1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI Ở VIỆT NAM

38 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 117,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nước bị ô nhiễm gây các bệnh: da liễu, đường ruột… và hơ nữa là các bệnh mà thế giới cũng chưa có phương thức cứu chữa: ung thư… Chính vi vậy mà ngành công nghiệp xử lý nước thải cần phả

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Nước khởi nguồn cho mỗi sự sống, nước là một trong nhưng nhu cầu không thể thiếu với bất kì các loài sinh vật kể cả con người Chất lượng môi trường nước ảnh hưởng trực tiếp lên sức khỏe cũng như sự sống của các loài Hiện nay nhu cầu sống đó đang dần bị đe dọa nghiêm trọng Bên cạnh lượng nước bị thâm hụt do sử dụng nước bừa bãi và không đúng mục đích làm chất lượng nước đang suy giảm trầm trọng, mà nguyên nhân chính đó là do ý thức của chính mỗi con người chúng

ta Hằng ngày một lượng nước thải được xả trực tiếp hoặc gián tiếp ra ngoài môi trường mà chưa qua xử lý gây ô nhiễm mỗi nghiêm trọng nguồn nước Hậu quả trước tiên là gây mất cân bằng sinh thái, một sô loài sinh vật bị tuyệt chủng do không thích nghi với nguồn nước bị ôn nhiễm Tiếp đến là ảnh hưởng đên cuộc sống con người của chúng ta Nước bị ô nhiễm gây các bệnh: da liễu, đường ruột…

và hơ nữa là các bệnh mà thế giới cũng chưa có phương thức cứu chữa: ung thư… Chính vi vậy mà ngành công nghiệp xử lý nước thải cần phải đáp ứng nhu cầu về khoa học - kỹ thuật, cũng như sự phát triển về số lượng các nhà máy để giảm thiệu tác động của nước thải đến môi trường

Xử lý nước thải hiện đang vấn đề cực kì quan trọng đối với các tổ chức, nhà máy, doanh nghiệp Việc dây dựng hệ thống xử lý nước thải có thể tiến hành ngay gần với nơi mà nó được tạo ra Trong những năm gần đây, mặc dù đầu tư vào lĩnh vực thoát nước và xử ký nước thải đòi hỏi lượng vốn đầu tư rất lớn nhưng đa phần các đô thị lớn và vừa đều đã có dự án thoát nước và vệ sinh môi trường với quy mô khác nhau Tuy nhiên, hệ thống thoát nước đô thị được đầu tư qua nhiều thời kỳ khác nhau, nhiều công trình đã xuống cấp, khả năng tiêu thoát kém, gây ô nhiễm môi trường

Bên cạnh những lợi ích to lớn từ quá trình phát triển kinh tế, xã hội như đời sống người dân ngày một nâng cao thì vấn đề ô nhiễm môi trường cũng đã, đang

Trang 2

nảy sinh và tác động tiêu cực đến đời sống xã hội và sức khỏe của người dân Thực hiện chủ chương xây dựng Nông thôn mới của Đảng và Nhà nước, một số vùng nông thôn Việt Nam đang triển khai rất tốt công tác này, đem lại những thay đổi tích cực về các mặt kinh tế, xã hội và vệ sinh môi trường.

CHƯƠNG I: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI Ở VIỆT NAM

BỐI CẢNH VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ

NƯỚC THẢI

Cơ sở pháp lý phát triển ngành cấp thoát nước- Môi trường nước Việt Nam

- Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, Nghị quyết số 41 của Bộ Chính trị và các Nghị định, văn bản của Chính phủ, các bộ, ngành hướng dẫn triển khai các luật hay các chiến lược này

- Chiến lược Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

- Hệ thống tiêu chuẩn/quy chuẩn môi trường và tiêu chuẩn ngành đã được thiết lập và ngày càng đường hoàn thiện, bổ sung, chỉnh sửa

Trang 3

- Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020" trong Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23-1-1998, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển các đô thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng: Hiên có khoảng 754 đô thị và khoảng 1000 đô thị vào năm 2025.

- Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã có các Quyết định số 1929/QĐ-TTg và 1930/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 phê duyệt định hướng phát triển cấp, thoát nước

đô thị và Khu công nghiệp (KCN) Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm

2050 cùng nhiều văn bản chiến lược khác như Quyết định 328/2005/ QĐ-TTg ngày

12 tháng 12 năm 2005 về kiểm soát ô nhiễm, Nghị Định CP số 88/2007/NĐ CP, ngày 28-5-2007 về Thoát nước Đô thị và Khu Công nghiệp, Điều này đỏi hỏi ngành Nước mà cụ thể là Cấp Thoát nước-Kỹ thuật môi trường phải góp phần thực hiện

- Quyết định số 104 ngày 25-8-2000 của Thủ tướng Chính Phủ Về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 và các chương trình mục tiêu Quốc gia cấp nước và vệ sinh nông thôn 2006-2010, 2011-2015

- Mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 ghi rõ về kết cấu hạ tầng và môi trường đô thị, công nghiệp, nông thôn:

“Kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, với một số công trình hiện đại Tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 45% Số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%.”

“Cải thiện chất lượng môi trường Đến năm 2020, đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 45% Hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh mới áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung 95% chất thải rắn

Trang 4

thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng Hạn chế tác hại của thiên tai Chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng”

Theo Điều chỉnh Định hướng phát triển thoát nước đô thị và khu công

nghiệp Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 (phê duyệt theo QĐ số 589/QĐ-Ttg ngày 06/4/2016) đã đặt ra mục tiêu tổng quát: Phát triển hệ thống thoát nước ổn định và đồng bộ bao gồm xây dựng mạng lưới thu gom, chuyển tải

và nhà máy xử lý nước thải theo từng giai đoạn, phù hợp với quy hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt, phát huy tối đa công suất thiết kế các nhà máy xử lý nước thải bảo đảm hiệu quả quản lý và đầu tư xây dựng Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là: 15% đến 20% tổng lượng nước thải tại các đô thị được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trước khi xả ra môi trường; và đến năm 2025 là: 50% tổng lượng nước thải tại các đô thị loại II trở lên và 20% đối với các đô thị từ loại V trở lên được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trước khi

xả ra môi trường

Theo các tài liệu điều tra, khảo sát, thống kê về thoát nước và xử lý nước thải đô thị, tỷ lệ bao phủ mạng lưới thoát nước ở các đô thị nước ta hiện chỉ đạt khoảng 30 - 70%, tỉ lệ nước thải đô thị được thu gom và xử lý đạt được từ 12 - 15% lượng nước thải phát sinh Đặc biệt, còn có sự chênh lệch lớn về mức độ bao phủ của hệ thống thoát nước và xử lý nước giữa các đô thị do mức độ quan tâm và năng lực đầu tư khác nhau

Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, cùng sự ra đời của nhiều cụm dân cư, nhiều khu đô thị mới phát sinh một lượng lớn nước thải xả ra môi trường Ngoài ra, nhiều dự án thoát nước đã được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn vay hỗ trợ phát triển (ODA) cũng chưa phát huy được hiệu quả để bảo vệ môi trường do việc đầu tư

Trang 5

chưa đồng bộ giữa công trình xử lý với mạng lưới thu gom cũng như trình độ quản

lý, vận hành hệ thống chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế… Do vậy, ô nhiễm môi trường do nước thải đô thị đang là một vấn đề gây bức xúc cho toàn xã hội, ảnh hưởng đến môi trường sống và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Quá trình đô thị hóa từ 1990 đến nay và dự báo tương lai

Từ ngày 2 tháng 7 năm 2009, phân loại đô thị sẽ tiến hành theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ban hành ngày 07 tháng 5 năm 2009 (Nghị định này thay thế Nghị định 72/2001/NĐ-CP ban hành ngày 05 tháng 10 năm 2001)

Bảng 1 Diễn biến quá trình đô thị hóa ở nước ta trong 25 năm qua và dự báo đến năm 2020

m

1986

1990

1995

2000

2005

2009

2010

(

Dự báo)

2020

(Dự báo)

Số

đô thị các

loại

480

5

649

689

754

13,77

14,938

19,47

22,6

25,4

20,0

20,75

24,18

26,7

29,6

33,0

45,0

Trang 6

đô thị

trên tổng

dân

số(%)

- Tổng số dân của Việt nam vào 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là

85.789.573 người, trong đó có 25.374.262 người cư trú ở khu vực thành thị, chiếm 29,6%

Chiến lược phát triển đô thị đến năm 2020:

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020" trong Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23-1-1998, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển các đô thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng: Hiên có khoảng 754 đô thị Tới năm 2025 Việt Nam

Trang 7

- Phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế

(KCN,KCX,KKT): Tính từ năm 1991 đến hết tháng 9/2009, trải qua 18 năm xây dựng và phát triển, cả nước đã thành lập được 223 KCN, phân bố trên 54 tỉnh, thành phố trên cả nước Trong số 223 khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN-KCX) được Chính Phủ phê duyệt thành lập, trong đó có 120 KCN-KCX đi vào hoạt động, hơn 100 KCN đang trong quá trình xây dựng cơ bản Tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt khoảng 50% [1]

Như vậy tới nay chúng ta đã có khoảng 1900 KCN, CCN, 34 KKT

Theo Quyết định 1107/QĐ-TTg ngày 21-8-2006, đến 2015 nước ta sẽ có thêm 115 KCN mới và mở rộng 27 KCN đã có

Các doanh nghiệp hay xí nghiệp công nghiệp nói chung: Nếu kể cả những đơn vị ngoài KCN, KCX, CCN, KKT, trên toàn quốc có khoảng trên 500 000 doanh nghiệp Dự kiến đến năm 2020 sẽ có khoảng trên 600 000 doanh nghiệp Ngoài ra ở nước ta còn có khoảng 1450 làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp

THỰC TRẠNG CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI Ở VIỆT NAM

Hiện trạng công nghệ xử lí nước cấp sinh hoạt va công nghiệp

2.1.1 Công nghệ đang áp dụng

Hiện ở đô thị sử dụng nguồn nước mặt và nước ngầm Ngoài ra, một số hộ vùng ven đô và nông thôn có sử dụng cả nước mưa

Trang 8

Trong toàn quốc, tỷ lệ sử dụng nguồn nước mặt khoảng 60%, nước ngầm khoảng 40%

Các thành phố lớn, các nhà máy nước (NMN) có công suất từ vài chục ngàn m3/ngđ tới vài trăm ngàn m3/ngđ: NMN Thủ Đức (TP HCM) có tổng công suất 1.200.000 m3/ngđ, các NMN ngầm ở Hà Nội có công suất từ 30.000 - 60.000 m3/ngđ (thường chia thành đơn nguyên 30.000 m3/ngđ, xây dựng thành từng đợt, NMN Sông Đà 600.000 m3/ngđ, giai đoạn 1 đã xây dựng 1 đơn nguyên 300.000 m3/ngđ đã hoạt động Tại các thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh, các nhà máy nước

có công suất phổ biến từ 10.000 m3/ngđ tới 30.000 m3/ngđ Các trạm cấp nước của các thị trấn thường có công suất từ 1000 m3/ngđ tới 5000 m3/ngđ, phổ biến nhất xung quanh 2000 m3/ngđ

Công nghệ và công trình xử lý nước

Công nghệ xử lý nước mặt phổ biến là keo tụ + lắng + lọc nhanh trọng lực + khử trùng

Công nghệ xử lý nước ngầm chủ yếu là khử sắt ( hoặc khử mănggan) bằng phương pháp làm thoáng + lắng tiếp xúc + lọc nhanh trọng lực + khử trùng

Các công trình đơn vị trong trạm xử lý đa dạng:

Các công trình keo tụ ( đa số dùng phèn nhôm, PAC) với bể trộn đứng, trộn

cơ khí, bể tạo bông có vách ngăn zic zac, tạo bông có tầng cặn lơ lửng, tạo bông kiểu cơ khí

Các công trình lắng: bể lắng đứng ( cho trạm công suất nhỏ) bể lắng ngang thu nước cuối bể, thu nước bề mặt được sử dụng khá rộng rãI ở các dự án thành phố, thị xã, bể lắng ngang lamen ( công nghệ Pháp) được sử dụng tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc: Lao Cai, Yên BáI, Phú Thọ, Hoà Bình, Hưng Yên và san bay Đà Nẵng Loại bể này đang được phổ biện ở một số địa phương khác Bể lắng Pulsator

Trang 9

( công nghệ Pháp) được dùng ở Nam Định, Cần Thơ và bể lắng ly tâm ( TháI Bình)

là 2 loại bể lằng ít được sử dụng

Các công trình lọc: Bể lọc nhanh trọng lực ( lọc hở với vật liệu lọc là cát) được dùng rộng rãi Bể lọc AQUAZUR-V ( Công nghệ Pháp) được dùng khá nhiều ở các dự án cấp tỉnh, thành phố ( Kiểu AQUAZUR-V, nhưng không mua bản quyền của Degrémont)

Khử trùng: phổ biến dùng clo lỏng, một số trạm nhỏ dùng nước giaven hoặc ôzôn

Trạm bơm đợt 2: một số trạm dùng máy biến tần để điều khiển chế độ hoạt động của máy bơm, một vài nơi có dùng đài nước trong trường hợp địa hình thuận lợi, một số nơi tận dụng đài nước đã có trước

Các công trình làm thoáng: Phổ biến dùng tháp làm thoáng tự nhiên ( Dàn mưa), một số ít dùng thùng quạt gió ( làm thoáng cưỡng bức), một số trạm khác dùng tháp làm thoáng tải trọng cao theo nguyên lý làm việc của Ejector

Chất lượng nước sau xử lý hầu hết đạt tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn cuả tổ chức y tế thế giới Một số nhà máy còn một vài chỉ tiêu chưa đạt như măng gan, amôni, arsenic

Cấp nước nông thôn - Các loại mô hình cấp nước sinh hoạt nông thôn

Người dân nông thôn Việt Nam tuỳ điều kiện của mình đã sử dụng cả 3 loại nguồn nước (nước mưa, nước ngầm và nước mặt) cho nhu cầu cấp nước phục vụ sinh hoạt

Từ những đặc điểm riêng biệt từng vùng ở nông thôn Việt Nam hiện đang tồn tại 2 loại hệ thống công trình cấp nước cơ bản:

+ Các công trình cấp nước phân tán: Các công trình cấp nước nhỏ lẻ truyền thống phục vụ cho từng hộ gia đình, những nhóm hộ dùng nước hay các cụm dân

cư sống độc lập, riêng lẻ mật độ thấp

Trang 10

+ Các công trình cấp nước theo kiểu công nghiệp tập trung: Hệ thống dẫn nước tự chảy và hệ thống bơm dẫn nước phục vụ cho các thị trấn, thị tứ, các cụm dân cư sống tập trung của xã

Đánh giá về công nghệ và sự hoạt độngquản lý vận hành xử lý nước cấpCác nhà máy nước ở các đô thị và công nghiệp được thiết kế, xây dưng với công nghệ phù hợp Trang thiết bị công nghệ ngày càng được hiện đại hóa.Tới nay tất cả các đô thị loại III trở lên và khoảng 30% số đô thị loại IV và V (thị trấn

huyện lỵ) đều đã được đầu tư mới hoặc nâng cấp cải tạo, theo công nghệ-thiết bị mới, hiện đại Đã cấp nước máy cho trên 70% dân đô thị và 190 KCN tập trung

Chất lượng quản lý, vận hành các nhà máy nước/các công ty Cấp nước địa phương đã được nâng lên nhiều so với trước đây

Tuy nhiên việc lập kế hoạch bảo dưỡng, vận hành cũng còn là lỗ hổng so với các nước công nghiệp phát triển Các nhà máy nước mặt chưa lường hết những tình huống vận hành khác nhau như sự biến động chất lượng nước đầu vào vào theo mùa, sự ô nhiễm nguồn nước Do vậy chất lượng nước sản xuất đôi khi chưa đạt yêu cầu, khách hàng còn kêu ca

Đối với các trạm cấp nước tập trung nông thôn, do nhiều nguyên nhân, trong

đó nguyên nhân quan trọng là cơ chế tổ chức quản lý, chưa tính đúng, tính đủ các chi phí vận hành nên nhiều công trình với chi phí đầu tư lớn nhưng chỉ vận hành được một thời gian ngắn là dừng không vận hành, hoạt động

Vấn đề quản lý chất lượng nước cấp sinh hoạt nông thôn (QLCLNSHNT) cũng là vấn đề cần lưu tâm Hiện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt dự án và bắt đầu thực thi

Hiện trạng công nghệ xử lý nước thải đô thị và công nghiệp

Xử lý nước thải sinh hoạt đô thị

Đối với nước thải đô thị, khu dân cư, hầu hết sử dụng bể tự hoại xử lý tại chỗ thuộc các hộ gia đình Các bể tự hoại được xây dựng thời Pháp thuộc đều có

Trang 11

ngăn lọc hiếu khí, sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, người ta chỉ dùng bể

tự hoại không có ngăn lọc và được gọi là bể bán tự hoại Tới nay có khoảng 10 nhà máy xử lý nước thải đô thị đã được xây dựng và đưa vào hoạt động tại Hà Nội, Đà Nẵng, Buôn Ma thuột, Đà Lạt và TP Hồ Chí Minh

Đa số các các đô thị Việt Nam chưa có nhà máy/trạm xử lý nước thải tập trung

Hiện nay đã có một số thành phố khác đang thực hiện dự án thoát nước và

vệ sinh môi trường như TP Huế, Hạ Long, Việt trì, Thanh Hoá, Đồng Hới, Nha Trang, Quy Nhơn Công nghệ xử lý nước thải là công nghệ sinh học hiếu khí bằng bùn hoạt tính hoặc áp dụng công nghệ xử lý đơn giản là hồ sinh học Các đô thị nhỏ hầu như chưa có dự án thoát nước và xử lý nước thải

Xử lý nước thải bệnh viện, trường học hay cơ quan NCKH:

Tại các bệnh viện như BV Quân đội 108, BV Bạch Mai, BV Hai Bà Trưng,

Hà Nội (Xây dựng mới), BV Việt-Tiệp , BV Nhi TP Hải Phòng, BV Đa khoa TP Huế,BV Nhi Thuỵ Điển Hà nội và BV Uông Bí, BV Nhi TP HCM có trạm xử lý nước thải với công nghệ xử lý sinh học hiếu khí bằng bùn hoạt tính hoặc kết hợp

xử lý bằng phương pháp hóa học, Viện KHVN nay là Viện KH & CN Quốc Gia đã xây dựng và vận hành trạm xử lý nước thải bằng hóa học và sinh học Hiện có khoảng 100-150 trong số 1100 bệnh viện (hay khoảng 10-15% số bệnh viện) có trạm xử lý nước thải bệnh viện đưa vào hoạt động

Xử lý nước thải công nghiệp

Hiện tại ở nước ta ước tính đã có khoảng 60-70 nhà máy xử lý nước thải tập trung tại các KCN-KCX, trong số 171 KCN-KCX đưa vào hoạt động (tổng số có

223 KCN-KCX có quyết định thành lập)

Cũng khoảng 60% số khu công nghiệp và nhiều cụm cụng nghiệp, nhà máy,

cơ sở sản xuất, các làng nghề chưa có trạm XLNT, có nơi đã xây dựng trạm XLNT

Trang 12

nhưng không hoạt động Công nghệ XLNT thường dùng là phương pháp bùn hoạt tính và lọc sinh học.

Công nghệ xử lý nước thải công nghiệp khá đa dạng và đặc biệt có xuất xứ

từ nhiều nước Do đô các thiết bị cũng có xuất xứ từ nhiều nguồn cung cấp Kết quả sẽ gây nhiều khó khăn cho việc sửa chữa, thay thế khi cần thiết

2.2.4 Xử lý nước thải làng nghề

Trong vòng 10 năm lại đây vấn đề môi trường làng nghề đã được nhiều chương trình NCKH quan tâm như Làng nghề Việt Nam và Môi trường [4] và nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng khác Cho đến nay một số cơ sở ở làng nghề dệt nhuộm Dương Nội, Hà Đông, Giấy Yên Phong, Bắc Ninh, Cơ sở mạ kim

loại, dùng công nghệ hóa học-keo tụ, kết tủa + lắng nước thải Một số cơ sở chế biến giấy còn áp dụng keo tụ kết hợp tuyển nổi Một số cơ sở chế biến bún-bánh

đa đã áp dụng bãi lọc sinh học ngập nước, một số khác dùng bãi lọc trồng cây Nhìn chung công nghệ xử lý nước thải các làng nghề, tùy thuộc từng ngành sản xuất, tùy thuộc điều kiện từng làng xóm mà áp dụng các công nghệ đa dạng khác nhau,

2.2.5 Đánh giá công nghệ và hoạt động vận hành xử lý nước thải

Do khả năng kinh tế của Việt Nam còn có hạn, nên việc đầu tư xử lý nước thải đô thị chưa được nhiều, như đã mô tả ở mục 2.2.1 Việc hút bùn từ bể tự hoại cũng chưa thực hiện đúng thời hạn

Trong khoảng 10-15 năm lại đây các cơ quan nghiên cứu và các trường đại học đã nghiên cứu theo hướng công nghệ xử lý chi phí thấp và đang áp dụng ở một

số nơi và thu được kết quả ban đầu

Việc quản lý vận hành và bảo dưỡng ở các nhà máy xử lý nước thải với mọi cấp độ và quy mô đang là một vấn đề lớn không chỉ đối với nước ta mà cả các nước đang phát triển Đây không chỉ đơn thuần là quản lý kỹ thuật, mà còn liên quan đến chi phí kinh tế Do vậy nhiều nhà máy/trạm xử lý nước thải, khi xây dựng

Trang 13

với kinh phí đầu tư lớn nhưng không hoạt động Hệ quả là hiệu suất xử lý rất thấp Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu đánh giá một cách nghiêm túc.

Hiện nay công nghệ, thiết bị xử lý nước thải ở nước ta có xuất xứ từ nhiều nước như Nhật, Pháp, Ý, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Mỹ Trong khi nước ta còn chưa có công nghiệp sản xuất, chế tạo thiết bị chuyên dụng Đây sẽ là thách thức lớn đối với nước ta trong những năm tới

Đối với các làng nghề , đã đang áp dụng một số công nghệ khác nhau, tùy thuộc lĩnh vực sản xuất và điều kiện cụ thể của địa phương Vấn đề là với công nghệ hóa học hay hóa lý các cơ sở có vận hành một cách thường xuyên hay không hay vận hành có hiệu quả hau không lại là chuyện khác

Nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực thoát nước tại Việt Nam gắn liền với sự phát triển đô thị (Tình hình phát triển đô thị Việt Nam ) Theo báo cáo của

Bộ Xây dựng, trong những năm gần đây hệ thống các đô thị Việt Nam từng bước phát triển: mở rộng về quy mô, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; diện mạo đô thị đã có nhiều thay đổi; chất lượng đô thị ngày càng được nâng cao; trong đó có vai trò rất lớn của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thoát nước và môi trường

2.2.6 Hiện trạng doanh nghiệp hoạt động xử lý nước thải

Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thoát nước đã thực hiện nhiệm

vụ thoát nước ở hầu hết các đô thị: đô thị đặc biệt, đô thị loại I, II, III và loại IV Đến nay có khoảng trên 70 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thoát nước

Trang 14

Do đặc thù của từng đô thị, số doanh nghiệp chuyên làm nhiệm vụ thoát nước chỉ tập trung ở một số đô thị lớn (có 5 doanh nghiệp) có 17 doanh nghiệp hoạt động trong cả lĩnh vực cấp và thoát nước; còn lại các doanh nghiệp hoạt động mang tính chất đa ngành nghề, bao gồm cả môi trường, xây dựng, v.v…

Thực hiện chủ trương của Nhà nước, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nước đang tiến hành cổ phần hóa Cho đến nay, đã có khoảng 30% các

doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thoát nước tiến hành xong cổ phần hóa và đang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần Số doanh nghiệp còn lại đang xây dựng phương án cổ phần hóa toàn bộ công ty hoặc cổ phần hóa một bộ phần công ty

Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thoát nước những năm trước đây chủ yếu tập trung vào vấn đề thoát nước, tránh ngập úng trong các đô thị.Vấn đề

xử lý nước thải hầu như chưa được chú ý Thời gian gần đây, vấn đề xử lý nước thải đang từng bước được các đô thị quan tâm Theo báo cáo của Cục Hạ tầng Kỹ thuật - Bộ Xây dựng, đến nay có khoảng 40 nhà máy xử lý nước thải tập trung đã xây xong và đưa vào vận hành với tổng công suất thiết kế 800.000 m3/ngày.đêm và

có khoảng 50 nhà máy nước thải tập trung đang trong quá trình thiết kế, xây dựng hoặc chuẩn bị hoàn thành (Hiện trạng các nhà máy xử lý nước thải tại Việt Nam )

Xuất phát từ những đặc điểm và yêu cầu phát triển của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này phải tiếp tục tăng cao về số lượng, nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ đáp ứng cho nhu cầu trước mắt, đặc biệt là

nguồn nhân lực để quản lý, vận hành hiệu quả các nhà máy xử lý nước thải với công nghệ xử lý đa dạng, hiện đại trong tương lai

Trang 15

Từ kết quả tầm soát về tình hình đầu tư xây dựng và hoạt động của các Nhà máy xử lý nước thải đô thị cho thấy:

Hiện nay có khoảng hơn 40 nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung đã đi vào hoạt động với tổng công suất thiết kế khoảng 800.000 m3/ngđ và,

Gần 50 nhà máy đang trong giai đoạn lập dự án, thiết kế hoặc đang xây dựng nâng tổng công suất khoảng 2.100.000 m3/ngđ

Các nhà máy đang hoạt động nhưng thực tế chỉ vận hành chưa đến 60% công suất thiết kế

Tỷ lệ nước thải sinh hoạt được xử lý khoảng 12% so với tổng lượng nước thải phát sinh, còn thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu đặt ra cho giai đoạn 2020 theo Chiến lược về thoát nước đô thị và khu công nghiệp đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt

Để ngành thoát nước đô thị phát triển đáp ứng được nhu cầu của xã hội, cần tiếp tục có những nghiên cứu đánh giá cụ thể về hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng các công trình nhà máy xử lý nước thải đô thị hiện nay, từ đó đề xuất những biện pháp khắc phục những điểm yếu kém

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, quy hoạch chuyên ngành và có những giải pháp đột quá trong quản lý xây dựng và thu hút đầu tư cho lĩnh vực thoát nước

đô thị

Cần có kế hoạch điều tra, khảo sát nguồn nhân lực đang làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp thoát nước để biết được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này, đáp ứng cho nhu cầu trước mắt và cho cả trong tương lai

YÊU CẦU THỰC TẾ VÀ ĐỊNH HƯỚNG

Trang 16

Đối với các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật của KCN.

Chỉ tiếp nhận các dự án có công nghệ sản xuất hiện đại, công nghệ cao hoặc ít gây ô nhiễm; Các dự án áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn, công nghệ thân thiện môi trường

Dựa trên cơ sở quy chuẩn môi trường, chủ đầu tư xây dựng kinh doanh

và hạ tầng KCN xây dựng nội quy cụ thể về nước thải, khí thải, CTR áp dụng cho các khách hàng trong KCN Các doanh nghiệp thuê đất tại KCN đều phải tuân thủ các quy định về XLNT sơ bộ Tại các tuyến cống thu gom nước thải từ các nhà đầu

tư, cần có các giếng thăm cho phép tiếp cận và lấy mẫu, quan trắc lưu lượng và chất lượng nước thải từ các nhà máy trong KCN Chủ đầu tư hạ tầng KCN cần thỏa thuận rõ ràng với các nhà thầu về chất lượng nước đầu vào trạm XLNT, các biện pháp kiểm tra, xử lý sự cố

Các doanh nghiệp định kỳ báo cáo kết quả quan trắc kiểm soát chất lượng nước thải, khí thải, tình hình quản lý CTR và chất thải nguy hại cho cơ quan quản

lý môi trường địa phương và gửi báo cáo cho đơn vị quản lý hạ tầng KCN Tiến hành kiểm tra định kỳ 2 lần/năm toàn bộ hệ thống thoát nước, XLNT của các

doanh nghiệp, để có thông tin và đưa ra các giải pháp xử lý thiết thực

Trạm XLNT KCN cần có nguồn phát điện dự phòng Trạm cần được thiết kế, xây dựng, vận hành với đầy đủ các giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu, khắc phục sự cố Quản lý, giám sát chặt chẽ, phát hiện, ứng phó tại chỗ và thông báo kịp thời cho các đơn vị chức năng (Chi cục BVMT, Cảnh sát Môi trường ) phối hợp giải quyết

Về lâu dài, cần hướng tới việc thiết kế, xây dựng trạm XLNT tiên tiến, thân thiện với môi trường và bền vững Áp dụng các biện pháp như chọn vị trí và bố trí mặt bằng các công trình hợp lý; Các giải pháp thay thế Clo để khử trùng nước thải sau xử lý; Đặc biệt quan tâm đến việc xử lý và thải bỏ bùn, tái sử dụng/tuần hoàn

Trang 17

nước thải, tận dụng nhiệt và các dòng năng lượng khác trong trạm XLNT và trong KCN; Đầu tư cho Phòng thí nghiệm hỗ trợ vận hành và kiểm soát XLNT; Chú trọng đến việc chuẩn bị, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tiếp nhận và vận hành trạm XLNT

Đối với các cơ quan QLNN về BVMT

Cần tập trung đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức của cộng đồng và chủ đầu tư các KCN, CCN, các doanh nghiệp về BVMT, kiểm soát ô nhiễm Theo dõi, thu thập thông tin thường xuyên Phát triển mạng lưới cộng tác viên, nhân dân, phát hiện kịp thời các hành vi sai phạm Xây dựng mối quan hệ đối tác, cùng chung tay bảo vệ sức khỏe cộng đồng và BVMT, đồng thời bảo vệ quyền lợi, sự công bằng của những doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, bên cạnh việc kiên quyết xử lý các vi phạm

Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về quản lý ô nhiễm nước thải công nghiệp, khắc phục những chồng chéo và những khoảng trống Xây dựng quy trình

cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của lực lượng Cảnh sát Môi trường, sự phối hợp với các cơ quan khác như: Thanh tra, Chi cục BVMT địa phương, các chế tài xử lý vi phạm

Xây dựng các chương trình, dự án tăng cường năng lực của đội ngũ cán

bộ quản lý môi trường một cách dài hạn, bài bản, có hệ thống, kết hợp với trang bị các phương tiện và thiết bị phù hợp phục vụ quan trắc ô nhiễm nước thải công nghiệp, ứng dụng các công nghệ hiện đại trong quan trắc môi trường, cảnh báo và phát hiện sự cố ô nhiễm như GIS, SCADA Khai thác, sử dụng dữ liệu các trạm

Trang 18

quan trắc tự động (AMS), lắp đặt tại các KCN theo quy định của Thông tư

08/2009-BTNMT và Thông tư 48/2011-BTNMT Có cơ chế chia sẻ dữ liệu, khai thác hệ thống trang thiết bị và các nguồn lực quản lý môi trường của địa phương, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu, các doanh nghiệp và các KCN, CCN một cách hiệu quả nhất

Kiểm tra thường xuyên việc chấp hành các quy định của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho các doanh nghiệp về kiểm soát ô nhiễm, theo phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh"

Xây dựng bộ chỉ số, chỉ tiêu ô nhiễm đặc thù cho các loại hình sản xuất, cho các KCN, CCN để có được thông tin xác thực về sự tuân thủ quy định và các trường hợp vi phạm, với thời gian nhanh nhất và chi phí ít nhất Sử dụng các chỉ thị sinh học (nhất là ở khu vực nguồn tiếp nhận nước thải), các phương pháp đánh giá nhanh, kết hợp với các phương thức quan trắc truyền thống Bên cạnh các chỉ tiêu

về nước thải, cần quan tâm đến kiểm tra xử lý mùi, tiếng ồn, bùn và CTR các loại

từ trạm XLNT

Khi kiểm tra, đánh giá hoạt động của trạm XLNT, bên cạnh việc lấy mẫu phân tích chất lượng nước một cách có hệ thống và đúng tiêu chuẩn, còn có thể nhận biết thực tế hoạt động của trạm XLNT thông qua các thông số như: sổ sách ghi chép tại phòng thí nghiệm trong trạm XLNT, các số liệu về tiêu thụ điện, nước, hóa chất, thông tin về vận chuyển bùn, hồ sơ vận hành, kết quả quan trắc, phân tích mẫu, dữ liệu theo dõi vận hành hệ thống (nếu có) tại trạm XLNT; Quan sát các thiết bị vận hành, đo lường, điều khiển trong trạm XLNT để có thông tin về thời gian vận hành, việc tuân thủ quy trình vận hành bảo dưỡng hệ thống, công trình và thiết bị Quan sát màu nước thải trong các bể xử lý, nhất là bể xử lý sinh học, nồng

độ bùn trong bể xử lý sinh học, mùi của nước thải Quan sát thực tế hoạt động của

Trang 19

máy làm khô bùn, lượng bùn phát sinh Một trạm XLNT có công trình làm sạch sinh học hoạt động ổn định thường có lượng bùn phát sinh liên tục, với số lượng ổn định; Phối hợp với cơ quan thuế, đơn vị cung cấp nước sạch, điện, thu gom chất thải tìm mối liên hệ giữa doanh thu, lượng điện, nước, nguyên vật liệu sử dụng, lượng sản phẩm làm ra, lượng chất thải chở đi với lượng nước thải xả ra môi trường, làm cơ sở đối chứng, đánh giá sự xác thực báo cáo của doanh nghiệp.

Mục tiêu về cấp nước

Đến năm 2020:

Tỷ lệ bao phủ cấp nước đối với các đô thị loại IV trở lên đạt 90%, tiêu chuẩn cấp nước là 120 lít/người/ngày đêm; các đô thị loại V đạt 70% được cấp nước từ hệ thống cấp nước tập trung với tiêu chuẩn cấp nước 100 lít/người/ngày đêm; chất lượng nước đạt quy chuẩn quy định

Đến năm 2025:

Tỷ lệ bao phủ dịch vụ cấp nước sạch tại các đô thị đạt 100%, với tiêu chuẩn cấp nước bình quân đạt 120 lít/người/ngày đêm, chất lượng nước đạt quy chuẩn quy định

Dịch vụ cấp nước ổn định, liên tục 24 giờ trong ngày, áp lực nước trên toàn mạng đạt quy chuẩn quy định

Mục tiêu Thoát nước

Ngày đăng: 21/05/2017, 23:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Diễn biến quá trình đô thị hóa ở nước ta trong 25 năm qua và dự báo  đến năm 2020 - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI Ở VIỆT NAM
Bảng 1. Diễn biến quá trình đô thị hóa ở nước ta trong 25 năm qua và dự báo đến năm 2020 (Trang 5)
Bảng 1. So sánh ưu và khuyết điểm của các công nghệ xử lý nước thải hiện - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI Ở VIỆT NAM
Bảng 1. So sánh ưu và khuyết điểm của các công nghệ xử lý nước thải hiện (Trang 26)
Sơ đồ công nghệ AAO xử lý nước thải. - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI Ở VIỆT NAM
Sơ đồ c ông nghệ AAO xử lý nước thải (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w