Như vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
********************
Ng« quèc trung
Hoµn thiÖn c«ng t¸c ph©n tÝch tµi chÝnh t¹i c«ng ty tr¸ch nhiÖm h÷u h¹n mét thµnh viªn c«ng viªn c©y xanh hµ néi
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, nội dung luận văn là kết quả của sự tìm tòi, nghiên cứu, sưu tầm từ nhiều nguồn tài liệu và lien hệ với thực tiễn Các số liệu trong luận văn là trung thực không sao chép từ bất cứ luận văn hoặc đề tài nghiên cứu nào trước đó
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bầy
Tác giả
NGÔ QUỐC TRUNG
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình theo học chương trình cao học quản trị kinh doanh của Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội và nhất là trong thời gian nghiên cứu, hoàn thiện luận văn ngày hôm nay là kết quả của một quá trình học tập cùng với sự say mê và dày công nghiên cứu của bản thân mình.Nhưng để tôi có được kết quả này là nhờ sự giảng dạy, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy, cô Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội và sự ủng hộ các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Viện Đào Tạo sau Đại Học, các giảng viên Viện kinh tế và Quản lý Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
đã giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong khoá học và trong quá trình thực hiện luận văn này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.Nguyễn Văn Long người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp Công Ty TNHH Một Thành viên công viên cây xanh Hà Nội nơi tôi công tác
để hoàn thành tốt luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 4
1.1 Sự cần thiết của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái quát về tài chính doanh nghiệp 4
1.1.2 Sự cần thiết của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 5
1.2 Nội dung công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.2.1 Bố trí nhân sự và phương tiện phục vụ phân tích 6
1.2.2.Thu thập thông tin 7
1.2.3.Lựa chọn phương pháp phân tích 13
1.2.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 15
1.2.5.Đánh giá tình hình tài chính và đưa ra các quyết định tài chính 27
1.2.6.Lập báo cáo phân tích tài chính doanh nghiệp 27
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 28
1.3.1 Nhân tố chủ quan 28
1.3.2 Nhân tố khách quan 29
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 31
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN CÔNG VIÊN CÂY XANH
HÀ NỘI 32
2.1 Khái quát về Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 32
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển 32
2.1.2.Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức quản lý 34
2.2 Thực trạng phân tích tài chính của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 46
2.2.1.Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội qua cơ cấu vốn 46
2.2.2.Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội qua cơ cấu nguồn vốn 50
2.2.3.Phân tích tình hình đầu tư vào tài sản cố định của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 54
2.2.4.Phân tích khả năng sinh lời của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 55
2.3 Đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính tại Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 57
2.3.1.Kết quả đạt được 57
2.3.2.Hạn chế, nguyên nhân 59
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN CÔNG VIÊN CÂY XANH HÀ NỘI 62
3.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 62
Trang 63.2 Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty
TNHH Một Thành viên công viên cây xanh Hà Nội 63
3.2.1 Giải pháp về tổ chức công tác phân tích tài chính 63
3.2.2 Nâng cao chất lượng thông tin phục vụ phân tích 64
3.2.3.Tăng cường và nâng cao trình độ cán bộ phân tích 66
3.2.4.Phân tích bổ sung một số chỉ tiêu tài chính 67
3.2.5.Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính 77
3.3 Một số kiến nghị 93
3.3.1 Kiến nghị với các Bộ, Ngành 93
3.3.2 Kiến nghị với Nhà Nước 93
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH một thành viên công viên cây
xanh Hà Nội 40
Bảng 2.2 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 45
Bảng 2.3: Bảng cơ cấu vốn của công ty tnhh một thành viên công viên cây xanh hà nội 47
Bảng 2.4: Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 51
Bảng 2.5: Bảng phân tích tình hình đầu tư vào tài sản cố định của Công ty TNHH một thành viên công viên cấy xanh Hà Nội 54
Bảng 2.6: Bảng phân tích khả năng sinh lời của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 55
Bảng 2.7: Bảng tính các chỉ tiêu phân tích tài chính của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 56
Bảng 3.1: Bảng phân tích khả năng thanh toán của Công ty TNHH một 68
Bảng 3.2: Bảng phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội 69
Bảng 3.3: Lợi nhuận biên ROS từ năm 2010 đến năm 2013 71
Bảng 3.4: Tỷ suất lơi nhuận trên tổng tài sản từ năm 2010 đến năm 2013 73
Bảng 3.5: Tỷ suất lơi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân từ năm 2010 đến năm 2013 75
Bảng 3.6: Phân tích tổng hợp ROE theo đẳng thức DUPONT tổng hợp 82
Bảng 3.7: Minh hoạ tổ chức báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 86
Bảng 3.8: Mẫu đề xuất báo cáo thu nhập cho công ty 90
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, sự sống còn của các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự năng động và sự chuyển mình để thích nghi với xu
hướng chung của thời đại Một trong những xu hướng mới đó là các daonh
nghiệp không chỉ quan tâm đến hoạt động sản xuất như dây chuyền, công
nghệ, năng suất … Mà còn chú ý đến vấn đề tài chính doanh nghiệp
Công tác quản lý tài chính là một trong những công tác quan trọng và không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp Những quyết định như đầu tư vào
đâu ? Sử dụng nguồn tiền nào ? Quy mô hoạt động ra sao ? Lợi nhuận là bao
nhiêu ? ….Tất cả đều bắt nguồn từ việc phân tích tài chính daonh nghiệp
Như vậy, qua việc phân tích tài chính daonh nghiệp, xem xét thực trạng hoạt động sản xuất kinh daonh cũng như việc phân tích điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội thách thức trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, các chủ daonh nghiệp cũng như các nhà đầu tư sẽ đưa ra được những
quyết định đúng đắn, phù hợp và hiệu quả để cho daonh nghiệp phat huy được
tối đa những lợi thế của mình, đem lại lợi nhuận cao nhất Tù đó đưa ra được
những định hướng, tầm nhìn có tính chiến lược cho doanh nghiệp
Công ty TNHH một thành viên côngviên cây xanh Hà Nội là một Công
ty trực thuộc UBND thanh phố Hà Nội, có nhiệm vụ chính là duy trì, chăm
sóc và cải tạo các vườn hoa, công viên và giải phân cách trên địa bàn Thành
phố Hà Nội Công tác phân tích tài chính của Công ty đã bước đầu được quan
tâm và có nhiều tiến bộ, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những khó khăn hạn
chế Trong bối cảnh đó hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty
TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội là một yêu cầu bức
thiết.Đề tài "Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty TNHH
Trang 10một thành viên công viên cây xanh Hà Nội" được lựa chọn nghiên cứu
nhằm góp phần đáp ứng đòi hỏi trên của thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về tài chính daonh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp theo các quy định và chế độ
hiện hành của Việt Nam
Tìm hiểu và đánh giá thực trạng phân tích tài chính tại Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội
Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà
Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác phân tích tài chính doanh
nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Tài chính của Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội trong các năm 2010, 2011, 2012, 2013
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện luận văn, những phương pháp nghiên cứu
hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty TNHH một thành viên
công viên cây xanh Hà Nội
Trang 115 Kết cấu của luận văn:
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 3 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty tnhh một thành viên công viên cây xanh hà nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công
ty tnhh một thành viên công viên cây xanh hà nội
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Sự cần thiết của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái quát về tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu Các doanh
nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước,Công ty trách nhiệm
hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Công ty liên doanh, Doanh
nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp dù tồn tại ở loại hình nào đều mong muốn đạt được mục tiêu
tối đa hoá giá trị tài sản cho chủ sở hữu Để đạt được mục tiêu đó, bất cứ
doanh nghiệp nào cũng phải giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: Quyết định
sản xuất cái gì, quyết định sản xuất như thế nào và quyết định sản xuất cho ai
Một công cụ hữu hiệu giúp cho việc thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản trên đó là công cụ tài chính Hoạt động tài chính sẽ góp phần thực hiện các
vấn đề kinh tế cơ bản trên của doanh nghiệp Trên cơ sở nghiên cứu thị
trường, các doanh nghiệp cần xác định rõ:
- Đầu tư vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh lựa chọn, nhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp
- Vốn của doanh nghiệp được huy động từ đâu, vào thời điểm nào với một cơ cấu vốn tối ưu và chi phí vốn thấp nhất
- Quản lý vốn và tài sản như thế nào để hiệu quả sử dụng là cao nhất
- Đánh giá, kiểm tra các hoạt động tài chính thường xuyên đảm bảo trạng thái cân bằng về tài chính
- Quản lý các hoạt động tài chính ngắn hạn và dài hạn thế nào để đưa ra các quyết định tài chính phù hợp
Trang 13Các vấn đề trên chưa phải là tất cả các nội dung của tài chính doanh nghiệp nhưng đó là các vấn đề trọng yếu nhất liên quan đến cách thức tổ chức
quản lý tài chính doanh nghiệp Muốn vậy, công tác phân tích tài chính của
doanh nghiệp cần phải được chú trọng
1.1.2 Sự cần thiết của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương
pháp và công cụ để thu nhập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin
khác nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh
nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết dịnh phù hợp
Trên thực tế, có rất nhiều chủ thể quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp tuỳ theo mục tiêu mà họ theo đuổi Do đó, việc phân tích tài
chính cũng được tiến hành theo nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào mục tiêu
của phân tích và đối tượng sử dụng kết quả phân tích
Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của
họ là tối đa hoá giá trị tài sản cho chủ sở hữu Kết quả từ phân tích tài chính
doanh nghiệp sẽ giúp các nhà quản trị đánh giá được tình hình tài chính doanh
nghiệp, đánh giá được cụ thể điểm manh, điểm yếu, hiệu quả kinh doanh cũng
như dự báo được các cơ hội, rủi ro của doanh nghiệp trong tương lai, làm cơ
sở cho các nhà quản trị đưa ra các quyết định tài chính phù hợp
Đối với chủ ngân hàng và các chủ nợ, mối quan tâm của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đến
số lượng tiền tạo ra và các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền Ngoài
ra, họ còn quan tâm đến số lượng vốn của chủ sở hữu để đảm bảo chắc chắn
rằng các khoản vay có thể và sẽ được thanh toán khi đến hạn Đối với các nhà
đầu tư, sự quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như rủi ro, thời gian hoàn
vốn, mức tăng trưởng, khả năng thnah toán vốn .Vì vậy họ luôn tìm hiểu
những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh
doanh, khả năng sinh lời hiện tại và tương lai Đối với nhà cung cấp họ
Trang 14phải quyết định xem sắp tới có bán hàng chịu cho doanh nghiệp hay không
.Vì vậy họ phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và
thời gian sắp tới
Như vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng qua một hệ thống các
phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ
các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện vừa xem xét một cách chi tiết
hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh,điểm yếu về hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết,dự báo và đưa ra
những quyết định tài chính phù hợp
1.2 Nội dung công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Bố trí nhân sự và phương tiện phục vụ phân tích
Xuất phát từ mục tiêu của phân tích là giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thấy được toàn diện tình hình tài chính và đề ra các quyết định tài
chính, yêu cấu phân tích phải được tiến hành thường xuyên ( phân tích theo
năm, theo quý, theo tháng ) và phân tích tình hình mọi mặt của tài chính
doanh nghiệp ( phân tích từng bộ phận của doanh nghiệp, toàn doanh nghiệp,
từng mảng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ) Căn cứ trên thời gian
phân tích và khối lượng công việc phân tích mà doanh nghiệp bố trí nhân sự
cũng như phương tiện cần thiết phục vụ hoạt động phân tích
Doanh nghiệp cần có một cán bộ phụ trách về hoạt động phân tích Số lượng nhân viên phân tích phụ thuộc vào khối lượng công việc phân tích Đội
ngũ cán bộ và nhân viên phân tích phải có kiến thức cơ bản và kinh nghiệm
trong lĩnh vực tài chính, nắm bắt được các vấn đề về pháp luật, biến động thị
trường và các thông tin khác liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Phương tiện phục vụ phân tích bao gồm: máy vi tính,phần mềm phân tích,
giấy tờ làm việc, phương tiện tính toán
Trang 151.2.2.Thu thập thông tin
Nhà phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho
việc ra quyết định tài chính Nguồn thông tin bao gồm cả những thông tin nội
bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp như các thông
tin liên quan đến môi trường kinh tế nói chung, các thông tin liên quan đến
ngành, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác trong đó, các
thông tin kế toán phản ánh tập trung trong báo cáo tài chính doanh nghiệp là
những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích tài chính trên
thực tế chủ yếu là phân tích các báo cáo tài chính
* Các báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Mục đích của báo cáo tài chính là
cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các
luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầ hữu ích cho sô đông những
người sử dung trong việc ra các quyết định kinh tế Để đạt mục đích này báo
cáo tài chính phải cung cấp những thông tin về một doanh nghiệp:
lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tao ra các luồng tiền
và các khoản tương đương tiền
Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm:
- Bảng cân đối kế toán Mẫu số B01 – DN
Trang 16- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B02 – DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B03 – DN
- Bản thuyết minh các báo cáo tài chính Mẫu số B09 – DN
Do báo cáo tài chính là nguồn thông tin chủ yếu và rất quan trọng phục
vụ phân tích nên doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính theo đúng quy định
của chế độ kế toán doanh nghiệp và chuẩn mực kế toán hiện hành
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh
nghiệp tại một thời điểm nhất định
Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản cơ cấu vốn hình thành các tài sản
đó.Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể đánh giá khái quát tình hình tài
chính của doanh nghiệp, có thể đánh giá sự phân bổ nguồn tài chính ngắn hạn,
dài hạn của doanh nghiệp có phù hợp với cơ cấu tài sản của doanh nghiệp hay
không ? Tính thanh khoản của daonh nghiệp ra sao ? Từ đó đưa ra các quyết
đinh tài chính như thế nào ?
Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần: một phần là tài sản và phần
là nguồn vốn Phần tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dai hạn Một
tài sản được xếp vào loại tài sản ngắn hạn, khi tài sản này:
- Được dự tính để bán hoặc sư dụng trong khuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp
- Được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết
thúc niên độ
- Tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào
Trang 17Tất cả các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn được xếp vào loại tài sản dài hạn tài sản dài hạn gồm: Tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô
hình,tài sản cố định thuê tài chính, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài
chính dài hạn và tài sản dài hạn khác
Phần nguồn vốn cho thấy nguồn tiền nào dùng để mua tài sản Nguồn vốn bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Nợ phải trả gồm nợ phải trả dài hạn
và nợ phải trả ngắn hạn Một khoản nợ phải trả được xếp vào loại nợ ngắn hạn
khi khoản nợ này:
- Được dự kiến thanh toán trong vòng một chu kỳ kinh doanh bình thường của daonh nghiệp
- Được thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ khi kết thúc kỳ kế toán năm
Tất cả các khoản nợ phải trả khác ngoài nợ phải trả ngắn hạn được xếp vào loại nợ phải trả dài hạn Nợ dài hạn của doanh nghiệp có thể do phát hành
trái phiếu hay vay trực tiếp ở ngân hàng
Phần còn lại của nguồn vốn là vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu gồm vốn đầu tư của chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại, các quỹ của doanh nghiệp
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại những thời kỳ nhất định Đó là
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp, kết quả hoạt
động theo từng loại hoạt động kinh doanh ( hoạt động sản xuất, kinh doanh,
hoạt động tài chính, hoạt động khác )
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, người sử dụng thông tin có thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp trong kỳ, so sánh với các kỳ trước và với các doanh
nghiệp cùng ngành để nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp
trong kỳ và xu hướng vận động, nhằm đưa ra các quyết định quản lý, quyết
định tài chính phù hợp
Trang 18 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của báo cáo tài chính, nó cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong
tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả
năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng
tiền trong quá trình hoạt động Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem xét và
dự đoán khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong
tương lai, dùng để kiểm tra lại các đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng
tiền, kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền
thuần và nhưng tác động thay đổi giá cả
Doanh nghiệp phải trinh bày các luồng tiền trong kỳ trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo 3 loại hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động tài
chính và hoạt động đầu tư
Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh
Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chu yếu của doanh nghiệp, nó cung cấp thông tin
cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh
doanh để trang trải các khoản nợ, duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến
hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến nguồn tài chính bên ngoài
.Thông tin về các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, khi được sử dụng kết
hợp với các thông tin khác, người sử dụng dự đoán được luồng tiền từ hoạt
động kinh doanh trong tương lai
Luồng tiền từ hoạt động đầu tư
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản
đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền
Trang 19Luồng tiền từ hoạt động tài chính
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải báo cáo các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh theo một trong hai phương pháp sau: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián
tiếp.Còn đối với luồng tiền từ hoạt động đầu tư và luồng tiền từ hoạt động tài
chính thì lập theo phương pháp trực tiếp
Thuyết minh báo cáo tài chính Bản thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm các phần mô tả mang tính tường
thuật hoặc những phân tích chi tiết hơn các số liệu đã được thể hiện trong bảng
cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và báo cáo lưu
chuyển tiền tệ cũng như các thông tin bổ sung cần thiết khác Chúng bao gồm
những thông tin được các chuẩn mực kế toán khác yêu cầu trình bày và những
thông tin khác cần thiết cho việc trình bày trung thực và hợp lý
Bản thuyết minh báo cáo tài chính thường được trình bày theo thứ tự sau
đây và cần duy trì nhất quán nhằm giúp cho người sử dụng hiểu được báo cáo
tài chính của daonh nghiệp và có thể so sánh với báo cáo tài chính của daonh
nghiệp khác :
- Tuyên bố về việc tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam
- Giải trình cơ sở đánh giá và chính sách kế toán được áp dụng
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục được trình bày trong mỗi báo cáo tài chính theo thứ tự trình bày mỗi khoản mục hàng dọc và mỗi báo cáo
Trang 20* Các thông tin khác
Ngoài những thông tin quan trọng được lấy ra từ các báo cáo tài chính doanh nghiệp cần phải thu thập thêm các thông tin khác trong nội bộ doanh
nghiệp và thông tin bên ngoài doanh nghiệp như thông tin về môi trường kinh
tế, thông tin về ngành kinh tế, chúng ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp
Các thông tin khác trong nội bộ daonh nghiệp như:
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh daonh năm hiện tại và phương hướng nhiệm vụ năm kế tiếp, định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong từng giai đoạn, các báo cáo thường niên góp phần làm
rõ ràng, chi tiết hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp
Các thông tin về môi trường kinh tế:
Là các thông tin về tình hình kinh tế trong nước và thế giới có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nắm bắt nhanh
nhạy, kịp thời các thông tin này có nghĩa là doanh nghiệp đã nắm trong tay
những cơ hội kinh doanh làm mạnh thêm tiềm lực tài chính Vì vậy để đánh
giá khách quan và chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp, phải
xem xét thông tin từ môi trường kinh tế có liên quan như luật pháp, biến
động thị trường
Các thông tin về ngành
Doanh nghiệp luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động chung của ngành nghề mà mình đang kinh doanh Đặc điểm của ngành liên quan đến
tính chất của các sản phẩm, quy trình kỹ thuật áp dụng, cơ cấu sản xuất, nhịp
độ phát triển cúa chu kỳ kinh tế, sự thay đổi công nghệ, chiến lược cạnh tranh
khuynh hướng tiêu dùng tương lai đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu trung bình
ngành là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thể đánh giá, kết luận chính
xác về tình hình tài chính doanh nghiệp Vì vậy, các thông tin về ngành nghề
kinh doanh được đăng tải tren các tạp chí tài chính, sách báo là thật sự cần
thiết cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
Trang 211.2.3.Lựa chọn phương pháp phân tích
Các phương pháp phân tích tài chính thường được sử dụng là: phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp DUPONT
phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp dùng để xác định xu hướng và mức
độ biến động của các chỉ tiêu phân tích
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo hai yêu cầu sau:
- Điều kiện so sánh: Khi so sánh, các chỉ tiêu tài chính phải thống nhất
về không gian và thời gian, về nội dung, tính chất và đơn vị tính toán
- Tiêu chuẩn so sánh: Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu được chọn làm căn
cứ so sánh ( kỳ gốc để so sánh ) Tuỳ theo yêu cầu phân tích mà chọn căn cứ
thích hợp như khi nghiên cứu tốc độ tăng trửong thì kỳ gốc là số liệu của kỳ
trước, khi nghiên cứu biến động thực tế so với mục tiêu đặt ra thì kỳ gốc là số
liệu của kỳ kế hoạch
Khi phân tích, nhà phân tích thường + So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ
xu hướng thay đổi về tình hình tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng
trưởng hay giảm sút trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Trang 22Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ số tài chính được phân thành các nhóm tỷ số đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục
tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ số về khản năng thanh
toán, nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn, nhóm tỷ số về năng lực hoạt động
kinh doanh, nhóm tỷ số về khả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ số lại bao gồm
nhiều tỷ số phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi
trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các
nhóm tỷ số khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích tài chính của mình
Chọn đúng các tỷ số và tiến hành phân tích chúng chắc chắn ta sẽ đánh giá được tình hình tài chính Phân tích tỷ số có thể làm bộc lộ ra các xu thế
biến động mà các xu thế này thường khó xác định bằng sự kiểm tra riêng rẽ
nhận định có ý nghĩa về vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, sức mạnh tài
chính của doanh nghiệp so với các đối thủ canh tranh Trên cớ sở đó, các nhà
quản trị có thể đưa ra các quyết định phù hợp với khả năng của doanh nghiệp
- So sánh các tỷ số của doanh nghiệp theo thời gian để thấy được xu hướng biến động của tỷ số là tốt lên hay xấu đi
Phương pháp DUPONT
Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác động tương hỗ giữa các tỷ số tài chính, biến một chỉ tiêu tổng hợp thành một
hàm số của một loạt các biến số
Theo phương pháp này, người phân tích có thể tách riêng, phân tích tác động của từng yếu tố ( biến số ) tới chỉ tiêu tài chính tổng hợp, từ đó có thể
đưa ra quyết định tài chính phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.Vì
vậy, phương pháp này còn gọi là phương pháp tách đoạn
Trang 23Các tỷ số tài chính đều ở dạng một phân số Điều đó có nghĩa là mỗi tỷ số tài chính sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào hai nhân tố: là mẫu số và tử số của
phân số đó Mặt khác, các tỷ số tài chính còn ảnh hưởng lẫn nhau Hay nói cách
khác, một tỷ số tài chính lúc này được trình bày bằng tích một vài tỷ số khác
Ví dụ với chỉ tiêu doanh lợi trên vốn chủ sở hữu như sau:
Lợi nhuận Tổng số tài Doanh thu Lợi nhuận
sau thuế sản bình quân thuần sau thuế
bình quân bình quân sản bình quân thuần
Hệ số tài sản Số vòng quay Suất sinh lời
trên Vốn chủ sở hữu của tài sản của doanh thu
ROE = Hệ số tài sản trên Vốn chủ sở hữu x ROA (2)
Như vậy, vận dụng phương pháp Dupont có thể giúp ta phân tích những nguyên nhân tác động tới doanh lợi trên vốn chủ sở hữu đó là: Doanh lợi tiêu
thụ sản phẩm, hiệu suất sử dụng tổng tài sản, tỷ số nợ Tù đó, có giải pháp tài
chính thích hợp để tác động tới từng yếu tố gây ảnh hưởng nhằm làm tăng
doanh lợi vốn chủ sở hữu
1.2.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
Phân tích bảng cân đối kế toán
Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp ngoài việc so sánh cuối kỳ so với đầu kỳ về số tuyệt đối và tỷ trọng, ta còn phải so sánh,
đánh giá tỷ trọng từng loại tài sản và nguồn vốn chiếm trong tổng số và xu
hướng biến động của chúng
Trang 24Đầu tiên ta chuyển bảng cân đối kế toán dưới dạng 1 phía theo hình thức bảng cân đối báo cáo Trên dòng ta liệt kê toàn bộ tài sản và nguồn vốn đã
được chuẩn hoá Trên cột ta xác định số đầu năm, cuối kỳ theo lượng và tỷ
trọng của từng loại so với tổng số và có thêm cột so sánh cuối kỳ so với đầu
kỳ vè cả lượng và tỷ lệ phần trăm thay đổi Sau đó tiến hành tinh toán phân
tích và đánh giá thực trạng về nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp theo
những tiêu thức nhất định của doanh nghiệp và ngành
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên bảng cân đối kế toán về nguồn
vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Để tiến hành phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trứoc tiên, người ta trình bày bảng cân đối kế toán dưới dạng bảng cân đối báo cáo
(Trình bày 1 phía ) từ tài sản đến nguồn vốn Sau đó so sánh số liệu cuối kỳ so
với đầu kỳ trong tùng chỉ tiêu của bảng cân đối để xác định tình hình tăng
giảm vốn trong doanh nghiệp theo nguyên tắc:
+ Sử dụng vốn là tăng tài sản, giảm nguồn vốn + Nguồn vốn là giảm tài sản, tăng nguồn vốn + Nguồn vốn là sử dụng vốn phải cân đối với nhau Cuối cùng tiến hành sắp xếp các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn theo những trình tự nhất định tuỳ theo mục tiêu phân tích và phản ánh vào một bàng theo mẫu
Nội dung phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp cho ta biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn tăng ( giảm ) bao nhiêu ? tình hình sử dụng vốn như thế nào ? Nguyên nhân tăng giảm nguồn vốn và sủ dung vốn của doanh nghiệp ? Từ đó có giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng ao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Trang 25Ngoài việc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, trên thực tế,người ta còn phân tích theo luồng tiền, xác định nguyên nhân làm thay đổi (
tăng, giảm ) tiền mặt cuối kỳ so với đầu kỳ, dựa vào sự thay đổi trong từng
chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán Mỗi sự thay đổi cuối kỳ so với đầu kỳ trong
từng chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán đều dẫn tới sự tăng ( giảm ) tiền mặt
tương ứng theo nguyên tắc:
+ Tăng tiền mặt là giảm tài sản, tăng nguồn vốn + Giảm tiền mặt là tăng tài sản, giảm nguồn vốn + Tổng cộng tăng giảm tiền mặt đến cuối kỳ đúng bằng sự thay đổi trên dong tiền mặt cuối kỳ so với đầu kỳ của bảng cân đối kế toán
Phương pháp này giúp ta xác định khả năng chuyển đổi vật tư, hàng hoá
và tài sản thành tiền mặt trong kỳ
Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài sản gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Để hình thành hai loại tài sản này phải có
các nguồn vốn tài trợ tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn
dài hạn
Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảng thời gian dưới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các
khoản nợ ngắn hạn, nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn
hạn,Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dung lâu dài cho hoạt
độngkinh doanh, bao gồm nguồn vốn chủ sở hửu, nguồn vốn vay nợ trung,
dài hạn
Nguồn vốn dài hạn trứoc hết được đầu tư để hình thành tài sản dài hạn, phần dư của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình
thành tài sản ngắn hạn Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản ngắn
hạn hay giữa tài sản ngắn hạn với nguồn vốn ngắn hạn được gọi là vốn lưu
động thưòng xuyên
Trang 26VLĐ thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn - tài sản dài hạn Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của VLĐ thường xuyên Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt đông kinh
doanh, ta cần tính toán và so sánh giữa nguồn vốn với tài sản
Khi Nguồn vốn dài hạn < tài sản dài hạn Hoặc tài sản ngắn hạn < Nguồn vốn ngắn hạn
Có nghĩa là nguồn vốn thường xuyên < 0 Nguồn vốn dài hạn không
đủ đầu tư cho tài sản dài hạn Doanh nghiệp phải đầu tư vào tài sản dài hạn
một phần Nguồn vốn ngắn hạn, tài sản ngắn hạn không đáp ứng đủ nhu
cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăng
bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần tài sản dài hạn để thanh toán nợ
ngắn hạn đén hạn trả Trong trường hợp như vậy, giải pháp cua r doanh
nghiệp là tăng cường huy động vốn ngắn hạn hợp pháp hoặc giảm quy mô
đầu tư dài hạn hoặc thực hiện đồng thời cả hai giải pháp đó
Khi Nguồn vốn dài hạn > tài sản dài hạn Hoặc tài sản ngắn hạn > Nguồn vốn ngắn hạn Tức là VLĐ thường xuyên > 0, Nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu
tư vào tài sản dài hạn, phần thừa đó đầu tư vào tài sản ngắn hạn, đồng thời
tài sản ngắn hạn > Nguồn vốn ngắn hạn, do vậy khả năng thanh toán của
doanh nghiệp tốt
Nguồn vốn thường xuyên = 0 có nghĩa là Nguồn vốn dài hạn tài trợ đủ cho tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn
hạn, tình hình tài chính như vậy là lành mạnh
VLĐ thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, chỉ tiêu này cho biết hai điều cốt yếu:
Một là: Doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không ?
Trang 27Hai là: tài sản dài hạn của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng Nguồn vốn dài hạn không ?
Ngoài khái niệm VLĐ thường xuyên được phân tích trên đây ; nghiên cứu tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, cần sử dụng chỉ tiêu nhu cầu VLĐ thường xuyên để phân tích
Nhu cầu VLĐ thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp cần để tài trợ cho một phần tài sản ngắn hạn, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu ( tài sản ngắn hạn không phải là tiền )
Nhu cầu VLĐ thường xuyên = ( Tồn kho + các khoản phải thu ) - Nợ ngắn hạn
Nhu cầu VLĐ thường xuyên >0, tức là tồn kho và các khoản phải thu >
nợ ngắn hạn Tại đây, các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các
nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanh nghiệp
phải dùng Nguồn vốn dài hạn để tài trợ vào phần còn chênh lệch Giải pháp
trong trường hợp này là nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho và giảm các
khoản phải thu khách hàng
Phân tich báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Mục tiêu phân tích là xác định mối liên hệ và đặc điểm các chỉ tiêu trong
báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,đồng thời so sánh chúng qua
một số liên độ kế toán liên tiếp và với số liệu trung bình của ngành ( nếu có )
để đánh giá xu hướng thay đổi từng chỉ tiêu và kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp so với các doanh nghiệp khác
Phân tich báo cáo lưu chuyển tiền tệ Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ giúp cho các nhà quản trị biết
được tiền của doanh nghiệp sinh ra từ đâu và sử dụng vào những mục đích gì ;
xác định quỹ tiền tệ tối ưu, không những đảm bảo khả năng thanh toán nhanh
của doanh nghiệp mà còn giảm được chi phí cơ hội của đồng tiền ; dự đóan
Trang 28luồng tiền trong tương lai của doanh nghiệp Ngoài ra,
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ kết hợp phân tích bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh còn giúp các nhà quản
trị doanh nghiệp nắm bắt đầy đủ, chính xác tình hình thanh toán của khách
hàng cũng như tình hình thanh toán nhanh doanh nghiệp đối với nhà cung cấp
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ, doanh nghiệp cần so sánh cả về số
tuyệt đối và số tương đối giữa kỳ phân tích với kỳ gốc trên các chỉ tiêu ` lưu
chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư `, chỉ tiêu ` lưu chuyển tiền thuần từ
hoạt động tài chính `
Phân tich các tỷ số tài chính chủ yếu
Trong phân tích tài chính, các tỷ số tài chính chủ yếu được phân thành bốn nhóm chính Tuỳ mục tiêu phân tích tài chính mà phân tích chú trọng
nhiều hơn tới nhóm tỷ số này hay nhóm tỷ số khác
Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán
Tình hình tài chính doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các tỷ số
về khả năng thanh toán của doanh nghiệp Khả năng thanh toán của doanh
nghiệp phản anhs mối quan hệ giữa các khoản có khả năng thanh toán trong
kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ Nhóm tỷ số này bao gồm các tỷ số
chủ yếu sau:
Tỷ số thanh toán hiện hành: Một trong những thước đo khả năng thanh
toán của một công ty được sử dụng rộng rãi nhất là Tỷ số thanh toán hiện
hành tỷ số này được tính bằng công thúc:
Tỷ số thanh toán hiện hành = Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Trang 29
Tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, và Tài sản
ngắn hạn khác
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn trả, phải trả người bán, thuế và các khoản phải nộp nhà
nước, phải trả người lao động và các khoản phải trả khác
Tỷ số thanh toán hiện hành cho biết khả năng sử dụng tài sản ngắn hạn
để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.Đây là chỉ tiêu
được các chủ nợ ngắn hạn quan tâm nhất vì nó cho biết các khoản nợ của họ
có được trang trải bằng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp hay không ?
Nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá thấp, doanh nghiệp không chỉ gặp rắc rối về vấn đề thanh toán mà rắc rối về dòng tiền mặt chắc chăn sẽ xuất hiện
.Nếu tỷ số thanh toán hiện thời cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sàng
thanh toán các khoản nợ Tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao
có thể phản ánh rằng doanh nghiệp quản lý tài sản ngắn hạn không hiệu quả
Tỷ số thanh toán nhanh: Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa
trên những tài sản ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao
gồm tất cả tài sản ngắn hạn trừ hàng tồn kho Tỷ số thanh toán nhanh được
kém thanh khoản hơn cả vì phải mất nhiều thời gian và chi phí tiêu thụ mới có
thể chuyển thành tiền, nhất là hàng tồn kho ứ đọng, kém phẩm chất
Trang 30Tỷ số thanh toán tức thời:
Tỷ số thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền
Tỷ số nợ trên tổng tài sản ( Tỷ số nợ ): Tỷ số này cho thấy bao nhiêu
phần trăm tài sản của công ty được tài trợ bằng nợ, đo lường mức độ sử dụng
nợ của doanh nghiệp so với tài sản:
Tỷ số nợ trên tổng tài sản = Tổng nợ phải trả
Tổng tài sản Tổng nợ phải trả bao gồm toàn bộ nợ ngắn hạn và dài hạn, tổng tài sản
bao gồm toàn bộ tài sản ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp
Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như thế công ty có khả
năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì sử dụng đòn
bẩy tài chính noi chung gia tăng khả năng sinh lời cho cổ đông
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu
Trang 31Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu cho thấy tỷ trọng giữa nợ với vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp
Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định Khoản tiền mà doanh nghiệp dùng để trả lãi vay là thu nhập trước thuế và lãi vay tỷ số khả năng
thanh toán lãi vay cho biết công ty sẵn sàng trả lãi đến mức nào Cụ thể hơn
chúng ta muốn biết rằng liệu số vốn đi vay có thể sử dụng tốt đến mức nào, có
thể đem lại khảon lợi nhuận là bao nhiêu và đủ bù đắp lãi vau hay không
Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay
= Lợi nhuận trước thuế và lãi vay ( EBIT)
Lãi vay Lãi vay bao gồm tiền lãi phải trả cho các khoản vay ngắn hạn, vay dài hạn và tiền lãi của các hình thức vay mượn khác như trả lãi trái phiếu
Lãi vay được tính vào chi phí hơp lý, hơp lệ của doanh nghiệp nên tạo ra phần tiết kiệm thuế.Do vậy, doanh nghiệp có thể cân nhắc lựa chọn một mức
sử dụng nợ hợp lý nhằm tối đa hoá lợi nhuận cho chủ sở hữu
Tỷ số cơ cấu tài sản
Tỷ số cơ cấu tài sản cho biết trong tổng tài sản của doanh nghiệp, bao nhiêu phần trăm là tài sản ngắn hạn và bao nhiêu phần trăm là tài sản dài hạn
Tỷ số cơ cấu tài sản = Tài sản ngắn hạn hoặc Tài sản dài hạn
Tổng tài sản Đối với mỗi loại hình kinh doanh khác nhau thì cơ cấu tài sản khác nhau.Do đó, khi đánh giá mức độ hợp lý của cơ cấu tài sản cần dựa vào mức
trung bình của ngành để xem xét Nếu việc bố trí cơ cấu tài sản này không
hợp lý sẽ dẫn tới mất cân đối trong kinh doanh, ảnh hưởng tới hiệu quả sử
dụng tài sản
Trang 32Tỷ số cơ cấu vốn
Tỷ số cơ cấu vốn = Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Tỷ số này còn gọi là tỷ số tự tài trợ, dùng đẻ phản ánh khả năng tự chủ
về tài chính của doanh nghiệp, cho thấy mức độ độc lập hay phụ thuộc của
doanh nghiệp đối với các chủ nợ
Nhóm tỷ số về năng lực hoạt động
Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả
sử dụng tài sản của doanh nghiệp Nếu công ty đầu tư vào tải sản quá nhiều dấn
đến dư thừa tài sản Ngược lai, Nếu công ty đầu tư vào tải sản quá ít khiến cho
không đủ tài sản hoạt động và làm tổn hại đến khả năng sinh lợi của doanh
nghiệp Do vậy, doanh nghiệp nên đầu tư tài sản ở mức độ hợp lý Thế nhưng,
như thế nào là hợp lý ? Muốn biết điều này cần phân tích các tỷ số sau:
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu dùng để đo lường hiệu quả quản lý các khoản phải thu Các khoản phải thu bao gồm: phải thu khách hàng, trả trước
cho người bán, phải thu khác
Số vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc thanh toán các khảon phải thu Khi khách hàng thanh toán tất cả các hoá
đơn của họ, lúc đó các khoản phải thu quay được một vòng
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Tỷ số này có thể được thể hiện ở dạng khác đó là tỷ số kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = Thời gian của kỳ phân tích
Vòng quay các khoản phải thu
Trang 33Kỳ thu tiền bình quân thấp chứng tỏ doanh nhgiệp không bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, không gặp phải những khoản nợ khó đòi Ngược lại,
nếu tỷ số này cao,doanh nghiệp phải tiến hành phân tích chính sách bán hàng
để tìm ra nguyên nhân của việc tồn đọng nợ Trong nhiều trường hợp, do công
ty muốn chiếm lĩnh thị phần thông qua chính sách bán chịu dẫn tới kỳ thu tiền
chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho trong một năm hoặc số ngày tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho = Gía vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân Vòng quay hàng tồn kho thể hiện số lần mà hàng tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ, vòng quay hàng tồn kho cao chứng tỏ doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh hiệu quả và cũng thể hiện rằng doanh nghiệp dữ trữ vừa đủ hàng
tồn kho phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ Song nếu mức tồn kho quá thấp sẽ
không đủ nhu cầu cho sản xuất và hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp, chưa
kể nhiều khi doanh nghiệp phải dự trữ hàng tồn kho nhằm tránh biến động
tăng giá hàng tồn kho ở kỳ sau
Số ngày tồn kho = Thời gian của kỳ phân tích
Vòng quay hàng tồn kho
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn:
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
=
Doanh thu thuần Tài sản ngắn hạn bình quân
Trang 34Chỉ tiêu này nhằm đo lường hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Nó cho biết với một đồng tài sản ngắn hạn doanh nghiệp bỏ ra trong
một kỳ kinh doanh thì sẽ thu được về bao nhiêu đồng doanh thu
Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn:
Tỷ số này nói lên 1 đồng tài sản dài hạn tạo ra đựoc bao nhiêu đồng doanh thu
Hiệu suất sử dụng tài sản dai hạn = Doanh thu thuần
Tài sản dài hạn bình quân
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:
Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản đo lường 1 đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
=
Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân
Nhóm tỷ số về khả năng sinh lời
Tỷ số sinh lời đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu
Doanh lợi và tiêu thụ sản phẩm:
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng sinh lãi của doanh nghiệp cang lớn
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Doanh lợi tổng tài sản ( ROA ): Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lời
trên 1 đồng tài sản của công ty, cho biết với mỗi đòng tài sản đầu tư thì sẽ thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận trứoc thuế và lãi vay
Doanh lơi tổng tài sản = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Tổng tài sản bình quân
Trang 35Doanh lợi vốn chủ sở hữu ( ROE ):
Doanh lơi vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư váo doanh nghiệp
1.2.5 Đánh giá tình hình tài chính và đưa ra các quyết định tài chính
Kết quả tư phân tích tài chính sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nhận biết được tình hình tài chính doanh nghiệp, thấy được điểm mạnh, điểm yếu
cũng như nguyên nhân dẫn đén điểm yếu Từ đó, các nhà quản trị doanh
nghiệp cơ thể đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn và kịp thời:
Quyết định đầu tư: Là quyết định chi tiền ra để mua sắm hoặc đầu tư vào
một loài tài sản nào đó Cụ thể nó bao gồm những quyết định sau:
- Doanh nhgiệp cần những loại tài sản nào phục vụ cho sản xuất kinh doanh ?
- Mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn nên như thế nào ?
- Doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu vào tài sản ngắn hạn ? Bao nhiêu tài sản dài hạn ?
Quyết định tài trợ: Một cơ cấu giữa nợ và vốn của chủ sở hữu thế nào là
tốt nhất ? Đó là những quyết định liên quan đến quyết định tài trợ trong hoạt
động của doanh nghiệp
Quyết định quản lý tài chính ngắn hạn: Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn
liền với các dòng nhập tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ.Nếu vay ngắn hạn
thì doanh nghiệp nên vay ở đâu và vay nhue thế nào ?
1.2.6 Lập báo cáo phân tích tài chính doanh nghiệp
Báo cáo phân tích là sản phẩm cuối cùng của công tác phân tích tài
chính doanh nghiệp, thể hiện đầy đủ mọi nội dung của công tác phân tích tài
chính Báo cáo phân tích thường gồm những nội dung sau ;
Trang 36- Tên báo cáo
- Thời gian báo cáo
- Họ tên và chức vụ của cán bộ phân tích
- Thông tin sử dụng trong phân tích
- Phưong pháp sử dụng trong phân tích
- Nội dung phân tích
- Đánh giá tình hình tài chính doanh nhgiệp
- Đưa ra các quyết định tài chính
- Địa điểm, ngày, tháng, năm, chữ ký của người lậ pbáo cáo phân tích
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện công tác phân tích tài chính
doanh nghiệp
Để hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp cần chú ý tới
hàng loạt các nhân tố sau:
công tác phân tích tài chính trong quản lý doanh nghiệp Các nhà quản trị
doanh nghiệp chưa quan tâm đến công tác phân tích tài chính đa phần do họ
không thấy được những lợi ích to lớn mà phân tích mang lại
* Số lượng, trình độ cán bộ phân tích
Số lượng cán bộ phân tích ảnh hưởng đến thời gian thực hiện phân tích
do đó ảnh hưởng đến tính kịp thời của kết quả phân tích Nếu cán bộ phân tích
có trình độ chuyên môn nhưng lại không có đạo đức thì kết quả phân tích có
thể bị làm sai lệch, ảnh hưởng đến tính đúng đắn của các quyết định tài chính
Trang 37* Cở sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác phân tích tài chính
Cở sở vật chất kỹ thuật ảnh hưởng lớn đến thời gian của công tác phân tích tài chính Do vậy,cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại sẽ góp phần tiết kiệm
thời gian, chi phí công tác phân tích, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu sử dụng
kết quả phân tích để ra các quyết định tài chính
* Chất lượng thông tin phân tích
Thông tin càng đầy đủ và chính xác thì kết quả phân tích càng được cụ thể, chất lượng càng cao Tù đó, giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thấy
được toàn diện tình hình tài chính của công ty, đưa ra các quyết định tài chính
đúng đắn, sự thay đổi của chính sách kế toán, thông tin kinh tế trong và ngoài
nước liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thông
tin về ngành kinh doanh
* Phưong pháp phân tích
Phưong pháp phân tích là cách thức mà các nhà phân tích tài chính sử dụng để tác động vào đối tương phân tích ( các báo cáo phân tích ) Khi đã có
thông tin chính xác,đầy đủ thì việc lựa chọn đúng phương pháp phân tích là
rất quan trọng,Vì vậy, để giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nhìn nhận toàn
diện, sát thực tình hình tài chính doanh nghiệp, cán bộ phân tích phải lựa chọn
các phương pháp phân tích tài chính phù hợp
doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán do Bộ Tài Chính xây dựng và áp dụng
thống nhất đối với tất các doanh nghiệp Những quy định về hách toán kế toán
Trang 38ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính Các văn bản pháp luật của nhà nước có liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
như: luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật thuế giá trị gia tăng, luật thuế thu
nhập doanh nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các chỉ tiêu trên báo
cáo tài chính Do đó, bất kể một sự thay đổi nào của chế độ kế toán doanh
nghiệp, chuẩn mực kế toán và các văn bản pháp luật có liên quan sẽ tác động
ngay đến các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, làm thay đổi kết quả phân tích tài
chính Vì vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên cập nhật những
thay đổi của chế độ kế toán doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán và các văn bản
pháp luật có liên quan Có như vậy, thông tin phục vụ phân tích mới chuẩn
xác và có ý nghĩa
* Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành
Doanh nghiệp muốn kểt quả phân tích tài chính có chất lượng cao, phục
vụ hiệu quả cho các quyếtđịnh của nhà quản trị doanh nghiệp, nhà phân tích
phải có sự so sánh các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp với hệ thống chỉ
tiêu trung bình ngành hoặc các chỉ tiêu tài chính của một doanh nhgiệp tương
đưong cung ngành
Như vậy, có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Tác động cụ thrrt của các nhân tố đó sẽ được nghiên cứu thông
qua thực trạng công tac phân tích tài chính của Công Ty TNHH Một Thành
viên công viên cây xanh Hà Nội
Trang 39TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Phân tích tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các chính sách, chiến lược kinh doanh Chương 1 đã hệ thống lại toàn bộ lý luận về
công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, các báo cáo tài chính và các
phương pháp phân tích tài chính thường được sủ dụng và sự cần thiết phải
quan tâm hơn nữa đến công tac phân tích tài chính doanh nghiệp ; các nhân tố
ảnh hưởng đến việc hoàn thiện công tac phân tích tài chính doanh nghiệp
Tuy nhiên, việc áp dụng các lý luận vào thực tế còn một khoảng cách
Chương 2 sẽ đi vào phân tích và đánh giá thực trạng công tac phân tích tại
Công Ty TNHH Một Thành viên công viên cây xanh Hà Nội, từ đó đề xuất
các giải pháp cụ thể và phù hợp nhất với điều kiện thực tiễn của Công ty
nhằm hoàn thiện hơn nữa công tac phân tích tài chính
Trang 40
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN CÔNG VIÊN CÂY XANH HÀ NỘI
2.1 Khái quát về Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty TNHH một thành viên công viên cây Hà Nội tiền thân là một Trại ươm cây nhỏ nằm trên phố Thụy Khê và phố Hoàng Hoa Thám, quận Ba
Đình, Hà Nội Trại ươm cây này chủ yếu để sản xuất các giống cây xanh, cây
hoa phục vụ cho việc làm xanh hóa thành phố
Từ khi hòa bình lập lại, đất nước đổi mới, trình độ của người dân ngày càng được nâng cao Do vậy đã hình thành nên các vườn ươm cây nhỏ và các
vườn ươm cây này ngày một phát triển và mở rộng khắp thành phố
Ngày 19/09/1960, thành lập Công ty quản lý Công viên Thành phố Hà Nội theo quyết định số 2206/TCCB của ủy ban Hành chính Thành phố Hà
Nội trên cơ sở tách Trại trồng hoa và vườn ươm cây ra khỏi Sở Nông lâm
Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty là sản xuất cây hoa, cây xanh, cây cảnh, cây
bóng mát và duy trì, chăm sóc các vườn hoa, công viên, phục vụ trang trí Hội
nghị, tang lễ của cơ quan Trung ương và Hà Nội Ngoài ra, Công ty còn được
giao nhiệm vụ trồng, chăm sóc và quản lý cây bóng mát trên các tuyến phố để
phục vụ nhu cầu lấy gỗ và góp phần làm xanh cho thành phố Hà Nội sau
những tàn dư của chiến tranh
Năm 1976, UBND Thành phố Hà Nội quyết định chuyển toàn bộ khu vực nuôi thú từ Công viên Bách THào sang Công viên Thủ Lệ (cũng chính là
vườn thú Hà Nội ngày nay) và giao thêm nhiệm vụ cho Công ty quản lý Công
viên Thành phố Hà Nội là cắt sửa những cây bóng mát nặng tán, chặt hạ
những cây sâu mục, bật gốc hay sắp đổ để đảm Báo sự an toàn cho người
dân, nhất là trong mùa mưa bão