Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, các quan điểm, chủ trương của Đảng tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng kho
Trang 1TRUNG ƯƠNG ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
Trang 2GIỚI THIỆU LUẬT TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016 Luật
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018.
PHẦN THỨ NHẤT MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT
I SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
Ngày 16 tháng 10 năm 1990, Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1990 “về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” đã xác định "tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận nhân dân" Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, các quan điểm, chủ trương của Đảng tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo (Nghị quyết số 25/NQTW ngày 12/3/2003), Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, tạo hành lang pháp lý để ghi nhận, bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân cũng như chính sách của Nhà nước đối với tôn giáo, quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Nội dung của Pháp lệnh đã quán triệt, thể chế hóa cơ bản những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước được ghi nhận trong các kỳ Đại hội; bảo đảm tính tương thích với luật pháp quốc tế điều chỉnh về quyền con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đặc biệt là những Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập Pháp lệnh cũng thể hiện chính sách dân chủ, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc những việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo do các tôn giáo tự giải quyết theo hiến chương, điều lệ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận Điều đó
đã làm lành mạnh hoá các quan hệ tôn giáo và hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính
Trang 3đáng của tín đồ và tổ chức tôn giáo, vì lợi ích chung của toàn xã hội trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập và giao lưu quốc tế Đồng bào các tôn giáo đã
có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, thực hiện đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống "tốt đời, đẹp đạo"
Tuy nhiên, qua tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh và các văn bản quy định chi tiết thi hành, có thể thấy vẫn còn những bất cập trong các quy định của Pháp lệnh chưa phù hợp tình hình hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và có những vấn đề phức tạp phát sinh, cụ thể:
- Một số quy định của Pháp lệnh còn thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người như quy định về hoạt động tín ngưỡng, đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo, phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, hoạt động xã hội của tổ chức tôn giáo, hoạt động quốc tế, như:
+ Về tổ chức tôn giáo tham gia thực hiện các hoạt động từ thiện, nhân đạo,
xã hội: Quy định tại Điều 33 Pháp lệnh chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động của tổ chức tôn giáo, chưa phát huy được vai trò và tiềm năng của tổ chức, cá nhân tôn giáo trong việc cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội Quy định này chưa thông nhất với một số văn bản pháp luật như Luật Phòng, chống HIV, AIDS; Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật Hoạt động chữ thập đỏ và một số quy định về bảo trợ
xã hội
Những năm qua, hoạt động xã hội của tổ chức, cá nhân tôn giáo đã đem lại những hiệu quả thiết thực, thu hút nhiều người tham gia Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì các hoạt động này cũng còn bộc lộ những vấn đề bất cập đặt
ra yêu cầu cần thiết phải có sự điều chỉnh để bảo đảm phát huy được vai trò, tiềm năng, những đóng góp của các tổ chức, cá nhân tôn giáo đối với xã hội
Trang 4+ Về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam: Quy định tại Điều 37 Pháp lệnh chưa phù hợp với thực tiễn và chủ trương chính sách của Nhà nước về lĩnh vực này Với chủ trương hội nhập quốc tế của Nhà nước, người nước ngoài đến Việt Nam làm ăn sinh sống ngày càng nhiều, trong số này, có bộ phận không nhỏ là người theo tôn giáo trong đó có những tôn giáo không có cơ sở thờ tự
ở Việt Nam Một số tôn giáo khác có cơ sở thờ tự tôn giáo tương ứng nhưng không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài hoặc trong sinh hoạt tôn giáo có sự khác biệt về nghi lễ, giáo lý, đức tin Vì vậy, cần phải bổ sung các quy định này trong luật để đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người trong xu thế hội nhập quốc tế
- Một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn chưa được quy định trong Pháp lệnh như: Vấn đề tổ chức tôn giáo ở Việt Nam gia nhập tổ chức tôn giáo quốc tế; việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử cho người có quốc tịch nước ngoài hoạt động cho tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; việc người nước ngoài vào
tu tại cơ sở tôn giáo ở Việt Nam,… chưa được quy định, gây ảnh hưởng đến tổ chức, cá nhân tôn giáo trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như quy định tại Điều 24 của Hiến pháp năm 2013
Về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo chưa được quy định cụ thể trong Pháp lệnh, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này và hoạt động của tổ chức, cá nhân tôn giáo
Những hạn chế, bất cập nêu trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng Luật thay thế Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn về tín ngưỡng, tôn giáo cũng như nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, thực hiện chủ trương của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI là: “tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng”
đất, xây dựng cơ sở tôn giáo ở Việt Nam
Trang 5+ Ý kiến thứ hai cho rằng trong bối cảnh hiện nay, chưa nên quy định nội dung
này Vì theo quy định của Luật đất đai, người nước ngoài, tổ chức nước ngoài không phải là chủ thể được trao quyền sử dụng đất Hơn nữa, trên thực tế, một số tổ chức tôn giáo mới được công nhận chưa có điều kiện về đất đai để xây dựng cơ sở, vì vậy không nên đặt vấn đề này cho người nước ngoài Ta chỉ nên xây và cho thuê sinh hoạt như mục 6.2 và 6.3 đề cập
II QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT
Việc xây dựng dự án Luật được tiến hành dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:
-Bám sát đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo,
về an ninh, quốc phòng, về quan hệ quốc tế; bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội của Việt Nam; phát huy vai trò, tiềm năng của các tổ chức, cá nhân tôn giáo tích cực tham gia xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
- Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật
- Nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nội dung văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam và một số nước trên thế giới, phù hợp với đặc điểm tình hình nước ta;
- Bảo đảm quy trình xây dựng dự án Luật tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Trang 6PHẦN THỨ HAI
BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 09 chương, 08 mục và 68 điều, cụ thể:
CHƯƠNG I - NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG (05 điều, từ Điều 1 – Điều 5)
1 Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
- Luậtnày quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo
-Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- Bổ sung nhiều từ ngữ mới được sử dụng thường xuyên như tín ngưỡng, tôn giáo, chức việc, sinh hoạt tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, địa điểm hợp pháp, người đại diện
3 Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 7Luật quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đó là Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân; Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.
Tùy từng trường hợp, khi vi phạm các điều cấm này, tổ chức, cá nhân sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
CHƯƠNG II – QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO (04 điều, từ Đ6 –
Trang 81 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người
Cụ thể hóa quy định tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 "Mọi người có quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào", Luật quy định
chủ thể thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là mọi người (khoản 1 Điều 6)
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo Đối với người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo
Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi
2 Quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc
Luật quy định mang tính nguyên tắc về các quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc Các quyền này bao gồm hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và văn bản có nội dung tương tự của tổ chức tôn giáo; tổ chức sinh hoạt tôn giáo; xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tôn giáo; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo; cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở tôn giáo; nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước và
tổ chức, cá nhân nước ngoài tự nguyện tặngcho; các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan
3 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam
Trang 9Luật đã dành một điều quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam Các quyền này bao gồm được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Đối vớichức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam ngoài các quyền trên còn có quyền được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam
4 Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Điều 9 của Luật quy định tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, Luật tín ngưỡng, tôn giáo và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban quản lý cơ
sở tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo đúng quy định của pháp luật
- CHƯƠNG III – HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG (06 điều, từ Đ10 – Đ15)
- CHƯƠNG IV – ĐĂNG KÝ SINH HOẠT TÔN GIÁO TẬP TRUNG, ĐĂNG KÝ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO (05 điều, từ Điều 16 – Điều 20)
Trang 10- CHƯƠNG V – TỔ CHỨC TÔN GIÁO (22 điều, từ Điều 21 – Điều
42)
- CHƯƠNG VI – HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO; HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN, GIÁO DỤC, Y TẾ, BẢO TRỢ XÃ HỘI, TỪ THIỆN, NHÂN ĐẠO
CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO (13 điều, từ Điều 43 – Điều 55)
- CHƯƠNG VII – TÀI SẢN CỦA CƠ SỞ TÍN NGƯỠNG, TỔ CHỨC
TÔN GIÁO (04 điều, từ Điều 56 – Điều 59)
1 Việc quản lý, sử dụng tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo
Đây là quy định mới của Luật nhằm duy danh cụ thể tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gồm tài sản được hình thành từ các nguồn nào (đóng góp của thành viên tổ chức, quyên góp, tặng cho của tổ chức, cá nhân hoặc các nguồn khác theo quy định của pháp luật) Các tài sản này phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích
và phù hợp với quy định của pháp luật
Luật cũng quy định cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo được hình thành theo tập quán, do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng là tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng
Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn tài sản bằng quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan
2 Đất cơ sở tín ngưỡng, đất cơ sở tôn giáo
Để đảm bảo phù hợp với pháp luật chuyên ngành, Luật quy định đất cơ sở tín ngưỡng, đất cơ sở tôn giáo được quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai
3 Cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo
Trang 11Luật quy định việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng; việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình phụ trợ thuộc cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo thực hiện như quy định của pháp luật về xây dựng đối với các công trình, nhà ở riêng lẻ xây dựng trong đô thị, trung tâm cụm xã, trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa, cách mạng; việc tu bổ, phục hồi cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng; việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình phụ trợ thuộc các cơ sở này thực hiện theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và pháp luật về xây dựng.
4 Di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo
Việc di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về xây dựng
CHƯƠNG VIII – QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP
LUẬT TRONG LĨNH VỰC TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO (06 điều, từ Đ60 –
Đ65)
Luật quy định cụ thể nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương trong quản
lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo Bên cạnh đó, Luật cũng có các quy định về trách nhiệm của công dân, của người có tín ngưỡng, tôn giáo trong thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo
Để bảo đảm có đầy đủ công cụ pháp lý nhằm thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, đồng thời bảo đảm quyền phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, Luật quy định về thanh tra chuyên ngành tôn giáo;
Trang 12khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và một số biện pháp chế tài khác như đình chỉ, giải thể.
CHƯƠNG IX – ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH (03 điều, từ Điều 66 – Điều 68)
PHẦN THỨ BA
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1 Ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành
Để triển khai Luật tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ sẽ ban hành các Nghị định:
- Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo
- Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
3 Tác động chính sách của Luật đến người dân, xã hội
Luật tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều điểm mới, tiến bộ, thể hiện tính công khai, dân chủ, minh bạch, nhà nước pháp quyền, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Các quy định của Luật cũng bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Di sản văn hóa,Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Giáo dục … Việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, khắc phục kịp thời những bất cập của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo,thể chế hóa các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người, phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở nước ta, phục vụ đắc lực hơn nữa cho yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam, đảm bảo lợi ích của đất nước
Trang 13*Những điểm mới trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
so với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo
So với các văn bản điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay thì Luật có nhiều điểm mới, tiến bộ Một số điểm mới có thể kể đến như:
1 Mở rộng phạm vi chủ thể có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ "công dân" thành "mọi người", thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là
quyền con người mà không chỉ là quyền công dân như Hiến pháp trước đây khẳng
giảng đạo (Đ8).
3.Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, nếu như trước đây quy định này chỉ
áp dụng cho nhóm người có nhu cầu tôn giáo nhưng chưa có tổ chức thì nay Luật quy định quyền này áp dụng không chỉ cho nhóm người trên mà còn cho tín đồ của
tổ chức tôn giáo tại những nơi chưa có đủ điều kiện để thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; những người theo tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo (mở rộng đối tượng được thực hiện quyền này) Mặt khác đăng ký sinh hoạt tôn giáo không được xem là một mốc khởi điểm để bắt đầu hình thành một tổ
chức tôn giáo như quy định hiện hành (Đ16 - Đ20)
4 Về điều kiện công nhận tổ chức tôn giáo được rút gọn từ 23 năm thành 5 năm (Đ 21)
5 Về đăng ký hoạt động tín ngưỡng, thông báo hoạt động tôn giáo hằng năm được thay đổi theo hướng chỉ đăng ký, thông báo lần đầu với cơ quan nhà
Trang 14nước có thẩm quyền, những năm tiếp theo nếu có phát sinh các hoạt động ngoài chương trình mới đăng ký hoặc thông báo bổ sung Việc quy định này nhằm giảm bớt thủ tục hành chính cho cả cơ quan hành chính nhà nước cũng như cho cơ sở tín
ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc (Đ12; 16-20).
6 Luật quy định tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo; tổ chức tôn giáo trực thuộc là tổ chức pháp nhân phi thương mại kể từ ngày được cơ quan QLNN có
thẩm quyền công nhận (Đ 30)
7 Luật quy định cụ thể về vấn đề giải thể tổ chức tôn giáo khi vi phạm pháp
luật (Đ31)
8 Tách nội dung phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc
và quy định tổ chức tôn giáo chỉ thông báo đối với người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc Mặt khác, bổ sung nội dung phong phẩm, suy cử làm chức sắc cho người có quốc tịch nước ngoài hoạt động cho tổ chức tôn giáo ở Việt Nam hoặc đào tạo tại cơ sở tôn
giáo ở Việt Nam khi đáp ứng các điều kiện theo quy định (Đ32 - 36; Đ51).
9.Thay đổi tên gọi của trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn
giáo thành cơ sở đào tạo tôn giáo Bổ sung làm mới các quy định liên quan đến cơ
sở đào tạo tôn giáo bao gồm từ điều kiện thành lập, thẩm quyền chấp thuận đến các
nội dung liên quan đến quản lý trường đào tạo (Đ37- 42).
10 Hoạt động xã hội của các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc
được quy định theo hướng phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan Việc tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hoá trong một số lĩnh vực, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được tham gia sâu rộng vào các hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, Luật sẽ điều chỉnh các quy định để vừa phát huy được vai trò và tiềm năng của tổ chức, cá nhân tôn giáo, đồng thời hạn chế được
các mặt tiêu cực trong thời gian qua (Đ55).
Trang 1511.Một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có
thẩm quyền như thông báo hoạt động của cơ sở đào tạo; thông báo tuyển sinh;
thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành; thông báo hoạt động tôn giáo,… Đây cũng là quy định phù hợp với xu hướng hiện nay nhằm hạn chế sự can thiệp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
12.Một số nội dung thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ như công
nhận tổ chức tôn giáo; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo đã được thay đổi theo hướng giao cho
cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở Trung ương có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và trả lời các tổ chức tôn giáo Việc thay đổi này sẽ giúp cho việc
thực hiện các thủ tục hành chính nhanh gọn, thuận lợi hơn (Đ 19; 22; 29; 33; 34;
38;42; 45; 48; 49; 50; 53; 62).
13.Phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với lĩnh vực tín
ngưỡng, tôn giáo Luật quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ,
ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp trong quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Bên cạnh đó, Luật có các quy định về trách nhiệm của công dân, của người có tín ngưỡng, tôn giáo trong thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo
Để bảo đảm có đầy đủ công cụ pháp lý nhằm thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn giáo, đồng thời bảo đảm quyền phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, Luật quy định về thanh tra chuyên ngành tôn giáo; khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý hành vi vi phạm trong lĩnh vực tín
ngưỡng, tôn giáo và một số biện pháp chế tài (Đ61-65).
Trang 1614.Điều khoản chuyển tiếp (Đ 67) Các tổ chức sau không phải làm các thủ
tục đăng ký, công nhận lại theo quy định Luật này:
- Nhóm người đã được chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo;
- Tổ chức đã được chấp thuận đăng ký hoạt động tgiáo và công nhận tôn giáo;
- Tổ chức tôn giáo đã được công nhận trước ngày luật có hiệu lực là pháp nhân phi thương mại, thì điều chỉnh Hiến chương tại Đại hội gần nhất
Qua các nội dung nêu trên có thể thấy các nội dung của Luật đều trên cơ sở, nền tảng của Pháp lệnh; những nội dung đã được Pháp lệnh quy định hiện còn phù hợp sẽ tiếp tục được kế thừa; những nội dung Pháp lệnh đã “mở” so với các quy định của pháp luật về tôn giáo trước đây sẽ tiếp tục được giữ nguyên