Mục đích của đề tài Phân tích các chỉ tiêu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm tăng hiệu quả hoạt động trên mọi mặt của lĩnh vực kinh doanh như: Sản xuất-quản trị - tài chí
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN NGỌC KHANG
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
CHO CÔNG TY TNHH ĐĂNG CÔNG
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGÔ PHÚC HẠNH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Hạnh Phúc Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
Vĩnh phúc, ngày 27 tháng 3 năm 2013
Người thực hiện
NGUYỄN NGỌC KHANG
Trang 3Do kiến thức còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót
Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn !
Vĩnh phúc, ngày 27 tháng 3 năm 2013
Người thực hiện
NGUYỄN NGỌC KHANG
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH 4
1.1 Tổng quan về hiệu quả kinh doanh 4
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh 4
1.1.2 Phân biệt giữa kết quả và hiệu quả kinh doanh 5
1.1.3 Bản chất hiệu quả kinh doanh 6
1.1.4 Phân loại hiệu quả kinh doanh 7
1.1.5 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh 9
1.2 Nội dung và các chỉ tiêu dùng trong phân tích hiệu quả kinh doanh 10
1.2.1 Nội dung phân tích kết quả kinh doanh 10
1.2.2 Hiệu quả tổng quát 13
1.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào 14
1.3.1 Hiệu quả sử dụng lao động 14
1.3.2 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định 14
1.3.3 Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động 15
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh 15
1.5 Nội dung và phương pháp phân tích 16
1.5.1 Nội dung phân tích 16
Trang 51.5.2 Phương pháp phân tích 17
1.6 Phương hướng và biện pháp để nâng cao hiệu quả SXKD 22
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH ĐĂNG CÔNG 26
2.1 Khái quát chung về Công ty TNHH Đăng Công 26
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 26
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh của Công ty 27
2.1.3 Cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty 27
2.1.4 Các sản phẩm chính và thị trường 29
2.1.5 Nguồn nhân lực của Công ty 31
2.1.6 Cơ sở vật chất và trang thiết bị 33
2.1.7 Công nghệ và quy trình sản xuất 35
2.1.8 Đặc điểm nghiệp vụ bán hàng và công tác quản lý doanh thu bán hàng 36
2.1.7 Nguồn vốn và tài sản 37
2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH Đăng Công 40
2.2.1 Phân tích hiệu quả sử dụng tổng vốn của Công ty TNHH Đăng Công 40
2.2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Công ty 42
2.2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty 43
2.2.4 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty 47
2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng lao động của Công ty TNHH Đăng Công 49
2.4 Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí của Công ty TNHH Đăng Công 52
2.5 Đánh giá chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty 55
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CHO CÔNG TY TNHH ĐĂNG CÔNG 58
3.1 Phương hướng, mục tiêu hoạt động của Công ty trong thời gian tới 58
3.1.1 Cơ hội và thách thức của ngành may mặc ở Việt Nam 58
Trang 63.1.2 Phương hướng hoạt động của công ty 603.1.3 Mục tiêu của Công ty 61
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công
ty TNHH Đăng Công 64
3.2.1 Biện pháp thứ nhất: Giảm giảm các khoản phải thu khách hàng bằng cách sử dụng chiết khấu thanh toán 643.2.2 Biện pháp thứ hai: Giảm lượng hàng hoá tồn kho để giảm trả lãi ngân hàng 673.2.3 Biện pháp thứ ba: Giảm các khoản nợ ngắn hạn và lãi vay bằng cách huy động vốn của cán bộ công nhân viên trong Công ty 69KẾT LUẬN 71TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT Viết tắt Chi tiết
NSLĐ - Năng suất lao động
TSLĐ - Tài sản cố định
TSCĐ - Tài sản lưu động
CBCNLĐ - Cán bộ, công nhân lao động
SXKD - Sản xuất kinh doanh
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Danh mục các sản phẩm chính của Công ty 29 Bảng 2.2 Danh mục nguyên vật liệu chính của Công ty 30 Bảng 2.3: Thống kê về số lượng lao động của Công ty 32 Bảng 2.4: Cơ cấu đội ngũ lãnh đạo của Công ty 32 Bảng 2.5: Thống kê các loại thiết bị hiện có trong Công ty 34 Bảng 2.6: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty 37 Bảng 2.7: Cơ cấu vốn kinh doanh của Công ty 38 Bảng 2.8: Hiệu quả sử dụng tổng vốn của Công ty 41 Bảng 2.9: Hiệu quả sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty 43 Bảng 2.10: Cơ cấu tài sản lưu động của Công ty 44 Bảng 2.11: Hiệu quả suqwr dụng vốn lưu động của Công ty 46 Bảng 2.12: Hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty 48 Bảng 2.13: Cơ cấu lao động của Công ty 49 Bảng 2.14: Hiệu quả sử dụng lao động của Công ty 51 Bảng 2.15: Tổng hợp tình hình thực hiện chi phí của Công ty 53 Bảng 2.16: Hiệu quả sử dụng chi phí của Công ty 54 Bảng 2.17: Tổng hợp các chỉ tiêu hiệu quả SXKD của Công ty 55 Bảng 3.1: Kế hoạch của Công ty từ năm 2013- 2017 63 Bảng 3.2: Phân loại khách hàng theo thời gian thanh toán 64 Bảng 3.3: Các tỷ lệ chiết khấu 66
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ mô hình tổ chức của Công ty 27 Hình 2.2: Dây chuyền sản xuất của Công ty 35 Hình 2 3: Biểu đồ biểu diễn doanh thu, chi phí và lợi nhuận qua các
năm
39 Hình 3.1: Thị trường xuất khẩu dệt may Việt Nam 11 tháng năm 2013 59
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, trong quá trình đó cơ hội mở ra rất nhiều nhưng thách thức cũng không hề ít đòi hỏi các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải nắm bắt được thời
cơ, vượt qua khó khăn thử thách để tồn tại và phát triển
Ngành dệt may luôn là một trong những ngành đi đầu, có vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thị trường thế giới.Trong nhiều năm qua, ngành dệt may Việt Nam luôn là ngành có sự tăng trưởng ổn định và phát triển vượt bậc để trở thành ngành xuất khẩu dẫn đầu cả nước Với gần 4000 doanh nghiệp và khoảng 2,5 triệu lao động, năm 2013 dệt may Việt Nam đã đạt được doanh thu xuất khẩu trên 20 tỷ USD, chiếm 15% GDP Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá cao, ngành dệt may đã có những đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung ở Việt Nam Đặc biệt từ tháng 1/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) sau 11 năm đàm phán, từ đó mở ra cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp trong nước nói chung cũng như các doanh nghiệp trong ngành dệt may nói riêng Bên cạnh đó Việt Nam đang tiến hành đàm phán tham gia hiệp ước đối tác chiến lược về kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TTP) cũng là điều kiện vô cùng thuận lợi mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp về hạn ngạch và thuế xuất
Mặc dù kim nghạch xuất khẩu lớn và liên tục tăng từ năm 2000 trở lại đây, nhưng hiệu quả xuất khẩu của ngành dệt may vẫn còn thấp Giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu hạn chế trong khi là ngành có số lượng lao động và doanh nghiệp đông đảo
Công ty TNHH Đăng Công là doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực may mặc xuất khẩu Sự thành công của từng doanh nghiệp
sẽ góp phần vào sự thành công của đất nước Để có được sự thành công đó điều quan trọng nhất đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh hiện nay là phải kinh doanh có hiệu quả
Trang 11Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi lựa chọn đề tài “Phân tích và đề xuất
một số biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đăng Công ”
2 Mục đích của đề tài
Phân tích các chỉ tiêu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm tăng hiệu quả hoạt động trên mọi mặt của lĩnh vực kinh doanh như: Sản xuất-quản trị - tài chính của doanh nghiệp, để có những tác động kịp thời, trực tiếp vào các mặt hoạt động giúp cho doanh nghiệp có được hiệu quả chung tốt nhất Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp phải luôn đẩy mạnh khả năng cạnh tranh, do vậy không có cách nào khác doanh nghiệp phải tiến hành phân tích toàn diện các mặt của hoạt động kinh doanh Như vậy có thể nói rằng mục tiêu của việc phân tích hoạt động kinh doanh là một hoạt động có tác động sống còn đối với doanh nghiệp, tùy theo quy mô, loại hình doanh nghiệp mà mức độ, phương pháp lựa chọn khác nhau
Mục đích của đề tài là phân tích được thực trạng hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nhận dạng được điểm mạnh, điểm yếu, khó khăn, thuận lợi và phát hiện những yếu kém trong công tác quản lý sản xuất kinh doanh Đồng thời tìm hiểu các nguyên nhân đứng sau thực trạng đó để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục và cải thiện những yếu kém đó
Mục tiêu cụ thể bao gồm:
Tổng hợp cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp/tổ chức
Ứng dụng cơ sở lý luận này để tiến hành phân tích hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Đăng Công
Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Công ty TNHH Đăng Công
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài nhằm đánh giá tình hình sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích
Trang 12hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng trên thực tế thì thường sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp đồ thị và phương pháp thay thế liên hoàn
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Đăng Công trong giai đoạn 2011-2013
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phân tích hiệu quả kinh doanh
Chương 2: Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Đăng Công Chương 3: Một số biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Đăng Công
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
1.1 Tổng quan về hiệu quả kinh doanh
Một doanh nghiệp dù quy mô lớn, trung bình hay nhỏ hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất kỳ lĩnh vực nào để tồn tại và phát triển đều phải hoạt động có hiệu quả Để biết được thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, vấn đề phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Từ kết quả phân tích chính xác, các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ có được những quyết định đúng đắn đưa doanh nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả hơn
Trong cơ chế kinh tế thị trường, mục tiêu bao trùm và lâu dài của mọi doanh nghiệp kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận Để đạt được mục tiêu lớn nhất này, doanh nghiệp phải xác định chính xác kinh doanh phù hợp trong từng giai đoạn thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh, phải phân bổ và quản trị hiệu quả các nguồn lực và luôn luôn kiểm tra đánh giá xem quá trình đang diễn ra
có hiệu quả không
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường có quan
hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động, vốn, máy móc, nguyên vật liệu nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả Khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét để đưa ra các định nghĩa khác nhau
Đối với các doanh nghiệp để đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh cần phải trú trọng đến điều kiện nội tại, phát huy năng lực hiệu quả của các yếu tố sản xuất
và tiết kiệm mọi chi phí Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý nhằm đạt được kết quả tối đa và chi phí tối thiểu Tuy nhiên để hiểu rõ bản chất của hiệu quả cũng cần phân biệt khái niệm hiệu quả
và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 14Ta có thể rút ra khái niệm về hiệu quả như sau: “ Hiệu quả là sự so sánh kết quả đầu ra và yếu tố nguồn lực đầu vào”[theo Nguyễn Ngọc Lân - chuyên đề hiệu quả
kinh tế] Sự so sánh đó có thể là sự so sánh tương đối và so sánh tuyệt đối
Kết quả đầu ra thường được biểu hiện bằng GTTSL, DT, LN Yếu tố nguồn lực đầu vào là lao động, chi phí, tài sản và nguồn vốn
Bên cạnh đó người ta cũng cho rằng “ Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh
tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh” [theo Đỗ Hữu Tùng – giáo trình quản trị tài chính] Hiệu quả kinh doanh ngày nay càng trở lên quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Hiệu quả tuyệt đối được xác định như sau:
A = K - C Chỉ tiêu hiệu quả tương đối được xác định như sau:
C
K
A
Trong đó:
A: Hiệu quả kinh doanh
K: Kết quả kinh doanh (bằng các chỉ tiêu sau: GTTSL, Tổng DT,
LN )
C: Nguồn lực đầu vào (bao gồm: Lao động, chi phí, vốn, thiết
bị .)
1.1.2 Phân biệt giữa kết quả và hiệu quả kinh doanh
Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động thiết bị máy móc, nguyên nhiên liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu, mong muốn mà doanh nghiệp đề
ra
Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ tổ chức và được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Nó là thước do ngày
Trang 15càng quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Hiệu quả kinh doanh càng cao càng có điều kiện mở mang và phát triển đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, nâng cao đời sống cho người lao động, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước
Ngoài ra chúng ta cần phân biệt sự khác nhau và mối quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số tuyệt đối phản ánh quy mô đầu
ra của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi kỳ kinh doanh Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì kết quả cần đạt được bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp Kết quả bằng chỉ tiêu định lượng như số lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận và cũng có thể phản ánh bằng chỉ tiêu định tính như uy tín, chất lượng sản phẩm
Xét về bản chất hiệu quả và kết quả khác hẳn nhau Kết quả phản ánh quy
mô còn hiệu quả phản ánh sự so sánh giữa các khoản bỏ ra và các khoản thu về Kết quả chỉ cho ta thấy quy mô đạt được là lớn hay nhỏ và không phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh Có kết quả mới tính đến hiệu quả Kết quả dùng để tính toán và phân tích hiệu quả trong từng kỳ kinh doanh Do đó kết quả và hiệu quả
là hai khái niệm khác hẳn nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau
1.1.3 Bản chất hiệu quả kinh doanh
Theo nghĩa tổng quát thì hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ quản
lý, đảm bảo thực hiện có kết quả cao về nhiệm vụ kinh tế xã hội đặt ra với chi phí nhỏ nhất Phạm trù kinh tế được hiểu trên hai góc độ đó là định tính và định lượng
Về định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra Nếu xét tổng hợp thì người ta chỉ thu lại được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu về lớn hơn chi phí
bỏ ra, chênh lệch càng lớn thì hiệu quả càng cao
Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế thu được phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh
Trang 16Hai mặt định tính và định lượng của hiệu quả kinh doanh không được tách rời nhau
Hiệu quả kinh tế không đồng nhất với kết quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là phạm trù so sánh, thể hiện mối quan tâm giữa cái bỏ ra và cái thu về Kết quả chỉ là yếu tố cần thiết để phân tích đánh giá hiệu quả tự bản thân mình, kết quả chưa thể hiện được nó tạo ra ở mức độ nào và chi phí nào, có nghĩa riêng kết quả chưa thể hiện được chất lượng tạo ra nó
Bản chất hiệu quả kinh tế là thể hiện mục tiêu phát triển kinh tế và các hoạt động sản xuất kinh doanh , tức là thoả mãn tốt hơn nhu cầu của thị trường Vì vậy nói đến hiệu quả là nói đến mức độ thoả mãn nhu cầu với việc lựa chọn và sử dụng các nguồn lực có giới hạn tức là nói đến kết quả kinh tế trong việc thoả mãn nhu cầu
Tóm lại: Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất xã hội và toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh khác là một yêu cầu cơ bản nhất của mục tiêu phát triển
1.1.4 Phân loại hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả là một phạm trù lớn mang tính tổng hợp vì vậy trong việc tiếp cận, phân tích và đánh giá chỉ tiêu này cần nhận thức rõ về tính đa dạng các chỉ tiêu hiệu quả và phân loại các chỉ tiêu hiệu quả theo các căn cứ sau: Căn cứ theo yêu cầu tổ chức xã hội và tổ chức quản lý kinh tế của các cấp quản lý trong nền kinh tế quốc dân: Phân loại hiệu quả theo cấp hiệu quả của ngành nghề, tiềm lực và theo những đơn vị tế bao gồm:
Hiệu quả kinh tế quốc dân , hiệu quả kinh tế vùng (Địa phương)
Hiệu quả kinh tế sản xuất xã hội khác
Hiệu quả kinh tế khu vực phi sản xuất (Giáo dục, y tế )
Hiệu quả kinh tế Doanh nghiệp (Được quan tâm nhất) Căn cứ vào nội dung và tính chất của các kết quả nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của mục tiêu, người ta phân biệt hiệu quả kinh tế và các loại hiệu quả khác
Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả xã hội
Hiệu quả kinh tế - xã hội
Trang 17 Hiệu quả kinh doanh
Trong các loại hiệu quả trên, chúng ta quan tâm đến hiệu quả kinh doanh vì hiệu quả kinh doanh gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
và cũng là đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp lại được chia ra:
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp
Hiệu quả kinh doanh bộ phận
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh doanh của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (hay một đơn vị bộ phận của doanh nghiệp) trong một thời kỳ xác định
Hiệu quả kinh doanh bộ phận là hiệu quả kinh doanh chỉ xét ở từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của doanh nghiệp (sử dụng từng loại tài sản, nguyên vật liệu, hoạt động kinh doanh chính, liên doanh liên kết ) Nó phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực cụ thể, không phản ánh hiệu quả của từng doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp còn được chia ra theo tiêu thức thời gian:
Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn
Hiệu quả kinh doanh dài hạn
Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng, quý, năm, vài năm…
Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét đánh giá trong khoảng thời gian dài gắn với các chiến lược, kê hoạch dài hạn, thậm chí người ta còn nói đến hiệu quả kinh doanh lâu dài ngắn với quãng đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và ngắn hạn có mối quan hệ biện chứng với nhau
và trong nhiều trường hợp còn mâu thuẫn với nhau Đôi khi vì mục tiêu hiệu quả trong dài hạn mà người ta có thể hy sinh hiệu quả trong ngắn hạn, chẳng hạn như xem xét đối với các tập đoàn bán lẻ nổi tiếng trên thế giới đang thâm nhập vào thị trường Việt Nam như METRO (Carh&Carry) và BIG C (Big Coral)
Trang 181.1.5 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
Sự cần thiết khách quan: Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lãi Để đạt được kết quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần xác định phương hướng mục iêu trong đầu tư Muốn vậy cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức
độ và xu hướng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh Điều này chỉ thực hiện trên cơ sở phân tích kinh doanh
Thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, sự tích tụ cơ bản dẫn đến sự tích tụ sản xuất, các Công ty ra đời sản xuất phát triển cực kỳ nhanh chóng cả về quy mô lẫn hiệu quả, với sự cạnh tranh gay gắt và khốc liệt Để chiến thắng trong cạnh tranh, đảm bảo quản lý tốt các hoạt động của Công ty đề ra phương án giải pháp kinh doanh có hiệu quả, nhà tư bản nhận thông tin từ nhiều nguồn, nhiều loại và yêu cầu độ chính xác cao Với đòi hỏi này công tác hạch toán không thể đáp ứng được vì vậy cần phải có môn khoa học phân tích kinh tế độc lập với nội dung phương pháp nghiên cứu phong phú
Ngày nay với những thành tự to lớn về sự phát triển kinh tế – Văn hoá, trình
độ khoa học kỹ thuật cao thì phân tích hiệu quả càng trở lên quan trọng trong quá trình quản lý doanh nghiệp bởi nó giúp nhà quả lý tìm ra phương án kinh doanh có hiệu quả nhất về Kinh tế- Xã hội – Môi trường
Trong nền kinh tế thị trường để có chiến thắng đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên áp dụng các tiến bộ khoa học, cải tiến phương thức hoạt động, cải tiến tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh nhằm nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả
Tóm lại: Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho nhà quản lý đưa ra những quyết định về sự thay đổi đó, đề ra những biện pháp sát thực
để tăng cường hoạt động kinh tế và quản lý doanh nghiệp nhằm huy động mọi khả năng tiềm tàng về vốn, lao động, đất đai vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 19Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh :
Đối với nền kinh tế quốc dân: hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế quan trọng, phản ánh yêu cầu quy luật tiết kiệm thời gian phản án trình độ sử dụng các nguồn lực, trình độ sản xuất và mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất trong cơ chế thị trường Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng cao, quan hệ sản xuất càng hoàn thiện, càng nâng cao hiệu quả Tóm lại hiệu quả kinh doanh đem lại cho quốc gia sự phân bố, sử dụng các nguồn lực ngày càng hợp lý và đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp
Đối với bản thân doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh xét về mặt tuyệt đối chính là lợi nhuận thu được Nó là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên Đối với mỗi doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và sự phát triển của doanh nghiệp Ngoài ra nó còn giúp doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường, đầu tư, mở rộng, cải tạo,hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh
Đối với người lao động: Hiệu quả kinh doanh là động lực thúc đẩy kích thích người lao động hăng say sản xuất, luôn quan tâm đến kết quả lao động của mình Nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc nâng cao đời sống lao động thúc đẩy tăng năng suất lao động và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
1.2 Nội dung và các chỉ tiêu dùng trong phân tích hiệu quả kinh doanh
Để đánh giá tổng quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh, người ta thường sử dụng chỉ tiêu doanh lợi Các chỉ tiêu này phản ánh mức lời của doanh nghiệp Ngoài
ra còn sử dụng nhiều chỉ tiêu khác để phản ánh hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp
1.2.1 Nội dung phân tích kết quả kinh doanh
Phân tích kết quả kinh doanh giúp cho doanh nghiệp xác định được đầy đủ những nguyên nhân tác động đến quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh [theo Phạm Văn Dược – phân tích hoạt động kinh doanh] Từ đó có những quyết định kinh doanh hiệu quả Bao gồm:
Phân tích hoạt động kinh doanh;
Trang 20Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh;
Phân tích các biến động chi phí sản xuất kinh doanh;
Phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp;
Phân tích biến động doanh thu…
1.2.1.1 Các chỉ tiêu phân tích kết quả kinh doanh
Hệ số doanh lợi, doanh thu thuần:
Phân tích chỉ tiêu doanh thu:
Mục đích: Nhằm thấy được doanh thu biến động theo xu hướng cơ bản nào; cho phép quan sát được các biến động của doanh thu một cách cụ thể, chính xác về số tăng (giảm) tuyệt đối, tốc độ tăng (giảm) tuyệt đối, giá trị tăng giảm …
Phân tích chỉ tiêu lợi nhuận:
Mục đích: Phân tích sự biến động của lợi nhuận theo thời gian để đánh giá được mức độ tăng, giảm của lợi nhuận, xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới lợi nhuận
1.2.1.2 Các phương pháp xác định kết quả
Kết quả kinh doanh = doanh thu – chi phí
- Chỉ tiêu doanh thu: Doanh thu của doanh nghiệp trong thời kỳ xem xét (thường là 1 năm) là tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán được trong thời kỳ đó (đã xuất hóa đơn bán hàng)
Doanh thu = giá bán x Số lượng hàng bán
- Chỉ tiêu doanh thu:
Doanh thu được chia làm 3 loại:
Với giá bán có tính thuế GTGT thì doanh thu được gọi là doanh thu có thuế GTGT
Trang 21Với giá bán chưa tính thuế GTGT thì doanh thu được gọi là doanh thu chưa có thuế GTGT
Doanh thu chưa có thuế do khấu trừ các khoản liên quan như: giảm giá hàng bán, chiết khấu, hàng trả lại thì được gọi là doanh thu thuần
Chi phí: Chi phí của doanh nghiệp có thể được hiểu là: Toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định Như vậy, bản chất của CPSX của doanh nghiệp luôn được xác định là những tổn phí (hao phí) về vật chất và phải gắn liền với mục đích kinh doanh
Chi phí hoạt động của doanh nghiệp bao gồm: Chi phí hoạt động kinh doanh thông thường bao gồm (chi phí SXKD và chi phí tài chính); chi phí hoạt động khác
Căn cứ theo khả năng quy nạp chi phí và đối tượng cuả chi phí, phân loại thành: Chi phí trực tiếp; chi phí gián tiếp
Theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh, chi phí được xác định là: Chi phí cơ bản; chi phí không cơ bản
Theo mối quan hệ với mức độ hoạt động, chi phí được phân loại: Chi phí khả biến và chi phí bât biến
Như vậy: Chi phí sản xuất kinh doanh có tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí tăng thì kết quả giảm, chi phí giảm thì kết quả tăng, vì vậy doanh nghiệp luôn chú trọng đến việc tiết giảm chi phí, phân loại chi phí để có được kết quả kinh doanh tốt nhất
- Chỉ tiêu lợi nhuận: Lợi nhuận kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh phần giá trị thặng dư hoặc mức hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được
Lợi nhuận kinh doanh = doanh thu - chi phí
Lợi nhuận kinh doanh bao gồm: Lợi nhuận thu được từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh; lợi nhuận thu được từ kết quả hoạt động tài chính; lợi nhuận khác
Phương pháp tính:
Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần - Tổng giá vốn hàng bán
Trang 22Lợi nhuận trước thuế = Lợi nhuận gộp - Tổng chi phí BH và QLDN
1.2.2 Hiệu quả tổng quát
1.2.2.1 Hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Sức sản xuất của tổng tài sản:
SSXTS =
Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng tài sản bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì thu đượcbao nhiêu đồng doanh thu thuần
Sức sinh lợi của tổng tài sản (ROA):
SSLTS =
Lợi nhuận
= ROA Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng tài sản bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
1.2.2.2 Hiệu quả sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu
Sức sản xuất của nguồn vốn chủ sở hữu
SSXVCSH =
Doanh thu thuần
= ROE Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra kinh doanh thì đem lại bao nhiêu đồng doanh thu
Sức sinh lợi của nguồn vốn chủ sở hữu (ROE):
SSLVCSH =
Lợi nhuận sau thuế
= ROE Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra kinh doanh thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
1.2.2.3 Hiệu quả sử dụng chi phí
Sức sản xuất của chi phí:
Trang 23SSXCP =
Doanh thu thuần Tổng chi phí Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng chi phí bỏ ra trong kỳ thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
Sức sinh lợi của chi phí:
SSLCP =
Lợi nhuận Tổng chi phí Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng chi phí bỏ ra trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
1.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào
1.3.1 Hiệu quả sử dụng lao động
Sức sản xuất của lao động bình quân:
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ, 1 lao động tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Nó phản ánh lao động có ích trong quá trình hoạt động kinh doanh
Sức sinh lợi của lao động:
SSLLĐ =
Tổng lợi nhuận Tổng lao động bình quân Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ, một lao động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
1.3.2 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Sức sản xuất của tài sản cố định:
Trang 24Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng TSCĐ bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Sức sinh lợi của tài sản cố định:
SSLTSCĐ =
Lợi nhuận Tài sản cố định bình quân Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng TSCĐ bỏ ra thì kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
1.3.3 Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Sức sản xuất của tài sản lưu động:
SSXTSLĐ =
Doanh thu thuần Tài sản lưu động bình quân Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng TSLĐ bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Sức sinh lợi của tài sản lưu động:
SSLTSLĐ =
Lợi nhuận Tài sản lưu động bình quân Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng TSLĐ bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tốc độ luân chuyển TSLĐ trong năm:
TĐLCTSLĐ =
Doanh thu Tài sản lưu động bình quân
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là việc nhận thức vạch ra một cách đúng đắn những yếu tố tác động đến kết quả nhất định trong việc phân tích kinh doanh
Trang 25Như vậy việc xác định ảnh hưởng của các nhân tố không những cần phải chính xác
mà còn cần phải kịp thời, không những chỉ xác định các nhân tố đối tượng với hiện tượng kinh tế mà còn phải xác định sự tác động qua lại giữa các nhân tố đó
Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh ta có thể phân loại theo 4 cánh khác nhau là theo tính tất yếu của nhân tố, theo tính chất của nhân tố, theo xu hướng tác động của nhân tố và các nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh
Nhân tố chủ quan: Như giá thành, mức phí lao động, thời gian lao động là
nhân tố tuỳ thuộc nội lực của doanh nghiệp
Nhân tố khách quan: Giá cả thị trường, thuế suất, mức lưong tối thiểu hoặc
trung bình…tác động từ ngoài vào người kinh doanh
Phân tích hiệu quả kinh doanh theo các yếu tố chủ quan và khách quan nhằm đánh giá nỗ lực của bản thân và tìm ra biện pháp tăng hiệu quả kinh doanh
1.5 Nội dung và phương pháp phân tích
1.5.1 Nội dung phân tích
Nội dung nghiên cứu của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là các hiện tượng kinh tế, quá trình kinh tế đã hoặc sẽ xảy ra trong một đơn vị hoạch toán kinh tế độc lập dưới sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau Các hiện tượng và quá trình này được biểu hiện dưới một kết quả sản xuất kinh doanh cụ thể được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế
Kết quả sản xuất kinh doanh có thể là kết quả của từng khâu riêng biệt như kết quả mua hàng, kết quả sản xuất, kết quả bán hàng…hay có thể là kết quả tổng hợp của quá trình kinh doanh: kết quả tài chính Khi phân tích kết quả kinh doanh người ta hướng vào kết quả thực hiện các định hướng, mục tiêu kế hoạnh, phương
án đặt ra
Trong phân tích, kết quả kinh doanh được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế
Đó là sự xác định về nội dung và phạm vi của kết quả kinh doanh Nội dung chủ yếu của phân tích là các chỉ tiêu kết quả kinh doanh như: doanh thu bán hàng, giá trị sản xuất, giá thành, lợi nhuận… Tuy nhiên các chỉ tiêu kết quả kinh doanh luôn luôn được phân tích trong mối quan hệ với các điều kiện (yếu tố) của quá trình kinh
Trang 26doanh như: lao động, tiền vốn, vật tư…Khi phân tích cần hiểu rõ chỉ tiêu số lượng
và chỉ tiêu chất lượng Chỉ tiêu số lượng phản ánh lên quy mô kết quả hay điều kiện kinh doanh như: doanh thu, lao động, vốn, diện tích…Ngược lại chỉ tiêu chất lượng phản ánh lên hiệu suất kinh doanh hay hiệu suất sử dụng các yếu tố kinh doanh như: giá thành đơn vị, tỷ suất chi phí, doanh lợi, năng suất lao động…
Việc xây dựng tương đối hoàn chỉnh hệ thống các chỉ tiêu với phân hệ chỉ tiêu khác nhau, việc phân loại các nhân tố ảnh hưởng theo góc độ khác nhau, không những giúp cho doanh nghiệp đánh giá một cách đầy đủ kết quả kinh doanh, sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp mà còn tìm ra được nguyên nhân của mặt mạnh, mặt yếu để có biện pháp tăng hiệu quả kinh doanh
Khi phân tích, kết quả kinh doanh được biểu hiện thành các chỉ tiêu kinh tế dưới sự tác động của các nhân tố mới là quá trình “định tính”, cần phải lượng hoá các chỉ tiêu và các nhân tố ở những trị số xác định với độ biến động xác định Để thực hiện được các công việc cụ thể đó, cần nghiên cứu khái quát các phương pháp phân tích kinh doanh
1.5.2 Phương pháp phân tích
Cùng với sự phát triển của nhận thức các hiện tượng kinh tế, cũng như sự phát triển của các môn khoa học kinh tế và toán học ứng dụng, hình thành nên các phương pháp tính toán kỹ thuật được sử dụng trong khoa học phân tích kinh tế Để đạt được mục đích của mỗi phương pháp đều có thế mạnh và hạn chế của nó, đòi hỏi phải có trình độ vận dụng một cách thành thạo mới đạt được mục đích đề ra Sau đây là các phương pháp tính toán kỹ thuật thường dùng trong phân tích hoạt động kinh doanh
Trang 27So sánh số liệu thực tế giữa các kỳ, các năm
So sánh số liệu thực hiện với các thông số kỹ thuật – kinh tế trung bình hoặc tiên tiến
So sánh số liệu của xí nghiệp mình với các số kiệu của các xí nghiệp tương ứng hoặc với các đối thủ cạnh tranh
So sánh các thông số kỹ thuật – kinh tế của các phương án kinh tế khác
Ưu điểm lớn nhất của phương pháp so sánh là cho phép tách ra được những nét chung, nét riêng của các hiện tượng được so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được các mặt phát triển, hay kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm ra giải pháp quản lý tốt nhất và tối ưu nhất trong mỗi trường hợp cụ thể
Đòi hỏi có tính nguyên tắc khi áp dụng phương pháp so sánh là:
Các chỉ tiêu hay các kết quả tính toán phải tương dương nhau về nội dung phản ánh
và cách xác định
Trong phân tích so sánh có thể so sánh tuyệt đối, số tương đối và số bình quân
Số tuyệt đối là số tập hợp trực tiếp từ các yếu tố cấu thành hiện tượng
kinh tế được phản ánh
Ví dụ: Tổng sản lượng, tổng chi phí lưu thông, tổng lợi nhuận
Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy khối lượng và quy mô của hiện tượng kinh tế Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội dung phản ánh, cách tính toán xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị do lường của hiện tượng Vì thế dung lượng ứng dụng tuyệt đối trong phân tích so sánh nằm trong một khuôn khổ nhất định
Số tương đối là số biểu thị dưới dạng số phần trăm tỉ lệ hoặc hệ số Sử dụng
số tương đối có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu các hiệ tượng kinh tế đặc biệt cho phép liên kết các chỉ tiêu không tương đương để phân tích so sánh Chẳng hạn thiết lập mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu khối lượng hàng hoá tiêu thụ và lợi nhuận đẻ suy diễn, nếu tăng khối lượng hàng hoá lên 1% thì có thể tăng tổng lợi nhuận lên1% Tuy nhiên số tương đối không phản ánh được chất lượng bên trong cũng
Trang 28như quy mô của hiện tượng kinh tế Bởi vậy trong nhiều trương hợp, khi so sánh cần kết hợp đồng thời cả số tuyệt đối lẫn số tương đối
Số bình quân là số phản ánh mặt trung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự phát
triển không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng kinh tế Số bình quân
có thể biểu thị dưới dạng số tuyệt đối (năng suất lao động bình quân Vốn lưu động bình quân ) Cũng có thể biểu thị dưới dạng số tương đối (tỷ suất phí bình quân, tỷ suất doanh lợi ) Sử dụng số bình quân cho phép nhận định tổng quát về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật
Tuy nhiên vẫn lưu ý rằng số lượng mã số bình quân phản ánh không tồn tại trong thực tế Bởi vậy khi sử dụng nó cần tính tới cả các khoảng dao động tối đa
Phương pháp thay thế liên hoàn
Thay thế liên hoàn là thay thế lần lượt số liệu gốc hoặc số liệu kế hoạch bằng
số liệu thực tế của nhân tố ảnh hưởng tới một chỉ tiêu kinh tế được phân tích theo đúng logic quan hệ giữa các nhân tố Phương pháp thay thế liên hoàn có thể áp dụng được khi mối quan hệ giữa các chỉ tiêu và giữa các nhân tố, các hiện tượng kinh tế
có thể biểu thị bằng một hàm số Thay thế liên hoàn thường được sử dụng để tính toán mức ảnh hưởng của các nhân tố tác động cùng một chỉ tiêu được phân tích Trong phương pháp này, nhân tố thay thế là nhân tố được tính mức ảnh hưởng, còn các nhân tố khác giữ nguyên, lúc đó so sánh mức chênh lệch hàm số giữa cái trước
nó và cái đã được thay thế sẽ tính được mức ảnh hưởng của nhân tố được thay thế Giả sử chỉ tiêu A có mối quan hệ với 2 nhân tố, và mối quan hệ đó có thể biểu thị dưới dạng hàm số :
A = f (X, Y) và Ao = f (Xo, Yo)
A1 = f (X1, Y1)
Để tính toán ảnh hưởng của các nhân tố X và Y, tới chỉ tiêu A Thay thế lần lượt X,
Y Lúc đó, giả sử thay thế nhân tố X trước Y ta có :
Mức ảnh hưởng của nhân tố X đến chỉ tiêu A :
x = f (X1, Yo) - f (Xo, Yo)
Mức ảnh hưởng của nhân tố Y đến chỉ tiêu A :
Trang 29 y = F (X1, Y1) - f (X1, Yo)
Có thể nhận thấy, bằng cách tương tự trên, nếu ta thay thế nhân tố Y trước, nhân tố
X sau, ta có :
Mức ảnh hưởng của nhân tố Y đến chỉ tiêu A :
y = f (Xo, Y1) - f (Xo, Yo)
Mức ảnh hưởng của nhân tố X đến chỉ tiêu A :
x = f (X1, Y1) - f (Xo, Y1) Như vậy, khi trình tự thay thế khác nhau, có thể thu được các kết quả khác nhau về mức ảnh hưởng của cùng một nhân tố tới cùng một chỉ tiêu Đây là nhược điểm nổi bật của phương pháp này
Xác định trình tự thay thế liên hoàn hợp lý là một yêu cầu khi sử dụng phương pháp này Trật tự thay thế liên hoàn trong các tài liệu thường được qui định như sau :
Nhân tố khối lượng thay thế trước, nhân tố trọng lượng thay thế sau
Nhân tố ban đầu thay thế trước, nhân tố thứ phát thay thế sau
Khi có thể phân biệt rõ ràng các nhân tố ảnh hưởng thì vận dụng nguyên tắc trên trong thay thế liên hoàn là khá thuận tiện Trong trường hợp, cùng một lúc có nhiều nhân tố chất lượng, khối lượng tức nhiều nhân tố có cùng tính chất như nhau, việc xác định trật tự thay thế trở nên khó khăn, một số tài liệu đã được phương pháp toán tích phân, vi phân thay cho phương pháp này
Với ví dụ nêu trên ta có : A = f (X, Y)
d A = f x d x + f y d y
và A x = f x d x A y = f y d y Khi chỉ têu thực tế so với chỉ tiêu gốc (A1 so với Ao) chênh lệch không quá 5 - 10% thì kết quả tính toán được trong bất kỳ trình tự thay thế nào cũng xấp xỉ bằng nhau Một sự biến dạng nữa của phương pháp này là phương pháp số chênh lệch Trong
Trang 30phương pháp này để xác định mức ảnh hưởng của từng nhân tố, người ta sử dụng số chênh lệch so sánh của từng nhân tố để tính toán
Cũng với ví dụ trên, ta có : A = f (x, y) với trật tự thay thế x trước, y sau : A x = f ( x yo) với X = X1 - Xo
Ay = f (X1 y) với Y = Y1 - Yo Phương pháp số chênh lệch ngắn gọn, đơn giản Tuy nhiên, khi sử dụng Cần chú ý : Dấu ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu được phân tích trùng với dấu của số chênh lệch nhân tố đó nếu trong hàm số biểu thị mối liên hệ của nhân tố với chỉ tiêu
là dấu nhân (x) hoặc dấu cộng (+); Dấu ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu được phân tích ngược với dấu của số chênh lệch nhân tố đó nếu trong hàm số biểu thị mối liên
hệ của nhân tố với chỉ tiêu là dấu chia (:) hoặc dấu trừ (-)
Phương pháp liên hệ cân đối
Đây là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế khi giữa chúng tồn tại mối quan hệ cân bằng hoặc cần phải tồn tại sự cân bằng Phương pháp liên hệ cân đối được sử dụng rộng rãi trong phân tích tài chính; phân tích sự vận động của hàng hoá, vật tư nhiên liệu; xác định điểm hoà vốn; phân tích cán cân thương mại
Phương pháp đồ thị
Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế dưới dạng khác nhau của
đồ thị: biểu đồ tròn, các đường cong của đồ thị
Ưu điểm của phương pháp này là có tính khái quát cao Phương pháp đồ thị đặc biệt
có tác dụng khi mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế tổng quát, trừu tượng
Ví dụ : Phân tích bằng đồ thị quan hệ cung cầu hàng hoá, quan hệ giữa chi phí và qui mô sản xuất kinh doanh khi các mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế được biểu thị bằng một hàm số (hoặc một hệ phương trình) cụ thể, phương pháp đồ thị cho phép xác định các độ lớn của đối tượng phân tích cũng như sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng
Phương pháp phân tổ
Trang 31Là một phương pháp thống kê và được áp dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế, đặc biệt trong phân tích kinh tế vĩ mô Phân tổ là sự phân chia các bộ phận, cấu thành của hiện tượng được nghiên cứu theo các dấu hiệu cơ bản của hiện tượng đó Phương pháp phân tổ cho phép nghiên cứu các hiện tượng trong mối liên kết tương quan hoặc phụ thuộc, tách ra từ những tác dụng ảnh hưởng tới chỉ tiêu được phân tích những nhân tố xác định hơn, tìm ra những qui luật và xu hướng đặc trưng cho các hiện tượng kinh tế và diễn biến kinh tế Phương pháp này còn dùng để thăm dò nghiên cứu thị trường hàng hoá, phân nhóm bạn hàng, khách hàng
Phương pháp so sánh tương quan
Đây là một phương pháp thống kê dùng để nghiên cứu các mối liên hệ tương quan phi tuyến giữa các hiện tượng kinh tế So sánh tương quan thường được sử dụng để định dạng các mối quan hệ kinh tế và lượng hoá chúng qua thực nghiệm thống kê trên số lớn, tìm hiểu xu thế phát triển cũng như tính qui luật trong sự phát triển và liên hệ của các hiện tượng kinh tế khác nhau
Các phương pháp toán học ứng dụng khác
Hiện nay, trong phân tích kinh tế áp dụng rất nhiều các phương pháp toán học ứng dụng, số lượng các phương pháp toán học ứng dụng trong phân tích kinh tế ngày càng tăng Phổ biến là các phương pháp toán qui hoạch tuyến tính, lý thuyết trò chơi, lý thuyết phục vụ đám đông
Tóm lại, tuỳ theo đối tượng phân tích và cách thể hiện thông tin trong từng trường hợp cụ thể mà người ta lựa chọn một hay nhiều phương pháp kể trên để thực hiện phân tích hoạt động kinh tế
1.6 Phương hướng và biện pháp để nâng cao hiệu quả SXKD
Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục tiêu cơ bản của mọi doanh nghiệp Vì nó
là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Một doanh nghiệp muốn tồn tại trong điều kiện bình thường thì hoạt động sản xuất kinh doanh
ít nhất cũng phải bù đắp các chi phí bỏ ra Còn doanh nghiệp muốn phát triển thì kết quả kinh doanh chẳng những phải bù đắp những chi phí mà còn phải dư thừa để tích luỹ cho quá trình tái sản xuất mở rộng Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn, trong thời gian ngắn và sự tác động của những kết quả tới
Trang 32việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội càng mạnh thì kết quả sản xuất kinh doanh càng cao và ngược lại Sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi phải phấn đấu nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình
Tuy nhiên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều khâu, cho nên muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh phải giải quyết tổng hợp, đồng bộ nhiều vấn đề, nhiều biện pháp có hiệu lực Trước hết các mặt hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải luôn giải quyết tốt những vấn đề cơ bản sau:
Nắm bắt nhu cầu thị trường và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp để xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp nhất
Chuẩn bị các điều kiện, yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh, cho sản phẩm chất lượng cao và hạ giá thành sản phẩm
Tổ chức quá trình tiêu thụ để đạt doanh thu lớn nhất với chiphí thấp
và trong thời gian ngắn nhất
Như vậy để nâng cao hiệu quả kinh doanh, trên góc độ chung thì doanh nghiệp phải thực hiện tốt các nhiệm vụ cơ bản sau:
Bằng mọi biện pháp có thể để tăng kết quả sản xuất kinh doanh cả về hiện vật và giá trị
Giảm chi phí bỏ ra cả về hiện vật và giá trị để đạt được kết quả ấy
Giảm độ dài thời gian trong việc đạt được những kết quả sản xuất kinh doanh trên một đơn vị chi phí
Đi vào chi tiết từng chỉ tiêu hiệu quả, để nâng cao hiệu quả về một mặt nào tương ứng với chỉ tiêu hiệu quả nào đó ta lại có những biện pháp cụ thể khác nhau:
Tăng sản lượng sản phẩm sản xuất nhằm giảm chi phí cố định cho một đơn vị sản phẩm
Qua nghiên cứu thực tế đi đến một kết luận căn bản như sau: hầu hết các doanh nghiệp đều có hàm tổng chi phí trong ngắn hạn là hàm tuyến tính ứng với từng khoảng sản lượng nhất định
Trang 33TC = FC + Q AVC Với hàm tổng phí là tuyến tính do đó hàm chi phí bình quân có dạng hypecbol (giảm dần theo sản lượng):
Vậy mức sản lượng sản xuất có hiệu quả nhất của doanh nghiệp là theo công suất tối đa của thiết kế Ở góc độ sản xuất thì mức sản lượng tối ưu là công suất thiết kế, nhưng trong thực tế để tiêu thụ được sản lượng sản phẩm thì còn tuỳ thuộc vào thị trường có thể chấp nhận được hay không Chính vì vậy, trong cơ chế thị trường một yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp là với một mức giá của thị trường đã ấn định, người quản lý doanh nghiệp làm sao tiêu thụ được càng nhiều sản phẩm (trong giới hạn của công suất thiết kế) thì càng có hiệu quả Việc tiêu thụ sản lượng càng nhiều càng tốt, không chỉ phụ thuộc vào công việc sản xuất mà còn phụ thuộc vào công tác tiếp thị của doanh nghiệp
Một trong các hướng để tăng sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp đó là:
Tăng cường công tác quảng cáo
Mở rộng hệ thống đại lý bán hàng và cửa hàng giới thiệu sản phẩm
Thực hiện kinh doanh tổng hợp
Nâng cao chất lượng sản phẩm
Đổi mới công nghệ sản xuất
Cải tiến tổ chức sản xuất và tổ chức lao động
Trang 34 Đổi mới công tác quản lý doanh nghiệp Một trong các hướng đổi mới công tác quản lý doanh nghiệp đó là tiến hành hạch toán chi phí nội
bộ
Từ những phân tích tổng quan trên rút ra những nhận xét sau:
- Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Nhiệm vụ đặt ra là phải làm sáng tỏ mức độ hiệu quả đạt được hiện nay của các doanh nghiệp, để đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Từ lâu trong lý luận đã có khá đầy đủ các phương pháp phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, song trên thực tiễn phương pháp đánh giá hiệu quả còn chưa được sự quan tâm hướng dẫn đúng đắn, hợp lý bởi các văn bản pháp quy nhất là đánh giá hiệu quả hoạt động thực tế của các doanh nghiệp nhà nước Vì vậy, để đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của Công ty TNHH Đăng Công, học viên sẽ chủ yếu sử dụng chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp như: Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên vốn … Đồng thời để xem xét một cánh toàn diện, luận văn sẽ phân tích các chỉ tiêu hiệu quả từng mặt
Trang 35
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH
CỦA CÔNG TY TNHH ĐĂNG CÔNG
2.1 Khái quát chung về Công ty TNHH Đăng Công
Các thông tin chính về công ty TNHH Đăng Công như sau:
- Tên Doanh nghiệp: Công ty TNHH Đăng Công
- Địa chỉ trụ sở công ty: Thôn Phú Cường, xã Lãng Công, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
- Điện thoại: 0211 3635 888 - Fax: 02113 635 888
- Cơ sở pháp lý của công ty: Công ty TNHH Đăng Công được thành lập ngày 26/7/2005 theo giấy phép kinh doanh: 1902000760 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc cấp
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty TNHH Đăng Công là công ty mới thành lập, đi vào hoạt động kinh doanh chưa được bao lâu, kinh nghiệm thực tế ít ỏi, nguồn vốn đầu tư còn gặp nhiều khó khăn vì đây là công ty vốn dân doanh, ít được sự quan tâm và giúp đỡ từ phía nhà nước, vốn kinh doanh do cá nhân tự góp vào, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình theo tỷ lệ vốn góp, do đó cũng gặp khá nhiều rủi
ro tuy nhiên, trong tám năm chính thức đi vào hoạt động, để bắt kịp với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế nước ta và đáp ứng nhu cầu của thị trường, các thành viên trong Công ty đã cùng nhau nỗ lực, đưa Công ty vượt qua những khó khăn của bước đầu chập chững để tiến những bước dài trên con đường hội nhập Thị trường được mở rộng, mạng lưới tiêu thụ cũng được phát triển rộng khắp cả nước, cho đến nay, Công ty đang dần đi vào ổn định, bước đầu thu được lợi nhuận khá và chắc chắn thu được kết quả cao hơn trong thời gian tới
Trang 362.1.2 Ngành nghề kinh doanh của Công ty
Công ty TNHH Đăng Công hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực là sản xuất may mặc, trong đó sản xuất may mặc, gia công hàng may mặc xuất khẩu
là chủ yếu
2.1.3 Cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty
Cơ cấu bộ máy của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến đến từng phòng ban, bộ phận sản xuất kinh doanh thông qua các trưởng phòng, đảm bảo luôn nắm bắt được những thông tin chính xác về tình hình sản xuất kinh doanh, thị trường cũng như khả năng tài chính của Công ty
Hình 2.1 Sơ đồ mô hình tổ chức của Công ty TNHH Đăng Công
XƯỞNG CẮT
XƯỞNG GIẶT
XƯỞNG MAY III XƯỞNG MAY II
XƯỞNG MAY I
Tổ 5,6,7,8
Trang 37- Giám đốc xí nghiệp : Là người điều hành chung của xí nghiệp, chịu
trách nhiệm cao nhất trong công việc quản lý điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cũng như việc làm của cán bộ công nhân viên trong công ty theo luật lao động của Nhà Nước ban hành Giám đốc là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Công ty
- Phòng tổ chức – hành chính : Chịu trách nhiệm tổ chức sản xuất quản
lý lao động, phục vụ công việc hành chính, tổ chức bảo vệ Công ty và y tế cho toàn Công ty
- Phòng kế toán : Chịu trách nhiệm huy động vốn, quản lý, phân phối
vốn cho hoạt động sản xuất kịnh doanh Tiến hành các nghiệp vụ kế toán, thống
kê, hoạch định giá thành và phân tích hoạt động kinh tế Tổ chức việc thanh lý, thanh toán hợp đồng và quyết toán với khách hàng một cách kịp thời, đúng pháp luật, tham mưu cho giám đốc về hoạt động tài chính trong toàn Công ty
- Phòng chuẩn bị sản xuất : Chịu trách nhiệm lập hạn mức cấp phát vật
tư trong quá trình sản xuất, giám sát công nghệ kỹ thuật Quản lý công tác kỹ thuật an toàn, bảo hộ lao động, thiết kế mẫu mã sản phẩm, chịu trách nhiệm cung ứng vật tư, bảo quản vật tư, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, quản lý
sử dụng xe vận tải, tổ chức theo dõi hoạt động phục vụ của Công ty Chịu trách nhiệm cân đối năng lực sản xuất, cân đối nguyên phụ liệu theo từng mã hàng, khách hàng; lên tiến độ chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tổ chức ký kêt hợp đồng với khách hàng và giao kế hoạch sản xuất trong nội bộ Công ty cũng như đi gia công
- Mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy quản lý của công ty:
Các phòng ban chức năng trong Công ty, ngoài việc thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao còn có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty đạt hiệu quả cao nhất Các bộ phận luôn có sự trao đổi thông tin một cách kịp thời, chính xác để giải quyết các vướng mắc, các vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất, tạo cho bộ máy quản lý Công ty vận hành một cách linh hoạt, hiệu quả và
có tính thích ứng cao với những biến đổi của môi trường Phòng tổ chức hành chính có trách nhiệm thông báo các số liệu về lực lượng lao động, mức biến
Trang 38động về lao động để phòng chuẩn bị sản xuất làm căn cứ tham mưu đề xuất với giám đốc trong việc ký kết các đơn vị hàng lập kế hoạch sản xuất cho phù hợp Phòng chuẩn bị sản xuất có trách nhiệm thông báo với phòng kế toán về kế hoạch mua sắm vật tư, các chi phí khai thác vận chuyển nguyên vật liệu nhập ngoại và xuất thành phẩm để phòng kế toán có sự chủ động và đáp ứng một cách tốt nhất Ngoài ra trong quá trình triển khai sản xuất các ngành may, ngành cắt, ngành cơ điện trong quá trình tiếp nhận kế hoạch và tổ chức sản xuất
có vấn đề phát sinh vướng mắc gì thì phải thông báo ngay cho giám đốc hoặc các bộ phận liên quan để bàn bạc sử lý kịp thời nhằm hạn chế tối đa những tổn thất cho Công ty Các bộ phận luôn có sự hỗ trợ, giúp đỡ nhau khi cần thiết, đảm bảo cho sản xuất luôn ổn định và kết quả kinh doanh của Công ty đạt hiệu quả cao
3 Quần sooc 1.000 chiếc 30.000 32.000 33.000 35.000
4 Quần âu 1.000 chiếc 41.000 43.500 45.000 47.000
Nguồn: Phòng cán bộ sản xuất
Thị trường chủ yếu là xuất đi các nước : Mỹ, Đức, Tây Ban Nha, Mê
Xi Cô, Hàn Quốc, Canada, Bỉ, Nhật Bản, Nga Đây là thị trường có tiềm năng rất lớn để Công ty khai thác , nhưng đồng thời Công ty cũng phải chịu sự cạnh tranh rất gay gắt của các đối thủ cạnh tranh khác đặc biệt là các công ty may mặc của trung quốc.Để đứng vững trong thị trường cạnh tranh rất khốc liệt này, Công ty đòi hỏi phải sản xuất được cac sản phẩm có chất lượng cao, giao hàng đúng kỳ…Chính vì thế để đạt được những hợp đồng có giá trị , Công ty phải
Trang 39ngày càng hoàn thiện hơn về công tác quản trị chất lượng giữ vững niềm tin trong khách hàng
* Nguyên vật liệu
Do nhiệm vụ của doanh nghiệp của doanh nghiệp là sản xuất gia công hàng may mặc xuất khẩu như : áo jăckét, áo sơ mi , quần sooc …các loại nên nguyên vật liệu chủ yếu của xí nghiệp là: các loại vải, khóa, khuy, cúc….Sau đây là danh mục các nguyên vật liệu chính của xí nghiệp
Bảng 2.2: Danh mục nguyên vật liệu STT Tên vật tư Xuất xứ
2 Vải lót túi Hồng Kông
3 Vải phối cạp Hồng Kông
Trang 40Từ bảng trên ta thấy nguyên vật liệu của xí nghiệp hầu hết là được nhập
từ Hồng Kông.Chính vì thế để cho hoạt động sản xuât được tiến hành một cách trôi chảy , Công ty luôn phải nhập trước các loại nguyên vật liệu từ Hồng Kông
về để phục vụ kịp thời cho việc sản xuất và giao hang đúng hạn cho khách hang.Đây là một khó khăn rất lớn đối với xí nghiệp, hơn thế nữa nguyên vật liệu của ngành may mặc Việt Nam đang trong tình trạng khan hiếm.Điều này đòi hỏi Công ty phải có những biện pháp và tầm nhìn mới để khắc phục tình trạng này
2.1.5 Nguồn nhân lực của Công ty
Do đặc điểm của sản xuất chủ yếu là lao động thủ công, lao động nữ chiếm đa số, chiếm khoảng 79,76% tổng số lao động toàn Công ty nên ảnh hưởng cho Công ty là không nhỏ Hàng năm có rất nhiều công nhân nữ lập gia đình, phụ nữ nghỉ thai nghén, nghỉ sinh con, công nhân lành nghề đi lao động xuất khẩu và biến động công nhân trong các doanh nghiệp may tại địa bàn cũng làm Công ty gặp không ít khó khăn trong việc thu chi ngân sách, làm giảm tốc
độ phát triển của Công ty
Tại thời điểm đánh giá(31/12/2013), toàn Công ty có 341 cán bộ công nhân viên :
Trong đó:
- Lao động gián tiếp : 25 người = 7,4%
- Lao động trực tiếp sản xuất : 316 người = 92,6%
- Lao động nam : 69 người = 20,24%
- Lao động nữ : 272 = 79,76%
- Trình độ đại học – cao đẳng : 24 người = 7,03%
- Đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề bậc 2 trở lên : 131 người
= 38,65 %
- Đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề bậc 2 trở xuống : 184 người = 53,95%