1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng pháp luật về hộ tịch qua thực tiễn quận hoàn kiếm thành phố hà nội

130 864 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch của chính quyền các cấp, nhất là trong việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HUỆ

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH – QUA THỰC TIỄN

QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HUỆ

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH – QUA THỰC TIỄN

QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ DUYÊN THẢO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Huệ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 8

1.1 Khái quát về hộ tịch và pháp luật về hộ tịch 8

1.1.1 Khái quát về hộ tịch 8

1.1.2 Pháp luật về hộ tịch 10

1.2 Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật về hộ tịch 15

1.2.1 Khái niệm 15

1.2.2 Đặc điểm 19

1.3 Nguyên tắc áp dụng pháp luật về hộ tịch 24

1.4 Chủ thể, trường hợp áp dụng pháp luật về hộ tịch 26

1.4.1 Chủ thể áp dụng pháp luật về hộ tịch 26

1.4.2 Các trường hợp áp dụng pháp luật về hộ tịch 28

1.5 Quy trình áp dụng pháp luật về hộ tịch 39

1.6 Hiệu quả áp dụng pháp luật về hộ tịch 43

1.6.1 Tiêu chí đánh giá hiệu quả ADPL về hộ tịch 43

1.6.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng pháp luật về hộ tịch 47

1.7 Kinh nghiệm áp dụng pháp luật về hộ tịch 50

1.7.1 Kinh nghiệm ADPL một số nước trên thế giới 50

1.7.2 Đánh giá hoạt động ADPL về hộ tịch ở các quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho hoạt động ADPL về hộ tịch ở Việt Nam 55

Kết luận chương 1 58

Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀN KIẾM 60

2.1 Các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Hoàn Kiếm tác động đến hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch tại Quận 60

2.1.1 Điều kiện tự nhiên quận Hoàn Kiếm 60

2.1.2 Điều kiện kinh tế quận Hoàn Kiếm 61

Trang 5

2.1.3 Điều kiện Văn hoá, xã hội 61

2.2 Thực trạng các quy định pháp luật Quận Hoàn Kiếm ban hành trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch 63

2.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ tham mưu thực hiện công tác hộ tịch tại quận Hoàn Kiếm 65

2.4 Thực trạng công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện, bố trí cơ sở vật chất, giáo dục tuyên truyền phổ biến pháp luật và kiểm tra công tác hộ tịch 67

2.4.1 Về công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện 67

2.4.2 Việc bố trí điều kiện cơ sở vật chất và nguồn nhân lực làm công tác hộ tịch 67

2.4.3 Về việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 68

2.4.4 Về kiểm tra công tác hộ tịch 68

2.5 Thực trạng triển khai các hoạt động ADPL về hộ tịch cụ thể tại quận Hoàn Kiếm 69

2.5.1 Hoạt động ADPL về hộ tịch tại UBND cấp phường 70

2.5.2 ADPL về hộ tịch tại UBND quận 86

2.6 Đánh giá thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch tại quận Hoàn Kiếm 91

2.6.1 Thành tựu 91

2.6.2 Hạn chế và nguyên nhân 93

Kết luận chương 2 99

Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 101

3.1 Những yêu cầu khách quan đảm bảo áp dụng pháp luật về hộ tịch trong giai đoạn mới 101

3.1.1 Nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch phải đảm bảo sự khoa học trong quá trình quản lý, giản tiện các thủ tục cho người dân 101

3.1.2 Nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch phải đặt trong mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, đảm bảo và bảo vệ quyền con người 102

Trang 6

3.1.3 Nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch phải trên

cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm trong việc quản lý hộ tịch của các quận điển hình và kinh nghiệm quản lý công dân ở các nước tiên tiến

trên thế giới 103

3.2 Giải pháp chung đảm bảo và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hộ tịch 104

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hộ tịch 104

3.2.2 Giải pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật 106

3.2.3 Cải tiến phương thức đăng ký hộ tịch 107

3.2.4 Giải pháp kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch 108

3.2.5 Giải pháp tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí, trang thiết bị 110

3.3 Giải pháp đảm bảo và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hộ tịch ở Quận Hoàn Kiếm 111

3.3.1 Nâng cao năng lực bộ máy đăng ký, quản lý hộ tịch tại quận (đặc biệt tại UBND các phường) 111

3.3.2 Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch 113

3.3.3 Tăng cường trách nhiệm, nâng cao trình độ kỹ năng quản lý của đội ngũ công chức quản lý hộ tịch tại quận 114

3.3.4 Cải cách thủ tục hành chính, đổi mới hình thức, phương pháp trong quá trình áp dụng pháp luật về hộ tịch ở quận Hoàn Kiếm 115

3.3.5 Tăng cường phối hợp các cơ quan, tổ chức trong quá trình áp dụng pháp luật về hộ tịch 116

3.3.6 Đẩy mạnh công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý trách nhiệm pháp lý cá nhân trong quá trình thực hiện áp dụng pháp luật về hộ tịch tại quận 116

Kết luận chương 3 118

KẾT LUẬN 119

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

PHỤ LỤC 122

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

Hộ tịch là một trong những vấn đề trung tâm của công tác quản lý nhà nước

về dân cư Những sự kiện hộ tịch luôn diễn ra hàng ngày, hàng giờ, gắn liền với đời sống của người dân đòi hỏi phải được pháp luật công nhận và đăng ký kịp thời Đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của chính quyền các cấp Thông qua đăng ký và cấp phát giấy tờ hộ tịch sẽ tạo tiền đề pháp lý để công dân chứng minh về nhân thân khi hưởng quyền và làm nghĩa vụ, thực hiện các thủ tục hành chính, tham gia giao dịch theo quy định pháp luật Đồng thời, thông qua hoạt động này, cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người được xác lập, cũng như có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước

Trong bối cảnh hiện nay đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước diễn ra ngày càng sâu rộng, việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, quyền con người và quyền công dân đòi hỏi được ghi nhận và bảo đảm thực hiện ở mức cao hơn Vì vậy không những đòi hỏi hệ thống pháp luật về hộ tịch ngày càng phải hoàn thiện mà hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch tại các cơ quan nhà nước phải vừa kịp thời, đẩy

đủ, chính xác, vừa đảm bảo tính dân chủ và đáp ứng được nhu cầu của người dân

Để tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch của chính quyền các cấp, nhất là trong việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều quy định mới đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, một loạt văn bản mới có tính nguyên tắc liên quan đến công tác

hộ tịch được ban hành như: Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2015, Luật Nuôi con nuôi

2010, Luật Hôn nhân và gia đình 2013, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đặc biệt là sự ra đời của Luật Hộ tịch điều chỉnh trực tiếp về vấn đề hộ tịch là bước căn bản hoàn thiện pháp luật về hộ tịch theo hướng từng bước chuyên nghiệp, hiện đại, bảo đảm một cách thuận lợi cho người dân thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký

hộ tịch theo quy định của Bộ luật Dân sự, các luật chuyên ngành khác, góp phần tăng cường quản lý dân cư trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

Trang 9

Mặc dù pháp luật về hộ tịch hộ tịch đã có sự vận động tích cực trong những năm gần đây nhưng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch để đảm bảo cho các sự kiện hộ tịch của công dân được đăng ký kịp thời, đầy đủ, chính xác, đúng quy định vẫn là mục tiêu đầy khó khăn đặt ra đối với các chính quyền các cấp Nguyên nhân

do những quy định của pháp luật còn sơ sài, chưa bám sát thực tiễn, còn nhiều kẽ hở gây khó khăn cho người dân cũng như cho chính cán bộ khi thừa hành trong việc áp dụng pháp luật Trong quá trình áp dụng pháp luật về hộ tịch của chính quyền các cấp cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp

và cải cách hành chính trong giai đoạn mới, như: chất lượng công tác đăng ký hộ tịch chưa cao, vẫn còn nhiều sai sót, có việc gây bức xúc, nhất là tình trạng lợi dụng đăng ký hộ tịch nhằm động cơ vụ lợi, hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước có dấu hiệu gia tăng; công tác cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa giấy tờ hộ tịch tuy

đã được quan tâm nhưng vẫn chưa thực sự tạo thuận lợi cho người dân trong giải quyết các yêu cầu hộ tịch; phương thức đăng ký hộ tịch còn mang tính thủ công; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch còn chưa đồng đều, trình

độ năng lực của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch chưa đáp ứng được yêu cầu… Những hạn chế, yếu kém trên đã ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền nhân thân cơ bản của cá nhân và quyền con người cũng như hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch

Quận Hoàn Kiếm là một quận lớn, trọng điểm thuộc thành phố Hà Nội, có vị thế đặc biệt về vị trí địa lý và chính trị, văn hóa, xã hội Đây là một quận tập trung của các khu phố cổ với mật đô dân cư đông đúc, hơn 84.000 nghìn người/km, thuộc loại cao nhất thế giới Quận cũng là nơi tập trung của các khu thương mại, du lịch, dịch vụ lớn như Chợ Đồng Xuân, Hàng Da, Hàng Bè,… nên thu hút ngày càng nhiều dân cư tại các vùng miền đến lập nghiệp, lập cư làm ăn, khách du lịch trong

đó có rất nhiều đối tượng là người nước ngoài… làm cho nhu cầu đăng ký hộ tịch trong những năm gần đây tăng lên nhanh chóng

Với nhận thức đúng về vị trí, vai trò quan trọng của công tác hộ tịch đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tại quận, đặt trong sự tác động của việc hội nhập quốc

tế toàn diện của đất nước, Quận ủy, HĐND, UBND quận Hoàn Kiếm luôn quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo và điều hành công tác hộ tịch một cách sâu sát, nhất là việc triển khai

Trang 10

thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch Hoạt động áp dụng pháp luật về

hộ tịch của các cơ quan có thẩm quyền tại quận trong thời gian qua đã góp phần đáp ứng yêu cầu chính đáng, thiết thực của công dân Thông qua hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tại quận, đã góp góp phần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về dân cư chính xác, phục vụ đắc lực cho công tác hoạch định, xây dựng các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội tại Quận.… Đồng thời, qua thực tiễn áp dụng pháp luật về hộ tịch tại Quận cũng sẽ phát hiện ra những thiếu sót trong các quy định của pháp luật để từ đó có những đề xuất sửa đổi pháp luật cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong từng giai đoạn cụ thể

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được trong thời gian qua, vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc cũng như hạn chế trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh công tác hộ tịch vào thực tiễn Những hạn chế này vừa làm giảm hiệu quả

áp dụng pháp luật về hộ tịch, vừa ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân tại quận Hoàn Kiếm

Ở góc độ lý luận, hiện đã có những công trình khoa học nghiên cứu về các khía cạnh nhất định của công tác hộ tịch, nhưng cho đến nay, ở phạm vi đơn vị hành chính cụ thể là quận Hoàn Kiếm, thì chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về vấn đề áp dụng pháp luật về hộ tịch ở Quận này Thực tế đó đã góp phần tạo nên sự khuyết thiếu về mặt lý luận cho việc tăng cường chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch tại Quận

Xuất phát từ những lý do trên, cùng với mong muốn góp phần làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật về hộ tịch tại quận Hoàn Kiếm, qua đó có thể đưa ra những giải pháp, góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc nâng cao hiệu quả áp dụng

pháp luật về hộ tịch tại Quận, em đã lựa chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật về hộ tịch

- qua thực tiễn quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Có thể nói hộ tịch là một lĩnh vực quan trọng đòi hỏi nhà quản lý phải có tầm hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn và cần thiết hơn đó là sự thông thạo về đặc điểm dân cư, truyền thống, tập quán, văn hóa, trình độ phát triển của địa phương Có như vậy nhà quản lý mới áp dụng một cách linh hoạt pháp luật của nhà nước, từ đó đưa

ra các quyết định đúng, phù hợp, mang lại hiệu quả cao

Trang 11

Lĩnh vực hộ tịch không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà lãnh đạo mà còn

là vấn đề quan tâm của các nhà khoa học, nhà quản lý Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí đề cập đến hộ tịch và các chính sách về hộ tịch trong thời gian qua:

- Bài “Cơ quan nhà nước cần tôn trọng quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư

pháp của công dân”, tác giả Vũ Đình Tuấn Phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,

tháng 6 năm 2005;

- Bài “Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch”, tác giả Phạm

Trọng Cường, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2006;

- Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch trong giai

đoạn hiện nay”, Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9

năm 2006; 6 Số chuyên đề về “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch”, phần 2 hộ tịch và

quốc tịch, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007;

- “Hướng dẫn nghiệp vụ quản lý và đăng ký hộ tịch” của Bộ Tư pháp, Nhà

xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2007;

- Bài “Tư pháp Hà Nội không vì khó khăn mà từ chối đăng ký khai sinh”, tác

giả Đàm Thị Kim Hạnh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 3 năm 2008;

Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn:

- Phạm Hồng Hoàn, “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, huyện Đan

Phượng, thành phố Hà Nội” (luận văn cao học) năm 2011;

- Nguyễn Thị Chính, “Quản lý nhà nước về hộ tịch của Ủy ban nhân dân

phường ở quận Đống Đa, thành phố Hà Nội” luận văn cao học năm 2013;

- Nguyễn Thúy Hằng, “Quản lý nhà nước về Tư pháp của Ủy ban nhân dân

phường ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” (luận văn cao học) năm 2014;

- Nguyễn Tiến Tài, “Áp dụng pháp luật về hộ tịch ở cơ sở, thông qua thực

tiễn địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội”, luận văn cao học năm 2014

Các công trình khoa học kể trên đã nghiên cứu về nhiều khía cạnh: khái niệm, lịch sử quản lý hộ tịch, các sự kiện, phương thức quản lý và đăng ký hộ tịch… Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đề cập đến hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch tại quận Hoàn Kiếm

Trang 12

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận về lịch sử Nhà nước và Pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

- Lý luận chung về áp dụng pháp luật, về hộ tịch; những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật về hộ tịch quận Hoàn Kiếm, cụ thể tại các cơ quan hành chính là UBND quận, UBND phường

- Phân tích một cách khái quát hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch như là cơ sở để từ đó phân tích chuyên sâu thực trạng áp dụng pháp luật về hộ tịch tại các cơ quan hành chính là UBND quận, phường tại quận Hoàn Kiếm, trong đó nhấn mạnh thực trạng, nguyên nhân, hạn chế, tích cực của áp dụng pháp luật về hộ tịch

- Phân tích những quan điểm, định hướng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương trong việc áp dụng pháp luật về hộ tịch

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt lý luận: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận của áp dụng pháp luật về hộ tịch, trong đó nhấn mạnh đến áp dụng pháp luật về hộ tịch tại quận Hoàn Kiếm từ năm 2011 đến nay

Về mặt thực tiễn: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng, hiệu quả của công tác áp dụng pháp luật về hộ tịch tại đơn vị hành chính là quận (huyện) cụ thể

là tại các cơ quan hành chính thuộc quận Hoàn Kiếm gồm UBND quận và UBND phường nhằm nêu lên thực trạng, qua đó đưa ra các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước cũng như đề xuất, kiến nghị của bản thân nhằm nâng cao công tác

Trang 13

đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Quận ủy, UBND quận trong việc áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật về hộ tịch nói riêng

- Góp phần tạo dựng một cơ sở lý luận về hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch để hoàn thiện công tác này trong thực tiễn ở Hoàn Kiếm nói riêng, ở Việt Nam nói chung

4.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan, pháp luật thực định của Việt Nam về hộ tịch, áp dụng pháp luật về hộ tịch tại quận (huyện), tìm hiểu kinh nghiệm áp dụng pháp luật ở nước ngoài về hộ tịch

- Nghiên cứu, phân tích làm rõ thực trạng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch tại các cơ quan hành chính ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội từ năm 2011 đến năm 2015 Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế của hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch của các cơ quan hành chính tại quận Hoàn Kiếm và rút ra các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan của kết quả đạt được, hạn chế

- Nêu lên các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch của quận Hoàn Kiếm trong thời gian tới

5 Phương pháp và phương pháp luận của luận văn

Đề tài hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý nhà nước , về quyền con người, quyền

và nghĩa vụ công dân ; đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể: phương pháp hệ thống , logic và lịch sử , phân tích - tổng hợp, phương pháp

so sánh, điều tra xã hội học , phỏng vấn trong đó chú trọng phương pháp thu thập thông tin trực tiếp : quan sát, phỏng vấn, điều tra mẫu ; phương pháp thu thập thông tin gián tiếp: phân tích và tổng hợp số liệu thông tin từ sách , báo, từ mạng Internet,

từ báo cáo định kỳ của UBND quận và UBND các phường tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

- Chỉ ra một cách có hệ thống về pháp luật về hộ tịch và công tác áp dụng pháp luật về hộ tịch

Trang 14

- Làm rõ những nguyên nhân của những hạn chế trong công tác áp dụng pháp luật về hộ tịch của đội ngũ cơ quan có thẩm quyền, những cán bộ có trách nhiệm trong quá trình áp dụng pháp luật về hộ tịch tại quận Hoàn Kiếm

- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch, làm rõ những đặc thù hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch, quy trình áp dụng pháp luật trong giải quyết về hộ tịch cấp quận, huyện Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, nêu những giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo áp dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết sự kiện hộ tịch có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần đánh giá thực trạng công tác áp dụng pháp luật trong phạm vi cấp huyện thông qua thực tiễn tại quận Hoàn Kiếm từ

đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về hộ tịch và công tác áp dụng pháp luật về hộ tịch tại Việt Nam

Luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo đối với các nhà lãnh đạo, nhà hoạch định chính sách trong sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, sự thực hiện pháp luật của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật về hộ tịch

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về hộ tịch tại quận Hoàn Kiếm Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hộ tịch

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH

1.1 Khái quát về hộ tịch và pháp luật về hộ tịch

1.1.1 Khái quát về hộ tịch

Về khí cạnh ngôn ngữ, “Hộ tịch” là một từ ngoại lai gốc Hán được du nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt, rất khó xác định thời điểm xuất hiện Hộ tịch được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, “hộ” được hiểu là “dân sự” hoặc “nhà ở”, hiểu rộng ra

là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn cùng ở với nhau” “Tịch” có nghĩa là “sổ sách”, hay “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc” Tuy nhiên, khi kết hợp hai thành tố này lại với nhau lại cho ra những khái niệm “hộ tịch” khác nhau Các Từ điển Hán - Việt của nhiều tác giả khác nhau (Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Lân, Bửu Kế) đã giải nghĩa từ “hộ tịch” như sau:

Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp

và tịch quán của từng người [1, tr.384];

Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người [12, tr.404];

Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong

có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người [18, tr.296];

Hộ tịch: Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong

Trang 16

Như vậy, nghĩa của từ "hộ tịch" xét về góc độ ngôn ngữ còn tồn tại nhiều cách hiểu và diễn giải khác nhau, thậm chí có cuốn từ điển còn nhầm lẫn giữa hai khái niệm “hộ tịch” và “hộ khẩu”, nhưng tựu chung lại nghĩa của từ “hộ tịch” là việc đăng

ký với chính quyền các sự kiện sinh tử, kết hôn trong thời hạn quy định hay việc ghi chép các sự kiện sinh tử, kết hôn của chính quyền nhằm quản lý dân cư

Về khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của của Đại học Luật khoa Sài Gòn chế độ Việt Nam cộng hòa Trong đó nổi lên một số tác giả sau:

Tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân: “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên

hệ đến các người trong nhà Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử” [14, tr.111]

Nghĩa về từ “hộ tịch” trong hệ thống pháp luật hiện hành được duy trì từ

Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch Theo đó, “Hộ

tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”

Điều 1, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 (Nghị định này thay thế

cho Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998) quy định: “Hộ tịch là những sự kiện

cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”

Nếu theo quan niệm cũ trước đây, hộ tịch chủ yếu bao gồm các sự kiện về sinh, tử, kết hôn thì theo quy định Nghị định số 158/2005/NĐ-CP tại Hộ tịch bao gồm 09 sự kiện cơ bản như: sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha,

mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc, Các sự kiện hộ tịch được xem là các sự kiện cơ bản, bởi các sự kiện này có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân

Để làm rõ nội hàm, là cơ sở để xác định phạm vi đăng ký hộ tịch, Luật Hộ tịch năm 2014 đã giải thích và làm rõ khái niệm hộ tịch, đăng ký hộ tịch và các vấn

đề có liên quan:

* Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết (Khoản 1 Điều 2)

Trang 17

* Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư

lý hộ tịch (trong nước); Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, ngày 10 tháng 7 năm 2002 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày

21 tháng 7 năm 2006 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 68/2002/NĐ-CP Các văn bản này hợp thành hệ thống chế định hộ tịch gồm hàng trăm điều quy định về thẩm quyền, thủ tục, trình tự đăng ký hộ tịch, quản lý nhà nước về hộ tịch, cấp bản sao các giấy tờ về hộ tịch…;

Ở nước ta, vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch được xuất hiện từ thời phong kiến nhà Lê, nhà Trần nhằm đáp ứng các yêu cầu về thuế (sưu), binh lính, phu phen, tạp dịch, củng cố tiềm lực quốc phòng và đảm bảo trật tự an toàn xã hội Dưới thời Pháp thuộc, với bản chất thống trị và nô dịch, thực dân Pháp xây dựng hộ tịch nhằm phục vụ cho việc cai trị thuộc địa, chủ yếu đảm bảo thực hiện việc binh dịch, thuế khóa vả đặc biệt qua hộ tịch tiến hành các biện pháp kiểm soát chặt chẽ dân tình để trấn áp lực lượng yêu nước đấu tranh giành độc lập Do đó, ngay từ rất sớm hộ tịch

đã được xây dựng thành Luật khắp cả 3 miền: Bắc, Trung và Nam Tại miền Bắc, việc quản lý hộ tịch được thực hiện theo quy định từ Điều 18 đến Điều 48 của bộ Dân luật Bắc kỳ ngày 30/3/1931 Tại miền Trung việc quản lý hộ tịch được thực hiện theo quy định từ Điều 18 đến Điều 50 bộ Hoàng Việt Trung Hộ Luật do triều đình nhà Nguyễn ban hành ngày 13/7/1936 Tại miền Nam là Sắc lệnh ngày 03/10/1883, quy định việc lập sổ hộ tịch cho người Việt Nam, Sắc lệnh này được duy trì trong một

Trang 18

thời gian dài, chỉ được sửa đổi hai lần bởi các Sắc lệnh ngày 10/02/1893 và Sắc lệnh ngày 23/7/1931

Các quy định về hộ tịch của chế độ thuộc địa và tay sai tuy khá hoàn thiện, nhưng trong thực tiễn việc áp dụng không được như mong muốn của họ Do nhiều nguyên nhân, trước hết là do bản chất của chế độ, việc đăng ký và quản lý hộ tịch không nhằm mục đích phục vụ nhân dân mà để thống trị; Đa số người dân chưa thấy được quyền lợi từ việc thực hiện hộ tịch, đã phải gánh chịu nhiều nghĩa vụ từ những quy định hà khắc, không phù hợp với hoàn cảnh điều kiện sống của mình trong giai đoạn đó Chủ trương của những người kháng chiến yêu nước, của cách mạng giải phóng dân tộc là bằng mọi cách phải lũng đoạn sự quản lý thống trị của thực dân xâm lược và của bộ máy tay sai vốn sẵn quan liêu, thi hành một cách máy móc Vấn đề khác mang tính đặc thù, xuyên suốt không thể không đề cập đến, đó là chiến tranh ác liệt đã làm hạn chế không ít việc đăng ký và quản lý hộ tịch của các chế độ trước đây

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, sự điều chỉnh pháp luâ ̣t trong lĩnh vực

hô ̣ ti ̣ch của Nhà nước ta được đánh dấu bằng bản Điều lê ̣ đăng ký hô ̣ ti ̣ch đầu tiên đươ ̣c ban hành kèm theo Nghi ̣ đi ̣nh số 764/TTg ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ Bản điều lệ này bao gồm 34 điều quy đi ̣nh các vấn đề cơ bản về viê ̣c đăng ký khai sinh; đăng ký kết hôn; đăng ký khai tử; viê ̣c ghi chú và thay đổi về hô ̣ ti ̣ch; viê ̣c công nhâ ̣n và đăng ký hô ̣ ti ̣ch đối với ngoa ̣i kiều và Viê ̣t kiều về cư trú ở trong nước Bản điều lệ đăng ký hộ tịch năm 1956 thi hành được năm năm thì bi ̣ bãi bỏ và thay thế bằng bản Điều lê ̣ đăng ký hộ tịch ngày 16/01/1961 ban hành kèm theo Nghi ̣ đi ̣nh số 04/CP của Hô ̣i đồng Chính phủ Bản điều lệ đăng ký hộ tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/1961 và hiệu lực của nó được duy trì trong suốt gần 40 năm sau, cho đến khi bi ̣ thay thế bởi Nghi ̣ đi ̣nh số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch Hôn nhân có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi Nghi ̣

đi ̣nh số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và

gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Tuy nhiên, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP vẫn còn những hạn chế nhất định, trong đó chưa giải quyết thông thoáng được về thủ tục, phân cấp đăng ký và quản

lý, biểu mẫu hộ tịch chưa hợp lý Nghị định số 83/1998/NĐ-CP vẫn còn quy định rườm rà vả bất hợp lý, trái với Hiến pháp (quyền cơ bản của công dân), trái với một

Trang 19

số đạo luật khác (quyền nhân thân: con sinh ra là phải đăng ký khai sinh); Ví dụ tại Điều 19 khoản 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP quy định "Nếu có đủ các giấy tờ hợp

lệ thì Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp ngay một bản chính giấy khai sinh " Lật ngược lại vấn đề nếu không có đủ các giấy tờ hợp lệ, đương nhiên sẽ không được ký

và cấp giấy khai sinh, trái với quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 về quyền được khai sinh Nhân sự thực hiện hộ tịch thiếu ổn định, không có chức danh chuyên trách như hộ lại hay uỷ viên hộ tịch

Sau bảy năm thi hành Nghi ̣ đi ̣nh số 83/1998/NĐ-CP, ngày 27/12/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hô ̣ ti ̣ch thay thế văn bản này , đồng thời Nghi ̣ đi ̣nh số 68/2002/NĐ-CP cũng được sửa đổi và bổ sung bởi Nghi ̣ đi ̣nh số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006

Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định về thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch; quyền và nghĩa vụ của cá nhân; thống kê hộ tịch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quan lý nhà nước về hộ tịch

Về thẩm quyền đăng ký hộ tịch: xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo

nơi cư trú Thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo nơi cư trú được xác định như sau: Đối

với công dân Việt Nam ở trong nước, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký hộ khẩu thường trú; nếu không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu; Đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký thường trú; nếu không có nơi đăng ký thường trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký tạm trú Theo đó, đăng ký hộ tịch được thực hiện tại

03 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã UBND cấp tỉnh thực hiện việc đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp giúp thực hiện đăng ký việc khai sinh, khai tử, giám hộ có yếu tố nước ngoài; đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch; bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ

hộ tịch; cấp lại bản chính Giấy khai sinh cho người nước ngoài và người Việt Nam định cư tại nước ngoài trong trường hợp trước đây họ đã đăng ký hộ tịch tại Việt Nam UBND cấp huyện thực hiện đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính và bổ sung hộ

Trang 20

tịch, điều chỉnh hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi; cấp lại bản chính Giấy khai sinh, cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch UBND cấp xã thực hiện đăng ký việc khai sinh; kết hôn; khai tử; nhận nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước (bao gồm cả trường hợp đăng ký khai sinh cho con của người nước ngoài cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam và con của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài)

Về thủ tục đăng ký hộ tịch: Theo Nghi ̣ định số 158/2005/NĐ-CP quy đi ̣nh về đăng ký và quản lý hô ̣ ti ̣ch và Nghi ̣ đi ̣nh số 06/2012/NĐ-CP sửa đổi bổ sung mô ̣t số điều của các nghi ̣ đi ̣nh về hô ̣ ti ̣ch , hôn nhân và gia đình và chứng thực thì : Viê ̣c nô ̣p hồ sơ đươ ̣c thực hiê ̣n trực tiếp hoă ̣c qua đường bưu điê ̣n

Về trình tự đăng ký hộ tịch: Về trình tự thủ tục đăng ký hộ tịch tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho cá nhân khi có yêu cầu đăng ký các sự kiện hộ tịch của bản thân, của người thân và của người khác khi được ủy quyền, như: khi người có yêu cầu đăng ký hộ tịch (trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký việc nuôi con nuôi, đăng ký giám hộ, đăng ký việc nhận cha, mẹ, con) hoặc yêu cầu cấp các giấy tờ về

hộ tịch mà không có điều kiện trực tiếp đến cơ quan đăng ký hộ tịch, thì có thể uỷ quyền bằng văn bản cho người khác làm thay, nếu người được uỷ quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người uỷ quyền, thì không cần phải

có văn bản uỷ quyền

Về vấn đề quản lý nhà nước về hộ tịch: theo quy định được giao cho 04 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã Cấp trung ương: Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch trong phạm vi cả nước Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài Cấp tỉnh: UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trong địa phương mình Sở Tư pháp giúp UBND cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch và thực hiện đăng ký các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp Cấp huyện: UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trong địa phương mình Phòng Tư pháp giúp UBND cấp huyện

thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch trong phạm vi

địa phương Cấp xã: UBND cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trong địa

Trang 21

phương mình Công chức Tư pháp - Hộ tịch có trách nhiệm giúp UBND cấp xã thực hiện quản lý Nhà nước về hộ tịch

Nhìn chung Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch, khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân tự giác thực hiện việc đăng ký hộ tịch; đảm bảo quyền, nghĩa vụ của công dân liên quan đến hộ tịch; đảm bảo xác nhận tất cả các sự kiện hộ tịch liên quan đến công dân, đáp ứng được nhu cầu của công dân liên quan đến hộ tịch của mình và những người có liên quan góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch và bảo đảm thực hiện đồng bộ, thống nhất, đúng, đầy đủ các quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn tỉnh nói riêng, cả nước nói chung

Từ Nghị định số 04/CP ban hành ngày 16/01/1961 đến Nghị định số

158/NĐ-CP ngày 27/12/2005 đều đã thể hiện quan điểm, mục đích và những quy định cụ thể của Nhà nước về hộ tịch Tuy nhiên, có thể thấy do nhiều nguyên nhân và hoàn cành lịch sử cụ thể nên việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hộ tịch gần như không có sự biến chuyển đáng kể , để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đời sống xã

hô ̣i Lĩnh vực hộ tịch chưa được điều chỉnh ở tầm văn bản luật, nên tính ổn định thấp, hiệu lực thi hành còn hạn chế Những quy định của pháp luật quy định trong Nghị định 158/2005/NĐ-CP chưa bám sát thực tiễn hoàn toàn, còn bộc lộ nhiều kẽ

hở, quy định giản đơn, sơ sài, không thống nhất gây phiền hà cho người dân và cho cán bộ, công chức khi thừa hành, áp dụng pháp luật

Nhằm khắc phục những điểm hạn chế trên, nhất là trong bối cảnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều quy định mới đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác này theo hướng từng bước chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, Luật Hộ tịch đã được ban hành Đây cũng là chủ trương đã được xác định tại Nghị quyết số 718/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 Đây là bước hoàn thiện khá căn bản về thể chế nhằm tạo cơ sở cho hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch của chính quyền các cấp

Trang 22

1.2 Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật về hộ tịch

1.2.1 Khái niệm

Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các quy tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân lao động, do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận), có tính bắt buộc chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện trên cớ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế, thu hút sự tham gia tích cực của toàn xã hội vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Pháp luật chỉ có ý nghĩa thực sự khi các quy định của pháp luật được thực hiện trên thực tế Chỉ khi pháp luật được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, triệt để, sâu rộng trong đời sống xã hội thì mới đảm bảo được quyền lợi chính đáng của công dân, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, duy trì được trật tự xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích, làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật 16, tr.14] Căn cứ vào tính chất của các hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã phân chia thực hiện pháp luật thành những hình thức cụ thể như: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và ADPL

Trong các hình thức thực hiện pháp luật thì áp dụng pháp luật là một hình thức quan trọng, có tính đặc thù bởi nó chứa đựng những yếu tố bảo đảm cho những quy phạm pháp luật được thực hiện trong đời sống thực tế Nếu chỉ thông qua các hình thức như tuân thủ thi hành và sử dụng pháp luật mà không có áp dụng pháp luật thì nhiều quy phạm pháp luật không được thực hiện hoặc thực hiện không chính xác, không đầy đủ và nghiêm minh đảm bảo cho quan hệ pháp luật đi vào đời sống góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Nếu như tuân thủ và chấp hành và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể đều có thể thực hiện, thì áp dụng pháp luật luôn có sự tham gia của nhà nước, là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì việc áp dụng pháp luật không thể tùy tiện của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền mà phải là các hoạt động, các hành vi áp dụng pháp luật được pháp luật quy định bằng các hình

Trang 23

thức, cách thức cụ thể, theo nguyên tắc: “cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền chỉ được làm những gì mà pháp luật quy định”

Theo Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của trường đại học Luật Hà Nội và giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật Đại học

Quốc gia Hà Nội thì: ADPL là hoạt động có tính tổ chức quyền lực nhà nước, do

các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá biệt hóa các quy định của pháp luật hiện hành vào những trường hợp

cụ thể, đối với những cá nhân, tổ chức cụ thể”

Qua phân tích khái niệm nói trên, về cơ bản, ADPL có các đặc điểm sau:

- ADPL là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực Nhà nước

Nhà nước ban hành pháp luật và đảm bảo pháp luật được thực hiện trên thực tế; áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền nhân danh quyền lực nhà nước để thực thi Nhờ có sự đảm bảo của nhà nước nên pháp luật mới có sức mạnh bắt buộc đối với mọi chủ thể có liên quan Tính quyền lực thể hiện ở những điểm sau:

+ Áp dụng pháp luật chỉ được tiến hành bởi cơ quan nhà nước, các tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Không phải ai cũng có quyền áp dụng pháp luật, mà chỉ có cơ quan nhà nước, cá nhân có thầm quyền Cũng là cơ quan nhà nước, nhưng không có thẩm quyền áp dụng pháp luật ở lĩnh vực đó cũng không được áp dụng pháp luật Ví dụ:

Bộ Giao thông vận tải là cơ quan nhà nước, có chức năng quản lý nhà nước, áp dụng pháp luật về lĩnh vực giao thông, vận tải trên phạm vi cả nước, nhưng không được áp dụng pháp luật ở lĩnh vực tài chính trên phạm vi cả nước, mà chỉ được áp dụng tài chính trong ngành giao thông vận tải Pháp luật quy định chặt chẽ về thẩm quyền, điều kiện áp dụng pháp luật theo từng lĩnh vực cũng như chế độ công vụ cụ thể để tránh tuỳ tiện hoặc vượt rào trên thực tế [9, tr.14]

+ Áp dụng pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước

Quá trình này có thể mang tính đơn phương của ý chí nhà nước, cũng có thể nhà nước thừa nhận ý chí của các chủ thể Xét về nội dung, áp dụng pháp luật phụ thuộc vào đặc điểm của các quan hệ xã hội có liên quan và các sự kiện pháp lý cụ thể trên thực tế [9, tr.14]

Trang 24

Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức rất cao Áp dụng pháp luật có tính tổ chức cao bởi vì nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật Hoạt động này phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy định Trình tự, thủ tục này thường khác nhau trong các trường hợp áp dụng pháp luật khác nhau tuỳ theo quy định cụ thể của pháp luật Chẳng hạn, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác với trình tự, thủ tục cấp đăng ký kết hôn hoặc khác với trình tự, thủ tục tuyển sinh đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp cho người học

Nói chung, các quyết định do các chủ thể có thẩm quyền ban hành ra trong quá trình áp dụng pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của người được áp dụng, nó có thể mang lại cho người ta lợi ích rất lớn (ví dụ, quyết định giao quyền

sử dụng đất, quyết định lên lương, quyết định công nhận tốt nghiệp ), song nó cũng có thể bắt người ta phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề (ví dụ, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bản án hình sự ) Do vậy, để đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của quá trình áp dụng pháp luật, hoạt động này không thể được tiến hành một cách tuỳ tiện mà phải theo những trình tự, thủ tục và trên cơ sở những điều kiện rất chặt chẽ do pháp luật quy định Đương nhiên, trình tự, thủ tục đó không thể như nhau trong tất cả các vụ việc mà nó sẽ khác nhau từ vụ việc này sang

vụ việc khác tuỳ theo tính chất của vụ việc Ví dụ, trình tự, thủ tục xem xét để cấp Đăng ký kết hôn sẽ khác với trình tự, thủ tục công nhận tốt nghiệp cho người học, càng khác với trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính [9, tr.15]

- Áp dụng pháp luật có điều kiện, quy trình, thủ tục được pháp luật quy định chặt chẽ Đó là quá trình đặc biệt của việc thực hiện pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật có giá trị trên thực tế, để tránh sự tuỳ tiện, hoạt động đó phải được quy định chặt chẽ về thủ tục, trình tự, thời gian cũng như hình thức; tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực mà có các trình tự, thủ tục, hình thức áp dụng pháp luật khác nhau, các quy định về thủ tục có thể là đầy đủ hoặc rút gọn theo quy định của pháp luật, không có một trình tự chung cho tất cả các lĩnh vực áp dụng pháp luật trên thực tế

- Áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, hoạt động này có thể là

cụ thể hoá quyền, nghĩa vụ hoặc cá biệt hoá chế tài quy phạm pháp luật [9, tr.16]

Trang 25

Về phía chủ thể, nhờ có áp dụng pháp luật mới xác định được giới hạn pháp lý cần thiết cả về nội dung của quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, cũng như trách nhiệm pháp

lý có liên quan khi tham gia quan hệ pháp luật, áp dụng pháp luật là hoạt động cần phải dược chi tiết hoá một cách chính xác, tỉ mỉ về những yêu cầu chung thành những yêu cầu sát thực với chính điều kiện mà quy phạm đó tồn tại

- Áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo cao của chủ thể có thẩm quyền Các chủ thể có thẩm quyền chủ động phân tích đánh giá các tình huống

có thể xảy ra để tìm kiếm khả năng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao nhất Tính sáng tạo trong quá trình áp dụng pháp luật đòi hỏi rất cao, không thụ động, máy móc, bởi nếu không sẽ không đảm bảo tính thời hiệu, thời hạn theo quy định của pháp luật đặt ra cho việc xử lý các vụ việc Sáng tạo chủ yếu là ở góc độ kỹ thuật, tổ chức, chứ không phải sáng tạo về mặt nội dung

- Kết quả của việc áp dụng pháp luật là ban hành các quyết định áp dụng pháp luật mang tính cá biệt Đó là các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính cá biệt của người có thẩm quyền để thực hiện các quy định của pháp luật

Pháp luật về hộ tịch là hệ thống các quy tắc, quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về hộ tịch, điều chỉnh hoạt động đăng ký hộ tịch và điều chỉnh quan hệ quản lý nhà nước về hộ tịch nhằm thực hiện công tác quản lý dân cư và quản lý các mặt kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh đồng thời tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ các quyền nhân thân phi tài sản và quyền quyền nhân thân gắn liền với tài sản của cá nhân

Trong những năm qua hệ thống pháp luật về hộ tịch đã ngày càng được củng

cố và hoàn thiện Tuy vậy, nếu chỉ dừng lại ở các quy phạm trong các văn bản pháp luật thì chưa có ý nghĩa lớn đối với đời sống xã hội Các quy định ấy phải được đưa vào áp dụng trong thực tiễn theo các quy trình khách quan, khoa học, hiện đại và hiệu quả để đảm bảo cho công tác đăng kí và quản lí hộ tịch ở nước ta ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật và lý luận về pháp luật, có thể khái luận về áp dụng pháp luật về hộ tịch như một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt do các cơ quan chuyên trách hay cá nhân có thẩm quyền - chủ thể có thẩm quyền nhằm đưa các quy định pháp luật hộ tịch vào cuộc sống

Trang 26

Như vậy, Áp dụng pháp luật về hộ tịch là hình thức đặc biệt của hoạt động

thực hiện pháp luật do các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong lĩnh vực hộ tịch căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành về hộ tịch để đưa pháp luật vào cuộc sống theo các quy trình, nội dung đặc biệt nhằm mục đích xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết

1.2.2 Đặc điểm

Áp dụng pháp luật về hộ tịch cũng có những đặc điểm chung như mọi hoạt động áp dụng pháp luật khác như đã trình bày ở các phần trên, tuy nhiên, ADPL về

hộ tịch còn mang những đặc điểm nhất định sau đây:

- ADPL về hộ tịch là hoạt động có căn cứ pháp lý là các quy định pháp luật

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định mang tính nguyên tắc về các quyền nhân thân của cá nhân, trong đó có một số quyền nhân thân đặc trưng trong quan hệ dân sự mang tính cá biệt hóa cá nhân liên quan đến hộ tịch như: quyền thay đổi họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử; quyền xác định lại giới tính; quyền đối với quốc tịch Cụ thể: Quyền đăng ký khai sinh, khai tử (Điều 30): Quyền xác định lại giới tính (Điều 36), Quy định về giám hộ, Quyền đối với họ, tên (các Điều 26, 27), Quyền xác định lại dân tộc (Điều 28) Quyền xác định lại giới tính (Điều 36)

Các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, trong đó Luật HN-GĐ có các

Trang 27

quy định có tính nguyên tắc về trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nghi thức trong đăng ký hộ tịch về hôn nhân và gia đình, pháp luật

về hộ tịch sẽ cụ thể hóa các quy định có tính nguyên tắc trên của Luật HN-GĐ, đồng thời quy định cụ thể về thủ tục đăng ký hộ tịch về hôn nhân và gia đình thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về hộ tịch Tuy nhiên khi áp dụng pháp luật, các quy định của pháp luật về hộ tịch được ưu tiên áp dụng, quy định có tính nguyên tắc của Luật HN-GĐ được áp dụng khi pháp luật về hộ tịch không có quy định

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi; thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ của cha

mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc nuôi con nuôi Việc ban hành Luật nuôi con nuôi còn tạo cơ sở pháp lý đồng bộ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các cặp vợ chồng trong nước mong muốn có con nuôi; bảo vệ quyền và lợi ích của cha mẹ nuôi, giúp họ ổn định tư tưởng và yên tâm trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con nuôi như con đẻ

Các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp trong lĩnh vực hộ tịch chính là cơ

sở pháp lý quan trọng cho hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch, bao gồm: Nghị định số 158/2005/NĐCP về đăng ký và quản lý hộ tịch; Nghị định số 06/2012/NĐ-

CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân, gia đình và chứng thực Thông tư số 01/2008/TT-BTP Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch Tất cả các văn bản trên là sự cụ thể hóa các quy định về trình tự, thủ tục đăng ký các việc hộ tịch đã được quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Nuôi con nuôi,… Trong các văn bản trên, Nghị định số 158/2005/NĐ-

CP của Chính phủ quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch, quy định về thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch; quyền và nghĩa vụ của cá nhân; thống kê hộ tịch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quan lý nhà nước về hộ tịch Những quy định nguyên tắc liên quan đến các quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình, ví dụ như quy định quyền kết hôn và các điều kiện kết hôn sẽ được quy định cụ thể về thẩm quyền, thủ tục đăng ký kết hôn trong Nghị định số 158/2005/NĐ-CP Hay các quy định về quyền dân sự của cá nhân như quyền được

Trang 28

đăng ký khai sinh, khai tử, quyền xác định lại giới tính, quyền được giám hộ, quyền đối với họ tên… sẽ được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký khai sinh, khai tử, thay đổi cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính; quyền nhận con nuôi trong Luật Nuôi con nuôi sẽ được xác nhận cụ thể thông qua thủ tục đăng ký nuôi con nuôi tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP … Có thể thấy, tất cả các văn bản trên đã tạo thành một hệ thống chế định gồm hàng trăm điều quy định về hộ tịch, làm cơ sở pháp

lý quan trọng cho hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch

- ADPL về hộ tịch là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể mang thẩm quyền của nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch

Chủ thể mang thẩm quyền chính là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm UBND tỉnh, huyện, xã và hệ thống cơ quan chuyên môn giúp việc cho Ủy ban nhân dân về vấn đề này (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp); cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài; đội ngũ công chức trực tiếp làm công tác hộ tịch

- ADPL về hộ tịch là hoạt động được tiến hành với những đối tượng áp dụng đặc thù là các đặc điểm nhân thân của mỗi cá nhân

Đó chính là các đặc điểm nhân thân về: ngày, tháng, năm sinh, dân tộc, quốc tịch, nới sinh, quê quán, quan hệ hôn nhân… Các đặc điểm nhân thân gắn với mỗi con người từ khi sinh ra đến khi chết, góp phần làm nên căn cước của mỗi cá nhân, giúp phân biệt cá nhân này với cá nhân khác trong xã hội Các đặc điểm nhân thân của mỗi cá nhân tạo ra những giá trị nhân thân - chính là những lợi ích phi vật chất gắn liền với mỗi cá nhân và về nguyên tắc không chuyển đổi được cho người khác

Do vậy pháp luật yêu cầu cụ thể về điều kiện chủ thể cho mỗi trường hợp ADPL về

hộ tịch Việc thực hiện các sự kiện hộ tịch phải do trực tiếp cá nhân người đó thực hiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (như khai sinh có thể do bố, mẹ đăng ký khai sinh; khai tử do người thân của người chết đăng ký khai tử)

- ADPL về hộ tịch là hoạt động nhằm hướng đến mục tiêu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân

Việc đăng ký hộ tịch đã tạo cơ sở pháp lý bảo đảm một số quyền nhân thân cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1992, (sau này là Hiến pháp sửa đổi năm 2013) và trong Chương III của Bộ luật Dân sự (như quyền đối với họ tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền được khai sinh, quyền kết hôn)

Trang 29

Đăng ký hộ tịch chính là phương diện để người dân thực hiện và hưởng thụ các quyền nhân thân đó Các dữ liệu về tình trạng nhân thân của mỗi cá nhân thể hiện trên các giấy tờ hộ tịch (giấy khai sinh, giấy chứng nhận, kết hôn, …) là sự khẳng định địa vị pháp lý của mỗi cá nhân, thể hiện khả năng, điều kiện tham gia vào các quan hệ pháp luật

Thông qua việc đăng ký khai sinh (khởi đầu việc đăng ký sự kiện hộ tịch của mỗi cá nhân) đã bảo đảm quyền được khai sinh, một trong những quyền quan trọng đầu tiên của trẻ em theo tuyên bố tại Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em:

"Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền ngay từ khi ra đời, có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình là ai và được chính cha mẹ mình chăm sóc"; tại Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam cũng khẳng định: "trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch" Tuy nhiên, quyền được khai sinh không phải là quyền riêng có của trẻ

em mà là quyền của bất cứ cá nhân nào; theo quy định của Bộ Luật Dân sự thì việc bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch cũng đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền nhân thân

cơ bản của mỗi cá nhân

Với mục tiêu quan trọng như vậy, việc Nhà nước tổ chức quản lý, đăng ký hộ tịch chính là sự bảo hộ đối với việc thực hiện các quyền con người Điều này chỉ có trong các xã hội mà nền dân chủ được mở rộng và phát huy, khi mà các giá trị quyền con người được Nhà nước tôn trọng và có trách nhiệm bảo hộ Nhìn vào lịch

sử có thể thấy, các triều đại phong kiến Việt Nam không tổ chức quản lý hộ tịch vì mối quan hệ giữa vương quyền (Vua) với các “thần dân” của mình về cơ bản là mối quan hệ một chiều, người dân chỉ có nghĩa vụ đối với triều đình Do đó, đối với Nhà nước phong kiến, việc tổ chức quản lý hộ tịch không được quan tâm

- ADPL về hộ tịch là hoạt động được tiến hành với các trường hợp áp dụng pháp luật khá đa dạng

Các trường hợp áp dụng pháp luật về hộ tịch khá đa dạng do do các sự kiện nhân thân của mỗi cá nhân là đa dạng: sinh, tử, kết hôn, nhận cha, mẹ, con, giám hộ, thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch Mỗi sự kiện nhân thân đó sẽ được Nhà nước công nhận và xác lập thông qua hoạt động đăng ký hộ tịch Các hoạt động

áp dụng pháp luật để đăng ký hộ tịch của cơ quan có thẩm quyền bao gồm: đăng ký

Trang 30

khai sinh, kết hôn, ly hôn, nhận nuôi con nuôi, giám hộ, nhận cha mẹ, con, khai tử, thay đổi, cải chính hộ tịch Tuy nhiên, do hoạt động đăng ký hộ tịch này độc quyền

do Nhà nước tiến hành và quản lý nên chỉ Nhà nước mới có thẩm quyền cấp lại những giấy tờ đăng ký hộ tịch này trong trường hợp cá nhân không còn lưu giữ Do vậy, áp dụng pháp luật về hộ tịch còn có trường hợp cấp lại bản chính giấy khai sinh, bảo sao giấy tờ hộ tịch từ Sổ hộ tịch cho công dân.khi có yêu cầu chính đáng Như vậy, các trường hợp áp dụng pháp luật về hộ tịch là đa dạng, với nhiều trường hợp áp dụng pháp luật khác nhau và mỗi một trường hợp pháp luật lại có những quy định áp dụng cụ thể riêng nên đòi hỏi cán bộ làm công tác hộ tịch phải nắm vững về từng trường hợp áp dụng pháp luật

- ADPL về hộ tịch là hoạt động ngoài việc tuân thủ quy trình áp dụng pháp luật chung, mỗi trường hợp ADPL lại có quy trình, thời hạn áp dụng cụ thể, riêng

Với mỗi vấn đề hộ tịch bao giờ cũng có một giấy tờ về vấn đề đó Đó là cơ

sở pháp lý chứng minh các quyền và nghĩa vụ của công dân phát sinh từ sự kiện hộ tịch Do tính chất quan trọng của các giấy tờ hộ tịch nên pháp luật có quy định rất chặt chẽ các quy trình, thời hạn đăng ký và cấp các loại giấy tờ về hộ tịch Tùy từng trường hợp đăng ký mà việc áp dụng pháp luật sẽ được thực hiện theo các thủ tục hành chính khác nhau: thủ tục đăng ký khai sinh, thủ tục đăng ký khai tử, thủ tục đăng ký giám hộ,… Thời gian quy định cho mỗi thủ tục đăng ký hộ tịch từ một đến năm ngày, tuy nhiên hầu hết các việc hộ tịch như đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, nếu đủ giấy tờ theo quy định sẽ giải quyết ngay trong ngày Ví dụ việc đăng

ký khai sinh được thực hiện ngay sau khi cán bộ Tư pháp- Hộ tịch kiểm tra các giấy

tờ hợp lệ của người đi đăng ký khai sinh mà không cần kéo dài thời gian trong vòng

03 ngày làm việc theo quy định của pháp luật Do đặc trưng của những sự kiện hộ tịch là luôn diễn ra hàng ngày, hàng giờ nên cần được chính quyền đăng ký kịp thời, giải quyết nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi cho công dân Tuy nhiên, đối với yêu cầu khác như thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch cán bộ Tư pháp - Hộ tịch không thể thực hiện ngay được bởi cần có quá trình thẩm định, xác minh hồ sơ, trước khi trình Chủ tịch ký quyết định cho phép thay đổi, cải chính cho công dân, tránh tình trạng dân lợi dụng việc cải chính hộ tịch để hợp thực hóa giấy tờ cá nhân hoặc vì mục đích khác

Trang 31

1.3 Nguyên tắc áp dụng pháp luật về hộ tịch

- Mọi sự kiện hộ tịch phải được đăng ký kịp thời, đầy đủ, chính xác

Nguyên tắc này đảm bảo cho các sự kiện hộ tịch được đăng ký theo đúng thời hạn pháp luật quy định, hạn chế tối đa tình trạng đăng ký quá hạn hoặc không đăng ký hộ tịch Ngoài ra, một yêu cầu quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật

về hộ tịch đó là đảm bảo tính chính xác trong quá trình đăng ký hộ tịch Việc đăng

ký hộ tịch phải đảm bảo chính xác, trung thực sự kiện hộ tịch trên thực tế Hạn chế tối đa sai sót của cán bộ Tư pháp – Hộ tịch do lỗi vô ý hoặc của người đi đăng ký hộ tịch Nghiêm cấm việc cố ý đăng ký giấy tờ hộ tịch không đúng sự thật Thực tế cho thấy các giấy tờ về hộ tịch nếu trong quá trình thực hiện có sai sót mà không được phát hiện kịp thời sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý và cũng như khắc phục sửa chữa sai sót cũng như gây ra không ít phiền hà cho công dân trong việc thống nhất các giấy tờ quan trọng khác sau này: hồ sơ đi học, xin việc làm, xuất cảnh, thậm chí còn liên quan đến việc xác định độ tuổi để đánh giá năng lực hành vi và năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của từng cá nhân con người

- Mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một nơi theo đúng thẩm quyền

Mỗi một sự kiện hộ tịch sẽ được đăng ký một lần tại một nơi có thầm quyền đăng ký sự kiện hộ tịch đó Theo đó, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đăng ký

hộ tịch khi đăng ký hộ tịch phải xác định đúng thẩm quyền của mình khi đăng ký Việc đăng ký hộ tịch không đúng thẩm quyền của cơ quan hay cán bộ Tư pháp – Hộ tịch sẽ coi là áp dụng sai quy định của pháp luật và giấy tờ hộ tịch đó sẽ không có giá trị pháp lý Việc xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch được quy định tại Điều 8 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP: “Đối với công dân Việt Nam ở trong nước, việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký hộ khẩu thường trú; nếu không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì thực hiện tại nơi đăng ký tạm trú có thời hạn Đối với người nước ngoài cư trú ở Việt Nam thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký thường trú; nếu không có nơi đăng ký thường trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký tạm trú” Ví dụ, việc đăng ký khai sinh phải được đăng ký tại nơi có hộ khẩu thường trú của người mẹ, đăng ký kết hôn sẽ đăng ký tại nơi có hộ khẩu thường trú của một

Trang 32

trong hai bên nam, nữ Hay UBND phường không có thẩm quyền cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính cho mọi trường hợp mà thẩm quyền thuộc về UBND quận

Nguyên tắc này đảm bảo cho Nhà nước trong việc nắm rõ chính xác số liệu thống kê về hộ tịch, số liệu thống kê về dân cư, làm cơ sở để hoạch định những chính sách về kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, quốc phòng Đây là một nguyên tắc quan trọng được quy định trong Nghị định số 158/2005/NĐ-CP mà trong quá trình áp dụng pháp luật về hộ tịch, các cơ quan, cá nhân có thầm quyền phải tuyệt đối tuân theo

- Cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, chỉ đạo đối với cơ quan quản lý hộ tịch cấp dưới; trường hợp phát hiện thấy sai phạm phải chấn chỉnh, xử lý kịp thời

Theo đó, cơ quan cấp trên phải thường xuyên hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ với cơ quan cấp dưới, để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh ngay những sai sót, yếu kém trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch Xử lý nghiêm những hành vi thiếu trách nhiệm, cố tình gây phiền hà cho người dân và kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân tiêu biểu

Nguyên tắc này đảm bảo cho hoạt động đăng ký hộ tịch của chính quyền các cấp được đảm bảo về chất lượng Hoạt động của cơ quan cấp dưới luôn có sự giám sát về chuyên môn của cơ quan chuyên môn cấp trên thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra thường xuyên Nếu không có hoạt động thanh tra, kiểm tra, trách nhiệm công vụ của cán bộ phụ trách công tác hộ tịch sẽ bị hạn chế và khi đó công dân chính là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ sai phạm trong đăng ký hộ tịch

- Cơ quan đăng ký hộ tịch phải niêm yết công khai, chính xác các quy định

về giấy tờ mà người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình hoặc nộp khi đăng ký

hộ tịch, thời hạn giải quyết và lệ phí đăng ký hộ tịch

Công khai thủ tục đăng ký hộ tịch với mục đích để ngăn ngừa tình trạng cán

bộ hộ tịch tự đặt ra các thủ tục, giấy tờ trái với quy định của pháp luật, đồng thời tạo điều kiện dễ dàng cho người dân trong việc tìm hiểu việc đăng ký hộ tịch Khi đăng

ký hộ tịch, người dân phải được tiếp cận các thủ tục đăng kí một cách công khai, minh bạch Việc niêm yết công khai sẽ giúp công dân biết rõ được họ cần phải làm

Trang 33

gì, cần chuẩn bị những vấn đề gì, loại giấy tờ gì, lệ phí bao nhiêu trước khi đến cơ quan yêu cầu giải quyết các việc về hộ tịch Mặt khác, cán bộ áp dụng pháp luật sẽ không có điều kiện để lợi dụng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân Việc niêm yết công khai thời hạn giải quyết cũng là căn cứ để người dân đánh giá trách nhiệm của

cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ với dân, nâng cao trách nhiệm của cán bộ công chức thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch, đảm bảo cho pháp luật về hộ tịch được áp dụng một cách nghiêm chỉnh

Tất cả những nguyên tắc trên nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân khi đăng ký hộ tịch Ngoài ra, cũng đảm bảo việc đăng ký hộ tịch được kịp thời, chính xác và đầy đủ, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân Thực tế cho thấy các giấy tờ hộ tịch trong quá trình thực hiện có sai sót nếu không được phát hiện kịp thời sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như khắc phục, sửa chữa sai sót và đặc biệt cũng gây không ít phiền hà cho công dân trong việc thống nhất các giấy tờ sau này: hồ sơ đi học, hồ sơ xin việc, xuất cảnh, thậm chí còn liên quan đến xác định độ tuổi để đánh giá năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của từng cá nhân, con người…

1.4 Chủ thể, trường hợp áp dụng pháp luật về hộ tịch

1.4.1 Chủ thể áp dụng pháp luật về hộ tịch

Chủ thể của áp dụng pháp luật về hộ tịch là các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong lĩnh vực hộ tịch, bao gồm hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm UBND tỉnh, huyện, xã và hệ thống cơ quan chuyên môn giúp việc cho Ủy ban nhân dân về vấn đề này (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp); cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài; đội ngũ công chức trực tiếp làm công tác hộ tịch

Chủ thể này bao gồm các cá nhân, tổ chức sau đây:

Ủy ban nhân dân (cấp tỉnh, huyện, xã) và cơ quan chuyên môn giúp việc cho

Ủy ban nhân dân về vấn đề này (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, cán bộ tư pháp – hộ tịch), Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quan đại diện)

Công chức trực tiếp làm công tác hộ tịch

- Ở cấp phường chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật về hộ tịch gồm có:

Trang 34

Công chức tư pháp – hộ tịch (hộ tịch viên) là công chức tham mưu giúp UBND cấp phường thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch

Chủ tịch UBND cấp xã (phường), hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã (phường) thực hiện việc ký các giấy tờ về hộ tịch mà công chức tư pháp hộ tịch đã tham mưu thực hiện

- Ở cấp huyện (quận), chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật về hộ tịch gồm: công chức làm công tác hộ tịch ở Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch

Chủ tịch UBND quận hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp quận thực hiện việc ký các giấy tờ về hộ tịch mà Phòng Tư pháp đã tham mưu thực hiện

- Ở Sở Tư pháp, chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật về hộ tịch là công chức thuộc phòng Hành chính tư pháp, có chức năng giúp Giám đốc Sở Tư pháp trong việc quản lý hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp, chứng thực, bồi thường Nhà nước…

- Ở cơ quan đại diện ngoại giao ở Việt Nam, chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật về hộ tịch là viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch tại Cơ quan đại diện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch

Đại sứ Việt Nam tại các cơ quan ngoại giao thực hiện việc ký các giấy tờ về

hộ tịch mà công chức về lĩnh vực tư pháp – hộ tịch đã tham mưu thực hiện

Trong các chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật về hộ tịch, chủ thể áp dụng pháp luật về hộ tịch nhiều nhất là cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cấp xã Cán bộ Tư pháp – Hộ tịch là chức danh chuyên môn thuộc UBND cấp xã có trách nhiệm tham mưu, thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch Tiêu chuẩn, nhiệm vụ cụ thể và chế độ chính sách của công chức Tư pháp - Hộ tịch được quy định tại Nghị định số 114/2003/NĐ-CP; Nghị định số 92/2009/NĐ-CP và Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV Cụ thể:

Tuổi đời: Không quá 35 khi tuyển dụng lần đầu

Học vấn: tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng, đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa;

Lý luận chính trị: sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng

Trang 35

lý luận chính trị tương đương với trình độ sơ cấp trở lên;

Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng, đô thị có trình độ trung cấp Luật trở lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp

xã sau khi tuyển dụng;phải sử dụng được tin học văn phòng Với công chức Tư pháp - Hộ tịch đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp xã; nếu được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp Luật trở lên; phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước

Điều 81 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định cán bộ Tư pháp hộ tịch phải có đủ các tiêu chuẩn của cán bộ công chức cấp xã theo quy định của pháp luật

về cán bộ, công chức và phải có thêm các tiêu chuẩn sau đây:

- Có bằng tốt nghiệp trung cấp luật trở lên;

- Được bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác hộ tịch;

- Chữ viết rõ ràng

1.4.2 Các trường hợp áp dụng pháp luật về hộ tịch

Việc đăng ký các sự kiện hộ tịch chủ yếu được thực hiện tại UBND cấp xã với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện việc đăng ký các sự kiện hộ tịch của cá nhân được nhanh chóng, thuận lợi và với các thủ tục đơn giản Vì vậy UBND cấp xã thực hiện đăng ký việc khai sinh; kết hôn; khai tử; nhận nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước (bao gồm

cả trường hợp đăng ký khai sinh cho con của người nước ngoài cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam và con của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài)

UBND huyện chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về đăng ký quản lý hộ tịch trên địa bàn, có trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn, xử lý các sai phạm trong đăng ký quản lý hộ tịch của UBND xã Do vậy, UBND cấp huyện chỉ thực hiện đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính và bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt

độ tuổi; cấp lại bản chính Giấy khai sinh, cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch

1.4.2.1 Đăng ký khai sinh

Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân Mọi hồ sơ, giấy tờ của

Trang 36

cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy Khai sinh của người đó Do vậy, hoạt động đăng ký khai sinh là hoạt động ADPL đầu tiên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực hộ tịch

- Thẩm quyền đăng ký khai sinh:

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã), nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh

Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó

+ Thời hạn đi khai sinh và trách nhiệm khai sinh

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em

- Những trường hợp sinh chưa được đăng ký trong thời hạn theo đúng quy định của pháp luật (60 ngày) thì phải đăng ký theo thủ tục quá hạn Người có trách nhiệm đi đăng kí khai sinh mà không theo đúng thời hạn đã quy định mà không có

lý do chính đáng sẽ bị xử phạt hành chính chính theo quy định của pháp luật

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh ban đầu thực hiện việc đăng ký khai sinh quá hạn

Trong trường hợp người đã thành niên đăng ký khai sinh quá hạn cho mình, thì có thể đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh ban đầu hoặc tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó cư trú

- Những trường hợp sinh trước đây đã được đăng ký nhưng sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được , thì được đăng ký lại để tạo điều kiện cho đương sự khi có nhu cầu sử dụng Giấy khai sinh và đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước

Trang 37

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự cư trú hoặc nơi đã đăng ký việc sinh trước đây thực hiện việc đăng ký lại

Khi đăng ký lại việc sinh nếu người đi đăng ký lại xuất trình bản sao giấy tờ

đã cấp hợp lệ trước đây, thì nội dung khai sinh được ghi theo nội dung của bản sao giấy tờ hộ tịch đó

Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấy khai sinh

đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó Trường hợp

họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ

sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên

1.4.2.2 Đăng ký kết hôn

Quyền kết hôn là một trong những quyền đầu tiên trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của mỗi con người Từ đó phát sinh ra những quan hệ pháp lý giữa vợ, chồng, cha, mẹ, con, giữa ông bà nội, ngoại và cháu Từ xưa đến nay, quan hệ hôn nhân thường chỉ phát sinh trong phạm vi làng xã hoặc quận, huyện liền kề hoặc trong phạm vi của một quốc gia Ngày nay, do nhu cầu giao lưu kinh tế , xã hội nên

thậm chí là quốc gia Do vậy, nếu nghiên cứu đầy đủ về chế độ hôn nhân, phải nghiên cứu các mối quan hệ hôn nhân không những phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn phải nghiên cứu cả những quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Nhưng trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến những chế định về hôn nhân trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

- Thẩm quyền đăng ký kết hôn

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, đã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ

Trang 38

Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng

ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó

Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài

về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó

Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Chương V của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP:

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, thì

Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày

Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt Đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn , Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ , chồng một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ , chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của vợ, chồng

* Đăng ký lại việc kết hôn

Thủ tục đăng ký lại kết hôn được thực hiện khi công dân đã đăng ký kết hôn trước đây nhưng sổ đăng ký kết hôn và bản chính Giấy chứng n hận kết hôn đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được

Thẩm quyền thực hiện: UBND cấp xã nơi đã đăng ký kết hôn trước đây hoặc UBND cấp xã nơi người yêu cầu đăng ký lại việc kết hôn cư trú

* Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Trang 39

Người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải nộp tờ khai Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu); Giấy cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về cam đoan của mình (Áp dụng cho những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau và UBND cấp xã nơi xác nhận không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở nơi đó)

UBND cấp xã giải quyết ngay sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu phải xác minh thì thời hạn không quá 03 ngày

1.4.2.3 Đăng ký khai tử

Đăng ký khai tử là một trong những lĩnh vực quản lý của nhà nước ta về đăng ký hộ tịch nhằm theo dõi sự biến động tự nhiên dân số Đăng ký khai tử là việc

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện chết của một người và ghi vào

Sổ đăng ký khai tử Trên cơ sở đó, chấm dứt quan hệ của người đó đối với gia đình,

xã hội đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của thân nhân người chết

Mục đích của việc đăng ký khai tử là nhằm giúp nhà nước theo dõi sự biến động tự nhiên về dân số, tạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình

- Thẩm quyền đăng ký khai tử

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó chết thực hiện việc đăng ký khai tử

- Thời hạn đi khai tử và trách nhiệm khai tử

Thời hạn đi khai tử là 15 ngày, kể từ ngày chết

Thân nhân của người chết có trách nhiệm đi khai tử; nếu người chết không

có thân nhân, thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết đi khai tử

* Đăng ký khai tử quá hạn:

- Thẩm quyền đăng ký khai tử quá hạn

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai tử theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thực hiện việc đăng ký khai tử quá hạn

* Đăng ký lại việc tử:

Trang 40

- Thẩm quyền đăng ký lại việc tử:

UBND cấp xã nơi đã đăng ký khai tử trước đây hoặc UBND cấp xã nơi người đăng ký lại việc tử cư trú (Trường hợp này người yêu cầu đăng ký lại phải xin xác nhận của UBND cấp xã nơi đăng ký khai tử trước đây vào tờ khai)

Thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy

tờ hợp lệ Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn được kéo dài thêm không qua

5 ngày làm việc

1.4.2.4 Đăng ký nuôi con nuôi

Đăng ký nuôi con nuôi là thể hiện sự công nhận của Nhà nước đối với việc xác lập một cách tự nguyện các quan hệ pháp luật với người nhận nuôi và con nuôi Đăng ký nuôi con nuôi là yêu cầu cần thiết để làm căn cứ pháp lý cho việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người nuôi và con nuôi, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để Nhà nước giám sát việc nuôi con nuôi theo đúng pháp luật Đăng ký nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình

- Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi

UBND cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi

+ Trình tự đăng ký việc nuôi con nuôi

Người nhận con nuôi phải trực tiếp nộp hồ sơ nhận con nuôi cho Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký việc nuôi con nuôi

Trước khi đăng ký việc nuôi con nuôi, cán bộ Tư pháp hộ tịch phải kiểm tra, xác minh kỹ các nội dung sau đây:

+ Tính tự nguyện của việc cho và nhận con nuôi;

+ Tư cách của người nhận con nuôi;

+ Mục đích nhận con nuôi

Thời hạn kiểm tra, xác minh các nội dung trên không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ

Sau thời hạn 30 ngày, nếu xét thấy việc cho và nhận con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nuôi con nuôi

Ngày đăng: 22/05/2017, 12:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Giản yếu Hán - Việt từ điển, quyển thượng, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu Hán - Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
2. Bộ Tư pháp (2008), Thông tư 01/2008/TT-BTP ngày 2/6/2008 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn một số quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của chính phủ về đăng ký và quản lý Hộ tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 01/2008/TT-BTP ngày 2/6/2008 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn một số quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của chính phủ về đăng ký và quản lý Hộ tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
3. Bộ Tư pháp (2011), Thông tư 08/2011/TT-BTP ngày 05/4/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về công tác thống kê của ngành Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 08/2011/TT-BTP ngày 05/4/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về công tác thống kê của ngành Tư pháp
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
4. Bộ Tư pháp (2012), Báo cáo Tổng kết công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
5. Bộ Tư pháp (2013), Báo cáo tổng hợp kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về hộ tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về hộ tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2013
6. Chính phủ (2005), Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý Hộ tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý Hộ tịch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
7. Chính phủ (2012), Nghị định số 06/2012/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 06/2012/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
8. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, Nxb Văn hoá TT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hoá TT
Năm: 1999
9. Nguyễn Thị Hồi (2009), Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Hồi
Năm: 2009
10. Bửu Kế (1999), Từ điển Hán - Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hoá, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt từ nguyên
Tác giả: Bửu Kế
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1999
11. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình lý luận chung Nhà nước và Pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2007
12. Nguyễn Văn Khôn (1960), Hán - Việt từ điển, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán - Việt từ điển
Tác giả: Nguyễn Văn Khôn
Năm: 1960
13. Nguyễn Lân (chủ biên) (1989), Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Lân (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1989
14. Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân (1968), Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật, tủ sách ĐH Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật
Tác giả: Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân
Năm: 1968
15. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
16. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Nuôi con nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Nuôi con nuôi
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
17. Quốc hội nước nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự
Tác giả: Quốc hội nước nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
18. Hoàng Thúc Trâm (1974), Hán - Việt tân từ điển, Tân Sanh ấn quán, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán - Việt tân từ điển
Tác giả: Hoàng Thúc Trâm
Năm: 1974
28. Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên) (1998), Từ điển tiếng Việt, in lần thứ năm, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1998
29. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hoá - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đăng ký hộ tịch tại UBND các phường thuộc quận - Áp dụng pháp luật về hộ tịch   qua thực tiễn quận hoàn kiếm thành phố hà nội
Bảng 1 Đăng ký hộ tịch tại UBND các phường thuộc quận (Trang 129)
Bảng 2: Đăng ký hộ tịch tại UBND quận Hoàn Kiếm - Áp dụng pháp luật về hộ tịch   qua thực tiễn quận hoàn kiếm thành phố hà nội
Bảng 2 Đăng ký hộ tịch tại UBND quận Hoàn Kiếm (Trang 130)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w