Những yêu cầu đặt ra cho việc nâng cao hiệu quả các quy định của pháp luật lao động về bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm .....
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
SA THỊ HẢI VÂN
Bảo vệ quyền của lao động nữ trong các
ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
từ thực tiễn tRên địa bàn tỉnh Phú Thọ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
SA THỊ HẢI VÂN
Bảo vệ quyền của lao động nữ trong các
ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chuyờn ngành: Luật kinh tế
Mó số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lấ THỊ HOÀI THU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Sa Thị Hải Vân
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC NGÀNH NGHỀ KINH DOANH NẶNG NHỌC, ĐỘC HẠI VÀ NGUY HIỂM 7
1.1 Khái quát chung về bảo vệ quyền của lao động nữ 7
1.1.1 Quyền của lao động nữ 7
1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền của lao động nữ 9
1.1.3 Ý nghĩa bảo vệ quyền của lao động nữ 10
1.2 Pháp luật bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm 12
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm 12
1.2.2 Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm 15
1.2.3 Các biện pháp bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm 23
1.3 Bảo vệ quyền của lao động nữ trong các trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm theo kinh nghiệm một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam 27
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LAO
ĐỘNG HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG
NỮ TRONG CÁC NGÀNH NGHỀ KINH DOANH NẶNG
NHỌC, ĐỘC HẠI VÀ NGUY HIỂM TỪ THỰC TIỄN TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN SUPE PHỐT PHÁT VÀ HÓA CHẤT
LÂM THAO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 34
2.1 Bảo vệ quyền việc làm của lao động nữ 34
2.2 Bảo vệ quyền của lao động nữ về HĐLĐ 42
2.3 Bảo vệ quyền được đảm bảo về tiền lương và thu nhập 44
2.4 Bảo vệ quyền nhân thân 49
2.5 Bảo vệ quyền trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội 56
2.6 Các biện pháp bảo vệ quyền của lao động nữ 62
2.6.1 Biện pháp bồi thường thiệt hại 62
2.6.2 Biện pháp xử lý vi phạm hành chính 64
2.6.3 Biện pháp giải quyết tranh chấp 65
2.7 Xử lý kỷ luật lao động đối với lao động nữ 66
2.8 Thực trạng bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC NGÀNH NGHỀ KINH DOANH NẶNG NHỌC, ĐỘC HẠI VÀ NGUY HIỂM TỪ THỰC TIỄN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SUPE PHỐT PHÁT VÀ HÓA CHẤT LÂM THAO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 79
3.1 Những yêu cầu đặt ra cho việc nâng cao hiệu quả các quy định của pháp luật lao động về bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm 79
Trang 63.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các quy định
pháp luật bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành
nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm 82
3.2.1 Đảm bảo tính đầy đủ, thống nhất, đồng bộ trong các quy định của pháp luật bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm 82
3.2.2 Các quy định pháp luật bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm cần phải phù hợp với nhu cầu lao động và đặc thù của công việc 83
3.2.3 Các quy định pháp luật bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm phải phù hợp với thông lệ quốc tế 84
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các quy định pháp luật lao động bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm từ thực tiễn tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 84
3.3.1 Về các quy định pháp luật 84
3.3.2 Về tổ chức thực hiện 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96
KẾT LUẬN CHUNG 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7DANH MỤC CÁC VIẾT TẮT
BLĐTB&XH: Bộ lao động thương binh và xã hội BLLĐ: Bộ luật lao động
HĐLĐ: Hợp đồng lao động NLĐ: Người lao động NSDLĐ: Người sử dụng lao động PLLĐ: Pháp luật lao động
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số nữ tham gia các ngành nghề nặng nhọc,
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày nay, phụ nữ Việt Nam chiếm khoảng 50% lực lượng lao động
xã hội, đã giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, xuất phát từ những đặc điểm về giới, lao động
nữ mang nhiều yếu tố đặc thù về thể lực, sức khỏe, trình độ, chức năng sinh
lý, tuổi tác Hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật Lao động nói riêng
đã giành sự quan tâm thích đáng bằng nhiều quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của lao động nữ Song trên thực tế, vấn đề thực thi pháp luật để bảo vệ quyền của lao động nữ đạt hiệu quả như mong đợi thì vẫn còn là một chặng đường xa
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, là trung tâm công nghiệp của miền Bắc XHCN những năm giữa thế kỷ XX Ngày nay, với định hướng xây dựng trở thành tỉnh công nghiệp của cả nước, Phú Thọ tiếp tục tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế đa ngành nghề, đặc biệt trọng tâm vào các ngành công nghiệp mũi nhọn như: Phân bón, hóa chất, xi măng, giấy, khai khoáng, thực phẩm, may mặc… Với dân số trên 1,4 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động khoảng chiếm khoảng 800.000 người (chiếm 60% dân số), vấn đề thực thi pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng là việc làm cấp thiết, thường xuyên Thời gian qua, Phú Thọ đã đạt được những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực này Tuy nhiên, do số lượng doanh nghiệp lớn với ngành nghề sản xuất- kinh doanh đa dạng, việc thực thi pháp luật cũng như công tác thanh tra, giám sát các hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn Đặc biệt, đối với lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm tại một số doanh nghiệp hiện nay còn tồn tại thực
Trang 10trạng như: bố trí, sắp xếp lao động nữ vào những công việc nằm trong danh mục nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm bị cấm sử dụng lao động nữ hay chế độ đãi ngộ đối với lao động nữ trong khu vực này…Là một doanh nghiệp sản xuất- kinh doanh phân bón, hóa chất lớn nhất tỉnh Phú Thọ và là một trong những doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam về khả năng cung ứng các sản phẩm phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp của cả nước, Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cũng mang đầy đủ những đặc điểm trong lĩnh vực thực hiện bảo vệ quyền của lao động nữ nêu trên Từ thực trạng đó,
để nghiên cứu và tìm ra hướng giải quyết thỏa đáng nhằm nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật lao động về bảo vệ quyền nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung và tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao nói
riêng, tác giả cho ̣n đề tài : “Bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề bảo vệ quyền của NLĐ nói chung và lao động nữ nói riêng đã được nghiên cứu rộng rãi không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới Mỗi tác giả nghiên cứu ở một khía cạnh khác nhau, như một số nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu về lao động nữ, của Ban nữ công Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tập trung vào vấn đề bình đẳng giới của phụ
nữ nói chung hoặc nghiên cứu những lĩnh vực riêng, như: Lao động nữ trong công nghiệp Việt Nam thời kỳ đổi mới, Phụ nữ tư pháp- Đặc thù nghề nghiệp; Phụ nữ trong lãnh đạo và quản lý… Một số công trình nghiên cứu khác như:
Lý Thị Thúy Hoa, Pháp luật về lao động nữ- Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn Luận văn Thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội 2001; Đỗ Ngân
Bình, Luật lao động Việt Nam với việc bảo vệ quyền lao động nữ, Tạp chí
Trang 11Luật học, số đặc san phụ nữ tháng 3/2004; Vũ Thị Thảo, Bảo vệ lao động nữ
theo pháp luật lao động Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội 2013; Phạm Hoàng Hà, Quyền của lao động nữ theo pháp
luật lao động Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật Nhật Bản, Luận văn
Thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội 2015; Nguyễn Thị Giang, Bảo
vệ lao động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ luật học,
Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội 2015
Các công trình nghiên cứu đều đã đề cập đến nhiều phương diện trong vấn đề bảo vệ quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ quyền của lao động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Đây lại là vấn đề thực tiễn tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao và một số doanh nghiệp khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có sử dụng nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và
nguy hiểm Chính vì vậy mà tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” (lấy Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao là phạm vi nghiên cứu chính) làm luận văn thạc sĩ
luật học, với mong muốn tìm ra những giải pháp nhằm thúc đẩy việc thực thi pháp luật về bảo vệ lao động nữ tại đơn vị nói riêng và trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung, đồng thời, có hướng hoàn thiện hơn nữa những quy định của pháp luật Lao động về bảo vệ quyền của lao động nữ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định hiện hành của pháp luật Lao động Việt Nam về bảo vệ quyền lao động nữ nói chung và lao động
nữ làm các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nói riêng Ngoài
ra, để nâng cao tính thuyết phục cho đề tài bằng phương pháp đối chiếu, so
Trang 12sánh, tác giả sẽ dẫn chứng thêm tình hình bảo vệ quyền của lao động nữ tại một số nước trên thế giới Về mặt thực tiễn, tác giả đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu tình hình thực hiện quy định của pháp luật lao động về bảo vệ quyền của lao động nữ làm các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tại Công
ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao và một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, dựa trên
đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách kinh tế - xã hội, những vấn đề thực tiễn tại địa phương, xem xét giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện hơn nữa quyền của lao động nữ trong khu vực ngành nghề sản xuất- kinh doanh mang tính đặc thù
Phương pháp thống kê: Đề tài tập hợp những số liệu về lao động nữ
trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm tại Công
ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao và một số doanh nghiệp khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ làm cơ sở nghiên cứu khoa học
Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân chia các vấn đề lớn, phức tạp
thành các vấn đề nhỏ cụ thể, chi tiết hơn Sau khi phân tích thì khái quát và tổng hợp lại để đưa tới những giải pháp nhằm bảo vệ tốt hơn quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
Phương pháp so sánh: Đề tài đặt thực tiễn vấn đề nghiên cứu trong mối
liên hệ và so sánh với thực tiễn của một số nước trên thế giới, qua đó tìm ra những ưu nhược điểm của vấn đề và đề xuất phương hướng hoàn thiện để giải quyết nội dung vấn đề cần nghiên cứu
Trang 135 Tính mới và những đóng góp của luận văn
Luận văn là một công trình khoa học ở cấp thạc sĩ luật học đề cập vấn
đề lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Lao động
về bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng
nhọc, độc hại và nguy hiểm Đề tài “Bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” tác giả cho ̣n sẽ trƣ̣c tiếp nghiên cƣ́u chuyên sâu ,
làm rõ các vấn đề sa u:
Thứ nhất, nghiên cƣ́u những vấn đề lý luận cơ bản về quyền của lao
động nữ; những quy định của pháp luật Lao động về bảo vệ quyền của lao động nữ nói chung và lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm nói riêng
Thứ hai, giới thiệu khái quát các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và
nguy hiểm đƣợc sử dụng tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao- một doanh nghiệp chuyên sản xuất và kinh doanh các loại phân bón và một số hóa chất cơ bản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; trình bày, phân tích, đánh giá việc thực hiện bảo về quyền của lao động nữ tại đơn vị sản xuất- kinh doanh nói trên, chỉ ra những bất cập giữa quy định của pháp luật và thực tế thi hành pháp luật, từ đó đƣa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa những quy định về bảo vệ quyền của lao động nữ theo pháp luật Lao động Việt Nam
Luận văn này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn , là cơ sở nghiên cứu những vấn đề bảo vệ quyền của lao động nữ làm các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao và một số doanh nghiệp khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Đồng thời, luận văn cũng đƣa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng thực hiện pháp luật Lao động về bảo vệ quyền của lao động nữ trong ngành nghề kinh doanh này tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao và tại
Trang 14một số doanh nghiệp của tỉnh Phú Thọ, góp phần hoàn thiện hơn nữa quy định của pháp luật lao động đối với lao động nữ
6 Kết cấu luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu vào những vấn đề cơ bản nhất về bảo vệ quyền của lao động nữ theo pháp luật lao động trong các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm đạt được những mục tiêu tổng quát và mục tiêu cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương, cụ thể:
Chương 1: Khái quát chung về bảo vệ quyền của lao động nữ và pháp
luật bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật Lao động hiện hành về
bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm từ thực tiễn tại Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các
quy định của pháp luật Lao động về bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm từ thực tiễn tại Công
ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 15Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ
VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC NGÀNH NGHỀ KINH DOANH NẶNG NHỌC, ĐỘC HẠI VÀ
NGUY HIỂM
1.1 Khái quát chung về bảo vệ quyền của lao động nữ
1.1.1 Quyền của lao động nữ
Khi tham gia vào quan hệ lao động, lao động nữ có những quyền nhất định và được gọi là quyền của lao động nữ
Dưới góc độ pháp lý, quyền là khả năng của chủ thể được hưởng gì, được làm gì, được đòi hỏi hay yêu cầu gì và được pháp luật khái quát thành quy phạm pháp luật Cũng có thể hiểu rằng, quyền của con người đã được nhà nước quy định trong các quy phạm pháp luật và được đảm bảo bằng sức mạnh quyền lực nhà nước
Như vậy, quyền của lao động nữ là năng lực pháp lý của lao động nữ được làm những gì pháp luật cho phép trong quan hệ lao động, với mục đích thỏa mãn những yêu cầu, đòi hỏi mà được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh quyền lực nhà nước
Pháp luật quốc tế cũng như luật pháp ở mỗi quốc gia đều công nhận và bảo đảm quyền của lao động nữ Ủy ban Quyền con người của Liên hợp quốc
đã phân chia nhóm quyền con người trong lĩnh vực lao động thuộc nhóm quyền
dân sự và dưới góc độ pháp luật lao động “Quyền của người lao động phải
được đảm bảo như quyền con người” [30] Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
năm 1984 cũng ghi nhận quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm phù hợp với năng lực và điều kiện của mỗi cá nhân, quyền được chăm sóc sức khỏe trong lao động, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận
Trang 16lợi, quyền được hưởng lương bằng nhau, quyền được nghỉ ngơi, bảo vệ chống thất nghiệp là những quyền con người cơ bản trong pháp luật lao động Ngoài
ra, quyền bình đẳng nam nữ cũng là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ nữ giới trong mọi quan hệ của đời sống xã hội Công ước CEDAW về xóa bỏ tất
cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ là Công ước quốc tế điển hình có nội dung bảo vệ quyền lợi của lao động nữ một cách rõ ràng và triệt để Công ước đã đề cập tới việc bảo vệ quyền lao động nữ trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ và xây dựng một chương trình hành động thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ Bên cạnh đó Công ước quốc tế về quyền chính trị, xã hội, văn hóa năm 1966 của Liên hợp quốc cũng quy định nam nữ có quyền bình đẳng trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Như vậy, ta thấy rằng, quyền của lao động nữ được thể hiện trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau Trong pháp luật lao động, luôn tồn tại quan hệ lao động giữa một bên là NSDLĐ và một bên là NLĐ Lao động nữ là một bên chủ thể trong quan hệ lao động Do vậy, khi xem xét vấn đề quyền của lao động nữ ta phải đặt trong mối quan hệ với NSDLĐ Xét về mối quan hệ giữa lao động nữ và NSDLĐ ta có thể thấy, người lao động nữ thường ở vị thế yếu hơn và phải phụ thuộc rất nhiều vào NSDLĐ Lao động nữ là người trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất nên phải đối mặt với những rủi ro xảy ra trong quá trình lao động Hơn thế nữa, lao động nữ chiếm số đông trong lực lượng sản xuất và là một trong những yếu tố quan trọng của quan hệ sản xuất Còn NSDLĐ ở vị thế cao hơn, họ nắm trong tay quyền quản lý, điều hành, chi phối NLĐ Lao động nữ với nhiều đặc thù về sức khỏe, tâm sinh lý, tuổi tác, trình độ… sẽ có nhiều hạn chế nhất định trong quan hệ lao động với NSDLĐ
Vì vậy, lao động nữ rất cần được pháp luật bảo vệ nhằm tạo nền tảng và cơ sở vững chắc khi tham gia vào các quan hệ pháp luật lao động Pháp luật lao
Trang 17động thường tập trung vào bảo vệ quyền của lao động nữ trong các lĩnh vực, như: việc làm, tiền lương, bảo vệ tính mạng, danh dự nhân phẩm, đời sống… Tóm lại, bảo vệ quyền của lao động nữ là việc pháp luật lao động ghi nhận các quyền của lao động nữ trong quan hệ lao động và các biện pháp đảm bảo việc thực hiện các quyền của lao động nữ
1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền của lao động nữ
Bảo vệ quyền lao động nữ là phòng ngừa và chống lại mọi sự xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ từ phía NSDLĐ trong quan hệ lao động
Xuất phát từ đặc điểm của người phụ nữ ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ lao động họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ Những đặc điểm riêng về giới tính cho việc thực hiện chức năng làm mẹ của họ (như sức khỏe, tâm sinh lý) chỉ phù hợp trong những điều kiện lao động nhất định Vì vậy, các quy định riêng cho lao động nữ vừa nhằm mục đích đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ được bình đẳng về mọi mặt với nam giới đồng thời tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt hai chức năng: chức năng lao động và chức năng làm mẹ, chăm sóc, bảo vệ, nuôi dạy thế hệ tương lai của đất nước
Bảo vệ NLĐ nói chung và lao động nữ nói riêng là vấn đề rất phức tạp Bảo vệ lao động nữ không chỉ là bảo vệ bản thân họ trong quá trình tồn tại mà còn phải bảo vệ cuộc sống của họ với những mối quan hệ nhất định với tự nhiên và xã hội Hiểu theo nghĩa rộng, bảo vệ lao động nữ có thể bao gồm mọi quá trình nhằm phòng ngừa, chống lại các nguy cơ xâm hại đến con người và cuộc sống của họ Trong phạm vi BLLĐ, vấn đề bảo vệ lao động nữ chủ yếu được xem xét trên nghĩa hẹp trong mối quan hệ của họ với người sử dụng lao động, chống lại các nguy cơ bị bóc lột sức lao động, bị đối xử bất công hay phải lao động trong điều kiện không đảm bảo Như vậy có thể hiểu bảo vệ lao động nữ là phòng ngừa và chống lại mọi sự xâm hại đến danh dự nhân phẩm,
Trang 18thân thể và quyền lợi hợp pháp của lao động nữ, từ phía người sử dụng lao động trong quan hệ lao động
Để bảo vệ NLĐ nói chung và lao động nữ nói riêng cần phải có các biện pháp cụ thể để bảo vệ Biện pháp bảo vệ lao động nữ là các biện pháp do PLLĐ quy định để các nội dung bảo vệ được bảo đảm thực hiện Đồng thời với các nội dung bảo vệ lao động nữ thì các biện pháp bảo vệ cũng được quy định Các biện pháp bảo vệ lao động nữ rất đa dạng, được sử dụng đan xen với nhau trong quá trình thực hiện mục đích bảo vệ lao động nữ Để bảo vệ quyền lao động nữ đã có rất nhiều công ước, văn kiện, công ước quốc tế ra đời, như: Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền năm 1948 đã ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ, con người có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn công việc phù hợp, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được hưởng lương bằng nhau… Tiếp đó, Công ước quốc tế về các quyền chính trị, văn hóa và xã hội năm 1996 của Liên Hợp Quốc cũng nêu cao tinh thần bình đẳng nam nữ trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đặc biệt, Công ước CEDAW- Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ- đã đi sâu vào vấn đề bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ trên nhiều lĩnh vực cụ thể, đồng thời thúc đẩy quyền bình đẳng của nữ giới bằng một chương trình hành động rõ ràng và hiệu quả
1.1.3 Ý nghĩa bảo vệ quyền của lao động nữ
Thứ nhất, bảo vệ quyền của lao động nữ đồng nghĩa với việc tạo
nguồn lực phát triển kinh tế một cách ổn định nhất Có thể nói nguyên tắc bảo vệ người lao động nữ đóng một vai trò quan trọng trong định hướng phát triển nguồn nhân lực
Thứ hai, bảo vệ quyền của lao động nữ nhằm phát huy nhân tố con
người Điểm khác biệt giữa con người với các loại động vật khác là khả năng
tư duy Nhờ có khả năng tư duy mà khi tham gia vào quá trình sản xuất, tiếp
Trang 19cận với các tư liệu sản xuất con người mới có cơ hội gợi mở những khả năng sáng tạo của mình Khả năng này chỉ có thể phát huy hiệu quả khi mà những quyền lợi cơ bản của họ được bảo đảm Mặt khác để khả năng này phát triển toàn diện, cần sự đảm bảo được những nhu cầu cơ bản của cuộc sống mỗi người lao động Những yêu cầu đó chỉ có thể có được khi chúng ta thực thi nguyên tắc bảo vệ người lao động đúng cách, đúng mực và hiệu quả Chẳng hạn như chế độ nghỉ ngơi, chế độ thai sản, tiền lương,… và nhiều ưu đãi khác
Thứ ba, nguyên tắc bảo vệ người lao động thể hiện tinh thần nhân đạo,
đảm bảo công bằng xã hội Bảo vệ người lao động nữ không nhằm tạo ra sự khác biệt, đối xử bất bình đẳng đối với người sử dụng lao động vì mục tiêu chính trị hay giai cấp mà nhằm bình ổn quan hệ lao động ở cán cân ngang bằng
Nhà nước cần phải đảm bảo quyền làm việc của lao động nữ, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động nữ, tạo điều kiện để lao động nữ
có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, trọn tuần hoặc giao việc tại nhà; được từng bước cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần cho lao động nữ Nghiên cứu quá trình sản xuất của xã hội tư bản chủ nghĩa C.Mác
đã đề cập đến việc làm của lao động nữ C.Mác nhận định rằng, khi sản xuất công nghiệp hình thành, máy móc có khả năng thay thế một số công việc nặng nhọc và lao động nữ có thể tham gia vào quá trình sản xuất tư bản với những công việc mà họ có thể đảm đương được, phù hợp với sức khỏe của
họ Trong tập thứ nhất, quyển 1, Bộ Tư bản, C.Mác đã viết:
Vì máy móc làm cho lao động sức bắp thịt trở thành dư thừa, cho nên nó trở thành một công cụ để sử dụng những lao động không
có sức bắp thịt hoặc cơ thể chưa phát triển đầy đủ nhưng chân tay mềm mại hơn Vì vậy, khi tư bản sử dụng máy móc thì tiếng nói
Trang 20Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế- xã hội quốc gia cho biết, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, khoảng 72% phụ nữ tham gia lực lượng lao động và tỷ lệ này cao hơn phần lớn các nước khác trên toàn cầu [37].Vì vậy, việc bảo vệ người lao động nữ là thật sự cần thiết trong xu thế phát triển nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới đi đầu trong việc thể chế hóa và đưa vào cuộc sống nguyên tắc nam nữ bình đẳng trong Công ước quốc tế về bình đẳng giới CEDAW Việc bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ tạo điều kiện cho phụ
nữ có thêm cơ hội và điều kiện tiến bộ, phát triển và thụ hưởng bình đẳng với nam giới Đồng thời góp phần nâng cao nhận thức và thực hiện bình đẳng giới
ở Việt Nam giúp lao động nữ ngày càng tự tin hòa mình vào cộng đồng và phát huy hết tài năng, sức sáng tạo trong lao động Vì vậy mà các quy định về quyền lợi của lao động nữ không phải chỉ vì lợi ích riêng của đối tượng lao động là nữ mà nó còn là vì lợi ích của xã hội, của quốc gia
1.2 Pháp luật bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
Các nghề, công việc được coi là nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm là những ngành nghề có chứa đựng một hoặc nhiều yếu tố yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động hoặc chứa đựng yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động Việc xác định thế nào là một nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm hoàn toàn dựa vào các quy định của pháp luật, trên cơ sở nghiên cứu có tính khoa học và thực tiễn từ nhiều ngành, lĩnh vực, như: Y khoa, lao động, pháp luật, giới…
Vấn đề bảo vệ quyền của lao động nữ trong nghề, công việc nặng
Trang 21nhọc, độc hại và nguy hiểm là một đòi hỏi tất yếu bởi lao động nữ có đặc điểm sinh học khác biệt đối với lao động nam, những định kiến về giới cũng
dễ gây ra nguy cơ xâm phạm quyền của lao động nữ Hơn thế nữa, trong điều kiện đặc thù công việc chứa đựng nhiều yếu tố nguy hại, để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, đảm bảo thiên chức làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ thì pháp luật phải có những quy định cụ thể và rõ ràng để bảo vệ người lao động
nữ, giúp họ phát huy năng lực, đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội Vậy, khái niệm pháp luật bảo vệ quyền của lao động nữ trong các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm có thể hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định những quyền của lao động nữ trong lĩnh vực việc làm, tuyển dụng, tiền lương và thu nhập, quyền nhân thân và quyền trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội khi họ tham gia vào ngành nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật Nghiên cứu vấn đề mang tính chất lý luận này, trước hết, luận văn đề cập đến việc xác định thế nào là nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm để làm cơ sở cho việc hình thành hệ thống văn bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền của lao động nữ khi tham gia vào khu vực này
Ta thấy rằng, trong quá trình lao động, sản xuất, tùy theo các công trình công nghệ khác nhau, việc sử dụng các loại nguyên liệu khác nhau sẽ phát sinh các yếu tố nguy hiểm và có hại Các yếu tố nguy hiểm bao gồm:
- Nguy hiểm cơ học: bộ phận, cơ cấu cơ khí, ngã cao, trơn trượt…
- Nguy hiểm điện: điện giật, sét đánh, hồ quang điện
- Nguy hiểm hóa chất: nhiễm độc cấp tính
- Nguy hiểm nổ: nổ hóa học (khí đốt, thuốc nổ), nổ vật lý (nổ nồi hơi, bình khí)
- Nguy hiểm nhiệt: cháy, bỏng lạnh, bỏng nhiệt…
Trang 22- Yếu tố vật lý: vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, bức
xạ nhiệt), tiếng ồn, rung động, ánh sáng, bức xạ ion hóa, trường điện từ
- Yếu tố hóa học: bụi độc, hơi khí độc, các loại hóa chất độc
- Yếu tố sinh học: rắn rết, côn trùng, vi sinh vật, vi- rút…[7, tr.12] Tùy theo tính chất, đặc điểm của sản xuất, có thể phát sinh một hoặc nhiều yếu tố nguy hiểm có hại, chúng được gọi chung là tác hại nghề nghiệp Các tác hại nghề nghiệp sẽ tác động làm ô nhiễm môi trường lao động như nhiễm nhiệt, bụi, tiếng ồn rung động, bức xạ ion hóa, điện từ trường… nhưng
dù tác động đơn lẻ hay phối hợp, chúng đều làm suy giảm sức khỏe, giảm năng suất lao động, chậm tái tạo sức lao động, phát sinh nhiều bệnh tật, kể cả bệnh nghề nghiệp và đặc biệt là các yếu tố nguy hiểm có thể gây tai nạn lao động cho người lao động Như vậy, khi tham gia vào quá trình lao động trong khu vực ngành nghề nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, người lao động nói chung và đặc là lao động nữ nói riêng luôn đứng trước nhiều nguy cơ có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí là cả tính mạng Đối với lao động nữ
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng làm mẹ của người phụ nữ
Có thể thấy rằng, yếu tố nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm luôn hiện diện trong sự tồn tại và phát triển của đời sống con người, đặc biệt trong quá trình sản xuất, nó xuất phát từ con người và để phục vụ lợi ích con người Chủ
tịch Hồ Chí Minh kính yêu từng nói với người lao động “Một công nhân bất
kỳ nam hay nữ đều rất quý báu; chẳng những quý cho gia đình các cô, các chú mà còn quý cho Đảng, Chính phủ và nhân dân nữa” [16, tr.52] Vì lẽ đó,
mục tiêu bảo vệ NLĐ nói chung và lao động nữ nói riêng để nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại phát sinh trong sản xuất, tạo điều kiện làm việc an toàn, thuận lợi, ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau, đảm bảo sức khỏe NLĐ, góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản
Trang 23xuất, tăng năng suất lao động là đòi hỏi tất yếu được đặt ra đối với pháp luật trong vấn đề bảo vệ quyền của lao động nữ Những quy định cụ thể về bảo vệ quyền của lao động nữ làm trong nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm sẽ tiếp tục được đề cập ở mục tiếp theo
1.2.2 Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
Trước hết, cần thấy rằng lao động nữ trong các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm cũng như tất cả các ngành nghề, lĩnh vực khác đều được pháp luật bảo vệ và tập trung chủ yếu ở những nội dung cơ bản như sau:
cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, và các quốc gia phải thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này [21, Điều 6]
Công ước CEDAW về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ
nữ năm 1979 của Liên hợp quốc cũng khẳng định: Phụ nữ và nam giới được quyền hưởng các cơ hội có việc làm như nhau, áp dụng những tiêu chuẩn như nhau khi tuyển dụng, có quyền được thăng tiến và không được sa thải lao động nữ vì lý do hôn nhân hoặc sinh đẻ Thêm vào đó, Công ước 111 về phân biệt đối xử trong việc làm, nghề nghiệp của Tổ chức lao động thế giới (ILO) (được Việt Nam phê chuẩn ngày 07/10/1997) cũng nhấn mạnh:
Trang 24Mọi nước thành viên, sau khi tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện, nếu có, của NSDLĐ và NLĐ đều có thể xác định không phải là phân biệt đối xử, mọi biện pháp đặc biệt nào nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của những người mà việc bảo vệ hoặc sự trợ giúp đặc biệt đối với họ nói chung được thừa nhận là cần thiết
vì những lý do như là giới tính, độ tuổi, tàn tật, gánh nặng gia đình, trình độ xã hội hoặc văn hóa [35, Điều 5]
Các vấn đề bảo vệ quyền việc làm còn có Công ước 122 năm 1964 về chính sách việc làm, Công ước 169 năm 1984 Thông qua các công ước quốc
tế, quyền có việc làm, được tạo điều kiện có việc làm và tự do trong lựa chọn làm việc của lao động nữ là những quyền không thể chối bỏ
Khoản 1 và 2 điều 153 BLLĐ 2012 khẳng định chính sách của Nhà nước
Việt Nam đối với lao động nữ là “Bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao
động nữ” và “Khuyến khích NSDLĐ tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà” [23, Điều 153] Rõ ràng,
lao động là nhu cầu tất yếu của con người và quyền làm việc là quyền cơ bản của con người, do vậy, mỗi quốc gia đều xây dựng chính sách nhằm đảm bảo quyền việc làm cho phụ nữ, vừa tạo điều kiện để họ được cống hiến, vừa có cơ hội tạo ra nguồn thu nhập nuôi sống bản thân, gia đình, chăm sóc, nuôi dạy con cái Bên cạnh đó, lao động nữ hoàn toàn có thể tự do lựa chọn ngành nghề, công việc phù hợp với trình độ, năng lực, sức khỏe, hoàn cảnh cũng như sở thích của mỗi cá nhân Đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp lao động nữ có thêm nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm Mặt khác, quyền về việc làm còn được thể hiện thông qua sự bình đẳng trong cơ hội tuyển dụng lao động NSDLĐ phải đưa ra những tiêu chí như nhau cho cả nam và nữ trong vấn đề tuyển dụng Trong quá trình lao động, lao động nữ được NSDLĐ đảm bảo học nghề,
Trang 25đào tạo nghề nhằm nâng cao năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu công việc được giao Những quy định về quyền bình đẳng việc làm giúp lao động nữ có quyền làm việc, thăng tiến, tránh bị phân biệt, đối xử hoặc bóc lột sức lao động
Trong khu vực ngành nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, vấn đề bảo vệ quyền việc làm đối với lao động nữ có những điểm mang tính đặc trưng riêng Cụ thể, Công ước 45 năm 1937 về sử dụng phụ
nữ vào những công việc dưới mặt đất, trong hầm lò của Tổ chức lao động thế giới (Việt Nam phê chuẩn năm 1994), cho rằng lao động dưới mặt đất hoặc trong hầm mỏ là nguy hiểm và gây hại cho mọi người, đặc biệt là phụ
nữ, vì vậy Điều 2 Công ước đã quy định “Không được sử dụng bất cứ người
nào thuộc nữ giới, dù ở độ tuổi nào, vào những công việc dưới mặt đất, trong hầm mỏ” [33, Điều 2] Quy định trên có thể loại trừ với những trường
hợp: Nữ giữ chức vụ quản lý không phải làm công việc tay chân, nữ làm việc trong các dịch vụ y tế và phúc lợi, nữ trong thời gian học tập được tập huấn dưới hầm mỏ, những phụ nữ thỉnh thoảng xuống hầm mỏ để thực hiện một nghề không có tính chất lao động chân tay Ngoài ra ILO còn thông qua hàng loạt công ước nhằm bảo vệ quyền làm việc của lao động nữ khi tham gia công việc, ngành nghề có thể dễ dàng gây tổn hại đến sức khỏe và sinh lý của nữ giới, như: Công ước 103 năm 1952 về bảo vệ thai sản, Công ước 127 về giới hạn trọng lượng mang vác tối đa Quy định của các Công ước trên đây đã xác định những giới hạn nghề, công việc cho phép đảm bảo lao động nữ được làm việc mà không bị ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng Từ năm 1995, thực hiện những điều ước quốc tế đã ký kết và tham gia trong lĩnh vực này, Nhà nước ta đã ban hành Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, bao gồm Danh mục nghề, công việc không sử dụng lao động nữ Các nghề không sử dụng lao động nữ một mặt nhằm bảo vệ người lao động nữ khỏi các yếu tố
Trang 26gây hại và nguy hiểm trong quá trình lao động sản xuất, mặt khác cũng làm
“hạn chế” ở mức độ nào đó về khả năng tìm kiếm việc làm của phụ nữ
Bảo vệ quyền được đảm bảo về tiền lương và thu nhập
Tiền công nói chung và tiền lương nói riêng không đơn thuần là một vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị, xã hội có tác động lớn đến sự phát triển thịnh vượng của mỗi quốc gia Nguyên tắc trả lương công bằng, hợp lý, trả công ngang nhau cho những công việc như nhau luôn luôn được đề cao Điều 23, Tuyên ngôn về quyền con người quy định rõ:
2 Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào; 3 Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm, và được trợ cấp khi cần thiết bằng các biện pháp bảo trợ xã hội… [20, Điều 23]
Bên cạnh đó, một số Công ước quốc tế như Công ước số 95 (1949), Công ước số 131 (1970) của ILO cũng quy định về mức lương tối thiểu, tiền lương phải được trả bằng tiền đang lưu hành hợp pháp không được sử dụng bằng bất kỳ một hình thức thay thế nào Đối với lao động nữ, Công ước CEDAW đã đặt nền móng quan trọng để các nước thành viên ban hành quy định về trả lương cho lao động nữ Đồng thời Công ước số 100 năm 1951 của ILO về trả công lao động bình đẳng giữa nam và nữ cũng quy định:
Mỗi nước thành viên bằng những biện pháp thích hợp với các phương pháp hiện hành trong việc ấn định mức trả công, phải khuyến khích và trong chừng mực phù hợp với các phương pháp
ấy, đảm bảo việc áp dụng cho mọi NLĐ nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ với một công việc có giá trị ngang nhau [34, Điều 2]
Trang 27Đảng, Nhà nước ta quan tâm và xây dựng những chính sách nhằm đảm bảo trả công thích đáng cho người lao động cũng như khuyến khích họ tích cực lao động và cống hiến Trên thực tế, xây dựng chính sách thang, bảng lương được chúng ta thực hiện qua nhiều giai đoạn khác nhau để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội đất nước trong mỗi thời kỳ Mặc dù, những bất cập trong vấn đề này lại luôn xảy ra, như mức tiền lương chưa theo kịp với tốc độ phát triển kinh tế- xã hội, mức thu nhập giữa các ngành nghề còn có độ chênh lớn… song, xét trên bình diện đảm bảo bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ
về vấn đề trả lương, Nhà nước ta đã xác định “đảm bảo trả lương bình đẳng,
không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau” [23, Điều 90]
Đối với lao động trong các ngành nghề nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, vấn đề trả lương và thu nhập cho NLĐ được quan tâm ở một mức cao hơn Xuất phát từ đặc điểm điều kiện lao động khắc nghiệt, môi trường làm việc nguy hại, nguy cơ cao bị ảnh hưởng và tổn hại về sức khỏe, tinh thần… cần có sự bù đắp hơn hẳn các ngành nghề thông thường khác, do vậy, cơ chế, chính sách trả lương cho NLĐ trong khu vực này ở các quốc gia đều được tính cao hơn (ở Việt Nam, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm có mức lương cao hơn ít nhất 5% và làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm có mức lương cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của người làm công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương trong điều kiện lao động bình thường) Lao động nữ với nhiều yếu tố đặc thù khi tham gia vào các ngành nghề nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm luôn được pháp luật bảo đảm về tiền lương ngang bằng với nam giới khi cùng làm một công việc như nhau mà không có sự phân biệt đối xử nào
Bảo vệ quyền nhân thân
Quyền nhân thân là một phần quan trọng cùng với quyền vật chất của
Trang 28NLĐ được pháp luật bảo vệ Đặc biệt đối với lao động nữ, bảo vệ quyền nhân thân càng trở nên vô cùng cần thiết bởi lao động nữ ngoài chức năng lao động, còn thực hiện chức năng làm mẹ Do đó việc đảm bảo sức khỏe, nâng cao chất lượng lao động, giúp lao động nữ vừa tham gia sản xuất, ổn định cuộc sống vừa chăm sóc gia đình, giáo dục con cái là mục tiêu hàng đầu Quyền nhân thân đối với lao động nữ trong các ngành nghề nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm lại càng được chú trọng, bảo vệ hơn nữa Để làm rõ nội dung bảo vệ quyền nhân thân của lao động nữ trong khu vực ngành nghề này, luận văn sẽ đề cập một số nội dung cơ bản về quyền nhân thân được bảo vệ như sau:
- Bảo vệ an toàn lao động và vệ sinh lao động của lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
Được làm việc trong điều kiện an toàn và vệ sinh là một quyền quan trọng của người lao động Công ước 184 về An toàn vệ sinh lao động năm
2001 của ILO quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động cần:
Tiến hành đánh giá những rủi ro liên quan đến an toàn và sức khoẻ của người lao động Trên cơ sở đó, đưa ra những biện pháp phòng, chống để đảm bảo rằng trong mọi điều kiện tại nơi sản xuất của mình, mọi hoạt động nông nghiệp, mọi nơi làm việc, máy, thiết
bị, hoá chất, các dụng cụ và quy trình dưới sự kiểm soát của người
sử dụng lao động là an toàn và tuân thủ những tiêu chuẩn bắt buộc
về an toàn và vệ sinh
Đảm bảo huấn luyện đầy đủ, phù hợp; cung cấp đủ tài liệu hướng dẫn về an toàn - vệ sinh lao động cũng như chỉ dẫn hoặc tư vấn cần thiết cho người lao động trong nông nghiệp, bao gồm những thông tin về nguy cơ, rủi ro liên quan đến công việc và những hành động phải thực hiện để bảo vệ người lao động Phải chú ý đến trình
độ học vấn
Trang 29Thực hiện những bước khẩn cấp để dừng ngay tức thì mọi hoạt động tiềm ẩn các hiểm hoạ nghiêm trọng, sắp xảy ra ảnh hưởng tới an toàn, sức khoẻ và để sơ tán người lao động đến nơi thích hợp [36, Điều 7]
Việc đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh lao động cho lao động nữ, đặc biệt lao động nữ trong các ngành nghề nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm càng có những quy định chặt chẽ hơn nữa Ngoài việc quy định phải sắp xếp cho lao động nữ có phòng tắm, phòng thay đồ riêng, phải trợ giúp lao động nữ khi hành kinh, mang thai, sinh đẻ, cho con bú…, NSDLĐ còn phải bảo đảm nơi làm việc phải đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, các yếu tố có hại khác phải được thường xuyên kiểm tra, đo lường; bảo đảm các điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với máy, thiết bị, nhà xưởng đạt quy chuẩn kỹ thuật; thường xuyên kiểm tra, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc để kịp thời có biện pháp loại trừ, giảm thiểu các mối nguy hiểm, có hại, cải thiện và chăm sóc sức khỏe cho lao động nữ
- Bảo vệ quyền về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi sau quá trình làm việc căng thẳng, mệt mỏi, cơ thể người lao động rất cần nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe, tái tạo sức lao động Đối với lao động nữ thường có thể lực và độ bền kém hơn so với nam giới, một chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, khoa học sẽ giúp lao động nữ có sức khỏe, năng lượng, chủ động đáp ứng được đòi hỏi công việc được giao Việt Nam đã tham gia một
số Công ước quốc tế bảo vệ quyền về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi như: Công ước số 1 năm 1919 về độ dài thời gian làm việc công nghiệp, Công ước số 47 năm 1935 về tuần làm việc 40 giờ, Công ước 106 năm 1957 về
Trang 30nghỉ hàng tuần của ILO Ngoài ra, còn có Công ước 111 về phân biệt đối xử trong việc làm nghề nghiệp của ILO về cấm phân biệt đối xử giữa lao động nam và lao động nữ về điều kiện lao động trong đó có vấn đề thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Theo đó, trong khu vực ngành nghề nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, người lao động được rút ngắn thời gian làm việc xuống còn
06 giờ/ngày (giảm 02 giờ so với lao động làm việc điều kiện bình thường) Thời giờ làm việc được rút ngắn như vậy tạo điều kiện cho NLĐ trong những ngành nghề này có cơ hội được nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe, đồng thời giảm bớt áp lực căng thẳng trong những điều kiện làm việc ngặt nghèo, nguy hiểm
- Bảo vệ quyền về danh dự, nhân phẩm của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
Danh dự, nhân phẩm đối với người phụ nữ vô cùng quan trọng bởi nó góp phần tạo ra vị thế, khẳng định vai trò của nữ giới trong xã hội Trong quan hệ lao động, lao động nữ thường là mục tiêu của những hành vi quấy rối gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công việc Vì vậy, để lao động nữ
có thể yên tâm công tác, hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đều có văn bản pháp luật quy định nhằm bảo vệ danh dự, nhân phẩm cho lao động nữ (Chẳng hạn Đạo luật chống quấy rối tình dục trong môi trường lao động năm 1995 của Philippines) Pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo cũng như nghiêm cấm hành vi ngược đãi, quấy rối tình dục tại nơi làm việc, cưỡng bức lao động
Bảo vệ quyền trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội
Đảm bảo quyền của lao động nữ được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội là một nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật về an sinh xã hội của bất cứ một quốc gia nào, bởi chế độ bảo hiểm xã hội phản ánh trình độ phát triển của một đất nước So với nam giới, nữ giới có những hạn chế hơn về sức khỏe,
Trang 31thể lực, đặc biệt trong các ngành nghề nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, sức khỏe của lao động nữ còn bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn Để thực hiện chức năng làm mẹ, lao động nữ phải trải qua thời kỳ thai sản, sinh nở, chăm sóc, nuôi dạy con cái Khi trải qua giai đoạn này, lao động nữ không chỉ bị ảnh hưởng về sức khỏe mà mức thu nhập cũng bị gián đoạn Nếu họ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp thì không chỉ tổn hại đến bản thân họ mà còn gây hệ lụy tới gia đình họ, doanh nghiệp và toàn xã hội Khi về già, lao động nữ cũng chỉ trông chờ vào khoản lương hưu giúp họ duy trì, ổn định cuộc sống và không trở thành gánh nặng của xã hội Chính vì vậy, đảm bảo và nâng cao hơn nữa quyền lợi về BHXH cho lao động nữ luôn là vấn đề được
ưu tiên hàng đầu của các tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia trên thế giới
Tổ chức lao động quốc tế ILO đã thông qua một loạt Công ước nhằm quy định những quyền đảm bảo cho lao động nữ được hưởng các chế độ trợ cấp, như: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, tuổi già, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, tử tuất, thất nghiệp Ngoài ra còn có Khuyến nghị số 191 năm
1952 của ILO về bảo vệ thai sản và Công ước số 183 năm 2000 của ILO về bảo vệ bà mẹ Trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh nặng nhọc, độc hại
và nguy hiểm thì lao động nữ cần được quan tâm một cách thích đáng trong việc hưởng các chế độ BHXH cơ bản như: Chế độ thai sản, hưu trí, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…
1.2.3 Các biện pháp bảo vệ quyền của lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
Trong mối quan hệ lao động với NSDLĐ, NLĐ luôn đứng ở “thế yếu” Nếu là lao động nữ, những yếu tố rủi ro như bị xâm hại, đối xử bất bình đẳng… sẽ là những nguy cơ tiềm ẩn dễ dàng xảy ra Vì lẽ đó, pháp luật cần
có những biện pháp cứng rắn mạnh mẽ để bảo vệ quyền của lao động nữ Bên cạnh đó, bản thân lao động nữ cũng phải nhận thức được những tình
Trang 32huống bất lợi của cá nhân và có cách thức giải quyết kịp thời, thỏa đáng Những ngành nghề sản xuất kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm vốn đã chứa đựng nhiều yếu tố gây hại và nguy hiểm thì vấn đề bảo vệ quyền của lao động nữ càng có ý nghĩa quan trọng Theo quy định của pháp luật, một số biện pháp bảo vệ quyền của lao động nữ bao gồm:
* Biện pháp tạo sức mạnh tập thể để tự đảm bảo quyền của người lao động
Công ước 87 (1948) về quyền tự do liên kết và quyền tổ chức, Công ước 98 (1949) áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lương tập thể của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là những văn kiện quốc
tế quan trọng ghi nhận quyền liên kết và tạo điều kiện cho người lao động được liên kết trong tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong lĩnh vực lao động Với tư cách là một thành viên tích cực trong vấn đề bảo vệ quyền của NLĐ, Việt Nam đã có những quy định cụ thể về tổ chức Công đoàn Theo đó, Công đoàn đại diện cho tập thể người lao động tham gia thương lượng và ký kết với NSDLĐ bản Thỏa ước Lao động tập thể, là thành viên của hội đồng trọng tài lao động trực tiếp giải quyết những tranh chấp lao động trong phạm vi thẩm quyền, đại diện cho người lao động khởi kiện và tham gia giải quyết tranh chấp tại tòa án; đồng thời công đoàn được quyền tham gia với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp và tổ chức đại diện NSDLĐ để trao đổi giải quyết các vấn đề về lao động Ngoài ra, đình công cũng là một biện pháp hữu hiệu để NLĐ tự bảo vệ mình Đối với lao động
nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm thì sự tham gia của
tổ chức công đoàn là hết sức cần thiết Bởi lẽ, điều kiện làm việc, môi trường làm việc trong khu vực này đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ của
tổ chức công đoàn để đảm bảo luôn an toàn cho lao động nữ Mặt khác, mâu thuẫn giữa lao động nữ và NSDLĐ cũng dễ nảy sinh nếu NSDLĐ không đáp ứng những đòi hỏi khắt khe về điều kiện làm việc, môi trường làm việc,
Trang 33trang bị phương tiện bảo hộ lao động, lương thưởng, phụ cấp, an sinh xã hội… cho lao động nữ trong những nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm Lúc này lao động nữ rất cần tổ chức công đoàn đứng ra bảo vệ quyền lợi của họ Trong trường hợp mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp, phải khởi kiện ra cơ quan pháp luật, thì lao động nữ vẫn có chỗ dựa vững chắc là người đại diện của tổ chức NLĐ
* Biện pháp bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là biện pháp kinh tế để bảo vệ quyền của các bên chủ thể trong quan hệ lao động Đối với lao động nữ, biện pháp này được áp dụng trên nhiều lĩnh vực như bồi thường thiệt hại do NSDLĐ vi phạm về tiền lương, thu nhập; bồi thường thiệt hại do bị ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe
và bồi thường thiệt hại do NSDLĐ vi phạm HĐLĐ Mặt khác, trong quá trình thực hiện các nghĩa vụ lao động, nếu lao động nữ bị tai nạn lao động, bị bệnh nghề nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe, lao động nữ cũng được bồi thường tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động của người lao động
Trong các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, vấn đề tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp xảy ra có tính chất thường xuyên hơn với mức độ thiệt hại lớn hơn hẳn so với các ngành nghề sản xuất kinh doanh thông thường khác Vì lẽ đó, trách nhiệm của NSDLĐ phải ngăn ngừa, đề phòng không để tai nạn lao động xảy ra, và hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng của bệnh nghiệp Trong trường hợp để xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, NSDLĐ phải có trách nhiệm nồi thường thiệt hại cho NLĐ theo đúng quy định của PLLĐ
Ngoài ra, khi giao kết HĐLĐ, các bên buộc phải nghiêm chỉnh tuân thủ những điều kiện đã được thỏa thuận Tuy nhiên, pháp luật cũng đã dự liệu trong trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ một cách trái pháp luật thì bản thân họ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NLĐ Đối
Trang 34với lao động nữ, thì NSDLĐ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu
có hành vi chấm dứt HĐLĐ vì lý do lao động nữ nghỉ thai sản, ốm đau
Về phía NSDLĐ, biện pháp này chủ yếu thể hiện thông qua việc bồi thường thiệt hại về tài sản nhằm đảm bảo quyền sở hữu cho NSDLĐ và bồi thường do NLĐ vi phạm hợp đồng
* Biện pháp xử phạt vi phạm hành chính
Trong quá trình thực hiện quy định của pháp luật lao động, việc các bên chủ thể xâm phạm quyền con người trong lĩnh vực lao động là điều khó tránh khỏi Xử phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm quyền của NLĐ thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát tại doanh nghiệp, cơ quan có chức năng phát hiện được những hành vi vi phạm của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp đó phải chịu các hình thức xử phạt vi phạm hành chính Việc phát hiện
và xử phạt vi phạm nhằm nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho cả NLĐ và NSDLĐ Tuy nhiên, đối tượng xử phạt chủ yếu là NSDLĐ
do trong quan hệ lao động, NSDLĐ là người chủ động, nắm quyền và chi phối mọi hoạt động của NLĐ Đối với nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, luôn có đòi hỏi cao hơn về các yếu tố nhằm tổ chức và duy trì sản xuất Khi có lao động nữ tham gia, NSDLĐ phải đáp ứng những đòi hỏi nhất định, chẳng hạn yêu cầu về tổ chức an toàn vệ sinh lao động cho lao động nữ, yêu cầu về đảm bảo danh dự, nhân phẩm cho lao động nữ… do vậy, việc theo dõi, giám sát từ phía cơ quan chức năng đối với NSDLĐ sẽ chặt chẽ hơn Trường hợp vi phạm những quy định của pháp luật, thì tùy vào mức độ vi phạm, NSDLĐ sẽ phải chịu hình thức xử phạt, mức xử phạt phù hợp Hình thức xử phạt thường áp dụng là cảnh cáo hoặc phạt tiền Tuy nhiên, hình thức phạt tiền sẽ có tác dụng hơn đối với những sai phạm của doanh nghiệp bởi chỉ khi chịu đòn về kinh tế, doanh nghiệp mới có thể tích cực sửa chữa những vi phạm của mình
Trang 35* Biện pháp giải quyết tranh chấp
Khi một trong hai bên trong quan hệ lao động không tìm được tiếng nói chung dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi và trách nhiệm, tranh chấp lao động có thể sẽ xảy ra Chẳng hạn lao động nữ có nhu cầu được tăng lương, giảm giờ làm nhưng không được NSDLĐ đáp ứng sẽ tạo tiền đề cho tranh chấp lao động xảy ra Tranh chấp lao động có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau, như: Thương lượng (các bên tự đàm phán giải quyết với nhau không cần có người thứ ba); Hòa giải (có sự tham gia của người thứ ba); Trọng tài (Hội đồng trọng tài có thẩm quyền ra phán quyết); Xét xử (Tòa án) Cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp sẽ giải quyết tranh chấp lao động và xét xử tội phạm trong lĩnh vực lao động, vì lẽ đó, khi lao động nữ và tổ chức đại diện của họ xét thấy quyền lợi của mình bị vi phạm thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp để đảm bảo quyền lợi cho mình
Có hai loại tranh chấp lao động: Tranh chấp lao động tập thể và tranh chấp lao động cá nhân Với mỗi loại tranh chấp lao động sẽ có trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tương ứng nhằm đảm bảo quyền của các chủ thể trong quan hệ lao động
Tranh chấp lao động đối với lao động nữ làm trong nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm sẽ xảy ra khi NSDLĐ không đáp ứng những yêu cầu về quyền con người trong pháp luật lao động Một số tranh chấp dễ xảy ra nhất đối với lao động nữ trong khu vực ngành nghề này là: tranh chấp lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tranh chấp lao động về việc làm; tranh chấp lao động về tiền lương và thu nhập
1.3 Bảo vệ quyền của lao động nữ trong các trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm theo kinh nghiệm một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam
Pháp luật nhiều nước trên thế giới đã quan tâm và có những quy định
Trang 36cụ thể để bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ nói chung và lao động nữ làm việc trong các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nói riêng
Về vấn đề việc làm, một số nước đưa ra những quy định cấm sử dụng lao động nữ làm việc trong môi trường, điều kiện khắc nghiệt gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, chức năng sinh lý của lao động nữ Pháp luật Malaixia
quy định “NSDLĐ không được phép thuê người lao động nữ làm các công
việc dưới lòng đất” [6, Điều 35] Còn tại Thái Lan, pháp luật quy định rõ:
Ông chủ bị nghiêm cấm cho phép lao động nữ làm các công việc, như: Công việc dưới hầm mỏ hoặc công việc xây dựng phải làm dưới mặt đất, dưới nước, trong hang, trong hầm hoặc trên núi, trừ trường hợp đặc thù công việc không gây hại tới sức khỏe hoặc cơ thể của lao động nữ; Công việc phải làm trên giàn giáo cao hơn mười mét; Sản xuất hoặc vận chuyển các chất dễ cháy nổ [6, Điều 38] Luật pháp của Brunei cũng quy định:
Không được tuyển dụng phụ nữ làm việc dưới mặt đất trong bất kỳ hầm mỏ nào ngoại trừ trong các trường hợp: Phụ nữ nắm giữ
vị trí quản lý, không thực hiện công việc chân tay; Phụ nữ làm việc trong ngành y tế hoặc dịch vụ phúc lợi; Phụ nữ đang trong quá trình nghiên cứu dành thời gian tập huấn trong một số khu vực dưới hầm mỏ; Vì bất kỳ lý do nào khác, phụ nữ có thể phải vào các khu hầm
mỏ không phải để lao động chân tay [6, Điều 38]
Đối với BLLĐ 2012 của Việt Nam, Nhà nước cũng quy định rõ những công việc không sử dụng lao động nữ:
1 Công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội chủ trì với Bộ Y tế ban hành; 2 Công việc phải ngâm mình thường xuyên dưới nước; 3 Công việc phải làm thường xuyên dưới hầm
Trang 37Tuy nhiên, bên cạnh đó, pháp luật một số nước trong khối ASEAN cũng không đề cập đến những công việc cấm sử dụng lao động nữ, như BLLĐ các nước Inđônêxia, Philippin, Campuchia… Điều này có thể suy luận rằng, lao động nữ tại các nước này có thể được tham gia vào bất kỳ loại hình công việc nào trong bất kỳ điều kiện, môi trường nào? Rõ ràng, việc cấm sử dụng lao động nữ trong một số công việc nặng nhọc, nguy hiểm là có ý nghĩa nhân văn nhất định Pháp luật đã dự liệu trước những tình huống xấu có thể xảy đến đối với đối tượng là lao động nữ Tuy nhiên, điều này cũng hạn chế quyền
tự do làm việc của lao động nữ Việt Nam cũng như một số quốc gia khác vẫn duy trì điều khoản cấm sử dụng lao động nữ Vậy nhìn sang các quốc gia không đặt ra vấn đề này, phải chăng họ đã mở rộng hết quyền lao động của nữ giới Điều này hoàn toàn có thể gợi mở cho Việt Nam trong vấn đề xây dựng pháp luật Thay vì quy định cấm sử dụng lao động nữ trong một số công việc, ngành nghề làm hạn chế quyền lao động của nữ giới, pháp luật sẽ hướng vào những điều khoản có lợi hơn cho lao động nữ khi tham gia vào những công việc này (chẳng hạn về mức lương, phụ cấp, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…) Bên cạnh đó cần thắt chặt những quy định về trách nhiệm của NSDLĐ về đảm bảo các điều kiện về vệ sinh an toàn lao động cho lao động
nữ trong những ngành nghề này
Một vấn đề khác thuộc nội dung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động nữ theo quy định một số nước cho thấy, đa phần các quốc gia trong khối ASEAN đều có quy định cấm NSDLĐ bố trí lao động nữ làm việc vào ban đêm Pháp luật lao động Inđônêxia ghi rõ:
1 Cấm thuê lao động nữ/lao động dưới 18 tuổi làm việc trong thời gian từ 11 giờ đêm đến 7 giờ sáng; 3 Doanh nghiệp sử dụng lao động nữ làm việc từ 11 giờ đêm đến 7 giờ sáng phải có nghĩa vụ cung cấp cho người lao động đầy đủ thực phẩm, nước
Trang 38uống dinh dưỡng và duy trì điều kiện thích hợp, đạo đức và an toàn tại nơi làm việc [6, Điều 76]
BLLĐ Philippin cũng quy định:
Không được tuyển dụng, cho phép hoặc thử thách phụ nữ, bất
kể tuổi nào vào làm việc, có phụ cấp hoặc không có phụ cấp trong bất kỳ cơ sở công nghiệp hoặc chi nhánh của nó từ 10 giờ đêm đến
06 giờ sáng ngày hôm sau [6, Điều 130]
Còn tại Malaixia, pháp luật cũng quy định cấm làm việc vào ban đêm đối với lao động nữ Theo đó:
NSDLĐ trong bất cứ ngành nào, nông nghiệp hay công nghiệp, không có quyền yêu cầu lao động nữ làm việc vào buổi tối, hoặc bắt đầu từ năm giờ sáng hoặc làm việc mà không có mười một giờ nghỉ ngơi liên tiếp [6, Điều 34]
Pháp luật Brunei cũng ghi nhận:
Không được tuyển dụng phụ nữ làm việc vào ban đêm trong bất kỳ công việc lao động nào “Đêm” là thời hạn tối thiểu 11 giờ liên tục bao gồm cả khoảng thời gian được quy định tối thiểu là 7 giờ liên tục từ 10 giờ đếm đến 7 giờ sáng [6, 75]
Riêng pháp luật Thái Lan vẫn cho phép NSDLĐ được bố trí lao động
nữ làm việc vào ban đêm nhưng:
Trường hợp ông chủ cho phép lao động nữ làm việc từ 22 giờ đêm đến 6 giờ sáng mà Thanh tra Lao động kết luận công việc đó nguy hiểm đến sức khỏe và an toàn của người lao động đó, Thanh tra lao động sẽ báo cáo Vụ trưởng hoặc người được Vụ trưởng ủy quyền để xem xét và ban hành lệnh yêu cầu ông chủ thay đổi giờ làm việc hoặc giảm giờ làm việc cho phù hợp và ông chủ phải tuân thủ lệnh đã ban hành [6, Phần 40]
Trang 39Việc đưa ra quy định cấm làm việc ban đêm đối với lao động nữ là một nội dung có ý nghĩa hết sức nhân văn Với đặc điểm về cơ thể, tâm sinh lý, nhu cầu được nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động của lao động nữ có xu hướng cao hơn nam giới Mặt khác, nữ giới cũng dễ trở thành nạn nhân của sự xâm phạm hoặc những tai nạn rủi ro hơn Chính vì vậy, đa phần các nước ASEAN đều
có quy định chặt chẽ về thời gian làm việc vào ban đêm đối với lao động nữ Tuy nhiên, trong một số trường hợp ngoại lệ, luật lao động Philippin cho phép NSDLĐ được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, như: tình trạng khẩn cấp thực tế sắp xảy ra do tai nạn, bão lụt, động đất, dịch bệnh hoặc các tai họa khác cần ngăn ngừa để tránh mất mát về tính mạng, tài sản hoặc trong trường hợp lao động nữ giữ chức vụ chịu trách nhiệm về mặt quản lý, kỹ thuật hoặc khi lao động nữ trực tiếp tham gia cung cấp các dịch vụ y tế và phúc lợi Luật Brunei cũng quy định trường hợp khẩn cấp không thể kiểm soát hoặc dự kiến được hoặc công việc liên quan đến nguyên liệu hoặc vật liệu trong quá trình xử lý có thể nhanh bị hỏng, cần phải giữ cho các vật liệu đó không bị hư hỏng thì NSDLĐ mới được phép bố trí lao động nữ
Pháp luật Việt Nam quy định NSDLĐ không được sử dụng lao động nữ làm việc ban ban đêm trong trường hợp NLĐ mang thai từ tháng thứ 07 hoặc tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
và lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi Đối với lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm đương nhiên vẫn phải thực
hiện công việc vào ban đêm và “Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ
đến 6 giờ sáng ngày hôm sau” [23, Điều 105] Trong sự so sánh với các nước
trong khu vực, rõ ràng Việt Nam có thể học tập nội dung hết sức nhân văn này Bởi thời gian ban đêm là lúc cơ thể cần nghỉ ngơi nhất để có thể phục hồi
và tái tạo sức lao động sau một ngày làm việc, đồng thời, mọi điều kiện đảm bảo an toàn đối với lao động nữ sẽ có những hạn chế nhất định khi về đêm
Trang 40Nhƣ vậy về vấn đề thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động nữ, đặc biệt là lao động nữ làm trong các ngành nghề, công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, pháp luật nên có sự sửa đổi để phù hợp với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới