Đặc điểm hình thức và nội dung của thơ Hai-kư 3.. Chỉ ra những điểm giống và khác nhau về mặt hình thức giữa Hai-kư và Ngũ ngôn tuyệt cúCon ếch nhảy vào Vang tiếng nước xao.. Điểm giống
Trang 1Thơ Hai-kư ( 俳句 ) của
Trang 21 Quá trình hình thành thể thơ Hai-kư
2 Đặc điểm hình thức và nội dung của thơ Hai-kư
3 Thực hành phân tích và sáng tác thơ Hai-kư
Bài học này bao gồm những nội dung sau:
Trang 3Đàn nhạn bay về Cây phong của ta ơi Đến lượt em rồi đó
Đã sang mùa
Em hãy đổi màu đi.
Đoản ca (Tan-ka)
Đã sang mùa
Em hãy đổi màu đi.
(Bài số 2183 – Vạn diệp tập)
Trang 41 Đoản ca (tan-ka): Bài thơ ngắn 5 dòng 31 âm tiết
(5-7-5-7-7 âm tiết).
2 Phát cú (hok-kư): Ba câu đầu của Đoản ca, có chức năng
ra đề trong lúc làm thơ xướng họa giữa nhiều người.
3 Liên ca (ren-ga): loại thơ xướng họa, do nhiều đoản ca
nối tiếp nhau.
4 Bài hài (hai-kai): Đoản ca có nội dung trào phúng, cười
cợt mua vui.
5 Bài cú (Hai-kư): Phát cú được cải tiến đến mức trang
nghiêm, hàm súc, mang ý vị thiền tông.
Phân biệt các khái niệm: đoản ca (tan-ka), phát cú kư), liên ca (ren-ga), bài hài (hai-kai) và bài cú (hai-kư).
Trang 5(hok-Quá trình hình thành thể thơ Hai-kư
-1867) Phần hok-kư dần mất đi sắc thái trào lộng
mà mang âm hưởng cao nhã và triết lý sâu thẳm của Thiền tông
Hai-kư ra đời
Hai-kai ra đời Bài ren-ga mang mục đích châm chọc hài
hước, trào lộng đời thường
Trang 62 Đặc điểm hình thức và nội dung của thơ Hai-kư
?
Mỗi bài thơ có kết cấu 3 câu với số âm tiết tương ứng
5-7-5 (17 âm tiết)
2.1 Đặc điểm hình thức của thơ
Hai-kư
Trang 7Xác định quý ngữ, các sự vật hiện tượng được miêu
tả trong các bài thơ Hai-kư sau:
Ta nghe tiếng đêm.
(Lưu Đức Trung dịch)
4 Vắng lặng u trầm Thấm sâu vào đá Tiếng ve ngâm.
(Đoàn Lê Giang dịch)
Trang 8Đếm số âm tiết của hai bài thơ sau:
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao
(Nhật Chiêu dịch thơ)
穂すすきやすすきや 細き心き心
の音さわがしき
(Ho-su-su-ki ya ho-so-ki ko-ko-ro
no sa-wa-ga-shi-ki)
(Nhà thơ Is-sa)
Nhánh cỏ bạc nào Chơ vơ run rẩy Tâm hồn đìu hiu.
(Nhật Chiêu dịch
thơ)
Trang 9Chỉ ra những điểm giống và khác nhau về mặt hình thức giữa Hai-kư và Ngũ ngôn tuyệt cú
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao.
(Nhật Chiêu dịch
thơ)
松下問童子 言師採藥去 只在此山中 雲深不知處
(Tùng hạ vấn đồng tửNgôn sư thái dược khứChỉ tại thử sơn trungVân thâm bất tri xứ)
(Tầm ẩn giả bất ngộ - Giả
Đảo)
Gốc thông hỏi chú học trò, Rằng: "Thầy hái thuốc lò mò đi xa
Ở trong núi ấy đây mà, Mây che mù mịt biết là nơi nao?"
(Tản Đà dịch thơ)
Trang 10Điểm giống và khác nhau về mặt hình thức giữa Hai-kư và Ngũ ngôn tuyệt cú
Trang 112.2 Đặc điểm nội dung của thơ Hai-kư
Trang 12a Các quan niệm thẩm mĩ gắn liền với
Hai-kư
1 Wa-bi: cái đẹp sâu lắng nằm trong vẻ nhỏ bé, đơn sơ, đạm bạc,
vụng về, chất phác bề ngoài (con ốc nhỏ, một chiếc lá rơi, một giọt sương mai )
2 Sa-bi: cái đẹp u nhàn, cao khiết, cô liêu, tịch lặng, cổ xưa của sự
vật (Vắng lặng u trầm, thấm sâu vào đá, tiếng ve ngâm)
3 Yu-gen: u huyền, mờ ảo, sâu lắng, bí ẩn
4 A-wa-re: cảm giác xao xuyến, buồn thương, bi cảm thâm trần
trước vẻ đẹp não lòng của sự vật (Trên cành khô, quạ đậu,
chiều thu)
5 Ka-ru-mi: cái đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát, thể hiện tâm thái
bình yên, ung dung, tự tại (Từ phương trời xa, cánh hoa đào lả
tả, gợn sóng hồ Bi-wa)
Trang 13Thực hành cảm nhận về quan điểm thẩm mĩ Nhật Bản
Ngắm mặt trời lặn phía sau một ngọn đồi phủ đầy hoa.
Lang thang trong rừng mà không nghĩ đến việc quay lại.
Đứng trên bãi đá và nhìn theo một con thuyền khuất dáng
phía sau những hòn đảo xa
Ngắm nhìn đàn sâm cầm biến mất sau mây trắng
Rặng tre với những chiếc bóng mờ nhạt lồng với nhau
(Tác giả Zeami Motokiyo)
Trang 14Nhánh cỏ bạc nào
chơ vơ run rẩy
tâm hồn đìu hiu.
và nội dung giữa bài thơ Hai-kư
và loại tranh minh họa Hai-ga
Trang 15So sánh tranh Hai-ga và tranh Nam Tông, từ đó chỉ ra điểm
giống và khác nhau về mặt nội dung giữa thơ Hai-kư và thơ
Tuyệt cú
Bức tranh minh họa bài
“con ếch” (Ba-sho) của
phái họa Hai-ga Nhật Bản
Bức tranh minh họa bài “Tầm ẩn giả bất ngộ” (Giả Đảo) của phái họa Nam Tông - Trung Quốc
Trang 16Loại
Giống Chủ yếu là thể thơ trữ tình
Hàm súc cao độ, có khả năng ngụ ý và gợi ý
Trọng tâm ý nghĩa thường ở cuối bài
Khác Không gian hạn hẹp, nhỏ bé,
trống vắng, đơn giản, không
ôm đồm nhiều sự vật, sự việc
Thời gian hiện tại, ngắn ngủi, tương ứng với khoảnh khắc
quan sát của tác giả
Màu sắc, giọng điệu hồn nhiên, mộc mạc, không trau chuốt cầu kì; có khi hơi thô vụng…
Trống trải, kích thích mạnh
sự liên tưởng nơi người đọc
Không gian đầy ắp sự vật, hiện tượng; rộng lớn, hùng
vĩ, hòa hợp giữa trời đất với con người
Thời gian mang tính quá trình, kéo dài gắn liền với hành động của các nhân vật trong tác phẩm
Màu sắc, giọng điệu cầu kì trau chuốt, có chủ ý sáng tạo
Đầy đặn, ít kích thích sự liên tưởng hơn
Điểm giống và khác nhau về mặt nội dung giữa thơ Hai-kư và thơ Tuyệt cú
Trang 17b Một số đặc điểm về mặt nội dung của
Hai-kư
Con người hòa điệu làm một với không gian và cảnh vật, lặn sâu vào lòng sự vật để cảm nhận nó.
Chỉ miêu tả những sự vật ở thực tại và lặng thinh,
đó là khoảng trống của “chân không” (Thiền).
Không mô tả cảm xúc, chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt theo bản chất tự nhiên của nó
Tác giả bộc lộ một cách kín đáo tình cảm của mình trong tác phẩm: niềm vui sống, sự cô đơn, lòng yêu cảnh vật, nhớ người thân, bùi ngùi trước cảnh đời ngắn ngủi, phù du; sự hòa điệu vĩnh cửu với thiên nhiên
Trang 18 Thơ thường đưa ra hai hình ảnh : một hình ảnh trừu tượng sống động và linh hoạt, một hình ảnh cụ thể ghi dấu thời
gian và nơi chốn.
Một bài thơ Haiku hay là làm sống lại những gì đã chôn sâu trong ký ức và đưa ra những cảm giác sâu sắc, tế nhị, để tự
nó khơi lại trí tưởng tượng và mơ ước của người đọc để
người đọc tự suy diễn, cảm nhận.
Haiku là một loại thơ thiền, một cách tập nhìn sự vật đơn giản, thuần khiết Ðây là một quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động như một công án, một tiếng chuông chiêu mộ thức tỉnh ngộ tính con người
Trang 19Một ngôi chùa núi
Trang 203 Thực hành phân tích và sáng tác thơ kư
Hai-3.1 Phân tích một số bài Hai-kư tiêu biểu trong SGK Ngữ văn 10 (tập 1):
Trang 211
Đất khách mười mùa sương
Về thăm quê ngoảnh lại
Ê-đô là cố hương.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Quê Ba-sho ở Mi-ê, ông lên Ê-đô (Tô-ky-ô ngày
nay) ở được mười năm mới về thăm lại quê Nhưng đi rồi lại thấy nhớ Ê-đô, thấy Ê-đô thân thiết như quê hương mình.
Trang 222
Chim đỗ quyên hót
ở Kinh đô
mà nhớ Kinh đô.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Ba-shô ở Kinh đô (Ky-ô-tô) thời trẻ (1666-1672), rồi
chuyển đến Ê-đô Hai mươi năm sau ông trở lại Ky-ô-tô, nghe tiếng chim đỗ quyên hót mà viết nên bài thơ này
Trang 233
Lệ trào nóng hổi Tan trên tay tóc mẹ
Làn sương thu.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Ba-shô về quê, mẹ đã mất Người anh đưa cho ông di
vật còn sót lại của mẹ là một mớ tóc bạc
Trang 244
Tiếng vượn hú não nề Hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc
Gió mùa thu tái tê.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Ngày xưa, người nông dân Nhật Bản rất nghèo, vào
những năm đói kém, có khi người ta phải bỏ con vào rừng vì
không nuôi nổi
Trang 255
Mưa đông giăng đầy trời Chú khỉ con thầm ước
Có một chiếc áo tơi.
(Đoàn Lê Giang dịch)
Trang 266
Từ bốn phương trời xa Cánh hoa đào lả tả Gợn sóng hồ Bi-oa.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Hồ Bi-oa (Tỳ Bà hồ): hồ lớn nhất Nhật Bản, trông giống
như hình cây đàn Tỳ Bà, rất đẹp, nằm ở trung tâm tỉnh Si-ga, gần quê của Ba-shô
Trang 277
Vắng lặng u trầm Thấm sâu vào đá Tiếng ve ngâm.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Bài thơ có liên tưởng kì lạ, thể hiện sự tương giao mầu
nhiệm giữa cảm giác, âm thanh và vật thể
Trang 288
Nằm bệnh giữa cuộc lãng du Mộng hồn còn phiêu bạt Những cánh đồng hoang vu.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Đây là bài thơ Ba-sô làm trước khi mất.
Trang 293.2 Mỗi SV về nhà sáng tác 5 bài thơ theo thể Hai-kư bằng tiếng Việt.
Trang 30Bài giảng kết thúc
Cảm ơn quý thầy cô và các bạn đã quan
tâm theo dõi!