1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1

89 490 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích hiệu quả ho ạt độ ng kinh doanh c ủa ngân hàng thương mại.. Đối tượng sử dụng kết quả phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng.... Phân tích hiệu quả hoạt động kinh do

Trang 2

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : THS BÙI HUY TRUNG

Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu trong khóa luận là số liệu thực tế của NHTMCP Á Châu Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam kết trên

Sinh viên

Bùi Doãn Trung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện được bài nghiên cứu này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới thầy giáo Bùi Huy Trung- giảng viên khoa Ngân hàng – Học viện Ngân hàng Thầy đã tận tình chỉ bảo, cho em những lời khuyên bổ ích nhất trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô của Học viện Ngân hàng nói chung và khoa Ngân hàng nói riêng đã tạo điều kiện cho em thực tập tại NHTMCP Á Châu và hoàn thiện bài khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo cũng như cán bộ nhân viên tại NHTMCP Á Châu chi nhánh Thăng Long đã tạo cho em cơ hội được thực tập và học hỏi tại đây

Trong quá trình làm khóa luận, do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức, hiểu biết của bản thân về ngành ngân hàng nên bài nghiên cứu khó tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết Em rất mong nhận được sự đóng góp từ các thầy cô và các bạn sinh viên quan tâm tới đề tài

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Bùi Doãn Trung

Trang 5

DANH MỤC KÍ TỰ VIẾT TẮT

CTG VietinBank – Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương

Việt Nam BID BIDV – Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu Tư và Phát Triển

Việt Nam VCB VietcomBank – Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương

Việt Nam STB SacomBank - Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương

Tín

TCB Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam

QTRRTD Quản trị rủi ro tín dụng

Trang 6

Trang

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức tại ACB……… 17

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010-2015……… 18

Biểu đồ 2.2: Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2011-2015.……… 19

Biểu đồ 2.3: So sánh tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất tại ACB và bình quân ngành ngân hàng từ 2011 – 2015.……… ……… ………

20 Bảng 2.1: VSCH của ACB cuối các năm 2011-2015.……… 21

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu sử dụng tính đòn bẩy tài chính tại ACB từ 2011-2015… 22 Biểu đồ 2.4: Bảng tổng hợp mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của một số ngân hàng lớn.……… ……… ……… ……… ………

23 Bảng 2.3: Tình hình các khoản ngoại bảng của ACB giai đoạn 2011-2015…… 25

Bảng 2.4: Sự biến động về TS có của ACB cuối các năm từ 2011 đến 2015… 26

Biểu đồ 2.5: Tăng trưởng cho vay khách hàng tại ACB từ 2011-2015………… 29

Biểu đồ 2.6: Dư nợ cho vay khách hàng theo kỳ hạn……… ……… 30

Biểu đồ 2.7: Cơ cấu dư nợ cho vay khách hàng theo kỳ hạn……… 30

Biểu đồ 2.8: Dư nợ cho vay theo đối tượng khách hàng……… 32

Biểu đồ 2.9: Cơ cấu cho vay khách hàng theo đối tượng vay……… 32

Bảng 2.5: Dư nợ, tỷ trọng cho vay theo nhóm nợ……… ……… 33

Bảng 2.6: Mức trích lập dự phòng rủi ro ACB giai đoạn 2011-2015……… 34

Bảng 2.7: Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tại ACB 2011-2015……… ……… ……… ……… ………

35 Biểu đồ 2.10: Tỷ lệ sử dụng vốn huy động để cho vay tại ACB từ 2011-2015… 36 Sơ đồ 2 : Cơ cấu tổ chức bộ máy QTRRTD tại ACB……… ……… 39

Biểu đồ 2.11: Số lượng nhân sự tại ACB từ năm 2011 đến năm 2015………… 42

Biểu đồ 2.12: Tổng quỹ lương, thưởng và Lương trung bình của nhân viên ACB 2011-2015……… ……… ……… ………

43 Bảng 2.8: Tổng hợp hoạt động đào tạo ACB thời kì 2011-2015……… 44

Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu cơ bản của ACB giai đoạn 2011-2015……… 44

Biểu đồ 2.13: So sánh tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của ACB so với trung bình ngành……… ……… ……… ……… ………

45 Biểu đồ 2.14: So sánh tỷ suất sinh lời trên VCSH của ACB với trung bình ngành……… ……… ……… ……… ………

45 Bảng 2.10: Tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ACB giai đoạn 2011-2015……… 48

Biểu đồ 2.15: Thu nhập lãi thuần của ACB giai đoạn 2011-2015……… 49

Bảng 2.11: Chỉ số H1 của ACB giai đoạn 2011 – 2015……… ………… 50

Bảng 2.12: Chỉ số H2 của ACB giai đoạn 2011 – 2015……… ………… 51

Bảng 2.13: Tỷ lệ dự trữ thanh khoản ACB từ 2011 đến 2015……… 52

Biểu đồ 15: Lãi/lỗ từ hoạt động kinh doanh ngoại hối của ACB giai đoạn 2011-2015……… ……… ……… ……… ………

54

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC KÍ TỰ VIẾT TẮT

DANH MỤC B ẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH CAMELS TRONG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NG ÂN HÀNG 2

1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 2

1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 2

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 2

1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại 3

1.2 Phân tích hiệu quả ho ạt độ ng kinh doanh c ủa ngân hàng thương mại 5

1.2.1 Định nghĩa phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh 5

1.2.2 Vai trò của việc phân tích hi ệu quả hoạt động kinh doanh 5

1.2.3 Đối tượng sử dụng kết quả phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng 6

1.3 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại theo mô hình CAMELS 6

1.3.1 C- Capital Adequacy- Mức độ an toàn vốn 6

1.3.2 A- Assets Quality- Chất lượng tài sản 8

1.3.3 M- Management Competence- Năng lực quản lý 9

1.3.4 E- Earnings Strength- Tính sinh lời 10

1.3.5 L- Liquidity Exposure- Rủi ro thanh khoản 11

1.3.6 S- Sensitivity to Market Risk- Độ nhạy cảm với thị trường 13

1.4 Ưu, nhược điểm của việc sử dụng mô hình CAMELS trong phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng 13

1.4.1 Ưu điểm 13

1.4.2 Nhược điểm 14

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 15

Trang 8

2.1 Tổng quan về ACB 16

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát tri ển 16

2.1.2 Cơ cấu bộ máy hoạt động 16

2.2 Phân tích hoạt động kinh doanh tại ACB theo mô hình CAMELS từ năm 2011 đến 2015 17

2.2.1 Khái quát môi trường kinh doanh từ 2011-2015 17

2.2.2 Phân tích hoạt động kinh doanh tại ACB từ năm 2011 đến 2015 20

2.3 Đánh giá hoạt động kinh doanh của ACB từ năm 2011 đến 2015 54

2.3.1 Thành tựu 54

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 58

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI ACB TRONG TƯƠNG LAI 59

3.1 Định hướng phát triển của ACB giai đoạn tới 59

3.1.1 Tầm nhìn ngân hàng đến năm 2020 59

3.1.2 Định hướng tổng quát 59

3.1.3 Định hướng cụ thể 60

3.2 Giải pháp nâng cao hi ệu quả hoạt động của ACB 60

3.2.1 Giải pháp tăng quy mô vốn tự có 61

3.2.2 Giải pháp phòng ngừa rủi ro 61

3.2.3 Giải pháp tăng cường công tác cho vay 62

3.2.4 Giải pháp về huy động vốn 63

3.2.5 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng 63

3.2.6 Giải pháp phát tri ển dịch vụ 64

3.2.7 Giải pháp nâng cao năng l ực quản lý 65

3.2.8 Phát tri ển công nghệ thông tin 66

3.2.9 Giải pháp phát tri ển nâng cao nguồn nhân lực 67

3.2.10 Xây dựng chiến lược Marketing và tăng cường thực hiện công tác chăm sóc khách hàng 69

3.3 Kiến nghị đối với chính phủ và NHNN 70

Trang 9

3.3.2 Kiến nghị đối với NHNN 70

3.3.2 Kiến nghị với Bộ tài chính 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 72

KẾT LUẬN KHÓA LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 75

Phụ lục 1: Tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng vào cuối năm 2014, 2015 75

Phụ lục 2: Tỷ lệ nợ xấu hệ thống NHTM Việt Nam từ 2012 đến 2015 75

Phụ lục 3: Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập từ lãi 76

Phụ lục 4: Bảng cân đối kế toán ACB giai đoạn 2011-2015 76

Phụ lục 5: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại ACB giai đoạn 2011-2015 78

NHẬN XÉT CỦA G IÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 80

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang từng bước chuyển mình, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại đại hóa để có thể đuổi kịp các nước khác trong khu vực cũng như trên thế giới, đặc biệt là sau khi chính thức tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015 và ký hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 02/2016 Để có thể phát triển bền vững, dòng vốn cần được lưu thông một cách hiệu quả, mà các ngân hàng thương mại – trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế đóng vai trò quan trọng trong công việc đó Việc hội nhập ngày càng sâu rộng đã đem lại thách thức cho các ngân hàng nội là việc phải cạnh tranh với các ngân hàng lớn mạnh từ nước ngoài Vì vậy mà các ngân hàng cần có những đánh giá chính xác về hoạt động kinh doanh của mình để phát huy những điểm mạnh và khắc phục những hạn chế, từ đó phát triển bền vững trong sân chơi tài chính ngày càng khắc nghiệt

Xuất phát từ tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn của vấn đề này nên em đã chọn đề tài khóa luận: “Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu qua mô hình CAMELS”

II Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống lại cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng

- Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh tại ACB

- Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho ACB

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để có thể có một cái nhìn cụ thể nhất, tác giả đã chọn một ngân hàng lâu đời và lớn mạnh trong hệ thống ngân hàng để phân tích, đó là ngân hàng TMCP Á Châu (viết tắt là ACB) thông qua số liệu thu thập được từ các báo cáo tài chính trong giai đoạn 2011 -2015 và nhiều nguồn số liệu khác

IV Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp Dupont, để làm rõ vấn đề

V Kết cấu khóa luận

Đề tài nghiên cứu bao gồm ba chương chính:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về mô hình CAMELS trong đánh giá hoạt động kinh doanh ngân hàng

Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh tại ACB qua mô hình CAMELS giai đoạn 2011-2015

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại ACB

Trang 11

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH CAMELS TRONG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG

1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

NHTM là một trung những trung gian tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế, theo luật các TCTD năm 2010 thì NHTM là doanh nghiệp thực hiện một, hoặc một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác vì mục tiêu LN Các hoạt động ngân hàng có thể kể đến ở đây bao gồm: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng

Khi thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò là “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế

Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay

Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Đối với người gửi tiền, họ sẽ thu được lãi từ khoản vốn nhàn rồi, đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu về vốn của minh, đối với ngân hàng, họ sẽ kiếm được LN qua sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM vì nó phản ánh bản chất của NHTM là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Đồng thời nó cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác

1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán

NHTM làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Ở đây NHTM đóng vai trò là người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ

NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng chính là một phần tiền gửi trước đó Việc các NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này, họ cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi Nhờ đó, các chủ thể kinh tế sẽ tiết

Trang 12

kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian đi tới gặp chủ nợ, người phải thanh toán và lại đảm bảo được việc thanh toán an toàn Qua đó, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế Đồng thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền

Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm LN cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM

1.1.2.3 Chức năng “tạo tiền”

Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa Nhưng với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch

Ban đầu từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, NHTM sử dụng để cho vay bằng chuyển khoản, sau đó những khoản tiền này sẽ được quay lại NHTM một phần khi những người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn Quá trình này tiếp diễn trong hệ thống ngân hàng và tạo nên một lượng tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng

Với chức năng "tạo tiền", hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành ra mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra

Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ Một khối lượng tín dụng mà NHTM cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của NHTM, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng

1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại

1.1.3.1 Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức kinh tế muốn sản xuất, kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất, phương tiện để sản xuất kinh doanh mà nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, cá nhân luôn luôn lớn hơn vốn tự có do đó cần phải tìm đến những nguồn vốn từ bên ngoài Mặt khác lại có một lượng

Trang 13

vốn nhàn rỗi do quá trình tiết kiệm, tích luỹ của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức khác NHTM là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó và sử dụng nguồn vốn huy động được cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Nhờ có hoạt động ngân hàng và đặc biệt là hoạt động tín dụng các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

1.1.3.2 Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chụi sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện không chỉ: giá cả, khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi thoả mãn trên phương diện thời gian, địa điểm Để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp Những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt quá khả năng của doanh nghiệp Do đó để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp đến ngân hàng để xin vay vốn để thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình.Thông qua hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị trường Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh

1.1.3.3 Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ thực sự là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ

mô nền kinh tế

Thông qua hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông Thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp

vĩ mô Cùng với các cơ quan khác, Ngân hàng luôn được sử dụng như một công cụ quan trọng để nhà nước điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế

Khi nhà nước muốn phát triển một nghành hay một vùng kinh tế nào đó thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các NHTM luôn được sử dụng bằng cách NHNN yêu cầu các NHTM thực hiện chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như : giảm lãi suất, kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc qua hệ thống NHTM Nhà nước cấp vốn ưu đãi cho các lĩnh vực nhất định.Khi nền kinh tế tăng trưởng

Trang 14

quá mức nhà nước thông qua Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm khả năng tạo tiền từ đó giảm khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế để nền kinh tế phát triển ổn định vững chắc

Việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM thường đạt hiệu quả trong thời gian ngắn nên thường được nhà nước sử dụng

1.1.3.4 Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia và tài chính quốc tế

Trong nền kinh tế thị trường ,khi các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách Việc phát triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó.Vì vậy nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này Với các nghiệp vụ như thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác NHTM tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển Thông qua hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài, NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế

NHTM và ngày càng phát triển dựa trên cơ sở nền sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và nền kinh tế càng phát triển càng cần đến sự hoạt động của NHTM Với vai trò quan trọng của mình NHTM trở thanh một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

1.2 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

1.2.1 Định nghĩa phân tích hi ệu quả hoạt động kinh doanh

Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh như nguồn lực, tư liệu kinh doanh, nhân lực, từ đó có thể đạt được những kết quả nhất định như LN hay sự phát triển bền vững trong kinh doanh,…

Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là quá trình xem xét, tổng hợp, nghiên cứu một cách khoa học để đánh giá toàn bộ quá trình và hiêu quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh từ đó đề ra những phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

1.2.2 Vai trò của việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh

Việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng có những vai trò sau:

- Là tiền đề, cơ sở để đưa ra quyết định kinh doanh

Trang 15

- Là công cụ quan trọng trong việc quản trị hiệu quả ngân hàng

- Chỉ ra những rủi ro còn tồn tại hay những rủi ro có thể xảy ra, từ đó đưa ra những biện pháp phòng ngừa hợp lý

1.2.3 Đối tượng sử dụng kết quả phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân

hàng

- Đối với ban quản trị: họ sẽ dung kết quả phân tích để đánh giá những điểm mạnh cần phát huy và những điểm chưa được cần khác phục, từ đó đưa ra những giải pháp, định hướng phát triển trong tương lai

- Đối với cổ đông/chủ sở hữu: là chủ sở hữu thực sự của ngân hàng, thông qua kết quả phân tích, họ sẽ biết những người mà họ ủy thác điều hành hoạt động kinh doanh có thực sự đang làm tốt, có đem lại hiệu quả mà họ mong muốn và đưa ra những điều chỉnh về mặt quản trị

- Đối với đối tác của ngân hàng: họ sẽ biết được ngân hàng đối tác có thực sự hoạt động hiệu quả, có tiềm năng để hợp tác hay không, hoặc là việc những rủi ro có thể xảy ra từ việc hợp tác giữa hai bên

- Đối với khách hàng: họ có thể đánh giá được ngân hàng đang phục vụ họ có tốt hay không, thể hiện ở một số khía cạnh như ngân hàng có đủ/sẵn tiền trả lãi hay gốc cho người gửi hay không, nguồn vốn ngân hàng có sẵn sang tài trợ cho nhu cầu hay từ người thiếu hụt vốn hay không

- Đối với người lao động: họ sẽ biết được liệu ngân hàng mà họ đang làm việc có phát triển bền vững, có tiềm năng để họ tiếp tục cống hiến

1.3 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại theo mô hình CAMELS

CAMELS là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh của các tổ chức tài chính và là viết tắt từ chữ cái đầu của các chữ tiếng Anh: Capital Adequacy- Mức độ an toàn vốn, Asset Quality- Chất lượng tài sản, Management Competence- Trình độ quản lý, Earnings Strength- Mức độ sinh lời, Liquidity Risk Exposure- Rủi ro thanh khoản, và Sensitivity to marlet risk- Độ nhạy cảm với thị trường Hệ thống đánh giá CAMELS do Cục Quản lý các tổ hợp tín dụng Hoa Kỳ (National Credit Union Administration - NCUA) xây dựng, song không chỉ có Hoa Kỳ mà còn có nhiều nước trên thế giới áp dụng Sau khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, hệ thống đánh giá CAMELS được Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Nhóm Ngân hàng Thế giới khuyến nghị áp dụng ở các nước bị khủng hoảng như một trong các biện pháp để tái thiết khu vực tài chính

1.3.1 C- Capital Adequacy- Mức độ an toàn vốn

Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngân hàng càng chấp nhận rủi ro (ví dụ như trong phạm vi một doanh mục

Trang 16

cho vay) thì càng đòi hỏi nhiều vốn tự có để hỗ trợ hoạt động của ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro cao hơn

Các chỉ tiêu thường được sử dụng để phân tích mức độ an toàn vốn của các ngân hàng là:

 Hệ số an toàn vốn (CAR)

Chỉ số CAR là một thước đo về mức độ an toàn vốn của ngân hàng Chỉ số này có ý nghĩa là cho biết liệu rằng ngân hàng có đủ vốn để chống đỡ các rủi ro có thể xảy ra hay không, hay ngân hàng có đủ vốn để đáp ứng nhu cầu vay, thanh khoản hay không CAR được tính như sau:

Tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi x100%

Việc đảm bảo duy trì được chỉ số CAR theo quy định sẽ giúp ngân hàng tạo ra một tấm đệm vốn trước những trước những cú sốc tài chính

 Vốn chủ sở hữu:

VCSH là một phần quan trọng nằm trong vốn tự có của NHTM, là nguồn vốn riêng

mà các chủ sở hữu ngân hàng đóng góp vào khi hình thành và dần được bổ sung, bồi đắp

và hình thành trong quá trình kinh doanh VSCH là một yếu tố quan trọng để xác định quy mô của từng ngân hàng cũng như chi phối quy mô tổng TS của ngân hàng

 Cơ cấu vốn, đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính là một thuật ngữ để chỉ việc kết hợp sử dụng nợ phải trả và VCSH trong chính sách tài chính của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng, hay nói cách khác là những quyết định sử dụng nợ phải trả và VCSH với một tỷ lệ hợp lý trong tổng nguồn vốn

Đòn bẩy tài chính, hay đổi khi còn được gọi là hệ số nhân vốn, được tình theo công thức sau :

FL= Tổng tài sản

Vốn chủ sở hữu

 Mức độ rủi ro từ các hoạt động ngoại bảng

Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối TS (nội bảng) bởi

vì các hoạt động này không liên quan trực tiếp đến nội dung các khoản mục nội bảng Tuy nhiên nó lại có thể ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối tài sản vì các hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra TS có và TS nợ bổ sung cho nội bảng

Hoạt động ngoại bảng thường sẽ đem lại TN cho NHTM dưới dạng phí hoa hồng hoặc các loại phí khác mà không phải sử dụng vốn kinh doanh, đây là một nguồn thu khác ngoài nguồn thu từ các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng Ngoài ra khi thực hiện các hoạt động ngoài bảng, NHTM còn có thể tránh được các khoản chi phí về thuế và chi phí về dự trữ bắt buộc, chi phí cho bảo hiểm tiền gửi và một số các khoản chi phí khác không

Trang 17

phải áp dụng cho các hoạt động ngoài bảng Và các năm gần đây, tốc độ phát triển của các hoạt động ngoài bảng tăng nhiều hơn so với hoạt động nội bảng truyền thống, do hoạt động huy động vốn gặp nhiều khó khăn, cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng, hơn nữa hoạt động tín dụng tăng chậm, khả năng hấp thụ vốn của nên kinh tế kém

Hoạt động ngoại bảng của NHTM chủ yếu là bảo lãnh, thư tín dụng,… Nội dung chủ yếu của các hoạt động này là khi khách hàng không có khả năng hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình với bên thứ ba thì ngân hàng sẽ đứng ra thực hiện thay và sau đó khách hàng sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính với ngân hàng Rủi ro thường xuyên xảy ra nhất là khách hàng mất khả năng thanh toán và không thể thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng

1.3.2 A- Assets Quality- Chất lượng tài sản

Chất lượng TS có là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vụ đổ vỡ ngân hàng Thông thường điều này xuất phát từ việc quản lý không đầy đủ trong chính sách cho vay từ trước đến nay Nếu thị trường nhận định, chất lượng TS của ngân hàng đang trở nên xấu đi, áp lực lên trạng thái nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng sẽ vì thế mà trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, và điều này có thể dẫn đến tình trạng đổ xô đi rút tiền ở ngân hàng, khủng hoảng thanh khoản xảy ra là điều khó tránh khỏi Chính điều này khiến cho việc xem xét chất lượng TS có đối với việc kinh doanh và hoạt động của ngân hàng chiếm một vị trí quan trọng Để đánh giá chất lượng TS có, các yếu tố được xem xét là:

 Kết cấu TS có:

Mỗi ngân hàng đều có những kết cấu TS có khác nhau, tùy thuộc và mục tiêu, đặc điểm và quy mô của từng ngân hàng mà chúng sẽ khác nhau Việc phân tích TS có sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn tổng quát về sự thay đổi giá trị các khoản mục trong TS và sự chuyển dịch, thay đổi cơ cấu về TS qua từng thời kì, dựa vào những đặc điểm nền kinh tế, ngành ngân hàng mà xem xét nó có là phù hợp hay không

 Tỷ trọng danh mục cho vay trên tổng TS

Cho vay là một trong hai hoạt động chính của ngân hàng và thường chiếm tỷ trọng chủ chốt trong danh mục TS Tuy nhiên, ngân hàng không chỉ hoạt động hay kiếm LN chỉ từ việc cho vay mà từ nhiều hoạt động khác, do đó, tỷ trọng danh mục cho vay sẽ thường xuyên có những biến động tùy vào thời kì và cách điều hành của từng ngân hàng Một tỷ trọng cho vay cao cho thấy mức độ tập trung của ngân hàng vào cho vay lớn, khả năng sinh lời lớn Tuy nhiên, nếu ngân hàng không đa dạng hóa danh mục TS của mình mà quá tập trung vào cho vay rất dễ dẫn đến rủi ro tập trung và gặp khó khăn trong thời kì kinh tế khủng hoảng

 Tốc độ tăng trưởng tín dụng (credit growth rate)

Tốc độ tăng trưởng = Dư nợ tín dụng cuối kì−Dư nợ tín dụng đầu kì

Tốc độ tăng trưởng tín dụng là một chỉ số quan trọng phản ánh sự phát triển, lớn mạnh về quy mô của một ngân hàng Khi một ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng ổn định và cao, điều đó cho thấy quy mô về TS của ngân hàng đang dần lớn mạnh Tuy

Trang 18

nhiên, không phải lúc nào tăng trưởng cao cũng là tốt Nếu ngân hàng không thể kiểm soát được hết những rủi ro có thể xảy ra, họ rất dễ dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng, mà nợ xấu là một trong những nguyên nhân quan trọng bào mòn LN của ngân hàng Do đó, tăng trưởng tín dụng là bao nhiêu là hợp lý sẽ còn tùy thuộc vào từng thời kì và trình độ, khả năng điều hành của ngân hàng

 Tỷ trọng dư nợ theo ngành = Dư nợ tín dụng của ngân hàng

Dư nợ tín dụng toàn ngành x100%

Thị phần của một ngân hàng trong ngành nói lên mức độ lớn mạnh và uy tín của ngân hàng đó Ngân hàng có thị phần lớn rất dễ thu hút khách hàng, và đặc biệt có thể huy động nguồn vốn giá rẻ, đó là tiền đề để ngân hàng cho vay khách hàng với lãi suất hấp dẫn Một ngân hàng với thị phần lớn cũng sẽ để lại ảnh hưởng tốt trong mắt khách hàng, từ đó khả năng khách hàng chọn ngân hàng đó phục vụ mình càng cao

 Tỷ trọng/cơ cấu các nhóm tín dụng theo các tiêu chí khác nhau

Việc phân tích cơ cấu các nhóm cấp tín dụng theo các tiêu chí khác nhau sẽ giúp chúng ta biết được ngân hàng đang tập trung cho vay ở nhóm ngành nào, kì hạn nào, đối tượng nào, chất lượng tín dụng tốt hay không Từ đó đánh giá được xem nhóm ngành cho vay có tốt hay không, có tiềm năng không; kì hạn cho vay như thế này có hợp lý trong thời kì này hay đối tượng cho vay mà ngân hàng đang hướng tới có tiềm năng và nhiều rủi

ro hay không Và đặc biệt, việc phân tích giúp ta đánh giá được ngân hàng có nhiều nợ xấu hay không, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là cao hay thấp, bởi nợ xấu luôn là vấn đề nhức nhối với các ngân hàng, ảnh hưởng lớn tới LN của họ

 Tỷ lệ cho vay trên huy động

Hoạt động chính của ngân hàng là huy động vốn để cho vay, tuy nhiên, không phải là ngân hàng huy động được bao nhiêu cho vay bấy nhiêu mà họ chỉ được sử dụng một phần để cấp tín dụng, phần còn lại để dự trữ hay đầu tư vào những kênh an toàn hơn, thanh khoản cao hơn để đề phòng trường hợp khách hàng có nhu cầu rút vốn đột xuất

Một tỷ lệ cho vay trên vốn huy động cao sẽ dẫn đến rủi ro lớn hơn cho ngân hàng, những ngân hàng để điều này xảy ra hoặc là có trình độ quản lý tốt, hoặc là chấp nhận mức độ rủi ro cao để đánh đổi với LN đem lại

 Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn

Thông thường, luôn có sự chênh lệch kỳ hạn giữa các khoản huy động và cho vay, do đó, việc sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn là điều hết sức bình thường, tuy nhiên nó sẽ chỉ an toàn nếu ở mức cho phép

Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn = Cho vay dài hạn−Nguồn vốn dài hạn

Nguồn vốn ngắn hạnMột tỷ số này cao cho thấy ngân hàng đang sử dụng nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn, rất dễ dẫn đến gặp rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản

1.3.3 M- Management Competence- Năng lực quản lý

Trang 19

Nhóm chỉ tiêu về năng lực quản lý đề cập đến các chính sách về quản lý con người, các chính sách quản lý chung của tổ chức, các hệ thống thông tin, các chế độ kiểm soát và kiểm toán nội bộ, các kế hoạch chiến lược và ngân sách đều được xem xét một cách riêng

rẽ để phản ánh toàn bộ chất lượng của hoạt động quản lý

Nhiều nhà phân tích chuyên nghiệp coi quản lý là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống phân tích CAMELS, bởi vì quản lý đóng vai trò quyết định đến thành công trong hoạt động của ngân hàng Đặc biệt, các quyết định của người quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những yếu tố như: Chất lượng TS có; mức độ tăng trưởng của TS có; mức độ TN; khả năng lập kế hoạch; khả năng ứng phó với những thay đổi về môi trường xung quanh hay chất lượng của các chính sách và khả năng kiểm soát việc tuân thủ các chính sách,…

Nhóm chỉ tiêu về năng lực quản lý được đánh giá cụ thể thông qua các chỉ tiêu định tính như:

- Chỉ tiêu 1: Tuân thủ các hạn chế bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng Chỉ tiêu này chỉ tính việc tuân thủ các quy định được đề cập trong Luật các TCTD (Mục 5, Chương III, từ điều 77 đến 82) và các quy chế có liên quan

- Chỉ tiêu 2: Hiệu quả của hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng

- Chỉ tiêu 3: Chất lượng, số lượng nhân viên, mức độ hài lòng của họ

Số lượng nhân viên sẽ phản ảnh phần nào quy mô của ngân hàng, ngân hàng có số lượng nhân viên lớn sẽ có khả năng phục vụ được nhiều đối tượng khách hàng, ở nhiều khu vực địa lý

Ngân hàng với trình độ chuyên môn nhân viên cao, kĩ năng tốt sẽ là tiền đề để làm hài lòng khách hàng, đem lại chất lượng phục vụ tốt, mang lại lợi ích lâu bền cho ngân hàng

- Chỉ tiêu 4: Khả năng quản lý rủi ro

- Chỉ tiêu 5: Trình độ học vấn của ban quản lý: HĐQT, ban điều hành, ban kiểm soát

Một ngân hàng với bộ máy lãnh đạo có học vấn, chuyên môn cao cũng như nhiều năm kinh nghiệm trong ngành sẽ giúp ngân hàng vượt qua được những giai đoạn khó khăn, có những định hướng phát triển tốt, giúp ngân hàng ngày càng phát triển

1.3.4 E- Earnings Strength- Tính sinh lời

LN là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá công tác quản lý và các hoạt động chiến lược của nhà quản lý LN giúp ngân hàng hình thành thêm vốn, là yếu tố hết sức cần thiết để thu hút sự hỗ trợ từ phía các nhà đầu tư LN còn giúp bù đắp các khoản cho vay bị tổn thất và trích dự phòng đầy đủ Chính vì vậy, có thể thấy, đánh giá hoạt động của một ngân hàng nhất thiết phải đánh giá đến chỉ tiêu LN, nhất là đối với một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ như ngân hàng, trong đó, tập trung vào bốn nguồn TN chính:

Trang 20

- LN từ lãi: đi vay để cho vay là hoạt chính của ngân hàng, do đó việc đánh giá xem ngân hàng phối hợp hai hoạt động này như thế nào để đem lại nguồn lãi chênh lệch lớn nhất là cần thiết

- TN từ lệ phí, hoa hồng: ngoài nguồn LN từ lãi vay, TN từ phí, hoa hồng cũng là một kênh quan trọng đem về LN cho ngân hàng với chi phí thấp, do đó xu hướng các ngân hàng hiện nay đó là đẩy mạnh các hoạt động thu phí, hoa hồng

- TN từ kinh doanh mua bán, đầu tư: ngân hàng không phải lúc nào cũng chủ động trong việc đi vay để cho vay hay cung cấp các dịch vụ, do đó, họ cần những kênh đầu tư chủ động hơn, đem lại nguồn LN cao để tận dụng hiệu quả nguồn vốn cũng như duy trì thanh khoản LN từ hoạt động này sẽ giúp ta đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn và quyết định đầu tư của ngân hàng

- TN khác

Để có thể đánh giá mức độ hiệu quả, khả năng sinh lời của ngân hàng, các chỉ tiêu thường được sử dụng là :

 ROA (tỷ suất LN trên tổng TS):

ROA = LN sau thuế

Tổng TS bình quânChỉ số này nói nên việc ngân hàng sử dụng TS của mình để tạo ra LN ở mức nào, một

tỷ suất ROA càng cao càng cho thấy việc ngân hàng sử dụng hiệu quả TS của mình

 ROE (tỷ suất LN trên VCSH):

ROE = LN sau thuế

VCSH bình quânChỉ số này cho biết mỗi đồng vốn mà chủ sở hữu bỏ ra sẽ đem lại cho họ bao nhiêu đồng LN ROE > 0 cho thấy một năm làm ăn có lãi, chỉ số này càng lớn cho thấy cổ đông/chủ sở hữu càng thu được về nhiều LN

 Tỷ lệ TN lãi cận biên (NIM):

NIM = Thu lãi từ cho vay và đầu tư chứng khoán−Chi trả lãi tiền gửi

Tổng TS sinh lời bình quânTrong đó, khoản mục thu từ lãi vay và chi trả cho lãi tiền gửi được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tổng TS sinh lời bình quân được lấy từ khoản mục tổng TS bình quân trên bảng cân đối kế toán sau khi đã loại bỏ những TS không sinh lời như: tiền mặt, tài sản cố định và một số TS khác

Chỉ số NIM này khác nhau với mỗi ngân hàng bởi sự khác nhau bởi khấu vị rủi ro Tuy nhiên, thông thường, NIM tăng cho thấy hiệu quả quản trị TS nợ-có tốt của ngân hàng

1.3.5 L- Liquidity Exposure- Rủi ro thanh khoản

Khả năng thanh khoản của ngân hàng là khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng một cách thường xuyên, liên tục và đầy đủ với chi phí và thời gian tối thiểu

Vì vậy, việc duy trì ở mức vừa đảm bảo khả năng thanh khoản vừa đảm bảo cân bằng khả

Trang 21

năng sinh lời là một điều khó bởi vì TS dùng cho thanh khoản là TS không sinh lời hoặc sinh lời ít

Thanh khoản, với ngân hàng mà nói, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi lẽ, thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng nhu cầu cho vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn; thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và có trật tự Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên ngân hàng về cơ bản luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn Mặt khác, thanh khoản ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền và người cho vay Thanh khoản kém là nguyên nhân trực tiếp của hầu hết các trường hợp đổ vỡ ngân hàng

Do đó, đánh giá về thanh khoản được xem là nhân tố quan trọng và không thể thiếu khi xem xét đến hiệu quả hoạt động và rủi ro của ngân hàng Nói chung có thể đánh giá mức độ thanh khoản dựa trên khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động của mình Trong đó, những yếu tố cần xem xét bao gồm:

 Chỉ số về trạng tiền mặt H1

Chỉ số trạng thái tiền mặt được đo lường bằng tỷ lệ tiền mặt trên tổng TS của ngân hàng tính tại thời điểm kết thúc năm tài chính Chỉ số này được tính toán bao gồm cả các khoản tiền gửi tại NHNN (dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán), tiền gửi tại các TCTD (tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn) Một chỉ số trạng thái tiền mặt cao sẽ bảo đảm cho NHTM có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời

H1 = Tiền và tương đương tiền

 Chỉ số chứng khoán thanh khoản H2

Chỉ số chứng khoán thanh khoản phản ánh tỷ lệ nắm giữ các chứng khoán có tính lỏng cao, sẵn sàng chuyển đổi sang tiền mặt đáp ứng nhu cầu thanh khoản ở NHTM Tỷ lệ này càng cao, trạng thái thanh khoản của NHTM càng tốt

H2 = Chứng khoán kinh doanh+chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán

 Tỷ lệ dự trữ thanh khoản : là một chỉ số quan trọng đo lường khả năng thanh khoản

của một NHTM, tỷ lệ này được tính như sau :

Tỷ lệ dự trữ thanh khoản = TS có tính thanh khoản cao

Tổng Nợ phải trả x 100%

Các yếu tố định tính như: mức độ biến động của tiền gửi, mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn nhạy cảm với rủi ro, khả năng tiếp cận đến thị trường tiền tệ, mức độ hiệu quả nói chung của chiến lược, chính sách quản lý TS nợ và TS có của ngân hàng, tuân thủ với các chính sách thanh khoản nội bộ ngân hàng, nội dung, quy mô và khả năng sử dụng dự kiến của các cam kết cấp tín dụng

Trang 22

1.3.6 S- Sensitivity to Market Risk- Độ nhạy cảm với thị trường

Phân tích S nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của thay đổi về các yếu tố vĩ mô đến từ thị trường, trong đó, nhấn mạnh đến lãi suất; tỷ giá; giá hàng hóa, công cụ tài chính phái sinh… đến giá trị của doanh thu, LN hay vốn cổ phần Phân tích S quan tâm đến khả năng của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc đánh giá bảng cân đối kế toán, xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng thời đưa ra dấu hiệu chỉ dẫn định hướng rõ ràng và tập trung nhằm kiểm soát rủi ro thị trường

Tuy nhiên, đây chỉ là một kênh phân tích, hơn nữa tương đối khó Do vậy, để có thể đánh giá được toàn diện về hoạt động, mức độ LN và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng, cần căn cứ vào các chỉ tiêu khác của mô hình

1.4 Ưu, nhược điểm của việc sử dụng mô hình CAMELS trong phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng

1.4.1 Ưu điểm

CAMELS là mô hình tổng hợp 6 yếu tố đo lường mang tính vi mô của một tổ chức tài chính (trong đó có ngân hàng): an toàn vốn, chất lượng tài sản, quản lý, sinh lời, thanh khoản và mới đây là mức độ nhạy cảm với thị trường Các yếu tố này đo lường sức mạnh và độ an toàn trong hoạt động tài chính của một tổ chức tín dụng giúp cho các nhà quản trị ngân hàng có được những công cụ quan trọng, cần thiết để tìm ra những thiếu sót, bất cập trong hoạt động cung cấp dịch vụ của tổ chức, từ đó đưa ra giải pháp hữu hiệu để giải quyết, khắc phục những vấn đề đó Cụ thể, những ưu điểm của mô hình này là:

Thứ nhất, mô hình CAMELS bao gồm nhiều chỉ tiêu phân tích quan trọng và có tính

ứng dụng cao trong việc quản trị tổ chức tài chính Các chỉ tiêu đó có thể nói đến là hệ số

an toàn vốn tối thiểu (CAR) hiện đang được rất nhiều ngân hàng trên thế giới sử dụng hiệu quả trong công tác quản lý chất lượng nguồn vốn Các chỉ số phân tích tài chính đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau chứ không mang tính tách rời, độc lập nhau Hơn nữa, các chỉ tiêu dùng để phân tích yếu tố này cũng có mối liên quan ràng buộc với các chỉ số dùng trong việc quản trị nhân tố khác Điều đó giúp cho các nhà quản trị ngân hàng

có thể nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc và đưa ra những đánh giá phân tích tổng quát

Thứ hai, những chỉ tiêu dùng để phân tích tình hình hoạt động của một tổ chức tài

chính trong mô hình CAMELS lại có những chỉ tiêu quan trọng đã xuất hiện trong một số

mô hình phân tích khác Điển hình trong số đó phải kể đến các chỉ số ROA và ROE trong

mô hình phân tích tài chính Dupont, được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của NHTM Những chỉ tiêu này đã được rất nhiều tổ chức tài chính trên thế giới ứng dụng hiệu quả trong công tác quản trị của mình Việc kết hợp các chỉ tiêu đã có sẵn mang tính thực tiễn cao với những chỉ số mới có liên hệ chặt chẽ với nhau như đã trở thành một tiêu thức mới trong hoạt động phân tích tài chính đối với các tổ chức tín dụng

Trang 23

Thứ ba, một điểm nhấn đặc biệt trong CAMELS là các yếu tố được đánh giá, phân

tích và được gắn mức điểm số nhất định từ 1 (tốt nhất) đến 5 (kém nhất) Các chỉ tiêu phân tích được đo lường định tính hoặc định lượng, đồng thời được phân định theo mức độ quan trọng của nó tới việc quản trị và ra quyết định tài chính Trong khi đó, các yếu tố cấu thành của một số mô hình khác chỉ được đưa ra thông thường với một tỷ lệ chuẩn để tham chiếu vào đó đánh giá Trong những trường hợp này, người ta rất dễ rơi vào tình trạng không biết trả lời và quyết định như thế nào nếu “tốt + xấu = tốt hay xấu”? và họ sẽ khó có thể đánh giá được chính xác mức độ của vấn đề

Thứ tư, thông qua việc sử dụng CAMELS trong phân tích tài chính, các nhà quản trị

ngân hàng có thể phân biệt được chính xác những rủi ro hiện tại, và dự đoán được những nguy cơ tiềm ẩn trong tương lai Từ đó hạn chế được những rủi ro về đạo đức cũng như những rủi ro hiện rõ trong hoạt động của ngân hàng và họ có thể tham gia giúp tổ chức mình phục hồi, đứng lên sau những biến động hiện tại và định hướng hoạt động tương lai hiệu quả Ứng dụng mô hình CAMELS trong công tác phân tích tài chính của NHTM cũng có thể dự đoán được tình trạng phá sản của hệ thống ngân hàng và dẫn đến khủng hoảng tài chính Lý thuyết về phá sản của hệ thống ngân hàng bắt đầu từ lý thuyết về sự nguy cấp của từng ngân hàng Những ưu điểm trên nhằm giúp cho các nhà quản trị ngân hàng biết được những rủi ro hiện tại, dự đoán được những nguy cơ tiềm ẩn trong tương lai, từ đó có thể đưa ra những giải pháp nhằm hoạt động hiệu quả Và chính những ưu điểm đó cũng giúp chúng ta có thể dự báo được tình trạng phá sản của một ngân hàng thông qua những nội dung đo lường sức mạnh tài chính của tổ chức có trong mô hình CAMELS Bởi lẽ, nếu bảng cân đối TS yếu kém, LN kém, thanh khoản thấp, quản trị ngân hàng yếu kém là những yếu tố dẫn đến khủng hoảng; những hoảng loạn của ngân hàng xuất phát từ việc hiểu nhầm của các nhà gửi tiền về tính thanh khoản và rút vốn do những thông tin quá bi quan về tài sản của ngân hàng; thì việc rút vốn ồ ạt tại một ngân hàng có thể gây nên khủng hoảng cả hệ thống

1.4.2 Nhược điểm

Tuy có nhiều ưu điểm, nhưng mô hình CAMELS vẫn tồn tại một số hạn chế

Thứ nhất, Các đánh giá xếp loại tốt, xấu (từ 1 – 5) phụ thuộc vào nhiều vào ý kiến

chủ quan của cán bộ phân tích, của các nhà quản lý giám sát do việc sử dụng các chỉ số và

tỷ lệ định sẵn Thậm chí, những ý kiến này cũng có thể khác nhau giữa các nhóm ngân hàng và chúng cũng có thể thay đổi theo thời gian Tuy rằng các mực định lượng về mực độ quan trọng, các con số chuẩn đối với các chỉ tiêu trong nội dung của mô hình được cho phép có thể thay đổi để phù hợp nhưng khả năng thay đổi đó vẫn chưa được các nhà nghiên cứu đưa ra với mực dao động là bao nhiêu mà chỉ được thực hiện theo quy định của từng ngân hàng cụ thể Điều đó dẫn đến, các nhà phân tích, nhà quản trị và Ban lãnh đạo ngân hàng cũng cần phải nhạy bén trong cả vấn đề dựa vào các chỉ tiêu có sẵn để đánh giá phân tích, đồng thời cũng phải đưa ra được một mực tiêu chuẩn hợp lý đối với từng chỉ tiêu trong phân tích trong tổ chức mình

Trang 24

Thứ hai, việc phân tích tài chính bằng mô hình CAMELS yêu cầu các tổ chức tài

chính phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ phân tích có trình độ chuyên môn, có năng lực và hiểu biết về công nghệ Điều đó có thể nói là tương đối khó đối với các ngân hàng ờ các nước đang phát triển, quy mô vốn không lớn, trong đó có các ngân hàng ở Việt Nam Các tổ chức tín dụng này sẽ gặp khó khăn trong vấn đề tuyển dụng cán bộ có khả năng bởi mức độ trả thù lao chưa thật sự cao so với các ngân hàng của các nước phát triển hoạt động trong quốc gia họ Thêm vào đó, các ngân hàng này cũng hạn chế về mặt lập quỹ đào tạo, hay trang bị những công cụ phần mềm công nghệ phục vụ cho phân tích tài chính do nguồn vốn không lớn Điều đó cũng gây khó khăn cho việc áp dụng CAMELS vào phân tích tài chính NHTM

Thứ ba, việc sử dụng mô hình CAMELS cũng gặp không ít trở ngại Những thông tin

cần thiết cho một CAMELS hiệu quả là sự minh bạch và khả năng cung cấp thông tin tài chính của ngân hàng, tính chân thực của các thông tin Báo cáo tài chính và khả năng sẵn sàng của những nhân viên trong phỏng vấn Do tính bí mật thông tin trong hoạt động tài chính ngân hàng, nên những yêu cầu này rất khó đạt được Vì thế, việc phân tích, đánh giá, xếp hạng ngân hàng dựa trên các thông tin sai lệch rất dễ dẫn đến kết quả đưa ra không chính xác và việc quản lý tài chính sẽ không đạt hiệu quả cần thiết

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trên đây là những nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong việc sử dụng mô hình CAMELS đê đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đó là ý nghĩa của

mô hình, đối tượng sử dụng mô hình và đặc biệt là các tiêu chí, chỉ số, nhân tố để đánh giá hoạt động ngân hàng theo CAMELS Sử dụng mô hình CAMELS trong đánh giá và phân tích hoạt động kinh doanh của NHTM là một trong những phương pháp đã và đang được sử dụng phổ biến hiện nay tại các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Mô hình CAMELS tuy còn có những nhược điểm, nhưng những ưu điểm của nó là không thể phủ nhận Mô hình CAMELS đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng theo nhiều tiêu chí khác nhau, nhưng tựu chung lại, chúng đều mang đến cho các nhà quản trị ngân hàng những cái nhìn khái quát về tình hình của ngân hàng, để từ đó có những điều chỉnh và biện pháp quản trị phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và sự ổn định cho ngân hàng

Trang 25

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA ACB TỪ

NĂM 2011 ĐẾN 2015 QUA MÔ HÌNH CAMELS

2.1 Tổng quan về ACB

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

NHTM cổ phần Á Châu (ACB) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 04/06/1993 Đến tháng 10/2006, ACB niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và bắt đầu giao dịch một tháng sau đó

- Giai đoạn 1993-1995: giai đoạn hình thành của ACB ACB chủ yếu tập trung vào khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực tư nhân

- Giai đoạn 1996-2000: ACB tiếp cận nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, hiện đại hóa công nghệ thông tin ngân hàng, tái cơ cấu Hội sở theo hướng phân biệt bộ phận kinh doanh và hỗ trợ, thành lập công ty chứng khoán ACB

- Giai đoạn 2001-2005: ACB triển khai giai đoạn 2 của chương trình hiện đại hóa công nghệ thông tin; ngân hàng Standard Chartered Bank ký kết thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật toàn diện, trở thành cổ đông chiến lược của ACB

- Giai đoạn 2006-2010: đẩy nhanh mở rộng mạng lưới hoạt động; thành lập công ty cho thuê tài chính ACB; xây dựng trung tâm dữ liệu dự phòng đạt chuẩn;…

- Giai đoạn 2011-2015: đưa vào hoạt động trung tâm dữ liệu Mô-đun xây dựng theo chuẩn quốc tế; sự cố về bầu Kiên năm 2012 đã khiến ACB rơi vào tình trạng khó khăn nhưng ngân hàng đã dần dần khôi phục và lớn mạnh trở lại

2.1.2 Cơ cấu bộ máy hoạt động

Cơ cấu tổ chức quản lý của ACB bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Ban kiểm soát và Tổng giám đốc theo như quy định của Luật các TCTD năm 2010 tại điều 32.1 Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất ngân hàng (điều 27.1 điều lệ ACB năm 2012) Đại hội cổ đông bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên HĐQT và Ban kiểm soát (điều 29.1d điều lệ ACB năm 2012)

Các ủy ban trực thuộc HĐQT bao gồm: Ủy ban nhân sự, Ủy ban quản trị rủi ro, Ủy ban tín dụng, Ủy ban đầu tư, Ủy ban chiến lược

Ngân hàng bao gồm hội sở và các kênh phân phối Các đơn vị hội sở bao gồm 9 khối và 10 phòng, trung tâm và các văn phòng thuộc Tổng giám đốc Kênh phân phối tính đến năm 2015 có 350 chi nhánh và phòng giao dịch Ngoài ra còn có một số đơn vị có chức năng chuyên biệt như: Trung tâm thẻ, trung tâm ATM, Phòng chuyển tiền nhanh Western Union, Trung tâm telesales, trung tâm dịch vụ khách hàng 24/7

Trang 26

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức tại ACB

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng

2.2 Phân tích hoạt động kinh doanh tại ACB theo mô hình CAMELS từ năm 2011

Ban Tổng Giám đốc

Khối thị trường tài chính

Khối quản

lý rủi ro

Khối Quản trị Nguồn lực

Khối C NTT Khối vận

hành

Khối Khách hàng Doanh nghi ệ p

Văn phòng

dự án chi ế n lược

Phòng đối ngoại

Trung tâm phê duyệ t tín dụng tập trung

Sở giao dịch, trung tâm th ẻ , các chi nhánh và phòng giao dịch;

C ác công ty trực thuộc: C ông ty chứng khoán ACB (ACBS), Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản AC B (AC BA)

Trang 27

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010-2015

(Đơn vị: %)

(Nguồn: Tổng cục thống kê)

Kinh tế - xã hội Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm sau suy thoái toàn cầu; lạm phát dần được kiểm soát từ năm 2011 đến năm 2015 một phần là kết quả của việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng của NHNN; giá dầu biến động và đã giảm sâu từ năm 2014 đến nay; nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới là Trung Quốc có dấu hiệu phát triển giảm tốc và gặp những khó khăn, khủng hoảng, đặc biệt là trên thị trường chứng khoán; bên cạnh đó là tình hình chính trị bất ổn tại một số quốc gia Châu Âu

Cụ thể, các nền kinh tế lớn phát triển theo hướng đẩy nhanh tăng trưởng nhưng có nhiều yếu tố rủi ro trong việc điều chỉnh chính sách tiền tệ Trong khi đó, nhiều nền kinh tế mới nổi gặp trở ngại từ việc thực hiện chính sách thắt chặt để giảm áp lực tiền tệ Nền kinh tế Việt Nam cũng phát triển chậm chạp và chỉ đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng ở mức 6.68% vào năm 2015

Khu vực đồng EURO bị ảnh hưởng mạnh bởi các biện pháp trừng phạt kinh tế giữa các nước trong khu vực mà cụ thể là các nước Tây Âu với Nga do những xung đột tại Ukraina Tình hình chính trị bất ổn đó đã gây những thiệt hại kinh tế to lớn cho Nga cũng như các nước Tây Âu

Giá xăng dầu bắt đầu giảm sâu từ cuối năm 2014 do sự chênh lệch quá lớn giữa cung và cầu Cung dầu thô trên thế giới hiện nay đang quá dư thừa do có sự góp mặt của những nhà sản xuất dầu đá phiến Hơn nữa, sau nhiều năm, Mỹ đã quyết định xuất khẩu dầu ra bên ngoài lãnh thổ cũng như việc Iran được dỡ bỏ lệnh cấm vận xuất khẩu dầu đã gây ra tình trạng trên Các nước xuất khẩu dầu, trong đó có Nga, OPEC,…đã nhóm họp và đưa ra được quyết định đóng băng sản lượng dầu, do đó giá dầu đã có dấu hiệu tăng trở lại nhưng vẫn chưa ổn định Nhu cầu dầu trên thế giới cũng sụt giảm do nhu cầu của Trung Quốc giảm bởi sự giảm tốc của

Trang 28

nước này

Thêm vào đó là việc Trung Quốc hạ giá đồng nhân dân tệ đợt tháng 8 vừa qua cũng như việc bong bóng trên thị trường chứng khoán Trung Quốc vỡ tung đã ảnh hưởng ít nhiều đến nền kinh tế Việt Nam

Nhìn chung tỉnh hình tăng trưởng kinh tế nước ta từ năm 2010 đến nay có thể chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 từ năm 2010-2012,trong giai đoạn này tăng trưởng kinh tế có xu hướng

đi xuống do dư âm của khủng hoảng kinh tế thế giới; giai đoạn 2 từ năm 2013 đến nay tăng trưởng kinh tế đã phục hồi và đi lên,cụ thể tăng trưởng kinh tế năm 2015 đạt 6,68 % - một con số đáng mừng,dấu hiệu cho thấy sự chuyển mình tích cực của nền kinh tế Lạm phát ở mức đỉnh điểm 18,58% năm 2011 đã dần dần được kiểm soát và giảm qua các năm, đến cuối năm

2015, lạm phát ở mức 0,63%

Biểu đồ 2.2: Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2011-2015

Đơn vị: %

(Nguồn: Tổng cục thống kê)

Đặc biệt, trong giai đoạn 2011-2012, cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng xảy

ra, hệ thống ngân hàng có nhiều dấu hiệu tiêu cực Trong bối cảnh đó, NHNN đã trình Chính phủ thông qua Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 và Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 254/QĐ-TTG ngày 1/3/2012 phê duyệt Đề án (Đề

án 254) Mục tiêu của đề án là cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng để đến năm 2020 phát triển được hệ thống các tổ chức tín dụng đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình có khả năng cạnh tranh lớn hơn và dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế Trong giai đoạn 2011 - 2015, tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố năng lực hoạt động của các tổ chức tín dụng; cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng; nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trường trong hoạt động ngân hàng Đặc biệt vào cuối năm 2015, Việt Nam chính thức gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), chính thức tự do hóa thị trường tài chính và hơn nữa là việc

ký vào hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương vào tháng 02/2016 đã tạo ra

Trang 29

những cơ hội cũng như thách thức khiến toàn ngành ngân hàng phải chuyển mình có phát triển mạnh mẽ hơn

2.2.2 Phân tích hoạt động kinh doanh tại ACB từ năm 2011 đến 2015

2.2.2.1 C- Capital Adequacy- Mức độ an toàn vốn

2.2.2.1.1 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)

Theo thông tư 13/2010/NHNN mà sau này được sửa đổi bổ sung bởi thông tư 36/2014/TT-NHNN, các NHTM phải duy trì hệ số này ở mức tối thiểu 9% Trong những năm qua, ACB luôn đảm bảo duy trì được tỉ lệ này ở mức trên 9%

Biểu đồ 2.3: So sánh tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất tại ACB và bình quân ngành ngân

hàng từ 2011 – 2015

Đơn vị: %

(Nguồn: Thời báo kinh tế Sài Gòn & Báo cáo thường niên ACB 2011-2015)

Bảng tổng hợp trên cho thấy ACB luôn đảm bảo chỉ số CAR của mình tuân thủ theo yêu cầu của NHNN, thậm chí trong giai đoạn 2012-2015 còn cao hơn nhiều so với quy định Chỉ số CAR của ACB tăng dần trong giai đoạn 2011-2013 khi tăng từ 9,25% lên đến 14,46% (đặc biệt có thể kể đến việc tăng đột biến 4,91% từ năm 2011 sang 2012) do vốn tự có của ACB tăng rất nhỏ tuy nhiên TS có rủi ro của ngân hàng lại giảm mạnh; giai đoạn 2013-2015, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu duy trì khá ổn định quanh mốc 14%, đến cuối năm 2015 giảm xuống còn 12,8%

Khi so sánh với ngành, chỉ số CAR của ACB tăng đột biến từ năm 2011 đến năm

2012 và vượt qua trung bình ngành Tuy nhiên, đi sâu vào phân tích có thể thấy nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng này có phần tiêu cực: vốn tự có của ACB từ năm 2011 đến năm

2012 tăng với tốc độ rất nhỏ, khi mà vốn điều lệ và dự phòng chung không đổi còn LN giữ lại giảm, sự tăng lên của các quỹ đã giúp vốn tự có tăng lên rất nhỏ Trong khi đó, TS

9.25

12.811.92

ACB Bình quân ngành

Trang 30

có rủi ro chuyển đổi của ACB lại có xu hướng giảm mạnh, nằm chủ yếu ở khoản mục tiền gửi,vàng và cho vay các TCTD khác (giảm khoảng 59.300 tỷ đồng - ứng với mức giảm 73%) Như vậy, việc chỉ số CAR tăng lên do quy mô TS của ngân hàng giảm là dấu hiệu không tích cực, cho thấy ngân hàng đang bị thụt lùi so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành

Những năm sau đó, ACB đảm bảo được duy trì tốc độ tăng của vốn tự có tương đồng với tốc độ tăng của TS có rủi ro nên chỉ số CAR được duy trì ở mức 14% Cụ thể, ngân hàng không phát hành thêm cổ phiếu để bổ sung vốn điều lệ mà thay vào đó, ACB tăng vốn tự có chủ yếu bằng việc tăng các quỹ và LN giữ lại của mình, ngoài ra ACB cũng bớt đầu tư dàn trải vào những công ty hay TCTD khác mà chỉ chủ yếu tập trung các công ty con của mình và hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng, góp phần làm tăng vốn tự

có Bên cạnh đó, quy mô TS có rủi ro của ngân hàng cũng tăng, đặc biệt là năm 2015, khi

mà TS có rủi ro tăng với tốc độ tương đối lớn (do tăng trưởng tín dụng trong năm lớn, tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt trên 15%) Trong khi vốn tự có tăng với tốc độ chậm hơn làm cho chỉ số CAR của ACB giảm xuống, nhỏ hơn so với trung bình ngành

2.2.2.1.2 Vốn chủ sở hữu

VCSH của ACB biến động khá thất thường, cụ thể, VCSH tăng mạnh từ 11.959 tỷ đồng năm 2011 lên đến 12.624 tỷ đồng năm 2012 (tương đương với mức tăng 5,56%) Tuy nhiên, trong liên tiếp 2 giai đoạn sau đó, VCSH lại giảm mỗi năm khoảng 100 tỷ đồng Cho đến năm 2015, VCSH mới tăng trở lại từ 12.397 tỷ đồng lên 12.788 tỷ đồng (ứng với mức tăng 3,15%)

Duới đây là những thành phần trong VCSH của ACB giai đoạn 2011-2015 và có được kết quả ở bảng dưới đây:

Bảng 2.1: VSCH của ACB cuối các năm 2011-2015

Trang 31

Có thể thấy rõ là vốn điều lệ của ACB ổn định suốt trong cả thời kì,chứng tỏ ACB không phát hành them cổ phiếu mới hay trả cổ tức bằng cổ phiếu khiến cho vốn điều lệ không thay đổi Xu thế toàn ngành thời kì này là tăng VCSH một phần thông qua việc tăng vốn điều lệ bằng việc phát hành thêm cổ phiếu hoặc thực hiện các thương vụ mua bán-sáp nhập, điều này giúp họ tăng cường vốn tự có từ đó làm tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR cũng như tạo ra một tấm đệm vốn cho các rủi ro có thể xảy ra Hơn nữa, tăng vốn cũng là tiền đề để các NHTM có thể mở rộng quy mô của mình, cạnh tranh trước mắt

là với các NHTM nội mà xa hơn nữa là cho cuộc chiến với các NHTM ngoại khi thị trường tài chính mở cửa và hội nhập sâu rộng Điều này làm cho ACB dần lép vế so với các ngân hàng trong ngành về quy mô VCSH lẫn tổng TS

Một nguyên nhân khác dẫn đến sự suy giảm VCSH của ACB đó là NHTM này tăng cường nắm giữ cổ phiếu quỹ, ACB mua vào 259 tỷ đồng cổ phiếu quỹ vào năm 2013 và con số này tăng lên khoảng 666 tỷ đồng cho đến cuối năm 2015

LN chưa phân phối của ACB giảm từ 829 tỷ đồng năm 2011 xuống 665 tỷ đồng năm

2012 là hệ quả của vụ án của Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên) và đồng phạm xảy ra vào tháng 9/2012 Sự kiện đã khiến cho ACB gặp nhiều khó khăn trong việc kinh doanh cũng như phải dùng đến phần LN giữ lại cho những chi phí để khắc phục sự cố xảy ra Tuy nhiên, nỗ lực sau đó của ACB rất đáng ghi nhận khi ngay trong năm 2013, LN giữ lại đã tăng đến mức 1.352 tỷ đồng và tăng dần trong những năm sau đó (cuối năm 2015 là 1.702

tỷ đồng)

2.2.2.1.3 Hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu sử dụng tính đòn bẩy tài chính tại ACB từ 2011-2015

(Nguồn: BCTC ACB các năm 2011-2015)

Thông qua bảng trên, một cách tổng quát, ta có thể thấy mức độ sử dụng đòn bấy tài chính của ACB giảm từ năm 2011 đến 2015 (đặc biệt là sự sụt giảm mạnh mẽ từ 23,5 lần năm 2011 xuống 13,4 lần vào năm 2012) Giai đoạn 2014-2015, ACB bắt đầu tăng trở lại việc sử dụng đòn bẩy tài chính tuy nhiên mức tăng còn chậm

Đi sâu phân tích kĩ lưỡng để làm rõ sự sụt giảm lớn của FL từ năm 2011 đến năm

2012 Việc Nguyễn Đức Kiên bị bắt vì những hành vi phạm pháp của mình đã ảnh hưởng lớn tới hình ảnh và uy tín của ACB trong mắt khách hàng Hệ quả là khách hàng kéo đến

Trang 32

ACB rút tiền ồ ạt khiến ngân hàng nằm trong tình trạng thanh khoản gay gắt và lớn hơn nữa là việc nguồn vốn huy động được từ khách hàng sụt giảm nghiêm trọng Đây chính là nguyên nhân chính và quan trọng nhất khiến cho tổng TS của ACB giảm mạnh từ 281.019

tỷ đồng năm 2011 xuống 176.308 tỷ đồng năm 2012 (ứng với mức giảm trên 37%) – một mức giảm hết lớn, thậm chí hậu quả còn kéo dài cho đến năm 2013 khi tổng TS còn tiếp tục giảm so với năm 2012 Việc tổng TS giảm với tốc độ lớn như vậy đã khiến cho mọi nỗ lực tăng VCSH trong năm 2012 trở nên không có ý nghĩa và khiến đòn bẩy tài chính giảm từ 23,5 lần xuống 13,4 lần

Giảm sử dụng đòn bấy tài chính đã dẫn đến hệ quả cũng như là nguyên nhân chính khiến cho khả năng sinh lời cho chủ sở hữu của ACB cũng đã giảm mạnh(chỉ số ROE giảm từ 27,5% năm 2011 xuống quanh mức 7% ở những năm sau) Năm 2014 và 2015, khi mà ACB tận dụng trở lại được đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời trên VCSH mới bắt đầu tăng trở lại và lên đến mức 8,2% vào năm 2015

Biểu đồ 2.4: Bảng tổng hợp mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của một số ngân

hàng lớn

(Nguồn: BCTC các ngân hàng trên giai đoạn 2011-2015)

Năm 2011, ACB có hệ số nhân vốn cao nhất trong nhóm ngân hàng trên thi mà FL ở

mức 23,5 (cao hơn nhiều so với ngân hàng đứng thứ 2 là BIDV ở mức 16,7) Điều này cho thấy ACB tận dụng triệt để đòn bẩy tài chính để đem lại LN cho chủ sở hữu, minh chứng là chỉ số ROE của ACB là 27,5%, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình ngành vào năm 2011 là 14,4% Tuy nhiên việc tỷ trọng nợ quá cao như vậy cũng sẽ đem lại những rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng, đặc biệt khi các khoản thanh toán đến hạn

Năm 2012 và 2013, theo những phân tích về TS và VCSH nêu trên, FL của ACB

giảm xuống sâu xuống khoảng 13,4, tuy nhiên vẫn ở mức trung bình so ngành ( năm

Trang 33

2012) Điều này cho thấy ACB vẫn tận dụng được đòn bẩy tài chính và sử dụng với mức độ an toàn khi xem xét với toàn ngành, kết quả là chỉ số ROE của ACB chỉ thấp hơn bình quân ngành trong năm 2012

Năm 2014 và 2015, ACB bắt đầu tăng trưởng trở lại, quy mô VCSH tăng với tốc độ

rất chậm nhưng bên cạnh đó, tổng TS của ACB tăng tương đối từ năm 2013 sang 2014 và đặc biệt tăng trưởng mạnh từ năm 2014 sang năm 2015 (tổng TS tăng tới khoảng 24.800

tỷ đồng, ứng với mức tăng 14%) Từ tất cả yếu tố đó, FL của ACB đã tăng lên 15,8 lần vào năm 2015 Từ năm 2013 đến năm 2015, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của ACB luôn đứng thứ hai toàn ngành (chỉ sau BIDV), điều này cho thấy mức độ tận dụng đòn bẩy tài chính của ACB, kết quả là chỉ số ROE từ năm 2013 trở đi của ACB luôn lớn hơn mức trung bình ngành Tuy nhiên, đó cũng là dấu hiệu rủi ro vì tỷ trọng nợ của ACB cao hơn so với toàn ngành, dễ gặp phải rủi ro thanh khoản cho nhu cầu rút tiền trong tương lai của khách hàng

2.2.2.1.4 Mức độ rủi ro các hoạt động ngoại bảng

Những năm gần đây, tốc độ phát triển của các hoạt động ngoài bảng tăng nhiều hơn

so với hoạt động nội bảng truyền thống, do hoạt động huy động vốn gặp nhiều khó khăn, cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng, hơn nữa hoạt động tín dụng tăng chậm, khả năng hấp thụ vốn của nên kinh tế kém

Hoạt động ngoại bảng của NHTM chủ yếu là bảo lãnh, thư tín dụng,… Nội dung chủ yếu của các hoạt động này là khi khách hàng không có khả năng hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình với bên thứ ba thì ngân hàng sẽ đứng ra thực hiện thay và sau đó khách hàng sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính với ngân hàng Rủi ro thường xuyên xảy ra nhất là khách hàng mất khả năng thanh toán và không thể thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng Để phòng ngừa những rủi ro đó, ACB đã ban hành những quy định cụ thể, có thể kể đến :

- Với nghiệp vụ bảo lãnh, ban hành Quy chế bảo lãnh với khách hàng, quy định rõ các điều kiện cấp bảo lãnh, quản lý, thẩm định, xét duyệt, thẩm quyền ký hợp đồng… tất cả được thực hiện chặt chẽ như một khoản vay

- Đối với nghiệp vụ phát hành thư tín dụng, quy trình, thủ tục và thẩm quyền cấp cũng được thực hiện tương tự như đối với khoản vay, tuy nhiên ngoài ra còn có các nội dung yêu cầu thẩm định, đánh giá bắt buộc đối với nghiệp vụ mở L/C

Ngoài ra một phần hoặc toàn bộ các khoản mục ngoại bảng đều có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc đảm bảo bằng giá trị ký quỹ

Trang 34

Bảng 2.3: Tình hình các khoản ngoại bảng của ACB giai đoạn 2011-2015

(Nguồn: BCTC ACB các năm 2011-2015)

Dựa vào bảng trên ta có thể thấy rõ ràng có hai giai đoạn khác biệt Giai đoạn 1, từ năm 2011-2013, nghĩa vụ nợ tiềm ẩn của ACB tăng tương đối đều qua các năm, đi theo đó là sự ổn định về tỷ trọng nghĩa vụ nợ tiềm ẩn trên VCSH, ở mức khoảng 58%, cho thấy một sự an toàn nhất định khi VCSH có đủ khả năng giải quyết các nghĩa vụ nợ tiềm

ẩn khi tất cả xảy ra cùng một lúc (mặc dù điều này là không thể) Về cấu thành của nghĩa vụ nợ tiềm ẩn, một tỷ trọng tương đối cân bằng giữa các cam kết bảo lãnh và thư tín dụng Riêng chỉ có năm 2012, cam kết bảo lãnh có tỷ trọng trội hơn so với thư tín dụng (59% so với 41%)

Giai đoạn thứ 2, đó là từ năm 2014 và 2015 Khi đó, nghĩa vụ nợ tiềm ẩn tăng đột biến từ 7.244 tỷ đồng năm 2013 lên 19.608 tỷ và 18.785 tỷ đồng năm 2015, đi kèm theo đó là tỷ lệ nghĩa vụ nợ tiềm ẩn trên VCSH cũng tăng mạnh lên 158% và 147% Đi sâu vào phân tích ta có thể thấy, các nghĩa vụ bảo lãnh cũng như cam kết thư tín dụng tăng trưởng với tốc độ tương đối ổn định, và sự khác biệt làm nghĩa vụ nợ tiềm ẩn tăng đột biến như vậy là do có sự bổ sung của khoản mục cam kết giao dịch hối đoái vào tổng nghĩa vụ nợ tiềm ẩn (khoản mục này có giá trị khoảng 10.100 tỷ) Khi các cam kết giao dịch hối đoái được thực hiện, sẽ làm ảnh hưởng lớn đến các khoản mục nội bảng Tuy nhiên, với các cam kết bảo lãnh và thanh toán thư tín dụng, mức độ nghĩa vụ phải thực hiện hay khả năng ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ hay không là khó dự đoán được bởi nó ảnh hưởng từ nhiều yếu tố và ngân hàng không kiểm soát chắc chắn được điều này Khi khách hàng đã thực hiện nghĩa vụ với bên thứ 3 thì ngân hàng không cần phải thực hiện nghĩa vụ nữa hoặc khách hàng đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thì ngân hàng chỉ cần hoàn thành phần còn lại của nghĩa vụ Còn đối với các cam kết giao dịch hối đoái, mức độ thực hiện cũng như khả năng thực hiện các nghĩa vụ ngân hàng nắm chắc và có khả năng kiểm soát cũng như có các phương án khi nghĩa vụ xảy ra một cách dễ dàng hơn Hơn nữa, xác

Trang 35

suất các nghĩa xảy ra cùng một lúc là rất thấp, có thể nói bằng 0, do đó việc tỷ trọng nghĩa vụ nợ tiềm ẩn trên VCSH lớn hơn so với con số 100% chưa phải là dấu hiệu cho thấy rủi

ro có thể xảy ra

2.2.2.2 A- Assets Quality- Chất lượng tài sản

2.2.2.2.1 Kết cấu tài sản có

Bảng 2.4: Sự biến động về TS có của ACB cuối các năm từ 2011 đến 2015

Trang 36

(Nguồn: BCTC ACB các năm 2011-2015)

Khoản mục tiền mặt và tương đương ti ền: khoản mục có giá trị tương đối lớn

trong năm 2011 và 2012 (tương ứng là khoảng 8.700 và 7.100 tỷ đồng), xét về tỷ trọng thì khoản mục này cũng chiếm khoảng 3-4% trên tổng TS Tuy nhiên, trong 3 năm tiếp theo, khoản mục này chỉ còn có giá trị khoảng 2.000-2.800 tỷ đồng và tăng dần qua các năm; về tỷ trọng thì tiền và tương đương tiền cũng đã giảm xuống chỉ còn khoảng 1,4% trên tổng TS Tiền và tương đương tiền là khoản mục không sinh lời hoặc sinh lời rất thấp, do đó ngân hàng có xu hướng hạn chế mức nắm giữ tiền mặt mà thay vào đó đầu tư vào những tài sản khác có mức sinh lời cao hơn, từ đó sử dụng hiệu quả TS của mình Do đó, sự chuyển dịch cơ cấu trên là hợp lý

Khoản mục tiền gửi tại NHNN: khoản mục này tăng giá trị từ khoảng 5.000 tỷ

năm 2011 lên đến khoảng 5.600 tỷ năm 2012 nhưng sau đó lại giảm xuống chỉ còn khoảng 3.100 tỷ năm 2013 và dần tăng trở lại trong những năm sau (năm 2015 có giá trị

là 4.600 tỷ đồng) Tỷ trọng của khoản tiền gửi NHNN trên tổng TS giữ vững ở mức 2%, chỉ có năm 2012 là tỷ trọng lên tới 3,2% Có thể thấy tỷ trọng của khoản mục này trên tổng TS là nhỏ và tương đối ổn định bởi ACB chỉ gửi tiền tại NHNN nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc và một phần tiền gửi thanh toán để tham gia các giao dịch với NHNN và các NHTM khác Do đó, sự thay đổi giữa các năm là không đáng kể

Khoản mục tiền gửi và cho vay các TCTD khác: cho thấy sự thay đổi lớn và rõ

rệt khi mà giá trị từ 81.000 tỷ năm 2011 giảm sâu xuống còn 22.000 tỷ năm 2012 và 7.200 tỷ năm 2013, đến năm 2015 mới tăng trở lại khoảng 10.100 tỷ đồng Tỷ trọng khoản mục trên tổng TS cũng thay đổi đáng kể khi giảm từ khoảng 29% năm 2011 xuống 12% năm 2012 và thậm chí 2,5% năm 2014 Điều này là tất yếu và hợp lý, khi mà năm

2011 và 2012, ACB chủ yếu là gửi tiền có kỳ hạn tại các ngân hàng khác, mức sinh lời sẽ

Trang 37

không thể hấp dẫn bằng việc họ đem lượng tiền đó cho vay khách hàng hoặc đầu tư vào những hoạt động kinh doanh khác Sự chuyển dịch cơ cấu nêu trên là hoàn toàn hợp lý

Khoản mục dư nợ cho vay khách hàng: xét về mặt giá trị, dư nợ cho vay khách

hàng tăng dần đều trong thời kì này (từ khoảng 101.800 tỷ đồng năm 2011 lên 132.500 tỷ đồng năm 2015, đạt mức tăng trưởng CAGR khoảng 6,8%/năm) Xét về tỷ trọng, ta có thể thấy khoản tỷ trọng khoản mục này tăng lên qua các năm và mức tăng thực sự mạnh mẽ từ năm 2011 sang năm 2012 (từ 36,2% lên đến 57,5% - kết quả của sự chuyển dịch cơ cấu

TS từ khoản mục tiền gửi tại các TCTD khác sang)

Khoản mục chứng khoán đầu tư: tăng giảm thất thường giữa các năm, tuy nhiên

có thể thấy giá trị của khoản mục này năm 2011 và 2012 là nhỏ hơn khá nhiều so với giai đoạn 2013-2015 (khoảng 25.000 tỷ đồng so với 35.000 tỷ đồng) Xét về cơ cấu, tỷ trọng của khoản mục này cũng đã tăng từ khoảng 9% năm 2011 lên khoảng 14% năm 2012 và khoảng 20% trong những năm sau Trong thời kì này, các ngân hàng không để tín dụng tăng trưởng quá nóng do quá nhiều rủi ro có thể xảy ra mà họ không thể kiểm soát được nên cách an toàn nhất hơn là hạn chế cho vay và chuyển bớt tỷ trọng sang những kênh đầu

tư khác trong đó có chứng khoán (chủ yếu là chứng khoán giữ đến ngày đáo hạn, đặc biệt

là Trái phiếu Chính Phủ)

Khoản mục TS có khác: có giá trị rất lớn về cả mặt giá trị và tỷ trọng vào năm

2011 (lần lượt là 51.390 tỷ đồng và 18,3%) và giảm mạnh về giá trị cũng như tỷ trọng trong giai đoạn sau đó Nguyên nhân của sự thay đổi lớn này là do trong TS có khác năm

2011 chủ yếu là các khoản phải thu khách hàng (41.000 tỷ đồng) liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng cũng như các khoản ký quỹ cho đối tác trong việc đảm bảo thực hiện giao dịch hợp đồng kỳ hạn vàng Sau khi tất toán được khoản tiền lớn như vậy, ACB đã hạn chế để khách hàng nợ lớn như vậy trong những năm sau dẫn đến sự ổn định hơn cho khoản mục trên

2.2.2.2.2 Chất lượng, cơ cấu danh mục cho vay khách hàng của ACB từ 2011 đến 2015

a Chính sách tín dụng

Tín dụng luôn là hoạt động cốt lõi, đem lại TN và LN chính cho NHTM Trong bối cảnh kinh tế khó khăn bởi cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng và các điều kiện kinh tế vi mô, ACB hàng năm đều phải xác định chính sách tín dụng của mình một cách hợp lý với tình thế và thực lực mình có

Kể từ năm 2011, ACB đã xác định phải tập trung nhiều hơn vào đối tượng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) và đẩy mạnh, nâng cao để trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam Chính sách trên của ACB được bắt nguồn bởi lý do sau: (1) ACB và các NHTM cổ phần khác có quy mô tương đồng khó cạnh tranh với nhóm NHTM Nhà nước bởi hạn chế hơn về quy mô do đó bị thua thiệt trong mảng bán buôn; (2) thị trường là phân khúc phù hợp với tiềm lực của ACB Ngoài ra, theo thống kê của E&Y, hiện nay chỉ có khoảng 25-30% dân số Việt Nam sử dụng các dịch vụ của ngân

Trang 38

hàng – một thị trường lớn chưa được khai thác triệt để Hơn nữa, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, các sản phẩm ngân hàng hiện đại dựa nhiều vào công nghệ số sẽ dễ dàng tiếp cận khách hàng cũng như tiết kiệm chi phí hơn

b Tăng trưởng tín dụng

Biểu đồ 2.5: Tăng trưởng cho vay khách hàng tại ACB từ 2011-2015

Đơn vị: tỷ đồng ; %

(Nguồn: Tổng hợp từ BCTC ACB các năm 2011-2015)

Sau năm tăng trưởng nóng 2011 (tốc độ tăng trưởng tín dụng cho vay khách hàng đạt 17,9%) thì năm 2012, tốc độ tăng trưởng tín dụng gần như chỉ đạt 0% Tuy nhiên, trong giai đoạn sau đó, tín dụng tăng trưởng trở lại và thực sự mạnh mẽ vào năm 2015 khi mà tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt tới 15,2%

Năm 2011 là một năm tăng trưởng lớn về tín dụng không chỉ riêng ACB mà của toàn ngành ngân hàng Hơn nữa, năm 2012 là năm đầu tiên trong đề án tái cơ cấu của NHNN, các ngân hàng dè dặt hơn trong cho vay để khống chế nợ xấu hơn là cố gắng tăng dư nợ tín dụng mà có thể gặp nhiều rủi ro từ nợ xấu Hơn nữa, sự cố xảy ra với ACB vào tháng 9/2012 cũng đã làm ảnh hưởng tới uy tín của ACB với khách hàng, từ đó hạn chế khả năng mở rộng quy mô TS của ngân hàng

Giai đoạn sau đó, khi mà nền kinh tế dần hồi phục trở lại, ACB cũng dần khắc phục được hậu quả năm 2012, ngân hàng bắt đầu trên con đường tìm lại chính mình Ngoài công tác quản lý nợ xấu, ACB cũng nỗ lực tăng trưởng tín dụng để lấy lại thị phần vốn có của mình, đặc biệt, ACB tập trung nhiều hơn vào phân khúc khách hàng cá nhân bởi mảng bán lẻ còn nhiều tiềm năng cần khai thác và cũng phù hợp hơn với quy mô của ACB (như đã phân tích ở trên) Điều đó dẫn đến tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng đều qua

102809 102815 107190

116324

134032 17.90%

Trang 39

các năm, đặc biệt là trong năm 2015, cùng với những dấu hiệu tích cực của nền kinh tế, ACB đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt tới trên 15% - kết quả hết sức khả quan của quá trình mở rộng quy mô tại ACB

c Cơ cấu danh mục cho vay

 Theo kỳ hạn khoản vay

Biểu đồ 2.6: Dư nợ cho vay khách hàng theo kỳ hạn

Đơn vị: tỷ đồng

(Nguồn: BCTC ACB các năm 2011-2015)

Biểu đồ 2.7: Cơ cấu dư nợ cho vay khách hàng theo kỳ hạn

Đơn vị: %

(Nguồn: BCTC ACB các năm 2011-2015)

53361 55878 56838 58568 62611

27484 19406

17209 19047 21342

21964 27530 33143 38708

Trang 40

Dư nợ cho vay ngắn hạn và dài hạn đều có xu hướng tăng trong thời kì trên, cụ thể dư nợ cho vay ngắn hạn tăng từ khoảng 53.400 tỷ năm 2011 lên 62.600 tỷ đồng năm 2015 (đặt tốc độ tăng trưởng CAGR khoảng 4%/năm); dư nợ cho vay dài hạn tăng từ khoảng 22.000 tỷ năm 2011 lên đến 50.000 tỷ đồng năm 2015 (đạt tốc độ tăng trưởng CAGR tương đương 22,8%/năm – một con số rất ấn tượng) Đi theo chiều hướng khác, dư nợ cho vay trung hạn giảm từ năm 2011 đến năm 2013 và tăng trở lại từ năm 2013 đến năm

2015

Xét về cơ cấu, có thể thấy một sự chuyển dịch rõ rệt về kì hạn cho vay khi ACB chuyển dịch tỷ trọng cho vay trung hạn (từ 26,7% năm 2011 xuống 16% năm 2015) sang cho vay dài hạn (từ 21,4% năm 2011 lên 37,3% năm 2015) Điều này là hợp lý khi ACB muốn áp dụng chiến lược Barbell trong chiến lược lựa chọn kỳ hạn của mình, đồng thời nắm giữ khoản vay có kì hạn ngắn và kì hạn dài sẽ giúp ngân hàng vừa dễ dàng trong thanh khoản vừa có được LN, sẽ thuận lợi và dễ dàng quản lý rủi ro lãi suất hơn so với việc nắm giữ nhiều khoản vay trung hạn

Ngày đăng: 20/05/2017, 21:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức tại ACB. - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức tại ACB (Trang 26)
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu sử dụng tính đòn bẩy tài chính tại ACB từ 2011-2015. - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu sử dụng tính đòn bẩy tài chính tại ACB từ 2011-2015 (Trang 31)
Biểu đồ 2.4: Bảng tổng hợp mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của một số ngân - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
i ểu đồ 2.4: Bảng tổng hợp mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của một số ngân (Trang 32)
Bảng 2.3: Tình hình các khoản ngoại bảng của ACB giai đoạn 2011-2015 - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Bảng 2.3 Tình hình các khoản ngoại bảng của ACB giai đoạn 2011-2015 (Trang 34)
Bảng 2.4: Sự biến động về TS có của ACB  cuối các  năm từ 2011 đến 2015 - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Bảng 2.4 Sự biến động về TS có của ACB cuối các năm từ 2011 đến 2015 (Trang 35)
Bảng 2.5: Dư nợ, tỷ trọng cho vay theo nhóm nợ. - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Bảng 2.5 Dư nợ, tỷ trọng cho vay theo nhóm nợ (Trang 42)
Bảng 2.7: Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tại ACB 2011-2015. - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Bảng 2.7 Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tại ACB 2011-2015 (Trang 44)
Sơ đồ 2 : Cơ cấu tổ chức bộ máy QTRRTD  tại ACB - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Sơ đồ 2 Cơ cấu tổ chức bộ máy QTRRTD tại ACB (Trang 48)
Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu cơ bản của ACB  giai đoạn 2011-2015. - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Bảng 2.9 Một số chỉ tiêu cơ bản của ACB giai đoạn 2011-2015 (Trang 53)
Bảng 2.8: Tổng hợp hoạt động đào tạo ACB thời kì 2011-2015. - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Bảng 2.8 Tổng hợp hoạt động đào tạo ACB thời kì 2011-2015 (Trang 53)
Bảng 2.10: Tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ACB giai đoạn 2011-2015. - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Bảng 2.10 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ACB giai đoạn 2011-2015 (Trang 57)
Bảng 2.12: Chỉ số H2 của ACB  giai đoạn 2011 - 2013 - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
Bảng 2.12 Chỉ số H2 của ACB giai đoạn 2011 - 2013 (Trang 60)
Phụ lục 4: Bảng cân đối kế toán ACB giai đoạn 2011-2015. - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU QUA mô HÌNH CAMELS 1 1
h ụ lục 4: Bảng cân đối kế toán ACB giai đoạn 2011-2015 (Trang 85)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w