Khái niệm: Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn PRRS hay là “ bệnh lợn tai xanh”, là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với loài lợn kể cả lợn rừng , gây ra bởi virus Lelystad.Bệ
Trang 1HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH
SẢN Ở LỢN
PRRS là gì?
Có ăn được không?
Trang 2Chuyên đề bao gồm:
Trang 3Giới thiệu chung về PRRS (Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản)
1
1 Khái niệm:
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS) hay là
“ bệnh lợn tai xanh”, là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với loài lợn (kể cả lợn rừng ), gây ra bởi virus Lelystad.Bệnh lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng về rối loạn sinh sản ở lợn nái : sảy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu; viêm đường hô hấp rất nặng: sốt, ho, khó thở ở lợn con theo mẹ, lợn hậu bị thể hiện viêm đường hô hấp rất nặng: sốt, ho, khó thở, chết với tỷ lệ cao Theo FAO xác định bệnh không lây truyền sang gia súc khác và con người
Trang 42 Lịch sử và địa dư bệnh
• Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên tại Mỹ vào khoảng
năm 1987, vào thời điểm đó, do chưa xác định được căn nguyên bệnh nên được gọi là “bệnh bí hiểm ở lợn” (MDS), một số người căn cứ theo triệu chứng gọi là
“bệnh tai xanh ở lợn”
Sau đó bệnh lây lan rộng trên toàn thế giới và được gọi bằng nhiều tên: Hội chứng hô hấp và sinh sản của lợn (SIRS), bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) như ở châu Mỹ hay Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS), hội
chứng hô hấp và sinh sản lợn (PRRS), bệnh tai xanh như ở châu Âu Năm1992, Hội nghị quốc tế về bệnh này được tổ chức tại St.Paul, Minnesota đã nhất trí
dùng tên PRRS và được tổ chức Thú y Thế giới công nhận
Trang 6 Tình hình dịch bệnh trên thế giới và ở các
nước trong khu vực:
- Tính từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước vùng lãnh thổ
thuộc tất cả các châu lục ( trừ châu ÚC và New
Zealand) trên Thế giới đã báo cáo cho tổ chức Thú y thế giới (OEI) khẳng định phát hiện có PRRS lưu hành
- Tại Trung Quốc, dịch bệnh PRRS đã xuất hiện trong
những năm gần đây và hiện đang còn tồn tại Chủng virus đang lưu hành tại nước này là chủng thuộc dòng Bắc Mỹ, chúng được chia thành hai dạng, gồm chủng
cổ điển (gây chết ít lợn mắc bệnh) và chủng độc lực cao (gây chết nhiều lợn nhiễm bệnh)
Trang 7Bệnh PRRS
• Tình hình PRRS ở Việt Nam:
Lần đầu tiên trong lịch sử vào năm 1997, PRRS được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh miền Nam Kết quả
kiểm tra thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu có huyết thanh
dương tính với PRRS Toàn bộ số lợn này đã được xử lý vào thời gian đó Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, các
nghiên cứu về bệnh trên những trại lợn giống tại các tỉnh
phía Nam cho thấy tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính với
bệnh rất khác nhau, từ 1,3% cho tới 68,29% (Báo cáo của
Cục Thú y, 2007).
Trang 8Bệnh PRRS
tỉnh Hải Dương 3/2007 Do lần đầu tiên mắc
dịch nên đã không kiểm soát được và để lây lan mạnh tại 6 tỉnh khác nhau tại ĐB Sông Hồng:
Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Giang
và Hải Phòng làm hàng ngàn con lợn mắc bệnh
Trang 9II Nguyên nhân bệnh
1 Căn Bệnh:
Khi dịch bệnh xảy ra, lúc đầu người ta cho rằng 1 số
virus như: Parvovirus, virus giả dại (Pseudorabies), virus cúm lợn (Porcine entero virus), đặc biệt virus gây viêm cơ tim (Encephalomyo carditis) gây
nên.Tuy nhiên, mọi sự nhầm lẫn xung quanh vấn đề bệnh nguyên học của PRRS đã được giải quyết vào năm Viện Thú y Trung ương Hà Lan đã phân lập
được 1 virus trước đây chưa công nhận từ những
con bệnh mắc PRRS ở thành phố nơi đặt Viện thú y
Họ đặc tên virus mới này là “Lelystad”
Trang 10Bệnh PRRS
Nguyên nhân của hội chứng rối loạn sinh sản và hô
hấp ở lợn là do vius thuộc họ Arteriviridae, giống
Nidovirales, có cấu trúc vỏ bọc dạng chuỗi đơn RNA Hiện nay, dựa trên việc phân tích cấu trúc gen, người
ta đã xác định được 2 nhóm virus:
+ Nhóm 1: Gồm các virus thuộc dòng châu Âu (với tên gọi phổ thông là virus Lelystad) gồm 4 subtyp đã được xác định
+ Nhóm 2: gồm những nhóm virus thuộc dòng Bắc Mỹ
mà tiêu biểu cho nhóm này là chủng virus VR-2332
Trang 11Bệnh PRRS
2 Đặc tính sinh học của virus:
virus PRRS có vỏ bọc, hình cầu, kích thước 45 - 80nm và chứa nhân nucleocapsid 25 - 35nm,
trên bề mặt có những gai nhô ra rõ Sự sinh sôi của virus bị dừng lại khi dùng Chloroform hay
Ether, chứng tỏ vỏ có chứa lipid.
Trang 154 Dịch tễ học:
thể mắc bệnh( kể cả lợn rừng) Trong các cơ sở chăn nuôi lớn, bệnh thường có tính chất lây lan nhanh, rộng, tồn tại lâu trong đàn lợn nái, và lợn nái truyền bệnh qua bào thai, gây sảy thai, thai chết lưu, chết yểu với tỷ lệ cao
Trong tự nhiên, lợn đực và lợn nái mang virut
nguồn tàng trữ và truyền mầm bệnh cho các
loại lợn Trong phòng thí nghiệm có thể dùng
chuột để nghiên cứu
Trang 16Bệnh PRRS
Điều kiện lây lan:
Virus PRRS có trong dịch mũi, nước bọt, phân, nước tiểu của lợn ốm hoặc mang trùng và phát tán ra môi trường
Đặc biệt, tinh dịch của lợn đực giống cũng được xác định là nguồn phát tán mầm bệnh, virus ở tinh dịch có thể lây nhiễm sang cho bào thai
Ở lợn mẹ mang trùng, virus có thể lây nhiễm cho bào thai từ giai đoạn giữa thai kỳ trở đi và virus cũng được bài thải qua nước bọt và sữa
Trang 17Bệnh PRRS
• Virus có thể phát tán, lây lan thông qua hình thức trực
tiếp như tiếp xúc với heo ốm, heo mang trùng, theo
gió (có thể đi xa 3 km), phân, nước tiểu, bụi, bọt nước, thụ tinh nhân tạo và có thể do một số loài chim hoang dã
• Lây qua hình thức gián tiếp như qua dụng cụ chăn
nuôi và dụng cụ bảo hộ lao động nhiễm trùng Đặc biệt heo trưởng thành có thể bài thải virút trong vòng 14
ngày, heo con và heo choai trong 1 -2 tháng
Trang 19Bệnh PRRS
- Ở nước tiểu sau 14 ngày
- Ở phân khoảng 28-35 ngày
- Ở huyết thanh khoảng 21-35 ngày
- Dịch hầu họng khoảng 56- 157 ngày
- Ở tinh dịch sau 92 ngày
- Ở huyết thanh của lợn con nhiễm bệnh từ bào thai sau
210 ngày
Trang 205 Cơ chế sinh bệnh:
“Giống cơ chế của virus HIV”
Virus có đặc điểm rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào vùng phổi Virus nhân lên ngay bên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại
thực bào (tới 40%) Đại thực bào bị giết chết nên sức
đề kháng của lợn mắc bệnh bị suy giảm nghiêm trọng
Do vậy lợn bị bệnh thường dễ dàng bị nhiễm khuẩn kế phát
Trang 216 Triệu chứng và bệnh tích
6.1 Triệu chứng:
- Lợn mắc bệnh tai xanh thường có các đặc trưng về lâm sàng như lợn nái có chửa thường xảy thai vào giai đoạn cuối hoặc thai chết lưu ở giai đoạn 2 trở thành
thai gỗ hoặc lợn sơ sinh chết yểu
- Lợn ốm thường sốt cao trên 40-42 C, thậm chí còn cao hơn
- Viêm phổi nặng, ỉa chảy
- Đặc biệt tai chuyển từ màu hồng đỏ sang màu đỏ
thẫm, xanh đến tím đen do xuất huyết nặng, dẫn tới tử vong
- Triệu chứng lâm sàng của bệnh có thể khác nhau tùy từng loại lợn:
Trang 23Bệnh PRRS
Với lợn nái đang có chửa:
- Biếng ăn, sốt cao 40-42o C, sảy thai ở giai đoạn cuối, đẻ non động dục giả hoặc chậm động dục, ho và có dấu hiệu viêm phổi, phần da mỏng có màu đỏ hồng
• Với lợn nái giai đoạn đẻ và nuôi con:
- Biếng ăn, ít uống nước, mất sữa và viêm vú, đẻ sớm, da biến thành
màu hồng, lờ đờ hoặc hôn mê, thai gỗ hoặc lợn con chết ngay sau khi sinh( khoảng 30%) Tỉ lệ chết ở đàn lợn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3 – 4 sau khi xuất hiện triệu chứng.
• Lợn đực giống: Sốt, bỏ ăn, đờ đẫn hôn mê, giảm hưng phấn hoặc
mất tính dục, lượng tinh dịch ít Trường hợp cấp tính, lợn đực bị sưng dịch hoàn Phần lớn lợn đực bị nhiễm thường không có biểu hiện lâm sàng, nhưng trong tinh dịch có VR từ 6-8 tháng
Trang 24• Lợn con theo mẹ
Thể trạng gầy yếu, nhanh chóng rơi vào trạng thái tụt đường huyết do không bú được, mắt có ghèn màu nâu, trên da có vết phồng rộp, tiêu chảy nhiều, giảm số lợn con sống sót, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, chân choãi ra, đi run rẩy,
Lợn con cai sữa và heo choai:
Chán ăn, ho nhẹ, lông xác xơ tuy nhiên, ở một số đàn có thể không có triệu chứng Ngoài ra, trong trường hợp ghép với bệnh khác có thể thấy viêm phổi lan toả cấp tính, hình thành nhiều ổ áp-xe, thể trạng gầy yếu, da xanh, tiêu chảy,
ho nhẹ, hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ chết có thể tới 15%
Trang 26Bệnh tích
Mổ khám lợn mắc bệnh tai xanh có thể thấy các bệnh tích đại thể sau:
- Ở lợn nái bị sảy thai: âm môn sưng, tụ huyết, niêm
mạc tử cung và niêm mạc âm đạo sưng thũng, tụ
huyết, xuất huyết đỏ sẫm và chảy dịch Nếu ở thể cấp tính,phổi sưng thũng thụ huyết từng đám và trong phế quản có nhiều dịch và bọt khí Một số có thể thấy viêm bàng quang xuất huyết
Trang 27Bệnh tích
Lợn con theo mẹ: Thường thấy viêm đường hô hấp cấp với bệnh tích điểm hình như phế quản và phổi sưng có màu vàng hoặc tụ huyết đỏ, trong phế quản có nhiều dịch và bọt khí Nếu nhiễm
khuẩn kế phát do kiên cầu gây viêm não sẽ thấy sung huyết não
Lợn con sau cai sữa: cũng có biểu hiện viêm đường hô hấp là chủ yếu, nhưng mức độ nhẹ hơn lợn con theo mẹ, bệnh tích
thường thấy ở phổi viêm thũng từng đám, có màu vàng hoặc đỏ
do xuất huyết; phế quản chứa nhiều dịch nhầy và bọt khí,
Trang 29Bệnh tích
Trang 30Bệnh tích
Trang 317 Chẩn đoán
1 Chẩn đoán lâm sàng: Chẩn đoán lâm sàng:
Căn cứ vào các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của bệnh để
chẩn đoán:
từ 8 – 20% số lợn nái tại cơ sở
quản phổi, suy hô hấp với tỷ lệ cao từ 15-30% tổng đàn
Ngoài ra quan sát thêm các bệnh tích đại thể khi mổ khám
lấy các bệnh phẩm bao gồm: Phổi, hạch lâm ba, hạch amidan, máu, nước ối Để làm các phản ứng như elisa, ifat hoặc PCR
Trang 32Chẩn đoán phân biệt
Trang 33Chẩn đoán phân biệt
trong không khí.
thai bị dị dạng.
Trang 34Chẩn đoán phân biệt
dính.
Trang 35Bên cạnh đó cần phải áp dụng triệt để các biện pháp
an toàn sinh học trong chăn nuôi, chuồng trại phải
đảm bảo vệ sinh an toàn thú y, chăm sóc tốt để nâng cao sức đề kháng cho đàn vật nuôi…
Trang 36Bệnh PRRS
Nhìn chung, người ta cho rằng việc sử dụng vaccine là rất có hiệu quả để phòng và khống chế hội chứng PRRS Hơn nữa giá vaccine quá cao đối với nguời chăn nuôi (thấp nhất là 10000VNĐ trên 1
liều) Do vậy để đạt được hiệu quả cao, cần phải cân nhắc và xem xét các yếu tố sau trong chương trình tiêm phòng (tốt nhất là sử
dụng theo hướng dẫn và chỉ đạo của Cục Thú y):
Trang 37bệnh, hạn chế kế phát Điều trị phải đầy đủ, đúng liều, đủ thời gian, ít nhất là 5 -7 ngày Đặc biệt lưu ý các vi khuẩn kế phát
Trang 38 Có thể tham khảo đơn thuốc sau:
+ Nếu lợn còn ăn thì chộn vào thức ăn hàng ngày 1 trong các loại kháng sinh sau đây :
Flofenicol 40ppm (40gr / tấn thức ăn ) hoặc 10 – 15 ngày
Lincomix S liều 2kg/tấn thức ăn nt
Tylansulfa – G 2kg/tấn thức ăn nt
+ Nếu vật bỏ ăn dùng 1 trong các loại kháng sinh sau đây :
Amoxicilin LA 15% liều 1ml/ 10kgP liệu trình 3-7 ngày
Linco – spectin nt
Cefalosporin liều 1gr/30 – 50 kgP nt
+ Trợ sức trợ lực cho lợn:
VTMC 5% liều 5 – 10 ml / con / ngày ( có thể tiêm bắp)
Đường glucoza 5% liều 10 – 20 – 30 ml / con /ngày
Urotropin 10% liều 5 – 10 – 20 ml /con /ngày
Trang 39Một số điều lưu ý khi có dịch sảy ra
truyền mầm bệnh, đồng thời có biện pháp sử lý tập trung nhất.
chăn nuôi 1lần/ngày, (phun sương, tránh để ướt lợn) bằng
ANTISEP liều 3ml/ lít nước, 2lít nước pha phun cho 100m2
chuồng nuôi.
phải tạo độ miễn dịch cao và đồng đều trong toàn đàn, hỗ trợ cho việc dùng thuốc kháng sinh phòng bội nhiễm.
Trang 40Một số điều lưu ý khi có dịch sảy ra
Bước 2
Vì bệnh xảy ra rất phức tạp gây bệnh cho mọi lứa tuổi lợn với nhiều triệu chứng khác nhau:
- Rối loạn sinh sản cho lợn nái và đực
- Hội chứng hô hấp trên lợn con, lợn thịt
Do vậy tùy từng đối tượng bệnh nên điều trị theo các hướng khác nhau
Hạ sốt khẩn cấp cho lợn:
Khi lợn nái bị chết thai, sảy thai, đẻ non, đẻ thai chết thì nhất thiết phảI chống viêm sưng, hạ sốt, phân hủy nội độc tố cho lợn nái
Trang 41Một số điều lưu ý khi có dịch sảy ra
chuồng nuôi, ngăn chặn nhiễm khuẩn đường hô hấp nên trộn TYLAN DOX hoặc FLOMAX liều 2kg/ 1 tấn thức ăn.
tiêm hỗ trợ sức lực cần tiêm AMOXYCILLIN15%LAliều 1ml/ 15 kg TT
để tăng hiệu quả điều trị.
10 ngày trong thời gian điều trị.a
Trang 42Một số điều lưu ý khi có dịch sảy ra
250 g/ 20 lít nước nhằm bổ xung vitamin, điện giải, cung cấp năng lượng, giải độc, giúp lợn khoẻ , nhanh hồi phục.
sung
trợ tiêu hoá, kích thích tính thèm ăn của lợn, giúp lợn ăn uống tốt.
điều trị.