1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu các hệ thống thông tin về đối tượng nghèo (hộ nghèo) trên thế giới

28 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 4,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua chuyên đề nghiên cứu về các hệ thống thông tin quản lýđối tượng nghèo hộ nghèo trên thế giới, chúng tôi đưa ra được những công việc vàquá trình thực hiện sau đây: - Tổng quan về đối

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

Trang 2

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 6.7.4

Tên chuyên đề: Nghiên cứu các hệ thống thông tin về đối tượng nghèo (hộ

nghèo) trên thế giới

Trang 3

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC HÌNH 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHÈO, HỘ NGHÈO HÌNH THÀNH CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ 7

1.1 Khái niệm về nghèo 7

1.2 Nghèo tương đối 8

CHƯƠNG 2 CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHÈO, HỘ NGHÈO TRÊN THẾ GIỚI .10

2.1 Hệ thống thông tin quản lý đối tượng nghèo trên thế giới 10

2.1.1 Hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo - Freedom From Hunger 10

2.2 Hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo Beca 12

2.3 Hệ thống thông tin quản lý người nghèo - Swayam Krishi Sangam 16

2.4 Hệ thống thông tin quản lý người nghèo - Technoserve 18

2.5 Hệ thống thông tin người nghèo - Agensi Kaunseling Dan Pengurusan Kredit 20

2.6 Việt Nam sử dụng phần mềm quản lý hộ nghèo 21

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH

TOC \h \z \t "1 Figure" \c

Hình 1.1 Hệ thống thông tin FFH 11

Hình 1.2 Chức năng donate 12

Hình 1.3 Hệ thống thông tin trang giao diện Beca 13

Hình 1.4 Nguyên tắc hoạt động của Beca 14

Hình 1.5 Hệ thống thông tin của Beca 14

Hình 1.6 Thông tin liên lạc giúp đỡ 15

Hình 1.7 Hệ thống ủng hộ người nghèo 16

Hình 1.8 Trang chủ povertyactionlab.org 17

Hình 1.9 Tìm hiểu chính sách với từng vùng 17

Hình 1.10 Hệ thống thông tin các chính sách 18

Hình 1.11 Hệ thống thông tin Technoserve 19

Hình 1.12 Hệ thống Tin tức 19

Hình 1.13 Làm việc với tổ chức để được giúp đỡ 20

Hình 1.14 Trang chủ AKPK 21

Hình 1.15 Trang chủ 24

Hình 1.16 Tìm kiếm hộ nghèo 24

Hình 1.17 Nhập các khoản hỗ trợ 25

Hình 1.18 Tìm kiếm khẩu nghèo 25

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

Ngày nay, trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được những thành tựu hiểnnhiên về tiến bộ khoa học kĩ thuật–công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xãhội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thì vẫn còn đó là sự nghèo đóivẫn đeo đuổi thế giới

Chuyên đề nghiên cứu các hệ thống thông tin đối tượng nghèo để việc xóađói giảm nghèo rất quan trọng Các quốc gia trên thế giới có nhiều cách tiếp cận vàquản lý người nghèo giúp họ vượt qua đói nghèo một cách bền vững Một trongnhững biện pháp áp dụng quản lý người nghèo là sử dụng các hệ thống thông tin vềđối tượng, hộ nghèo Qua chuyên đề nghiên cứu về các hệ thống thông tin quản lýđối tượng nghèo hộ nghèo trên thế giới, chúng tôi đưa ra được những công việc vàquá trình thực hiện sau đây:

- Tổng quan về đối tượng nghèo, hộ nghèo

- Các hệ thống thông tin về đối tượng nghèo (hộ nghèo) trên thế giới

- Kết luận rút ra

Sau chuyên đề này, những kết quả cần đạt được là:

- Hiểu rõ hơn được về các hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo trên thế giớicũng như ở Việt Nam

- Đánh giá rút kinh nghiệm phù hợp với hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo ởnước ta

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHÈO, HỘ NGHÈO HÌNH

THÀNH CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ

Sự nghèo đói được hiểu là sự thiếu thốn các nguồn lực vật chất như thức ăn,nước uống, quần áo, nhà ở, và các điều kiện sống nói chung, nhưng đồng thời cũng

là sự thiếu thốn các nguồn lực hữu hình như việc tiếp cận giáo dục, việc làm có giátrị, sự tôn trọng của người khác Vấn đề nghèo đói nói chung được xem là rất đadạng, tuy nhiên, thường được xem xét ở phương diện nghèo đói về tiền.[1]

Báo cáo “Phát triển con người” năm 1997, UNDP đã đề cập đến khái niệmnghèo đói về năng lực khi đề cập đến các yếu tố nguồn lực của cá nhân hoặc của hộgia đình (bao gồm cả nguồn lực vật chất: tài chính, các công cụ phục vụ sản xuất vàphi vật chất: các quan hệ xã hội/vốn xã hội, vốn con người,…) Theo quan niệmnày, một cá nhân hay một hộ gia đình được xác định là nghèo khi họ thiếu các cơhội tiếp cận các nguồn lực đảm bảo cho cá nhân hoặc hộ gia đình có được một cuộcsống cơ bản nhất “có thể chấp nhận được”.[1]

Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển,Robert McNamara, khi là giám đốc của ngân hàng thế giới, đã đưa ra khái niệm

nghèo tuyệt đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức

độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệtđối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trongtình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnhngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."[1]

Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ /ngày theo sức mua tươngđương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như làchuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối Trong những bước sau đó các trị ranh

Trang 8

giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ

2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh vàđến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến14,40 đô la cho những nước công nghiệp (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc1997).[1]

Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèotrong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005.[1]

Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói vàgiảm nghèo giai đoạn 2001 -2005", thì những hộ gia đình có thu nhập bình quânđầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng(960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằngnhững hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng(1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ

có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.[1]

Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8tháng 7 năm 2005về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộ nghèo, ở khu vựcthành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.[1]

Tiêu chuẩn nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là thu nhập bìnhquân đầu người dưới 330.000 đồng/tháng hoặc 4.000.000 đồng/năm (tương ứng284USD/năm thấp hơn tiêu chuẩn 360 USD/năm của quốc tế).[1]

Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vàohoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cungcấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc vềmột số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó

Trang 9

Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộcvào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủquan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác địnhkhách quan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốntài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về vănhóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phầnđược các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng [1]

Trang 10

CHƯƠNG 2 CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN VỀ ĐỐI TƯỢNG

NGHÈO, HỘ NGHÈO TRÊN THẾ GIỚI.

2.1 Hệ thống thông tin quản lý đối tượng nghèo trên thế giới

2.1.1 Hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo - Freedom From Hunger

Freedom from Hunger (FFH) là một tổ chức quốc tế có hoạt động TCVM

ở châu Phi FFH đã tìm kiếm các đối tác – chủ yếu là ngân hàng hoặc các tổ chứcchính thức của Chính phủ - phù hợp với tiêu chí hoạt động cũng như mô hình củaFFH Đối tác có thể là các tổ chức chưa từng có kinh nghiệm trong việc cung cấpdịch vụ TCVM, nên nhân viên sẽ được đào tạo và cung cấp các hỗ trợ kĩ thuật vớicác phương thức tài chính phù hợp cho đối tượng thu nhập thấp Sự phối hợp giữaFFH và các đối tác đảm bảo được rất nhiều yêu cầu, sự chuyên môn hóa về tàichính, giảm chi phí nhờ tận dụng mạng lưới của đối tác, tạo cơ hội cung cấp cácdịch vụ tài chính Cách thức hợp tác trên được cho là rất phù hợp, nhất là với cácnước có khuôn khổ luật pháp chưa hoàn thiện, qua đó không những làm cho hoạtđộng tài chính của các ngân hàng, tổ chức hoạt động an toàn, hiệu quả mà còn giúp

của TCVM tiếp cận gần hơn các dịch vụ ngân hàng [2]

Dưới đây là website của tổ chức FFH, nó giúp cho tổ chức này dễ dàng hơntrong các hoạt động của mình Mục đích của website:

- Đưa nhiều thông tin của các đối tượng nghèo (phụ nữ) hoàn cảnh

- Tổng hợp những công việc tổ chức làm được ở đâu

- Những dự định làm gì

- Đặc biệt là chuyên mục donate (quyên góp) trực tuyến

- Kết nối tới toàn thế giới qua website và liên kết qua các mạng xã hội

Trang 11

Dưới đây là hình ảnh trang chủ của website với menu với các mục chính: Meet thewomen, Where We Work, What We Do, Get Involved, Donate Now.

Hình 1.1 Hệ thống thông tin FFH

Hình ảnh cả mục quyên góp trực tuyến

Trang 12

Hình 1.2 Chức năng donate

Nhận xét:

- Giao diện thân thiện dễ sử dụng

- Website giúp người trên toàn thế giới hiểu nhiều về khó khăn ở châu phi hơn

- Giúp cho mọi người biết đến nhiều hoạt động của FFH hơn

- Ủng hộ dễ ràng hơn

2.2 Hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo Beca

Beca là một tổ chức tại Nicaraquan, Trung mỹ Tổ chức này gồm các tìnhnguyện viên với công việc quản lý, tìm hiểu, thu hút nguồn tại trợ để cung cấp họcbổng cho các học sinh học kỹ thuật tại trường Nicaraquan nhưng không đủ điềukiện để có thể tự đi học Đại học

Dưới đây là website Beca với mục đích xây dựng dự án sách điện tử để đạtđược:

- Tuyên truyền về các hoạt động của tổ chức phi lợi nhuận BECA

Trang 13

- Tạo môi trường dễ giao tiếp giúp các học sinh nghèo tiếp cận được với cáchoạt động giúp đỡ của tổ chức.

- Tìm kiếm nguồn tài trợ từ cộng đồng

Các hoạt động của website:

Hình 1.3 Hệ thống thông tin trang giao diện Beca

Cung cấp tin tức và giới thiệu:

- Hệ thống giới thiệu về tổ chức, các thành phần và công việc chính của tổchức

- Các thông tin mới nhất về tình hình các đối tượng giúp đỡ và hoạt động mới

- Những chia sẻ của các học sinh nghèo dưới sự giúp đỡ của website

Trang 14

Hình 1.4 Nguyên tắc hoạt động của Beca

Hình 1.5 Hệ thống thông tin của Beca

Liên lạc yêu cầu giúp đỡ:

Trang 15

- Hệ thống cung cấp một số chức năng giúp các nhà tài chợ và học sinh cần

giúp đỡ có thể liên lạc với hệ thống

- Yêu cầu những điều khoản cần thiết

- Mọi sự giúp đỡ và các trường hợp được cấp học bổng, các loại hình học

bổng cũng được công khai trên website

Hình 1.6 Thông tin liên lạc giúp đỡ

Ủng hộ dễ dàng:

Trang 16

2.3 Hệ thống thông tin quản lý người nghèo - Swayam Krishi Sangam

Swayam Krishi Sangam (SKS) Ấn Độ: ra đời vào năm 1998, SKS cung

cấp các sản phẩm TCVM thông qua một mô hình cho vay đối với nhóm phụ nữnghèo vì mục đích lợi nhuận SKS vận hành theo mô hình Tập đoàn trách nhiệmhữu phần (Joint Liability Group - JLG) Hình thức tín dụng thực hiện theo nhómnăm thành viên SKS cung cấp 8 sản phẩm và dịch vụ tài chính cho các kháchhàng: vay tạo thu nhập, các khoản cho vay trung hạn, hỗ trợ tang, khoản vay vàng,vay nhà ở, bảo hiểm nhân thọ,… Nhờ chú trọng vào thiết kế các sản phẩm dịch vụngân hàng đa dạng, phù hợp với nhu cầu của nhiều đối tượng dân cư và sự tiênphong trong phát triển hệ thống thông tin quản lý (MIS) mà SKS đã tiếp cận tớihàng triệu hộ gia đình nghèo trên khắp Ấn Độ Từ khi thành lập, SKS đã cung cấp

Trang 17

40 triệu USD tín dụng vi mô cho hơn 150.000 phụ nữ ở miền Nam Ấn Độ thôngqua 45 chi nhánh và 500 nhân viên.[2]

Website của SKS là povertyactionlab.org:

Trang 18

Hình 1.10 Hệ thống thông tin các chính sách

Nhận xét:

- Giao diện thân thiện

- Hỗ trợ cho rất nhiều người nghèo tiếp cận gần hơn

2.4 Hệ thống thông tin quản lý người nghèo - Technoserve

Technoserve ở Ghana đã phát triển chương trình tín dụng hàng tồn kho ở

Ghana cho phép các nhóm nông dân nhận được lợi nhuận từ cây trồng bằng cáchcung cấp tín dụng sau thu hoạch thông qua liên kết với một tổ chức tài chính nôngthôn Thay vì bán tất cả các cây trồng thu hoạch khi giá đang thấp nhất để đáp ứngnhu cầu tiền mặt, nông dân quy mô nhỏ trong các cửa hàng kế hoạch cây trồng của

họ trong một nhà kho hợp tác quản lý và nhận được một khoản vay khoảng 80% Giá trị của các cây trồng được lưu trữ, phục vụ làm tài sản thế chấp Khoảnvay này cho phép họ để xóa các khoản nợ họ tích lũy và đáp ứng nhu cầu tiền mặtngay lập tức Sau đó, khi giá đã tăng trong mùa, nông dân, hoặc bán cây trồng đượclưu trữ hoặc mua lại nó cho tiêu dùng Đây là mô hình sáng tạo, giải quyết khókhăn đầu ra theo mùa vụ của sản phẩm nông nghiệp, có thể áp dụng hiệu quả tạinhiều quốc gia trên thế giới.[2]

Trang 19

75-Website với mục đích:

- Cung cấp tin tức cho mọi người đặc biệt là người nông dân

- Giúp người nông dân giải quyết được vấn đề hàng tồn kho dễ dàng hơn màkhông bị ép giá

- Cho vay ưu đãi

Hình 1.11 Hệ thống thông tin Technoserve

Hình 1.12 Hệ thống Tin tức

Trang 20

Hình 1.13 Làm việc với tổ chức để được giúp đỡ

2.5 Hệ thống thông tin người nghèo - Agensi Kaunseling Dan Pengurusan

Kredit

Agensi Kaunseling Dan Pengurusan Kredit (AKPK) ở Malaysia là một tổ

chức được thành lập vào năm 2006, được xem như một nhánh của NHTWMalaysia với nhiệm vụ “Làm cho hoạt động quản lý tài chính thận trọng trở thànhmột phương châm sống” của người Malaysia Thông qua các kênh truyền thôngnhư hội thảo, các chương trình đào tạo trong nước, giáo dục tài chính tại nơi làmviệc, chương trình định hướng cộng đồng… AKPK tổ chức chương trình giáo dụctài chính kết hợp với một vài biện pháp khác như chương trình tư vấn và quản lý nợnhằm thúc đẩy việc thay đổi hành vi của người đi vay Chương trình giáo dục tàichính tập trung vào những nguyên tắc tài chính cơ bản, hướng tới các mục tiêuquan trọng trong từng giai đoạn cuộc đời, gồm 6 chương: (i) quản lý dòng tiền, (ii)kiến thức cơ bản về vay vốn, (iii) sử dụng thẻ tín dụng, (iv) mua xe, (v) mua nhà,(vi) tầm quan trọng của việc quản lý nợ Kể từ năm 2011, đã có gần 200.000 ngườitham gia và 500.000 người hưởng lợi từ chương trình giáo dục tài chính từ năm2006.[2]

Website của AKPK:

Mục đích:

Trang 21

- Việc quản lý tốt dòng tiền của mình, kiến thức về vay vốn, sử dụng tiền giúpcho kinh tế gia đình, thân sẽ được cải thiện tốt hơn, phù hợp cho mọi ngườiđặc biệt là người nghèo để có thể hưởng tới mục tiếp thoát nghèo bền vững.

Hình 1.14 Trang chủ AKPK

Vĩnh Phúc là địa phương đầu tiên trên cả nước xây dựng và triển khai phầnmềm quản lý hộ nghèo 3 cấp, việc triển khai phần mềm góp phần đổi mới, nângcao hiệu quả công tác quản lý hộ nghèo, người nghèo, những chính sách liên quanđến người nghèo, góp phần thiết thực vào công tác giảm nghèo của tỉnh

Trước đây, việc quản lý hộ nghèo, người nghèo và những chính sách liênquan đến người nghèo thực hiện theo phương pháp thủ công, nên gặp nhiều khókhăn Việc quản lý không thống nhất từ cấp tỉnh đến huyện, xã; khai thác thông tinchi tiết về hộ nghèo, người nghèo dựa hoàn toàn vào cấp xã dẫn đến số liệu hộnghèo, người nghèo nhiều đơn vị không minh bạch Quản lý thay đổi diễn biến hộnghèo như: Hộ nghèo tăng mới; hộ nghèo cũ; hộ thoát nghèo; hộ tái nghèo; hộnghèo chuyển đi nơi khác… gặp nhiều khó khăn Từ những bất cập trong quản lýkhiến việc triển khai chính sách đến các hộ nghèo chậm, nhiều sai sót; công tácphối hợp thực hiện các chính sách giảm nghèo ở các cấp không đồng bộ do khókhăn trong việc cung cấp danh sách thực hiện các chính sách Số liệu cung cấp cho

Ngày đăng: 20/05/2017, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w