng khác nhau xuất hiện ở bất cứ cộng đồng dân cư và bất cứ quốc gia nào trên thế giới Người ta có thể bị khuyết tật về cơ thể, trí tuệ hoặc giác quan Những khiếm khuyết ấy có thể là lâu dài và cũng có thể là

nhất thời Có nghĩa là từ “disability” giải thích vấn đề “tàn tật” từ góc độ y

học và chẩn đoán

Còn “handicap” có nghĩa là thiếu hoặc bị hạn chế những cơ hội để

tham gia vào đời sống của cộng đồng một cách bình đẳng như những người khác Nó mô tả sự đụng độ giữa người khuyết tật với môi trường sinh hoạt Mục đích của từ này là muốn nhấn mạnh đến những sự thiếu hoàn chỉnh của môi trường sinh hoạt và trong nhiều hoạt động có tổ chức của xã hội, chẳng hạn như các lĩnh vực thông tin, giao tiếp và giáo dục, sự thiếu hoàn chỉnh ấy

đã góp phần làm ngăn cản người khuyết tật được tham gia một cách bình

đẳng Có nghĩa là từ “handicap” giải thích vấn đề “tàn tật” từ góc độ thiếu

hoàn thiện của môi trường xã hội

Hai từ “disability” và “handicap” thường được dùng không rõ ràng và

nhiều khi lẫn lộn với nhau, vì thiếu mà nhiều khi đã dẫn đến sự dẫn hướng chưa được thích đáng cho phía hoạch định chính sách và thi hành chính sách

Năm 1980, Tổ chức y tế thế giới đã thông qua sự phân loại trên phạm

Trang 13

vi quốc tế về các khái niệm "impairment" (khiếm khuyết), "disability" (khuyết tật hay tàn tật) và "handicap" (không hội nhập được), nó cho thấy có một sự

tiếp cận vấn đề chuẩn xác hơn, nhằm sử dụng được một cách thỏa đáng trong nhiều lĩnh vực như phục hồi chức năng, giáo dục, thống kê, chính sách, lập pháp, điều tra dân số, xã hội học, kinh tế học và nhân học

Những trải nghiệm thu nhận được từ việc thực hiện Chương trình hành động thế giới về người khuyết tật và qua rất nhiều cuộc thảo luận được mở ra trong Thập kỉ người khuyết tật của Liên hiệp quốc (1983-1992) đã khiến cho người ta có được những kiến thức sâu hơn và sự hiểu biết rộng hơn về vấn đề người khuyết tật cùng những từ ngữ được dùng nói trên Việc sử dụng đồng thời các từ này cho thấy sự cần thiết của việc cần hướng đến cả những nhu cầu cá nhân (như phục hồi chức năng và các trợ giúp kĩ thuật) và cả sự còn thiếu hoàn chỉnh của xã hội (những trở ngại khác nhau khi tham gia vào các hoạt động xã hội)

Trước đây trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như của Việt Nam

thường sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”

Theo Tuyên ngôn của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 9/12/1975 thì:

Người tàn tật có nghĩa là bất cứ người nào mà không có khả năng tự bảo đảm cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những sự cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ [26]

Theo Nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ Việt Nam về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động người tàn

tật Điều 1 quy định, người tàn tật là “người mà khả năng lao động bị suy

giảm từ 21% trở lên do tàn tật được hội đồng giám định y khoa xác định” [9]

Theo pháp lệnh về người tàn tật của Việt Nam ban hành ngày 30/7/1998 Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người

Trang 14

khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn [49]

Tuy nhiên, hiện nay hầu như tất cả các văn bản liên quan đến người

khuyết tật đều không sử dụng thuật ngữ “người tàn tật” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật” Sau này công ước quốc tế và những văn bản quốc tế

đều dùng từ Poeple with disability – Người sống chung với khuyết tật; như một cách nói tránh để giảm sự kỳ thị với người khuyết tật – Luật người khuyết tật Việt Nam được xây dựng sau khi có công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, tiếp thu công ước nên cũng xây dựng và tiếp cận người khuyết tật theo hướng quyền, và nguyện vọng của người khuyết tật – Chứ không theo hướng bảo trợ xã hội như pháp lệnh người tàn tật 1998 – Nên thống nhất sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật”

Điều 1, Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006 quy định:

Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ với hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [50]

Theo định nghĩa trong Đạo luật người khuyết tật Hoa Kỳ năm 1990

thì “người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây

ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống”[43, tr 18-19] Một người được coi là người khuyết tật nếu đã có một

khiếm khuyết nào đó từ trước Những khiếm khuyết ấy có thể bao gồm khiếm khuyết về cơ thể, giác quan, nhận thức hoặc trí tuệ Những người bị rối loạn tâm thần và mắc các loại bệnh kinh niên khác nhau cũng có thể được coi là người khuyết tật Các khuyết tật có thể xuất hiện trong cuộc đời hoặc có ngay

từ lúc sinh ra ở một người nào đó

Trang 15

Bộ luật xã hội Đức định nghĩa:

Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc

họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội [43, tr.18]

Ở Việt Nam, người khuyết tật được Đảng, Nhà nước quan tâm từ rất sớm Tuy vậy, thuật ngữ người khuyết tật mới được sử dụng gần đây với sự ra đời của Luật người khuyết tật năm 2010 Theo đó người khuyết tật được hiểu

là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm

chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [34, Điều 2, Khoản 1]

Lý do để giải thích cho việc thay đổi thuật ngữ này là việc hiểu bản chất của khuyết tật có thể từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là từ cá

nhân, từ xã hội Nếu dùng từ “tàn tật” thì chỉ tập trung vào sự bất lợi của

người khuyết tật đối với mọi người xung quanh, tức là phân biệt họ với những người khác trong xã hội Do vậy, xu hướng chung được khuyến nghị là sử

dụng thuật ngữ “khuyết tật” thay cho “tàn tật”

Ở Việt Nam khái niệm “Người khuyết tật” đã thay đổi theo từng giai

đoạn và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa và lịch sử Trước

năm 2009, thuật ngữ phổ biến để chỉ người khuyết tật là “tàn tật” và quan

điểm nhìn nhận phổ biến về người khuyết tật chủ yếu theo xu hướng mô hình

từ thiện Bắt đầu từ năm 2010, thuật ngữ “người khuyết tật” được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “người tàn tật”, điều này thể hiện sự tiến bộ mạnh mẽ

trong công tác bảo vệ, giáo dục, chăm sóc người khuyết tật Hiện nay tại Việt

Nam, thuật ngữ “khuyết tật” được sử dụng với vai trò là thuật ngữ chính

thống và phổ biến khi nói về nhóm đối tượng dân cư đặc thù này Điều này không chỉ có tác dụng tích cực với nhóm người khuyết tật về mặt tinh thần mà

Trang 16

còn tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của xã hội nhằm hướng tới những thay đổi mạnh mẽ

Như vậy, tùy từng thời điểm và từng quốc gia mà khái niệm về người khuyết tật có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định Để có khái niệm chung nhất về người khuyết tật nhằm thuận lợi cho việc tìm hiểu nghiên cứu tác giả xin trích dẫn khái niệm trong Giáo trình Luật về người khuyết tật của trường Đại học Luật Hà Nội vào, đây là khái niệm mà tác giả thấy phù hợp, ngắn gọn, đầy đủ ý nghĩa bao quát hết được những đặc điểm cơ bản của người

khuyết tật Theo đó “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc

nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác” [43, tr.21]

1.1.2 Đặc điểm của người khuyết tật

Việc xác định và làm rõ đặc điểm của người khuyết tật không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định đúng đối tượng nào là người khuyết tật mà còn có ý nghĩa trong việc xây dựng những quy định của pháp luật mang tính khả thi cao

về người khuyết tật, điều chỉnh đúng phạm vi đối tượng là người khuyết tật

Người khuyết tật trước hết cũng là những con người nên họ mang những đặc điểm chung về tâm sinh lý, đặc điểm về kinh tế - xã hội như mọi người khác trong xã hội Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên người khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với những người không khuyết tật và mỗi nhóm khuyết tật khác nhau lại có những nét đặc thù tương đối khác nhau

 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật

Đặc điểm về dạng tật

Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về phân loại người

Trang 17

khuyết tật theo các tiêu chí khác nhau, tuy nhiên thì tiêu chí về sự khiếm khuyết bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng là tiêu chí được quan tâm nhiều nhất Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Người khuyết tật năm

2010 thì các dạng khuyết tật được phân theo dạng tật: Khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác [34]

Mỗi dạng khuyết tật này có những đặc điểm riêng, chung về tâm sinh

lý, về khả năng qua đó tác động đến các nhu cầu của bản thân và có ảnh hưởng qua lại, tác động đáng kể tới môi trường xung quanh làm xuất hiện những hệ quả pháp lý trong quá trình hòa nhập cộng đồng

Khuyết tật vận động là những người có cơ quan vận động bị tổn thương, khó khăn trong di chuyển (nằm, ngồi, cầm, nắm, di chuyển ) Do đó, người khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, học tập, lao động và vui chơi Họ cần được hỗ trợ về phương tiện đi lại đối với những người khuyết tật vận động về vùng chân như dùng xe lăn, gậy chống và không gian cần thiết tiếp cận, thuận tiện để sinh hoạt và di chuyển

Khuyết tật nghe, nói: Người khuyết tật gặp khó khăn trong việc phát

âm ra tiếng và nghe được âm thanh, từ đó cũng dẫn tới những khó khăn về đọc, về viết kéo theo cả một loạt các khó khăn và hạn chế khác trong hoạt động sinh hoạt học tập, lao động, hòa nhập với cộng đồng Đối với những người khiếm thính họ cần được hỗ trợ máy trợ thính để có thể nghe được, và học ngôn ngữ ký hiệu trong giao tiếp đối với người bị câm, điếc Một số người khiếm thính ở dạng nhẹ ngoài việc kết hợp dùng máy trợ thính, họ học phương pháp đọc khẩu hình Người khuyết tật về nghe, nói thường rất khó khăn trong việc thể hiện ngôn ngữ giao tiếp và tiếp nhận thông tin từ cộng đồng, bởi ngôn ngữ của họ là ngôn ngữ ký hiệu

Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị): Đó là những người có

Trang 18

tật về mắt làm cho họ không nhìn thấy hoặc nhìn không rõ ràng Công cụ hỗ trợ cho họ là chiếc gậy trắng, chữ nổi Braille, chó dẫn đường, các dụng cụ hỗ trợ thông minh, lối đi có gờ nổi ký hiệu nhận diện, phát ra âm thanh hướng dẫn Đối với những người nhìn kém thì môi trường cần thiết cho họ phải đảm bảo đủ ánh sáng, dùng những màu tương phản hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt động khác, cung cấp thiết bị phóng đại hình ảnh

Khuyết tật trí tuệ: Đây là dạng khuyết tật bị giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc Những người khuyết tật về trí tuệ có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của họ và người thân

Xét ở góc độ đặc điểm về tâm lý, sinh lý cho thấy tính đa dạng của khuyết tật và rõ ràng việc đảm bảo các quyền của họ dưới phương diện pháp

lý cũng cần tính đến yếu tố đặc thù của các dạng khuyết tật khác nhau

Đặc điểm về mức độ khuyết tật

Căn cứ vào mức độ khuyết tật, người khuyết tật được chia làm 3 loại: người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người khuyết tật nhẹ Theo quy định của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP thì:

Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn (khoản 1 Điều 3)

Người khuyết tật nặng là những người khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc (khoản 2 Điều 3)

Trang 19

Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc hai trường hợp

kể trên (khoản 3 Điều 3)

Xét ở góc độ đặc điểm thể chất - tâm lý - xã hội cho thấy tính đa dạng của người khuyết tật và rõ ràng việc đảm bảo các quyền của họ dưới phương diện pháp lý cũng cần tính đến yếu tố đặc thù của các mức độ (hạng) khuyết tật khác nhau

 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội

Trước hết người khuyết tật là nhóm dân cư đặc biệt phải chịu thiệt thòi

về mặt kinh tế, xã hội và nhân khẩu học

Đối với bản thân người khuyết tật, chính họ phải chịu rất nhiều thiệt thòi trong mọi mặt cuộc sống Họ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch

vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội Để khắc phục những khó khăn này, người khuyết tật chủ yếu dựa vào gia đình, nguồn giúp

đỡ chính đối với họ Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn nếu gia đình người khuyết tật không có đủ kinh tế và nhân lực để chăm sóc hỗ trợ người khuyết tật, làm cho người khuyết tật càng ít có cơ hội được tham gia và hòa nhập vào cộng đồng

Đối với gia đình có người khuyết tật thường thì sẽ phải chịu những gánh nặng về kinh tế, năng suất lao động của người khuyết tật thường thấp và

có khi họ không có khả năng lao động mà có thể còn phải chi một khoản tiền nhất định mỗi tháng cho họ để phục hồi chức năng - Như dụng cụ chỉnh hình, chân tay giả, xe lăn người khuyết tật cũng ít có cơ hội được tham gia học hành, một phần là do bản thân họ không có khả năng tự mình đến trường, không có phương tiện dụng cụ chỉnh hình phục hồi chức năng hoặc ngôi trường hay cơ sở đào tạo không tiếp cận, hoặc không có chương trình, giáo viên chuyên biệt để dạy cho người khuyết tật, trong các dạng khuyết tật đặc

Trang 20

thù, hai là do kinh tế gia đình còn eo hẹp nên chất lượng lao động của họ đa

số là rất thấp Vì vậy mà thu nhập của người khuyết tật thường rất thấp hoặc không có thu nhập dẫn đến điều kiện sống và sinh hoạt không tốt, ảnh hưởng phần nào đến chất lượng cuộc sống của cả gia đình trong các gia đình có người khuyết tật

Hơn nữa, trong xã hội còn tồn tại nhiều quan niệm tiêu cực định kiến sai lầm về người khuyết tật nên thường dẫn đến thái độ kỳ thị và phân biệt đối

xử đối với người khuyết tật Một số gia đình thường bao bọc quá mức, hoặc tập trung đầu tư và hỗ trợ cho những người con không khuyết tật thì có thể gây áp lực cho người khuyết tật về vấn đề tâm lý, vì họ thường không có thu nhập mà lại gây ra gánh nặng cho gia đình Trong cộng đồng, nhiều người coi người khuyết tật là đáng thương hoặc do những sai lầm ở kiếp trước “tật nguyền”, “quả báo”, không có cuộc sống bình thường là “gánh nặng” của xã hội [43, tr.24] Ở trường học thường thì không nhận những học sinh khuyết tật hoặc không đủ điều kiện dạy học sinh khuyết tật mà họ phải đi học tại trường dành riêng cho người khuyết tật, đôi khi là ở quá xa nhà, hoặc quá ít trường chuyên biệt như vậy, nên họ không thể theo học được Đây có lẽ cũng là một thiệt thòi lớn đối với người khuyết tật khi không được nhận sự giáo dục đầy

đủ nhất Đối với một số người khuyết tật có việc làm thì việc kỳ thị không giao việc cho người khuyết tật, hoặc nhận người khuyết tật vì mục đích từ thiện nhân đạo cũng diễn ra phổ biến do e ngại rằng họ không đủ năng lực để làm, nhiều khi dẫn đến làm họ chán nản công việc và không được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nên trình độ không đáp ứng được điều kiện làm việc

và cuối cùng họ phải nghỉ việc dẫn đến thất nghiệp

Ngoài ra thì hoạt động hỗ trợ cho người khuyết tật còn rất hạn chế, thực

tế cho thấy sự khác biệt lớn giữa nhu cầu của người khuyết tật và những giúp

đỡ mà họ nhận được Những hoạt động hỗ trợ thường mang tính từ thiện, phát

Trang 21

quà, cho tiền nhiều hơn là việc hỗ trợ họ phát triển con người, như đào tạo, dạy nghề cho người khuyết tật

1.1.3 Vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã hội

Người khuyết tật là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời và họ cũng có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động xã hội và đóng góp công sức của mình trong việc thúc đẩy và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và cũng có quyền được hưởng đầy đủ các thành quả phát triển của nhân loại Do mặc cảm về khiếm khuyết của cơ thể nên họ có tâm lý tự ti, bỏ mặc không hòa nhập cộng đồng Tuy nhiên, nếu họ vượt lên được hoàn cảnh khó khăn đó thì họ có thể sống, hoạt động đóng góp cho xã hội như những người bình thường khác Tấm gương về thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký đã thôi thúc không chỉ những người khuyết tật mà còn cả những người bình thường vươn lên trong cuộc sống, trở thành người có ích cho xã hội

Người khuyết tật tuy là một bộ phận dân cư “yếu thế”, nhưng họ cũng chung tay vào việc kiến thiết, xây dựng và phát triển đất nước, ổn định và phát triển xã hội Mang trong mình những nỗi đau thể xác và tinh thần vì bị tật nguyền đeo bám suốt cuộc đời nhưng hàng ngày, hàng giờ họ vẫn đấu tranh để sinh tồn, đấu tranh vượt qua số phận để trở thành những công dân có ích, để khẳng định giá trị của họ trong xã hội, để khẳng định mình là những con người “ tàn nhưng không phế”

1.2 Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

1.2.1 Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

 Khái niệm trợ giúp xã hội

Trợ giúp xã hội là một yêu cầu khách quan trong đời sống xã hội tại nhiều nước trên thế giới và đã xuất hiện từ rất lâu Mọi người đều có nguy cơ phải đối mặt với rủi ro tự nhiên (bão, lũ lụt, hạn hán ), rủi ro môi trường (ô nhiễm), rủi ro sức khỏe (ốm đau, bệnh tật), rủi ro vòng đời (tuổi già), rủi ro

Trang 22

kinh tế (tai nạn giao thông, tai nạn lao động, nghèo đói ), rủi ro xã hội (chiến tranh, thay đổi thể chế) Những rủi ro này ảnh hưởng tới cuộc sống của một

bộ phận dân cư, cuộc sống của họ bị đe dọa, hạn chế hoặc bị đẩy ra bên lề của

sự phát triển và phải nhờ cần đến sự giúp đỡ của cộng đồng, của xã hội Nếu không có sự trợ giúp họ có thể bị rơi vào sự bần cùng và nghèo đói Điều 25 của Tuyên ngôn về Nhân quyền (1948) nêu rõ rằng:

Tất cả mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống đầy đủ về sức khỏe và phúc lợi cho bản thân người đó và gia đình, bao gồm lương thực, quần áo, nhà ở, chăm sóc ý tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, có quyền được hưởng chế độ an sinh trong trường hợp không có việc làm, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hoặc thiếu sinh kế trong những hoàn cảnh vượt ngoài tầm kiểm soát của mình [25]

Người khuyết tật luôn chiếm một tỉ lệ nhất định trong dân số mỗi quốc gia, ở Việt Nam theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (năm 2015), ước tính cả nước có khoảng 7,2 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân

số cả nước [17] Xem xét về thể trạng và cơ hội tạo thu nhập đảm bảo cuộc sống cho thấy đương nhiên với những khuyết tật của mình, nhóm đối tượng này trở thành yếu thế so với những người bình thường Họ cần hỗ trợ, giúp đỡ

để đảm bảo cuộc sống Với trách nhiệm đảm bảo và chăm lo đời sống cho các thành viên xã hội, Nhà nước xác định trách nhiệm của mình đối với cuộc sống của người khuyết tật, trước hết và cơ bản là khoản trợ cấp hỗ trợ nuôi dưỡng trong chế độ bảo trợ xã hội Trợ giúp xã hội là hình thức an sinh xã hội mang tính xã hội cao nhất vì đây là hình thức không đòi hỏi người hưởng trợ cấp phải nộp bất cứ một khoản đóng góp nào

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, trợ giúp xã hội là “sự giúp

đỡ bằng tiền mặt hoặc điều kiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp

đỡ và có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống của mình hoặc gia đình, sớm hòa nhập với cộng đồng” [20, tr.641]

Trang 23

Ở Việt nam, khái niệm trợ giúp xã hội gần với bảo trợ xã hội, là một trong ba bộ phận cấu thành cơ bản của hệ thống an sinh xã hội Trong một số tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ bảo trợ xã hội hay trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội đều đề cập đến nội hàm khái niệm có phạm vi như nhau [27, tr.86-87] Theo đó, trợ giúp xã hội là sự đảm bảo và giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân và cộng đồng về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế, không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Chính sách trợ giúp xã hội không phải cố định, mà thường xuyên thay đổi cho phù hợp với điều kiện cụ thể về phát triển kinh tế, thu nhập và mức sống của xã hội

Như vậy, trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng xã hội cho các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế, không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Trợ giúp xã hội có thể bằng tiền, cũng có thể là các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng có thể phát huy những khả năng tự lo liệu của họ nhằm sớm hòa nhập trở lại với cộng đồng

 Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Xuất phát từ khái niệm trợ giúp xã hội nói chung, trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được hiểu là tổng hợp các cơ chế, chính sách và các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ cho người khuyết tật, trước hết và chủ yếu là những khoản trợ cấp, hỗ trợ và các chi phí khác nhằm giúp cho người khuyết tật ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng

Trên quan điểm tiến bộ, trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được tiếp cận từ góc độ nhân quyền với trách nhiệm của Nhà nước chứ không chỉ dừng lại ở mục đích nhân đạo, ban ơn, chiếu cố tới những thân phận khiếm khuyết về sức khỏe Các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho cuộc sống của người

Trang 24

khuyết tật được thực hiện như một sự phân phối lại lợi ích xã hội theo hướng công bằng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia trong tương quan phát triển kinh tế và xã hội

Còn pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong đời sống

Theo đó, pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được hiểu

là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

1.2.2 Sự cần thiết phải có pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Thứ nhất, pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý xã hội Thông qua

pháp luật, các chính sách trợ giúp xã hội nói chung, trợ giúp xã hội cho người khuyết tật nói riêng được thể chế hóa thành các quy định pháp luật

Với chức năng xã hội của Nhà nước, thì trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật là trách nhiệm của Nhà nước, chứ không đơn thuần là mục đích nhân đạo, ban ơn, chiếu cố đến những người chịu thiệt thòi trong cuộc sống Các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho cuộc sống của những người khuyết tật được thực hiện như một sự phân phối lại lợi ích xã hội theo hướng công bằng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia

Thứ hai, xuất phát từ tầm quan trọng của trợ giúp xã hội đối với cuộc

sống của người khuyết tật Trợ giúp xã hội chủ yếu là sự hỗ trợ về tài chính giúp cuộc sống của bản thân người khuyết tật và gia đình người khuyết tật bớt

đi phần nào khó khăn Bên cạnh đó, sự hỗ trợ này thể hiện thái độ quan tâm của Nhà nước, của cộng đồng đối với người khuyết tật giúp họ không còn cảm thấy tự ti, mặc cảm vì khiếm khuyết của mình Nhiều người khuyết tật từ

đó ý thức được vai trò và vị trí của mình trong xã hội, tự tin vươn lên trong cuộc sống học tập và lao động như những người bình thường, trở thành công dân tốt của xã hội

Trang 25

Thứ ba, do yêu cầu của quá trình hội nhập nên việc ban hành pháp luật

về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật là tất yếu Ngày 22/10/2007, Việt Nam ký kết tham gia Công ước về quyền của người khuyết tật Ngày 28/11/2014 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII,

kỳ họp thứ 8 đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người

khuyết tật Với tư cách là thành viên, Việt Nam có trách nhiệm rà soát, nội luật hóa các quy định của Công ước trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam nhằm tạo ra sự thống nhất với quy định của pháp luật trong nước với công ước quốc tế

Thứ tư, pháp luật trợ giúp xã hội sẽ góp phần xóa đi tâm lý tự ti, mặc

cảm của người khuyết tật, giúp họ vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng Chính sự quan tâm của cộng đồng, của Nhà nước thông qua những quy phạm mang tính bắt buộc của pháp luật giúp cho những người khuyết tật hiểu được vai trò, vị trí của họ trong cộng đồng, trong xã hội

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng sự ra đời của pháp luật về trợ giúp xã hội nói chung và trợ giúp xã hội cho người khuyết tật nói riêng đó là một tất yếu

1.2.3 Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Nội dung trợ giúp xã hội trong pháp luật quốc tế được quy định trong các công ước và khuyến nghị về quyền con người nói chung và người khuyết tật nói riêng Tiêu biểu nhất là Công ước về quyền của người khuyết tật năm

2006 Điều 28 Công ước quy định rõ:

Các quốc gia thành viên của công ước này thừa nhận quyền của người khuyết tật được hưởng mức sống thích đáng cho bản thân và gia đình, bao gồm đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở và được cải thiện điều kiện sống thường xuyên;

và cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo hộ và thúc đẩy việc thực hiện quyền này trên thực tế mà không có sự phân biệt đối xử vì lí do khuyết tật [50, Điều 28]

Trang 26

Ngoài ra, Công ước cũng quy định các biện pháp nhằm thực thi quyền của người khuyết tật trên thực tế:

Một là, đảm bảo người khuyết tật được tiếp cận bình đẳng tới các dịch

vụ nước sạch, dịch vụ, trang thiết bị và các trợ giúp khác theo nhu cầu liên quan đến khuyết tật một cách phù hợp và ở mức chi phí hợp lí

Hai là, đảm bảo người khuyết tật, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em, người già khuyết tật được tiếp cận các chương trình trợ giúp xã hội và chương trình xóa đói giảm nghèo

Ba là, đảm bảo người khuyết tật nghèo và gia đình được tiếp cận các trợ giúp chi phí có liên quan đến khuyết tật từ Nhà nước, bao gồm hỗ trợ tài chính, tập huấn, tư vấn và an dưỡng

Bốn là, đảm bảo người khuyết tật được tiếp cận các công trình nhà ở công Năm là, đảm bảo người khuyết tật được tiếp cận bình đẳng các chương trình và trợ cấp hưu trí

Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình trợ giúp

xã hội của chủ thể thực hiện chủ yếu là Nhà nước và đối tượng hưởng chủ yếu là người khuyết tật Nội dung pháp luật về vấn đề này chủ yếu xoay quanh các vấn

đề chủ thể hưởng trợ giúp, chủ thể thực hiện; trình tự thủ tục hưởng trợ giúp; mức độ trợ giúp và tài chính thực hiện việc trợ giúp xã hội Trong phạm vi luận văn tác giả triển khai hướng nghiên cứu của mình theo các nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật đã đề cập ở trên

1.2.3.1 Các nguyên tắc pháp lý của trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Nguyên tắc pháp lý của trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt và xuyên suốt hệ thống các quy phạm pháp luật về trợ giúp xã hội Các nguyên tắc pháp lý về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật như sau:

Trang 27

Một là, nguyên tắc trợ giúp xã hội bình đẳng, không có sự phân biệt theo tiêu chí nào Nguyên tắc này được ghi nhận trong Điều 34 Hiến Pháp

năm 2013 và cụ thể hóa trong các văn bản Luật, dưới luật Nội dung nguyên tắc này thể hiện ở việc các thành viên xã hội nếu bị khuyết tật đều có quyền hưởng trợ giúp xã hội mà không phân biệt về địa vị, kinh tế, tôn giáo, thành phần xã hội… Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc ai là người khuyết tật cũng được hưởng trợ giúp xã hội và không phải ai được hưởng trợ giúp xã hội thì mức trợ giúp cũng giống nhau mà còn căn cứ vào mức độ khuyết tật cũng như hoàn cảnh sống trên thực tế của người khuyết tật Điều này được thể hiện thông qua việc phân loại các đối tượng người khuyết tật để quy định các chế độ hưởng, mức hưởng cũng như điều kiện hưởng cụ thể đối với từng loại đối tượng Nguyên tắc này thể hiện sự công bằng xã hội, vừa thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo, nhân văn sâu sắc của chế độ trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Hai là, nguyên tắc mức trợ cấp xã hội đối với người khuyết tật không phụ thuộc vào sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống của họ mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ khuyết tật và nhu cầu thực tế của đối tượng Với mục đích

không nhằm bù đắp hay thay thế thu nhập, cũng không nhằm làm đảm bảo cuộc sống với những yêu cầu định trước mà chỉ giúp cho đối tượng thoát khỏi tình trạng cuộc sống thường nhật bị đe dọa, tạo cơ hội cho họ vươn lên khắc phục rủi ro, hòa nhập cộng đồng Do vậy, các khoản trợ giúp xã hội cho người khuyết tật không gắn với bất cứ yêu cầu gì về nghĩa vụ tài chính cho việc thụ hưởng Không phải trước khi bị khuyết tật đối tượng nào có thu nhập cao, mức sống cao hơn thì hưởng trợ cấp cao hơn và ngược lại Tiêu chí quan trọng để xác định mức trợ cấp cho người khuyết tật chính là mức độ rủi ro khuyết tật và hoàn cảnh sống thực tế của người khuyết tật Chẳng hạn, với những mức độ khuyết tật khác nhau từ nặng, đặc biệt nặng, khuyết tật trẻ em,

Trang 28

người cao tuổi, phụ nữ khuyết tật mang thai… hay thậm chí có cùng mức độ khuyết tật nhưng hoàn cảnh sống có sự khác nhau nhất định như có người chăm sóc, kinh tế gia đình khá giả hay không cũng là những căn cứ quan trọng để xác định mức trợ cấp, hỗ trợ cho phù hợp Điều này phù hợp với ý nghĩa, mục đích của trợ cấp và đảm bảo công bằng cho người thụ hưởng

Ba là, nguyên tắc thực hiện trợ giúp xã hội cân đối giữa nhu cầu thực

tế của người khuyết tật và phù hợp với khả năng đáp ứng của điều kiện kinh

tế xã hội Việc đáp ứng nhu cầu trợ giúp xã hội của người khuyết tật phải

được tính toán cân đối với khả năng đáp ứng và điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia trong từng giai đoạn, nếu không sẽ không đạt được mục đích của trợ giúp và ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế xã hội khác Nếu trợ cấp quá cao so với khả năng đáp ứng thì thiếu tính khả thi, khó khăn đảm bảo duy trì thực hiện và nếu thực hiện được có thể sẽ tạo tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nguồn tài chính trợ giúp làm cản trở ý thức vươn lên, phát huy nội lực và kìm hãm sức phát triển của các cơ chế bảo vệ khác Ngược lại nếu mức trợ cấp, hỗ trợ cho người khuyết tật quá thấp sẽ không đảm bảo được ý nghĩa và mục đích của trợ giúp xã hội Mặc dù vậy, về cơ bản việc cân đối giữa nhu cầu của người khuyết tật và khả năng đáp ứng của điều kiện kinh tế cũng phải hướng đến yêu cầu đảm bảo nhu cầu tối thiểu cần thiết nhằm duy trì cuộc sống cho người khuyết tật trước những khó khăn của cuộc sống

Bốn là, nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, phát huy khả năng vươn lên hòa nhập cộng đồng

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật cần trợ giúp của các đối tượng người khuyết tật là vô cùng đa dạng và phong phú Có người khuyết tật cần trợ giúp thường xuyên để duy trì cuộc sống hàng ngày, có người khuyết tật cần được giúp đỡ để hòa nhập cuộc sống, có người khuyết tật cần trợ giúp việc làm, Mặt khác không phải lúc nào và bao giờ nhu cầu của người khuyết

Trang 29

tật cần được trợ giúp như nhau Vì vậy, để thực hiện hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật có hiệu quả thì cần đa dạng hóa các hình thức và biện pháp trợ giúp xã hội đối với họ cho phù hợp: có thể trợ giúp bằng vật chất (tiền, lương thực, thuốc men ) hay các biện pháp tinh thần (giáo dục, dạy nghề, tư vấn việc làm, hỗ trợ học bổng ) Trong điều kiện hiện nay, việc

xã hội hóa thực hiện trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được nhìn nhận theo hướng tiến bộ Không phải trợ giúp xã hội cho người khuyết tật chỉ dừng lại ở những khoản trợ cấp do nhà nước thực hiện mang tính ban phát, bao cấp

mà hướng tới việc huy động nguồn lực và sự quan tâm của cả cộng đồng nhằm đưa đến sự bảo vệ cao nhất cho người khuyết tật Điều này thể hiện rõ trong những quy định mang tính tùy nghi, điều chỉnh hoạt động của các hiệp hội từ thiện, các trung tâm trợ giúp, chăm sóc người khuyết tật và cả những

mô hình chăm sóc thay thế hiện đang thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng

1.2.3.2 Chủ thể được trợ giúp xã hội và chủ thể thực hiện chế độ trợ giúp xã hội

Trong phạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu pháp luật về trợ giúp

xã hội đối với người khuyết tật nên chủ thể được hưởng trợ giúp xã hội ở đây trước hết và trên hết là những người khuyết tật Ngoài ra còn có những người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc những người khuyết tật

Trong chế độ trợ giúp không phải tất cả người khuyết tật đều được hưởng chung một mức trợ cấp mà thường xác định theo thứ tự ưu tiên của mức độ khuyết tật từ nặng đến nhẹ Xuất phát từ sự đa dạng của các dạng tật, nguyên nhân của khuyết tật và những hạn chế của nó trong hoạt động của mỗi cá nhân dẫn đến những khó khăn trong việc đề ra các tiêu chí xác định đối tượng được hưởng Theo thông lệ chung của quốc tế, tiêu chí độ suy giảm khả năng lao động được cho là tiêu chí quan trọng nhất để xác định đối tượng hưởng trợ cấp, hỗ trợ Ngoài ra còn có tiêu chí về điều kiện

Trang 30

kinh tế, thu nhập và hoàn cảnh gia đình của đối tượng Việc cụ thể hóa các điều kiện hưởng phụ thuộc nhiều vào đặc điểm kinh tế của quốc gia nhằm đảm bảo tài chính chi trả

Đối với những người khuyết tật đặc biệt nặng, không tự chăm sóc được bản thân, thì đối tượng hưởng trợ giúp xã hội không chỉ bao gồm bản thân người khuyết tật mà còn bao gồm cả những người trực tiếp nuôi dưỡng người khuyết tật và chính bản thân người khuyết tật đó nếu họ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi

Chủ thể thực hiện trợ giúp xã hội gồm nhiều đối tượng: Nhà nước, các

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội Tuy nhiên, pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ghi nhận trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện việc trợ giúp trước hết của Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước Bên cạnh đó, Nhà nước kêu gọi, khuyến khích việc trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước

1.2.3.3 Trình tự, thủ tục hưởng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Tùy theo loại trợ giúp xã hội nào được hưởng (trợ cấp hàng tháng, hay nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ) mà có các thủ tục khác nhau Tuy vậy, đều

có điểm chung là để được hưởng trợ giúp xã hội thì đối tượng được hưởng phải có hồ sơ đề nghị hưởng trợ giúp xã hội chứ Nhà nước không “tự tìm” tới các đối tượng để cho họ hưởng chế độ trợ giúp Điều này ở dưới góc độ nào

đó là hợp lý, tránh tình trạng khai man, khai khống để được hưởng chế độ trợ giúp, tránh lãng phí tài sản của Nhà nước

Để được hưởng trợ giúp xã hội từ Nhà nước, đối tượng phải đảm bảo hồ

sơ thủ tục với các quy định luật định như đơn đề nghị, sơ yếu lý lịch, biên bản họp hội đồng xét duyệt trợ cấp… Cơ quan hành chính Nhà nước cấp cơ sở (ở Việt Nam là Ủy ban nhân dân cáp xã) là cơ quan trực tiếp nhận hồ sơ của những đối tượng này Sau khi xét duyệt, hồ sơ sẽ được chuyển lên cơ quan quản lý cấp

Trang 31

trên (Ủy ban nhân dân cấp huyện), Phòng chuyên trách (ở Việt Nam là Phòng lao động thương binh xã hội) có trách nhiệm thẩm định hồ sơ Người ký quyết định cấp giấy trợ giúp xã hội cho một ai đó có đủ điều kiện hưởng chế độ trợ cấp

xã hội hay không là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện

Như vậy, phải khẳng định rằng không phải tự nhiên những người khuyết tật đều được hưởng chế độ trợ giúp xã hội Yếu tố khuyết tật chỉ là yếu tố cần cho việc hưởng chế độ Yếu tố đủ ở đây đó là phải có bộ hồ sơ hợp lệ và quyết định của cấp có thẩm quyền về việc hưởng chế độ của những người khuyết tật

1.2.3.4 Mức hưởng trợ giúp xã hội

Phụ thuộc vào loại trợ giúp xã hội mà người khuyết tật được hưởng mà

có từng mức hưởng khác nhau

Đa số pháp luật về trợ giúp xã hội các nước đều đề cập tới hình thức trợ giúp xã hội là trợ cấp nguồn kinh phí Mức trợ cấp không được quy định chi tiết trong Luật - văn bản có hiệu lực cao mà quy định trong các văn bản hướng dẫn của cơ quan chuyên trách Mức trợ cấp được xác định và điều chỉnh trong tương quan mối quan hệ chung với mức trợ cấp của các đối tượng chính sách khác, phù hợp với khả năng ngân sách Nhà nước và điều kiện thực tế Việc đưa ra con số cụ thể cho mức hưởng trợ giúp xã hội từng thời kỳ

phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc “thực hiện trợ giúp xã hội cân đối giữa

nhu cầu thực tế của người khuyết tật và phù hợp với khả năng đáp ứng của điều kiện kinh tế xã hội” Mức trợ cấp quá cao sẽ gây ra tâm lý ỷ nại, trông

chờ, còn mức quá thấp sẽ không đảm bảo được mục đích của trợ cấp trợ giúp

xã hội là hỗ trợ, giúp đỡ ở mức độ cần thiết nhu cầu thiết yếu của cuộc sống người khuyết tật

Ngoài ra, đối với những đối tượng khuyết tật khác nếu đáp ứng các điều kiện có thể được hưởng mức trợ cấp khác bên cạnh mức trợ cấp kinh phí

Trang 32

như chi phí sắm tư trang, vật dụng sinh hoạt hàng ngày; chi phí mua thẻ bảo hiểm y tế; chi phí thuốc thang…

1.2.3.5 Nguồn tài chính thực hiện trợ giúp xã hội

Trợ giúp cho người khuyết tật là trách nhiệm của Nhà nước nói riêng

và của cả cộng đồng dân cư nói chung nên nguồn tài chính để thực hiện trợ giúp xã hội cho những đối tượng này hình thành từ ba nguồn chính là ngân sách Nhà nước, từ các cá nhân, tổ chức đoàn thể, hiệp hội trong nước và các Chính phủ, tổ chức, cá nhân nước ngoài Tuy vậy, trách nhiệm đối với hoạt động này trước hết và trên hết là trách nhiệm của Nhà nước nên nguồn tài chính chủ yếu cho việc trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật là từ Ngân sách nhà nước

Nguồn tài chính thực hiện trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật không chỉ dừng lại ở mức trợ cấp cho các đối tượng hưởng mà còn bao gồm cả kinh phí đầu tư, xây dựng cơ bản cho các cơ sở trợ giúp xã hội, kinh phí tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Là thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam đã quan tâm xây dựng chế

độ trợ giúp xã hội từ rất sớm Trợ giúp xã hội đã được ghi nhận trong luật quan trọng nhất, đó là Hiến pháp và được cụ thể hóa trong các văn bản chuyên ngành Năm 1998 được đánh dấu là mốc quan trọng trong việc đảm bảo quyền của người khuyết tật bằng việc ra đời của Pháp lệnh về người tàn tật, trong đó trợ giúp xã hội được xác định là nội dung quan trọng trong quyền lợi hưởng của người khuyết tật Tiếp theo đó, nội dung trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được cụ thể hóa trong hàng loạt các văn bản dưới luật như Nghị định 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 về chính sách cứu trợ xã hội, Nghị định của Chính số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội (Nghị định số 67/2007/NĐ-CP), Nghị định của Chính phủ số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định của Chính số 67/2007/NĐ-CP (Nghị định số 13/2010/NĐ-CP) Đặc biệt, sự ra đời của Luật Người khuyết tật vào năm 2010 đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của pháp luật người khuyết tật nói chung và chế

độ trợ giúp xã hội cho người khuyết tật nói riêng.Theo đó là Nghị định của Chính phủ số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành của Luật Người khuyết tật (Nghị định số 28/2012/NĐ-CP) Ngày 21/10/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội (Nghị định số 136/2013/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 67/2007/ NĐ-CP, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP và

Trang 34

nhiều văn bản pháp luật khác Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoá đầy đủ và toàn diện các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước về người khuyết tật, các đối tượng trợ giúp xã hội nhằm tạo môi trường pháp lý, điều kiện, cơ hội bình đẳng, không rào cản đối với các đối tượng trợ giúp xã hội

2.1.1 Đối tượng được trợ giúp xã hội

Xác định đối tượng là một nội dung quan trọng của hoạt động trợ giúp

xã hội Bởi trong chế độ trợ giúp xã hội không phải tất cả người khuyết tật đều được hưởng chung một mức trợ cấp mà thường xác định theo thứ tự ưu tiên của mức độ khuyết tật từ nặng đến nhẹ Hiệu quả của chương trình trợ giúp đạt đến mức nào phụ thuộc rất lớn vào việc xác định đối tượng được trợ giúp để cân đối nguồn lực tài chính của ngân sách với những thứ tự ưu tiên cho từng mức độ khuyết tật theo từng giai đoạn Vậy, việc xác định đúng đối tượng trợ giúp làm tăng lợi ích cho những người khuyết tật nặng trong phạm

vi ngân sách Nhà nước có giới hạn

 Đối tượng được trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng:

Đối tượng người khuyết tật được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng ngày càng được mở rộng Nếu như trước đây tại Nghị định số 67/2007/NĐ-CP (khoản 4 Điều 4) thì điều kiện hưởng trợ cấp xã hội đối với người khuyết tật được quy định người khuyết tật nặng đảm bảo 2 điều kiện là: không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ và thuộc gia đình nghèo Sang Nghị định 13/2010/NĐ-CP điều kiện hưởng đã được loại bỏ tiêu chí xác định hộ gia đình nghèo từ 13/4/2010 Thông tư số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 18/8/2010 của liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP (Thông tư số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC) đã quy định điều kiện xác định người tàn tật nặng không có khả năng lao động là:

Trang 35

- Đủ 15 tuổi trở lên;

- Bị tàn tật, giảm thiểu chức năng không thể lao động được;

- Được hội đồng xét duyệt cấp xã công nhận hoặc bệnh viện cấp huyện trở lên xác nhận

Tiêu chí độ tuổi theo quy định ở đây được đặt trong tương quan chung với Luật lao động, nhằm đảm bảo yêu cầu của người khuyết tật không có khả năng lao động khi họ trong độ tuổi lao động

Đối với người không có khả năng tự phục vụ được xác định là:

- Người khuyết tật không có khả năng tự phục vụ sinh hoạt cá nhân

- Được hội đồng xét duyệt cấp xã hoặc bệnh viện cấp huyện trở lên xác định

Đến Luật Người khuyết tật năm 2010 tại khoản 1 Điều 44, trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng chỉ xác định đối với hai nhóm đối tượng là: người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng Những đối tượng người khuyết tật được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội không thuộc phạm vi hưởng chế độ này

Như vậy, Luật người khuyết tật 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành dựa theo tiêu chí mức độ khuyết tật chứ không đề cập tới khả năng lao động của bản thân đối tượng như trước đây, để xác định đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội Theo đó, người khuyết tật nặng và khuyết tật đặc biệt nặng (không thuộc trường hợp được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội)

là đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội So sánh với các nước khi tiêu chí

để xác định đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội ngoài mức độ khuyết tật còn bao gồm cả các yếu tố khác như hoàn cảnh kinh tế, tình trạng tài sản, tình trạng thân nhân thì quy định đối tượng hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng cho người khuyết tật hiện nay ở Việt Nam khá đơn giản

và “thoáng” hơn

Trang 36

 Đối tượng được trợ giúp đột xuất

Trợ giúp xã hội đột xuất là hình thức trợ giúp xã hội do Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc những biến cố khác mà đời sống của họ bị đe dọa về lương thực, nhà ở, chữa bệnh, mai táng và phục hồi sản xuất cần có sự giúp đỡ khẩn cấp Nếu trợ giúp xã hội thường xuyên diễn ra trong một thời gian dài, hay người nhận trợ cấp được nhận sự trợ giúp xã hội đều đặn, liên tục, thì người nhận trợ giúp xã hội đột xuất chỉ được hưởng một lần khi các biến cố đột ngột xuất hiện trong đời sống của họ

Đối tượng được trợ giúp xã hội đột xuất là những người hoặc hộ gia đình khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng như: hộ gia đình có người chết, mất tích; Hộ gia đình có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng; Hộ gia đình mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh bị thiếu đói; trẻ em khi cha mẹ chết; Người bị thương nặng; Người thiếu đói do giáp hạt; Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú mà bị thương nặng hoặc bị chết,gia đình không biết để chăm sóc hoặc mai táng

 Đối tượng được hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng

Với quy định về đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc người khuyết tật khi họ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật trong Luật người khuyết tật năm 2010 cũng được mở rộng và thoáng hơn rất nhiều Nếu trước đây tại nghị định số 67/2007/NĐ-CP để được hưởng kinh phí hỗ trợ từng

tháng thì hộ gia đình phải đáp ứng điều kiện là “02 người trở lên tàn tật nặng,

không có khả năng tự phục vụ” thì Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định

đối tượng được hưởng hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm: gia đình

có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó; người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng; người khuyết tật được hưởng trợ cấp xã hội đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36

Trang 37

tháng tuổi (khoản 2 Điều 44) Việc bổ sung thêm hai nhóm đối tượng là người nhận nuôi dưỡng chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng thể hiện sự tiến bộ trong mục tiêu “ an sinh xã hội” và đặc biệt là đảm bảo quyền của người khuyết tật là phụ nữ, trẻ

em Hơn nữa, luật hiện hành cũng không đưa ra điều kiện về yêu cầu số lượng người khuyết tật như trong quy định trước đây tại Nghị định 67/2007/NĐ-CP (có từ 02 người khuyết tật nặng trở lên) làm tiêu chí để xác định đối tượng hưởng chế độ hỗ trợ kinh phí hàng tháng Đây là điểm tiến bộ trong việc mở

rộng quyền cho đối tượng người khuyết tật

 Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội

Dựa trên nguyên tắc phát huy tối đa khả năng của cộng đồng và bản thân đối tượng để đảm bảo cho đối tượng được sống hòa nhập với cộng đồng, pháp luật hiện hành cũng quy định khi đối tượng không đủ khả năng sống tại cộng đồng mới được xem xét để tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ để được chăm sóc, nuôi dưỡng Thực tế cho thấy, hoàn cảnh sống của những đối tượng này

vô cùng khó khăn, không có sự chăm sóc, hỗ trợ thường xuyên hàng ngày tính mạng của họ có thể bị đe dọa

Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định đối tượng khuyết tật được

hưởng bảo trợ trong nhóm này là: “Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi

nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ

sở bảo trợ xã hội” [38, Điều 45, Khoản 1]

Theo đó, đối tượng được xem xét vào sống tại cơ sở bảo trợ xã hội trước tiên phải là những người khuyết tật đặc biệt nặng được xác định theo tiêu chí của pháp luật Đồng thời họ phải thuộc trường hợp không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống trong môi trường cộng đồng

Như vậy, với chức năng hỗ trợ, tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của đời sống chế độ trợ giúp xã

Trang 38

hội ở Việt Nam về cơ bản đã xác định đầy đủ các đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội không chỉ bao gồm người khuyết tật mà còn bao gồm cả thân nhân, gia đình, người trực tiếp nuôi dưỡng người khuyết tật Tuy vậy, trong mối tương quan với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về đối tượng trợ giúp xã hội thì đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên và hỗ trợ nhận chăm sóc nuôi dưỡng tại cộng đồng cho người khuyết tật có phạm vi rộng hơn Điều đó thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước ta đối với người khuyết tật nhằm đảm bảo các điều kiện vật chất tốt nhất để cho người khuyết tật có thể sinh hoạt và hòa nhập với cộng đồng

2.1.2 Trình tự, thủ tục hưởng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Để được hưởng trợ giúp xã hội, pháp luật Việt Nam hay pháp luật các quốc gia khác đều quy định các điều kiện, thủ tục để được hưởng như về hồ

sơ, trình tự xin hưởng trợ giúp

 Đối với đối tượng được trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng:

Ngoài các điều kiện xác định đối tượng, để được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, người khuyết tật phải tuân thủ những thủ tục nhất định Hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội của người khuyết tật phải đầy đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 28/2012/NĐ-CP gồm:

a) Tờ khai thông tin của người khuyết tật theo mẫu quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

b) Bản sao Giấy xác nhận khuyết tật;

c) Bản sao Sổ hộ khẩu;

d) Bản sao Giấy khai sinh hoặc chứng minh nhân dân;

đ) Bản sao Quyết định của cơ sở chăm sóc người khuyết tật

về việc chuyển người khuyết tật về gia đình đối với trường hợp đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội;

e) Giấy xác nhận đang mang thai của cơ sở khám bệnh, chữa

Trang 39

bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế, bản sao Giấy khai sinh của con đang nuôi dưới 36 tháng tuổi đối với trường hợp đang mang thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi [13, Điều 20]

So với quy định trước đây tại Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT – BLĐTBXH - BTC thì thành phần hồ sơ xin hưởng trợ cấp thường xuyên gồm đơn đề nghị hưởng trợ cấp của bản thân đối tượng; sơ yếu lí lịch của người khuyết tật, biên bản họp hoặc văn bản xác nhận của cơ quan y tế về mức độ khuyết tật; quyết định của cơ quan bảo trợ xã hội trong trường hợp chuyển đối tượng về cộng đồng thì hiện nay tại Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngoài các giấy

tờ trên thì bản thân người khuyết tật hoặc gia đình của họ cần chuẩn bị thêm bản sao Sổ hộ khẩu gia đình, bản sao chứng minh nhân dân và giấy khai sinh của người khuyết tật Đối với người khuyết tật đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi phải có thêm giấy xác nhận đang mang thai của cơ sở y tế, giấy khai sinh của con dưới 36 tháng tuổi

Sau khi chuẩn bị xong đầy đủ giấy tờ trên, đối tượng xin hưởng trợ giúp xã hội gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã Trong thời hạn 15 ngày,

kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội) tổ chức họp, xét duyệt hồ sơ đối tượng và niêm yết công khai kết luận tại trụ sở

Ủy ban nhân dân cấp xã và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 07 ngày;

Khi hết thời gian niêm yết công khai, nếu không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại thì Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội bổ sung biên bản họp Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội vào hồ sơ của đối tượng và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội

để xem xét, giải quyết

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày, nhận đủ hồ sơ đề nghị của

Trang 40

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội

có trách nhiệm thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) quyết định hoặc có thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã về lý do không được trợ cấp xã hội hoặc hỗ trợ kinh phí chăm sóc;

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện

có trách nhiệm xem xét và ký Quyết định trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng cho người khuyết tật

Như vậy, người khuyết tật được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên còn phải đảm bảo quy trình, thủ tục xét duyệt hết sức phức tạp, chặt chẽ, không phải cứ thuộc đối tượng khuyết tật nặng, đặc biệt nặng là được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên mà họ còn phải trải qua giai đoạn hoàn thiện hồ

sơ, thẩm tra, xác minh của chính quyền Những thủ tục này một mặt đảm bảo được tính thực tiễn khi xem xét trên cơ sở hoàn cảnh thực tế của đối tượng trong môi trường cộng đồng nhưng lại hạn chế bởi sự phức tạp cũng như sự lạm dụng của chủ thể thực hiện

 Đối với đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội đột xuất

Trình tự, thủ tục trợ giúp xã hội đột xuất được quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP Theo đó:

a) Trưởng thôn, bản, phun, sóc, ấp, cụm, khóm, tổ dân phố (sau đây gọi chung là Trưởng thôn) lập danh sách hộ gia đình và

số người trong hộ gia đình thiếu đói cần hỗ trợ theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định;

b) Trưởng thôn chủ trì họp với đại diện của các tổ chức có liên quan trong thôn để bình xét hộ gia đình, số người trong hộ gia đình thiếu đói gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

c) Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của

Ngày đăng: 22/05/2017, 12:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Báo (2007), Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Năm: 2007
2. Nguyễn Thị Báo (2007), “Pháp luật về quyền con người khuyết tật và vai trò của nó trong thực hiện quyền của người khuyết tật”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (6), tr.18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quyền con người khuyết tật và vai trò của nó trong thực hiện quyền của người khuyết tật”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Năm: 2007
3. Nguyễn Thị Báo (2007), “Quyền của người khuyết tật trong văn kiện quốc tế về quyền con người”, Tạp chí Luật học, (10), tr.3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của người khuyết tật trong văn kiện quốc tế về quyền con người”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Năm: 2007
4. Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội (2010), Thông tư số 24/2010/TTLT- BLĐTBXH-BTC ngày 18/8/2010 của liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 18/8/2010 của liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP
Tác giả: Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2010
5. Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội (2015), Sơ kết 5 năm thực hiện Luật Người khuyết tật và đánh giá giữa kỳ Đề án 1019 năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết 5 năm thực hiện Luật Người khuyết tật và đánh giá giữa kỳ Đề án 1019 năm 2015
Tác giả: Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2015
7. Anh Chi (2012), Việt Nam có số người khuyết tật cao hơn khu vực châu Á – Thái Bình Dương, http://www.nhandan.com.vn, (truy cập 19/7/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam có số người khuyết tật cao hơn khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Tác giả: Anh Chi
Năm: 2012
8. Nguyễn Đức Chiện (2012), Thành công và bất cập trong chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên, http://vnclp.gov.vn, (ngày truy cập 23/8/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành công và bất cập trong chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên
Tác giả: Nguyễn Đức Chiện
Năm: 2012
9. Chính phủ (1995), Nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động người tàn tật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động người tàn tật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1995
10. Chính phủ (2000), Nghị định 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 về chính sách cứu trợ xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 về chính sách cứu trợ xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
11. Chính phủ (2007), Nghị định của Chính số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
12. Chính phủ (2010), Nghị định của Chính phủ số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định của Chính số 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định của Chính số 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
13. Chính phủ (2012), Nghị định của Chính phủ số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành của Luật Người khuyết tật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành của Luật Người khuyết tật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
14. Chính phủ (2013), Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
15. Mai Ngọc Cường (2009), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
16. Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng và Robet Leroy bach (2005), Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam
Tác giả: Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng và Robet Leroy bach
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005
17. Nguyễn Trọng Đàm (2016), Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội và giải pháp đổi mới giai đoạn tới, http://www.molisa.gov.vn, (ngày truy cập 19/7/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội và giải pháp đổi mới giai đoạn tớ
Tác giả: Nguyễn Trọng Đàm
Năm: 2016
18. Đinh Thị Cẩm Hà (2012), “Hoàn thiện các quy định của Hiến pháp bảo đảm quyền của người khuyết tật”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (9), tr. 49-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định của Hiến pháp bảo đảm quyền của người khuyết tật”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Đinh Thị Cẩm Hà
Năm: 2012
19. Nguyễn Đức Hoàng (2013), Chế độ bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật, Những vẫn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật, Những vẫn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Đức Hoàng
Năm: 2013
20. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Tác giả: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội
Năm: 1995
21. Nguyễn Văn Hồi (2014), Những bước tiến quan trọng trong công tác bảo trợ xã hội, http://www.molisa.gov.vn, (ngày truy cập 19/07/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước tiến quan trọng trong công tác bảo trợ xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Hồi
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w