Một trong những biện pháp áp dụng quản lý người nghèo là sử dụng các hệ thống thông tin về đối tượng, hộ nghèo.. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHÈO, HỘ NGHÈO HÌNHTHÀNH CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN Q
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
Trang 2BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 6.7.18
Tên chuyên đề: Nghiên cứu, phân tích và đánh giá mô hình triển khai xây dựng mạng lưới hộ nghèo tại trung tâm Quốc gia Dịch vụ việc làm theo quy trình quản lí hộ nghèo
điện tử
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC HÌNH 4
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHÈO, HỘ NGHÈO HÌNH THÀNH CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ 7
1.1 Khái niệm về nghèo 7
1.2 Nghèo tương đối 8
CHƯƠNG 2 MÔ HÌNH TRIỂN KHAI XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI HỘ NGHÈO TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA DỊCH VỤ VIỆC LÀM .10
2.1 Phần mềm quản lí hộ nghèo PoSoft 11
2.2 Cơ sở quản lí hộ nghèo 12
2.3 Đánh giá phần mềm PoSoft 12
2.4 Hiện trạng về hạ tầng CNTT 14
2.4.1 Tại Bộ LĐTBXH 14
2.4.2 Tại các Sở LĐTBXH ……… 17
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Trung tâm dữ liệu Bộ LĐTBXH 14
Hình 1.2 Bảng đánh giá hạ tầng tại cấp tỉnh theo các tiêu chí đánh giá ICT Index
2012 18
Trang 5
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu Ý nghĩa
DTTS hộ người dân tộc thiểu số
CSDL Cơ sở dữ liệu
UNDP Phát triển Liên Hợp quốc
LĐ -TBXH Lao động, Thương binh và Xã hội
MỞ ĐẦU
Trang 6Ngày nay, trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được những thành tựu hiển nhiên về tiến bộ khoa học kĩ thuật–công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thì vẫn còn đó là sự nghèo đói vẫn đeo đuổi thế giới
Chuyên đề nghiên cứu các hệ thống thông tin đối tượng nghèo để việc xóa đói giảm nghèo rất quan trọng Các quốc gia trên thế giới có nhiều cách tiếp cận và quản lý người nghèo giúp họ vượt qua đói nghèo một cách bền vững Một trong những biện pháp áp dụng quản lý người nghèo là sử dụng các hệ thống thông tin về đối tượng, hộ nghèo Qua chuyên đề nghiên cứu về các hệ thống thông tin quản lý đối tượng nghèo hộ nghèo trên thế giới, chúng tôi đưa ra được những công việc và quá trình thực hiện sau đây:
- Tổng quan về đối tượng nghèo, hộ nghèo.
- Các hệ thống thông tin về đối tượng nghèo (hộ nghèo) trên thế giới.
- Kết luận rút ra
Sau chuyên đề này, những kết quả cần đạt được là:
- Hiểu rõ hơn được về các hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
- Đánh giá rút kinh nghiệm phù hợp với hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo ở nước ta.
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHÈO, HỘ NGHÈO HÌNH
THÀNH CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
Sự nghèo đói được hiểu là sự thiếu thốn các nguồn lực vật chất như thức ăn, nước uống, quần áo, nhà ở, và các điều kiện sống nói chung, nhưng đồng thời cũng
là sự thiếu thốn các nguồn lực hữu hình như việc tiếp cận giáo dục, việc làm có giá trị, sự tôn trọng của người khác Vấn đề nghèo đói nói chung được xem là rất đa dạng, tuy nhiên, thường được xem xét ở phương diện nghèo đói về tiền.[1]
Báo cáo “Phát triển con người” năm 1997, UNDP đã đề cập đến khái niệm nghèo đói về năng lực khi đề cập đến các yếu tố nguồn lực của cá nhân hoặc của hộ gia đình (bao gồm cả nguồn lực vật chất: tài chính, các công cụ phục vụ sản xuất và phi vật chất: các quan hệ xã hội/vốn xã hội, vốn con người,…) Theo quan niệm này, một cá nhân hay một hộ gia đình được xác định là nghèo khi họ thiếu các cơ hội tiếp cận các nguồn lực đảm bảo cho cá nhân hoặc hộ gia đình có được một cuộc sống cơ bản nhất “có thể chấp nhận được”.[1]
1.1 Khái niệm về nghèo
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của ngân hàng thế giới, đã đưa ra khái niệm
nghèo tuyệt đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức
độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."[1]
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ /ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là
Trang 8chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ
2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh vàđến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997).[1]
Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005.[1]
Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001 -2005", thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ
có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.[1]
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.[1]
Tiêu chuẩn nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là thu nhập bình quân đầu người dưới 330.000 đồng/tháng hoặc 4.000.000 đồng/năm (tương ứng 284USD/năm thấp hơn tiêu chuẩn 360 USD/năm của quốc tế).[1]
Trang 91.2 Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng [1]
Trang 10CHƯƠNG 2 MÔ HÌNH TRIỂN KHAI XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI
HỘ NGHÈO TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA DỊCH VỤ VIỆC LÀM
2.1 Phần mềm quản lí hộ nghèo PoSoft
Phần mềm PoSoft cho Văn phòng Giảm nghèo được xây dựng theo chỉ thị1752/CT-TTg nhằm hỗ trợ công tác điều tra rà soát và quản lý hộ nghèo tại các cấpđịa phương, làm căn cứ cho việc xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách pháttriển kinh tế và an sinh xã hội của các địa phương và cả nước
Phiên bản đầu tiên được phát hành vào cuối năm 2010, chỉ cho phép nhập liệu tại cấphuyện Đầu năm 2012, phần mềm được nâng cấp lên phiên bản 2.0, bổ sung thêm tínhnăng chuyển nhận dữ liệu giữa cấp huyện và cấp tỉnh Phiên bản mới nhất 3.5 bổ sungtiện ích tìm kiếm, chức năng xuất các mẫu biểu báo cáo, v.v PoSoft chạy độc lập trênWindows, không cần kết nối mạng Phần mềm được phát triển bằng ngôn ngữ lậptrình C# trên nền NET 2.0 Cấp huyện sử dụng CSDL MS Access Cấp tỉnh sử dụngCSDL MS SQL
Người sử dụng cấp huyện nhập dữ liệu vào phần mềm, sau đó xuất ra file dat và gửilên tỉnh Tỉnh gộp dữ liệu từ các huyện và gửi lên TW
Các chức năng chính của phần mềm:
- Chuẩn hóa danh mục
- Thêm mới/điều chỉnh thông tin hộ nghèo trên winform
- Import dữ liệu từ file Excel
- In báo cáo
- Xuất dữ liệu để chuyển lên Tỉnh hoặc gửi xuống Xã
- Tìm kiếm hộ nghèo theo các trường
- Sao lưu/phục hồi dữ liệu
Có 2 đợt triển khai toàn quốc vào cuối năm 2010 và đầu năm 2012, nhưng không có
số liệu sử dụng của mỗi tỉnh Tính đến nay có gần 40 tỉnh gửi dữ liệu về Trung ương,trong đó có 27 tỉnh có số liệu đầy đủ Bộ đã tổ chức đào tạo 1 lần duy nhất tại TW khi
ra phiên bản đầu tiên Trong 712 huyện, mỗi huyện có khoảng 2 người được đào tạo
sử dụng phần mềm
Trang 11Khi ra phiên bản mới, phần mềm được tải lên trang web
http://giamngheo.molisa.gov.vn kèm theo hướng dẫn sử dụng Không có thông báo vềđịa phương hoặc tổ chức đào tạo lại, vì vậy không biết địa phương nào đang sử dụng phiên bản nào
Trước khi Posoft đươc triển khai, một số tỉnh/huyện đã tự phát triển CSDL hộ nghèo/cận nghèo đáp ưng nhu cầu quản lý của địa phương (ví dụ Nam Định, Quảng Nam,Đắk Lắk …) Các phần mềm này có những điểm khác biệt về kiến trúc và chức năng
so với PoSoft
2.2 Cơ sở quản lí hộ nghèo
Cho tới hiện tại, chỉ có phần mềm PoSoft thực sự tạo ra được các CSDL từ cấp huyện,tỉnh tới TW, mặc dù chỉ giới hạn ở một số tỉnh, dữ liệu chưa được cập nhật thường xuyên,đầy đủ giữa các năm Mặc dù phần mềm đã triển khai được 3 năm song dữ liệu tại cấp
TW mới có số liệu của năm 2012 đối với các tỉnh đã tham gia
Có 27 tỉnh đã gửi dữ liệu hộ nghèo đầy đủ về TW gần đây: Hà Giang, Cao Bằng, BắcKạn, Tuyên Quang, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên,Thái Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Phú Yên,Lâm Đồng, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long,Đồng Tháp, Kiên Giang, Thành phố Cần Thơ, Cà Mau
Bốn tỉnh dự kiến thí điểm POSASoft: Hà Giang, Quảng Nam, Trà Vinh, Lâm Đồngđều có dữ liệu đến tháng 6/2013
Dữ liệu được rà soát 6 tháng 1 lần nhưng tần suất gửi lên TW không đồng đều vìkhông có qui chế bắt buộc, chỉ có công văn chỉ đạo điều hành của văn phòng giảm nghèogửi các tỉnh
Nội dung thông tin được quản lý trong CSDL chỉ bao gồm các thông tin thu thập theophiếu C của quy trình rà soát hộ nghèo, chưa có thông tin về mã định danh đối tượng Cácthông tin được quản lý bao gồm:
- Thông tin hộ gia đình: khu vực nông thôn/thành thị, họ tên chủ hộ, địa chỉ, dân tộc,tình trạng nhà ở, nước sinh hoạt, thu nhập bình quân đầu người/tháng, nguyên nhânnghèo, nguyện vọng,
- Thông tin về thành viên trong hộ: tên, tuổi, giới tính, tình trạng đi học, đối tượngchính sách, đối tượng thuộc 67/13
Trang 122.3 Đánh giá phần mềm PoSoft
Nội dung đánh giá được tập trung vào ứng dụng PoSoft, là phần mềm hiện tại cócác chức năng ban đầu của một hệ thống MIS trợ giúp xã hội, và đã xây dựng đượcCSDL một số tỉnh về các đối tượng nghèo Các đánh giá dưới đây được thực hiệnnhằm xác định các vấn đề mà PoSoft đã gặp phải trong thiết kế và triển khai, để rút rabài học cho hệ thống MIS POSASoft mới tránh lặp lại các nhược điểm này
Về căn bản, PoSoft là một hệ thống gọn nhẹ và linh hoạt, được xây dựng theo hìnhthức may đo đáp ứng kịp thời và vừa vặn với các yêu cầu quản lý PoSoft là một hệthống vừa phát triển, vừa vận hành và cập nhật chỉnh sửa Các yêu cầu phát sinh theothời gian, từ 2010 đến 2013, đã được liên tục cập nhật và phát hành qua 3 phiên bảnchính Điều này thể hiện hệ thống PoSoft có sức sống tốt, nhờ tính đơn giản về thiết
kế và gọn nhẹ trong yêu cầu triển khai PoSoft sẽ phát huy tốt các ưu điểm trên trongbối cảnh phạm vi triển khai nhỏ, phục vụ riêng cho một chương trình nhất định Đưa
hệ thống này lên tầm một hệ thống Thông tin Quản lý (MIS) hỗ trợ tác nghiệp đối vớinhiều chương trình, vận hành một cơ sở dữ liệu quốc gia và kết nối chia sẻ dữ liệu, sẽlàm cho thiết kế đơn giản ban đầu không còn đáp ứng được các yêu cầu và trở thànhmột rào cản, với các nhược điểm được đề cập dưới đây
Tính phân mảnh của hệ thống ứng dụng hiện tại:
Quan sát: Hệ thống ứng dụng hiện tại được xây dựng xuất phát từ yêu cầu quản lý củamột Vụ/Cục, phục vụ một số chương trình trợ giúp nhất định trong phạm vi củaVụ/Cục đó
Nhận xét:
Do giới hạn về phạm vi ngay từ ban đầu, hệ thống sẽ được thiết kế vừa vặn với cácyêu cầu nghiệp vụ và được tiếp tục cập nhật, chỉnh sửa trong quá trình triển khai, vậnhành Kiến trúc của ứng dụng sẽ không đảm bảo được tính ổn định và mở rộng về lâudài
Có sự phân mảnh trong việc thực hiện các chương trình trợ giúp và do vậy dẫn tới
sự phân mảnh giữa các phần mềm nếu giới hạn phạm vi triển khai theo từng Vụ/Cục Kiến trúc ứng dụng và đồng bộ dữ liệu giữa các cấp:
Quan sát: PoSoft được thiết kế dưới dạng hệ thống chạy độc lập trên máy trạm,hoạt động tại 3 cấp quản lý và trao đổi dữ liệu với nhau qua hình thức kết xuất/kếtnhập tệp dữ liệu truyền qua các phương thức chuẩn bên ngoài (email, ftp hoặc saochép tệp)
Nhận xét: Kiến trúc đơn lẻ, vận hành tại 3 cấp không phù hợp với một hệ thốngtoàn quốc Việc đồng bộ, đảm bảo tính nhất quán, toàn vẹn và kịp thời của dữ liệu
Trang 13Ngay cả trong trường hợp dữ liệu cấp dưới đã đầy đủ và chính xác thì dữ liệu nàycũng không tự động được cập nhật lên trên Sự phân đoạn về dữ liệu, tính thiếu nhấtquán và không kịp thời là những vấn đề mà kiến trúc này hiện gặp phải.
Với mô hình vận hành độc lập tại các cấp, tại TW chưa kiểm soát được sự thốngnhất về phiên bản phần mềm và CSDL thống nhất giữa các tỉnh đã triển khai Do vậyviệc đảm bảo tính nhất quán về thông tin chưa được đáp ứng
Vấn đề mã định danh đối tượng:
Quan sát: Trong CSDL PoSoft, mỗi hộ gia đình được hệ thống tự động gán một mãduy nhất dùng nội bộ để phân biệt các đối tượng và quản lý bởi phần mềm Tuy nhiên
hệ thống không thu thập các thông tin định danh đối tượng chẳng hạn như mã sốCMT, số sổ hộ khẩu vv
Nhận xét: Một đối tượng có thể xuất hiện nhiều lần trong CSDL của PoSoft dướicác mã số nội bộ khác nhau do hệ thống cung cấp Hậu quả là hệ thống không có khảnăng theo dõi các thông tin lịch sử gắn với mỗi đối tượng, theo thời gian và xuyênsuốt qua các chương trình trợ giúp Các hệ thống thiếu hụt khả năng quản lý xuyênsuốt theo đối tượng như vậy, về căn bản là các hệ thống quản lý dữ liệu riêng rẽ củatừng năm, không cung cấp được các tính năng theo dõi, phân tích dữ liệu lịch sửĐào tạo và hỗ trợ kỹ thuật:
Quan sát: Một tỉnh khi triển khai lần đầu hệ thống PoSoft sẽ thực hiện khóa đào tạocài đặt sử dụng phần mềm Kết quả thực địa của đoàn công tác WB cho thấy người sửdụng cấp huyện gặp nhiều vấn đề về sử dụng hệ thống, sao lưu, cài đặt lại và khôiphục dữ liệu đã có Hỗ trợ kỹ thuật được cung cấp qua trang web và số điện thoại củamột cán bộ Trung tâm Thông tin
Nhận xét: Sau đợt triển khai lần đầu, các địa phương luôn có sự luân chuyển vàthay thế nhân sự Tuy nhiên không có các đợt đào tạo định kỳ hàng năm cũng nhưkhông có đào tạo bổ sung khi hệ thống có các phiên bản chức năng mới Người sử
Trang 14dụng cấp huyện gặp vấn đề về cách thức xử lý dữ liệu không nhất quán do Xã gửi lênqua tệp excel, cũng như duy trì đảm bảo ổn định cho CSDL tại địa phương Người sửdụng cấp tỉnh cũng có các vấn đề tương tự, đối với việc quản lý CSDL của tỉnh Sự hỗtrợ kỹ thuật tại chỗ là rất hạn chế do không có đủ nguồn lực CNTT ở địa phương Đây
là một trong các lý do chính dẫn đến mặc dù hệ thống đã triển khai nhưng CSDLkhông được cập nhật, duy trì liên tục và đầy đủ
Quy chế về quản lý, khai thác dữ liệu:
Quan sát: Kênh báo cáo số liệu chính thức giữa các cấp vẫn dựa trên giấy tờ gửi tớiVụ/Cục trực tiếp phụ trách chương trình trợ giúp Không có quy chế nào bắt buộc đốivới việc cập nhật CSDL dữ liệu theo chiều dọc tới Trung tâm Thông tin
Nhận xét: Trung tâm Thông tin là đơn vị quản trị CSDL về mặt kỹ thuật, song nộidung CSDL thuộc về các Vụ/Cục nghiệp vụ liên quan Dữ liệu trong CSDL cần đượcphân tách trách nhiệm chủ sở hữu quản lý theo mảng nội dung nghiệp vụ và kênh cậpnhật dữ liệu điện tử phải được coi là kênh báo cáo chính thức Một hệ thống xử lý tậptrung có thể sẽ định nghĩa lại luồng thông tin báo cáo truyền thống và đòi hỏi có mộtquy chế tương ứng hỗ trợ
2.4 Hiện trạng về hạ tầng CNTT
2.4.1 Tại Bộ LĐTBXH
Trung tâm dữ liệu Bộ TBLĐXH đã được xây dựng theo tiêu chuẩn TIA-942 Tier 2đảm bảo vận hành ổn định trong trung hạn đối với các ứng dụng, CSDL và cổngthông tin của ngành Môi trường Trung tâm dữ liệu được trang bị các thiết bị kiểmsoát nhiệt độ chính xác (PAC – Precision Air Condition), phát hiện cháy, rò rỉ, kiểmsoát thâm nhập Khu vực máy chủ được thiết kế tách biệt với khu vực giám sát quản
lý, cùng với các thiết bị tường lửa đa lớp đảm bảo an ninh mạng
Có 25 máy chủ bao gồm:
HP: số lượng: 12 máy chủ; đầu tư: 2004 - 2009
IBM: số lượng: 3 máy chủ; đầu tư: 2006
Fujisu: số lượng: 4 máy chủ; đầu tư: 2009
Dell: số lương: 6 máy chủ; đầu tư: 2010
Các máy chủ được trang bị đồng bộ theo loại phiên với cấu hình tương đồng, chophép thực hiện ảo hóa và phân chia môi trường máy chủ dễ dàng trong tương lai khicần thiết Ngoài hệ thống thư điện tử của Bộ, cổng thông tin điện tử của Bộ và cácđơn vị Vụ, Cục, hiện tại các máy chủ được phân theo các chức năng phục vụ vận hành