Hội nhập kinh tế cũng là cơ hội thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực bởi những yêu cầu đặt ra ngày một cao hơn trong các lĩnh vực, đặc biệt với các nước phát triển có nền khoa học và kỹ th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
VŨ ĐỨC HÒA
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
VŨ ĐỨC HÒA
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn khoa học Các số liệu và trích dẫn được
sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy từ thực tế nghiên cứu
Trang 4và thực tiễn
Tôi giả xin chân thành cảm ơn thầy Tiến sĩ Dương Ngọc Thanh đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình trong chuyên môn và phương pháp tiếp cận, nghiên cứu và cho tôi những ý kiến đóng góp sâu sắc trong quá trình thực hiện
Tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới Nhà xuất bản thông tin và truyền thông- Bộ thông tin và truyền thông đã cung cấp và giúp tôi có được thông tin cho luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Trường đại học Kinh tế
- Đại học Quốc gia Hà Nội và những cá nhân, tổ chức đã giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Với những nỗ lực của bản thân trong nghiên cứu hoàn thành luận văn chắc chắn sẽ không tránh có những thiếu sót, tôi rất mong nhận được đóng góp của quý Thầy, Cô và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Kính chúc Thầy, Cô, các thành viên trong nhà xuất bản - Bộ thông tin
và Truyền thông và bàn bè lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CNTT TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.2 Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực 9
1.2.1 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực 9
1.2.2 Khái niệm công nghệ thông tin, nguồn nhân lực CNTT và phát triển NNL CNTT 10
1.2.3 Nội dung phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin 12
1.2.4 Vai trò của phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin 17
1.3 Cơ sở thực tiễn phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin 19
1.3.1.Tiêu chí phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin 19
1.3.2.Các nhân tố ảnh hưởng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin 21
1.3.3.Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 28
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36
2.1 Phương pháp luận 36
2.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp 37
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM 40
Trang 63.1 Thực trạng phát triển của ngành CNTT 40
3.1.1 Thực trạng phát triển ngành CNTT ở Việt Nam 40
3.1.2 Thực trạng các ngành chuyên môn CNTT 45
3.2 Thực trạng Phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam 49
3.2.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam 49
3.2.2 Kỹ năng và các tiêu chuẩn của nguồn nhân lực CNTT 62
3.2.3 Trình độ chuyên môn 64
3.2.4 Thực trạng phát triển, cơ cấu nguồn nhân lực CNTT 65
3.3 Đánh giá chung 68
3.3.1 Kết quả đạt được 69
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 71
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM 76
4.1 Dự báo tình hình 76
4.2 Xu hướng và nhu cầu trong bối cảnh hội nhập 79
4.2.1 Xu hướng phát triển 79
4.2.2 Nhu cầu về nhân lực CNTT 80
4.2.3 Mục tiêu phát triển 81
4.3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực CNTT tại Việt Nam 81
4.3.1 Chính sách NN về phát triển nguồn nhân lực CNTT 81
4.3.2 Thúc đẩy chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CNTT 83
4.3.3 Phát triển số lượng cho nguồn nhân lực 85
4.3.4 Phát triển chất lượng cho nguồn nhân lực 86
4.3.5 Phát triển đa dạng nguồn nhân lực và giữ nguồn nhân lực 87
4.3.6 Giải pháp trong ứng dụng CNTT 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nguyên nghĩa
1 BTTTT Bộ thông tin và truyển thông
3 ĐH, CĐ Đại học, Cao đẳng
6 MOOC Những khóa học mở lớn trực tuyến (Massive
Open Online Course)
8 SMAC và IoT Xã hội, di động, phân tích và đám mây; mọi thứ
trên internet (Social, Mobile, Analytics, Cloud; internet of things)
9 TT-TT Thông tin Truyền thông
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Thống kê chi phí cho ngành phần mềm và CN dịch
2 Bảng 1.2 Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp gia công
3 Bảng 3.1 Bảng thống kê Doanh nghiệp đăng ký hoạt động
4 Bảng 3.2 Bảng tăng trưởng doanh thu công nghiệp CNTT 42
6 Bảng 3.4 Số lượng học sinh, sinh viên theo học ngành CNTT
8 Bảng 3.6 Nhân lực CNTT trong cơ quan nhà nước 59
9 Bảng 3.7 Bảng thống kê nhu cầu chuyên môn điển hình 67
10 Bảng 3.8 Số lượng học sinh, sinh viên theo học ngành CNTT
11 Bảng 3.9 Bảng số liệu thống kê số lượng lao động CNTT đến
13 Bảng 4.2 Danh sách 10 hãng công nghệ trả lương kỹ sư hậu
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1 Mô hình định hướng phát triển nguồn nhân lực
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nguồn nhân lực và tìm các phương pháp để cho phát triển phù hợp cho từng giai đoạn là mục tiêu đặt ra trong hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt là nguồn nhân lực CNTT Thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế trước hết thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực CNTT trong hội nhập kinh tế là nòng cốt để thực hiện nhanh hơn công cuộc này
Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ làm cho các nước tham gia sẽ phải chịu một
áp lực rất lớn về nguồn nhân lực, nó đòi hỏi chất lượng cao của nguồn nhân lực đáp ứng các tiêu chuẩn trong hội nhập, đặc biệt nước ta đang trong thời kỳ đổi mới sẽ có nhiều thách thức hơn Hội nhập kinh tế cũng là cơ hội thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực bởi những yêu cầu đặt ra ngày một cao hơn trong các lĩnh vực, đặc biệt với các nước phát triển có nền khoa học và kỹ thuật phát triển thì chất lượng nguồn nhân lực, nguồn nhân lực công nghệ cao cần được tập trung phát triển
Hội nhập kinh tế quốc tế với nước phát triển hay đang phát triển đều mang lại cho nước ta những thuận lợi và đi kèm với đó là những thách thức
và thách thức sẽ lớn hơn khi hội nhập với các nước phát triển Với các nước phát triển có nền khoa học kỹ thuật cao, thì nhu cầu về nguồn nhân lực CNTT
sẽ càng lớn bởi các ngành công nghệ cao đặc biệt là công nghệ thông tin, nguồn nhân lực chính là yếu tố quan trọng nhất để phát triển, ứng dụng và phát huy vai trò của công nghệ thông tin tới các lĩnh vực khác và đồng thời các ngành khác cần nguồn nhân lực này để ứng dụng được công nghệ, phát triển các ngành nghề, bắt kịp được tiến trình hội nhập
Trong khi đó nước ta mới mở cửa và hội nhập trong gần hai thập kỷ, nguồn nhân lực chất lượng cao như nguồn nhân lực CNTT còn thiếu và còn nhiều hạn chế về chất lượng Xét về số lượng: theo thống kê gần đây, nguồn
Trang 11nhân lực CNTT tại các doanh nghiệp đang thiếu trầm trọng, nhu cầu tuyển dụng trong lĩnh vực CNTT là khoảng 250.000 lao động Theo hướng quy hoạch nhân lực quốc gia đến năm 2020, Việt Nam cần 1 triệu lao động trong lĩnh vực CNTT.Tuy nhiên, mỗi năm cả nước cũng chỉ đào tạo được khoảng 60.000 nhân lực không bao gồm nhân lực chuyển đổi tự phát
Các doanh nghiệp và tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hay tại nước ngoài sẽ là nơi thu hút nguồn nhân lực công nghệ này mạnh mẽ và nhiều nhất bởi các lợi thế sẵn có của họ như: Công nghệ, môi trường làm việc và cơ chế đãi ngộ Nguồn nhân lực đang vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng cho việc đáp ứng nhu cầu trong nước cộng thêm sức hút của các tổ chức doanh nghiệp bên ngoài sẽ càng làm cho nguồn nhân lực này thiếu trầm trọng hơn nữa
Trong chiến lược phát triển CNTT&TT giai đoạn 2010-2020, Thủ tướng Chính phủ đã xác định nhân lực CNTT là một trong bốn trụ cột chính cần phải quan tâm để thúc đẩy phát triển xã hội bền vững và hội nhập quốc tế Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020
Một đặc điểm lớn hơn cho nhân lực ngành này là nắm bắt thông tin nhanh nhạy hơn bởi họ tạo ra một cách gián tiếp hay trực tiếp thông tin, do vậy cơ hội để nắm bắt thông tin là lơn hơn so với ngành khác Chính việc được cập nhật và có thông tin với các nhân có năng lực trong ngành công nghệ thông tin có nhu cầu và thay đổi công việc với tốc độ và tần suất cao hơn, do vậy việc phát triển và quản lý nguồn nhân lực công nghệ cao này là một bài toán không chỉ nằm trong phạm vi cục bộ, địa phương mà còn diễn ra trên tầm quốc gia và toàn cầu đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Đây là một tồn tại khá lớn cho phát triển và quản lý nguồn nhân lực công nghệ thông tin nước ta
Trang 12Với mong muốn thu hút đầu tư, thúc đẩy CNTT phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế, với một nguồn nhân lực CNTT còn thiếu và yếu nhiều đến như vậy, sử dụng và quản lý còn rất nhiều khó khăn thì khó có thể thu hút được đầu tư nước ngoài cũng như trong nước về ngành này để thúc đẩy nền CNTT phát triển nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung Hơn nữa ngành CNTT với việc sử dụng nhân lực được phân chia thành các chuyên môn cơ bản như: Cơ sở dữ liệu; Hệ thống mạng; hệ thống thông tin; An toàn thông tin; Thiết kế và phát triển phần mềm, cần phải phân tích đánh giá để định hướng cài nào là trọng tâm, cái nào cần làm trước và các bước thực hiện cho từng chuyên môn để hội nhập và phát triển kinh tế
Do vậy tác giả chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” làm luận
văn thạc sỹ mong muốn nghiên cứu đề xuất giải pháp cho phát triển nguồn nhân lực này cho công tác phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, củng cố và thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin, xây dựng nền móng vững chắc trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng Tác giả lựa chọn phạm
vi rộng là cả nước với mục đích phân tích tổng quát tìm định hướng chung, xác định mục tiêu cho việc phát triển nhân lực CNTT lấy định hướng vĩ mô cho phát triển nguồn nhân lực CNTT để có thể cụ thể hóa trên từng địa phương, từng lĩnh vực
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực CNTT với mục đích tìm hiểu và làm rõ thực trạng của nguồn nhân lực này, những nhân tố ảnh hưởng tới nguồn nhân lực CNTT tại Việt Nam từ đó đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực này trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trong mục đích chung của nghiên cứu, tác giả đưa ra những nội dung cụ thể như:
Trang 13- Đưa ra những lý luận về phát triển nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực CNTT
- Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực CNTT tại Việt Nam trên góc độ
sử dụng, phát triển nguồn nhân lực này từ đó đưa ra thành công và hạn chế trong việc phát triển nguồn nhân lực CNTT
- Những nhân tố ảnh hưởng tới phát triển nguồn nhân lực CNTT tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực CNTT với mục tiêu đáp ứng về số lượng cũng như chất lượng trong bối cảnh này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về nhu cầu phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc phát triển nguồn nhân lực kỹ sư công nghệ thông tin của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế;
- Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực kỹ sư công nghệ thông tin đáp ứng cho nhu cầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sẽ gặp những khó khăn, thách thức gì?
- Giải pháp nào cho nhà nước phát triển nguồn nhân lực này cho hội nhập kinh tế quốc tế?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguồn nhân lực công nghệ thông tin và phân tích rõ thực trạng để phát triển nguồn nhân lực này tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 144.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực CNTT trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Do chính sách, vần đề về phát triển nguồn nhân lực CNTT khá rộng nên khuôn khổ để tài sẽ chỉ tập trung vào phân tích thực trạng sử dụng nguồn lực này doanh nghiệp CNTT và phương cách phát triển nguồn nhân lực này
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu giai đoạn từ 2009 đến năm 2014
5 Dự kiến đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực CNTT trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Đánh giá thực trạng của việc sử dụng và phát triển nguồn nhân lực CNTT tại Việt Nam
- Tổng hợp, phân tích và làm rõ nhu cầu thị trường thực tế về nguồn nhân lực CNTT và kinh nhiệm quốc tế để định hướng và giải quyết vấn đề này
- Đề xuất giải pháp cơ bản và chung nhất làm định hướng cho phát triển nguồn nhân lực CNTT trong bối cảnh hội nhập kinh tế, thay đổi quan điểm phát triển nguồn lực CNTT xuyên suốt trong quá trình hội nhập Thay vì nghiên cứu và đưa giải pháp để phát triển nguồn nhân lực trong từng chuyên môn của CNTT, luận văn hướng tới tổng hợp thông tin chung của ngành để
đề xuất giải pháp
- Luận văn làm tư liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu, học tập và giảng dạy
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, đề tài được chia làm 4 chương:
Chương 1: Tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực CNTT trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 15Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực CNTT tại Việt Nam Chương 4: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực CNTT tại Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CNTT TRONG BỐI CẢNH HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu khoa học Nước ngoài: Đề tài nghiên cứu “
Quản lý nguồn nhân lực CNTT thực hành với hiệu suất cao” của nhóm tác giả: Debra A.Major, Donald D.Dvis , Lisa M.Germano, Thomas D.Fletcher, Janis Sanchez-Hucles, And Joan Mann năm 2007 nhằm tìm kiếm và đánh giá các phương án tăng hiệu suất cho nguồn nhân lực CNTT, đề tài dựa trên khảo sát thực hiện, phân chia phân lớp nguồn nhân lực từ đó đưa các phương án làm tối ưu hiệu suất của NNL này Đề tài đi vào chi tiết về tăng hiệu suất, hướng tới kỹ năng thực hiện và quản lý nguồn nhân lực Đề tài “Những vấn
đề về nguồn nhân lực, những thách thức và chiến lược trong công nghiệp phần mềm tại Ấn Độ” bởi tác giả: Narendra M Agrawal – viện quản lý chiến lược Ấn Độ và Mohan Thite – trường đại học Griffit, Úc năm 2003 Nội dung của đề tài chỉ ra những thách thức về quản lý nguồn nhân lực CNTT, chiến lược tổ chức thúc đẩy nguồn nhân lực phần mềm bằng việc tạo ra những chuỗi giá trị và tạo ra những cơ hội học hỏi
Những công trình trên nghiên cứu về thực trạng về nguồn nhân lực, dựa trên những yếu tố của nguồn nhân lực, phân tích rõ điều kiện, điểm lợi thế của nguồn nhân lực trên ngành nghề, định hướng cần phát triển như thế nào, nhìn
rõ những biến chuyển khi đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để có những phương án sát thực thúc đẩy phát triển kinh tế ngành cũng như cho quốc gia
Các công trình khoa học trong nước:
Luận án, luận văn: Đề tài: Những thách thức trong quản lý và phát triển
nhân lực CNTT ở Việt Nam - Tác giả Bùi Như Uyên - Giám đốc phòng tổ
Trang 17chức và phát triển nguồn nhân lực – Bộ thông tin và truyền thông năm 2015
Đề tài đưa ra được thực trạng về CNTT thông qua, những chương trình đào tạo và các số liệu về NNL CNTT trong nước và đưa giải pháp về chiến lược phát triển CNTT và truyển thông Luận văn Thạc sĩ, ngành kinh tế chính trị - Đại học Kinh tế, đại học quốc gia Hà Nội về “Đào tạo nguồn nhân lực CNTT
ở Việt Nam ” năm 2008 Luận văn đi sâu tìm hiều nguồn nhân lực CNTT và phân tích tình hình đào tạo nguồn nhân lực CNTT của Việt Nam Luận án tiến
sĩ : Phát triển NNL CNTT trong tiến trình CNH, HĐH ở TP.HCM 2020; Luận văn thạc sĩ: Đào tạo NNL CNTT cho khu vực hành chính công của tỉnh Bình Định năm 2011; Luận ăn thạc sĩ: Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quóc tế hiện nay của Ngô Thị Quý – trường Đại Học khoa học xã hội và nhân văn năm 2014
Các bài tạp chí trong và ngoài nước: Tạp chí CNTT và truyền thông:
Chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT và tại sao lại cần chuẩn kỹ năng chuyên nghiệp cho NNL CNTT của Tô Hồng Nam trong TCTTTT Kỳ 2/6/2014 Tạp chí khoa học và công nghệ : Dự báo NNL CNTT của TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011-2020- tập thể tác giả ĐHBK – ĐHQG TP Hồ Chí Minh Dự
án tăng kỹ năng cao cho nhân lực CNTT và dự án phát triển nhân lực CNTT
do tổ chức IPA Nhật bản thực hiện Tổng quan về tình hình nhân lực
CNTT-TT thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008-2012; Dự thảo Chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT thành phố giai đoạn 2012-2015 của Tiến sĩ
Lê Thái Hỷ - giám đốc sỏ Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh
Các đề án, đề tài của Nhà Nước liên quan đến nguồn nhân lực CNTT:
Quyết định số: 698/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Đề án sớm đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về CNTT-TT
do thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án này đặt ra một loạt mục tiêu đầy
Trang 18tham vọng với ngành CNTT-TT từ nay đến năm 2015 và 2020 Một trong những mục tiêu chủ đạo là đưa ngành CNTT-TT trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tăng trưởng hàng năm cao gấp 2-3 lần tăng trưởng GDP, đồng thời phát triển nguồn nhân lực CNTT đạt chuẩn quốc tế và thiết lập hạ tầng viễn thông băng rộng trên phạm vi cả nước
Tác giả có thừa kế những tham luận, những phân tích, thành quả nghiên cứu của những công trình, đề án trong nước, nước ngoài và đặc biệt các thông tin thống kê cụ thể trên phạm vi cả nước là sách trắng về CNTT do Bộ TTTT phát hành để lấy thông tin, phân tích làm rõ tình hình thực tế về ngành CNTT
và nguồn nhân lực CNTT, đồng thời hệ thống hóa tiêu chí và thực hiện cho NNL CNTT trong giai đoạn gần đây từ đầu thế kỷ 21 của Việt Nam
Qua các bài viết trong và ngoài nước, các đề án tác giả chưa thấy đề tài nào phân tích đánh giá tổng thể tình hình phát triển nguồn nhân lực CNTT trên cả nước đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, mở cửa nền kinh tế, tham gia hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và quốc tế Đề tài nghiên cứu rộng trong phạm vi cả nước, tuy nhiên tác giả tập trung vào bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế để phân tích và xác định những hướng để thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin Với mục tiêu đánh giá tổng quan tình hình để
có đề xuất tổng thể cho phát triển nguồn nhân lực CNTT hiện đang là vấn đề cấp thiết cho phát triển nền kinh tế nói chung và nhu cầu về nguồn lực này với các đơn vị chuyên ngành CNTT nói riêng
1.2 Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực
1.2.1 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực là quá trình mở rộng cơ hội lựa chọn của từng người và của từng cộng đồng: ở đâu có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn, thì ở đó điều kiện phát triển nhân lực sẽ tốt hơn; Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng cường các năng lực lựa chọn cho từng cá nhân và từng cộng đồng: ở đâu
Trang 19nhân sự có năng lực lựa chọn cao hơn thì ở đó trình độ phát triển nhân lực cũng cao hơn; và quá trình mở rộng cơ hội và tăng cường năng lực lựa chọn chính là môi trường làm cho khả năng sáng tạo, sống khoẻ mạnh, được học hành,… của con người được tăng lên Như vậy, phát triển nhân lực là mục tiêu của sự phát triển và nhân lực chiếm vị thế trung tâm của sự phát triển
Phát triển nguồn nhân lực là tạo ra bộ khung giúp cho người lao động phát triển bản thân và những kỹ năng về tổ chức, kiến thức và năng lực của
họ Phát triển nguồn nhân lực bao gồm những cơ hội như: đào tạo, phát triển nghề nghiệp Trong khi đó một số tổ chức quốc tế lại có những cách nhìn nhận tổng quát hoặc theo những khía cạnh khác nhau như: Phát triển NNL là phương án giúp bản thân mỗi người phát triển những kỹ năng, kiến thức, khả năng Phát triển nguồn nhân lực bao gồm cả cơ hội trong đào tạo, phát triển nghề nghiệp, quản lý năng suất làm việc, xác định nhân lực chủ chốt, tư vấn, trưởng nhóm và tổ chức phát triển
Phát triển NNL là một phần của quản lý nguồn nhân lực mà nó đặc biệt giải quyết vấn đề đào tạo và phá triển nhân lực trong tổ chức Phát triển NNL bảo gồm đào tạo một cá nhân sau khi họ được thuê; mang lại cho họ cơ hội để học những kỹ năng mới, phân bố nguồn lực phù hợp với công việc của người lao động và phát triển các hoạt động khác Có một số cách hiểu mang tính học thuật khác như: Theo Leonard Nadler: Phát triển nguồn nhân lực là một chuỗi hoạt động có tổ chức nhằm giảm thiểu những yếu tố về thời gian chuyên biệt nhằm tạo ra những thay đổi trong tư duy, phương hướng sản xuất
1.2.2 Khái niệm công nghệ thông tin, nguồn nhân lực CNTT và phát triển NNL CNTT
Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin là một thuật ngữ bao gồm phần mềm, mạng lưới internet, hệ thống máy tính sử dụng cho việc phân phối và xử lý dữ liệu, trao đổi, lưu trữ và sử dụng thông tin dưới hình thức khác nhau (webopedia.com )
Trang 20Theo Harvard Business Review, với mục đích tạo nên một sự khác biệt giữa những chiếc máy xây dựng có chủ đích được thiết kế để thực hiện những chức năng giới hạn và chiến máy tính toán với mục đích tổng thể có khả năng lập trình đa nhiệm Công nghiệp máy tính, CNTT đã phát triển từ giữa thế kỷ
20, nó bao gồm công nghệ và tích hợp điện trở và các mạch điện tử trong đó thể hiện khả năng tính toán vượt trội, chi phí thấp và thiêu hao ít năng lượng hơn, vòng xoáy được liên tục tiếp diễn cho tới những công nghệ mới có được như ngày hôm nay
Khái niệm về nhân lực công nghệ thông tin
Theo quyết định số: 05/2007/QĐ-BTTTT của Bộ Thông tin và truyển
thông, nhân lực công nghệ thông tin được hiểu là: nguồn nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghiệp công nghệ thông tin; nhân lực cho ứng dụng công nghệ thông tin; nhân lực cho đào tạo công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông và nhân lực sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin
Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
Theo quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/06/2009 phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến 2015 và định hướng đến năm
2020 và khái niệm về nhân lực CNTT, phát triển nguồn nhân lực công nghệ
thông tin là: phát triển nguồn nhân lực làm công tác đào tạo về CNTT, điện
tử, viễn thông, nhân lực chuyên về CNTT, điện tử, viễn thông làm trong các doanh nghiệp và công nghiệp; nhân lực cho ứng dụng CNTT của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cán bộ, viên chức và mọi người dân sử dụng, ứng dụng tốt về CNTT
Mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính chuyên nghiệp, tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về
Trang 21nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai
Đặc biệt hơn, phát triển nguồn nhân lực CNTT trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngoài những mục tiêu trên còn phải đặt ra các tiêu chí, chuẩn kỹ năng
để nguồn nhân lực này đáp ứng được các đòi hỏi các tổ chức, đơn vị trong phát triển và ứng dụng CNTT bởi trong hội nhập kinh tế quốc tế chủ yếu với các nước phát triển đòi hỏi ngày một cao yếu tố con người, chỉ có những nhân lực đáp ứng được các tiêu chí, chuẩn kỹ năng thì mới đảm bảo khả năng hội nhập, hòa chung vào sự phát triển của thế giới
1.2.3 Nội dung phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
Để phát triển nguồn nhân lực bao gồm nhiều nội dung được cụ thể trên các hoạt động nhằm phát triển số lượng, chất lượng và kỹ năng đáp ứng được cầu thực tế của thị trường trong chuyên môn và các kỹ năng cần có của nhân lực CNTT Những chuyên môn, kỹ năng riêng của ngành CNTT có những đặc điểm riêng với nguồn nhân lực khác và nói đòi hỏi sự chuẩn hóa trong đặc thù công việc và theo tiêu chuẩn quốc tế Trong bối cảnh hội nhập, phát triển nguồn nhân lực CNTT còn phải hướng tới việc lĩnh hội với những công nghệ mới, tiếp thu khoa học công nghệ, vận hành và hòa nhập với xu thế quốc tế trong chuyên môn và sự phát triển của xã hội
1.2.3.1 Phát triển về số lượng nhân lực CNTT
Phát triển số lượng nhân lực CNTT với nội dung tìm các phương án tăng
số lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong ngành này và các ngành có sử dụng nhân lực CNTT Trong ngắn hạn và theo các giai đoạn phát triển, việc gia tăng số lượng nguồn nhân lực là rất cần thiết và cần dùng nhiều yếu tố để thúc đẩy phát triển số lượng Tuy nhiên kèm theo đó là những phương
Trang 22án phát triển chất lượng và khung chất lượng cho nguồn nhân lực này đáp ứng được các yêu cầu theo các mức độ khác nhau của cầu thị trường
Số lượng nguồn nhân lực CNTT được phân chia trên nguồn nhân lực ứng dụng, nguồn nhân lực đào tạo và nguồn nhân lực tạo ra sản phẩm CNTT Việc xác định số lượng cầu nguồn nhân lực bị ảnh hưởng bởi nhiều yều tố khác nhau, do đó cần có chiến lược và chính sách để có phương án phát triển số lượng nguồn nhân lực phù hợp bởi tình trạng thừa vẫn thừa và thiếu vẫn thiếu
đã và đang xảy ra Để xác định cần có định hướng phát triển, xác định trọng tâm, mục tiêu cụ thể cho thúc đẩy số lượng nguồn nhân lực theo từng loại
Khả năng phát triển số lượng nhân lực CNTT đặc biệt theo từng loại sẽ giúp cho tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp và rộng hơn là quốc gia định hình ngược lại chiến lược và phương hướng phát triển cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn, chủ động trong tổ chức, vận hành đảm bảo sức cạnh tranh đặc biệt hơn bởi đây là nhân lực chất lượng cao
Sự đa dạng trong chuyên môn của ngành CNTT là yếu tố thúc đẩy mạnh hơn phát triển số lượng nhân lực bởi sự khác nhau cơ bản trong các chuyên môn Mỗi chuyên môn khác nhau sẽ được ứng dụng và phát triển trên các công việc, công đoạn khác nhau trong các lĩnh vực cuộc sống Để chuyên môn hóa và nắm bắt chuyên sâu đảm bảo chất lượng cho từng chuyên môn cần phát triển số lượng bởi sự chia tách và đạo tạo chuyên sâu càng cao thì chất lượng chuyên môn càng lớn
Trong bối cảnh hội nhập, sự cần thiết trong phát triển nhân lực CNTT là tất yếu, chúng ta đã xác định được vị thế của mình và có những kế hoạch để thúc đẩy phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế Hơn nữa chủ trương của Đảng và Nhà nước đã xác định đây là một những khâu chiến lược để chuyển đổi và phát triển
mô hình kinh tế Do vậy phát triển số lượng nguồn nhân lực CNTT là cấp thiết
1.2.3.2 Phát triển chất lượng của nguồn nhân lực CNTT
Trang 23Phát triển chất lượng nguồn nhân lực CNTT là phát triển trình độ chuyên môn và các kỹ năng theo phân loại và các cấp độ cho nguồn nhân lực Phát triển trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực nhằm phát triển chất lượng chuyên sâu, sự chuyên môn hóa trong lĩnh vực CNTT
Công nghệ thông tin là một phạm trù rộng trong chuyên môn, công nghệ thông tin được chia thành các chuyên môn chuyên sâu như: Cơ sở dữ liệu, hệ thống mạng, quản lý hệ thống, an toàn thông tin, thiết kế và phát triển phần mềm
Nhân lực làm về công nghệ thông tin thường được đào tạo chung nhất
về công nghệ thông tin, cung cấp kiến thức nền tảng cơ bản Từ đó người học
có những lựa chọn riêng cho sự phát triển của mình Do vậy người học về CNTT được nhìn nhận là sẽ làm được về CNTT, với những người có khả năng phát huy họ lựa chọn chuyên môn sâu phù hợp hơn với mình để phát triển, như vậy sẽ có những người nắm bắt chung và nắm cơ bản về CNTT, có những người phát triển chuyên sâu với các chuyên môn cụ thể
Nhân lực CNTT là người làm việc cụ thể, cần nắm bắt chuyên môn kỹ thuật thật tốt để thực hiện công việc trong chuyên môn với tay nghề cao đảm bảo xử lý các vẫn đề trong chuyên môn của mình Trên góc độ phát triển nhân lực CNTT phải nắm bắt tổng thể các vấn đề cơ bản khác của CNTT để có thể
tổ chức, định hướng cho ứng dụng và phát triển CNTT trong các đơn vị, tổ chức Công nghệ nói chung phát triển và thay đổi nhanh chóng đặc biệt hơn CNTT còn phát triển hàng ngày hàng giờ, đòi hỏi nhân lực ngành này phải được đào tạo, nâng cao chuyên môn, nắm bắt công nghệ mới Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những thành tựu của khoa học CN được ứng dụng và phát triển, nếu không được bổ sung các kiến thức trong chuyên môn từ cái đã có đến công nghệ mới thì sẽ lỗi thời và tức khắc sẽ bị đào thải hoặc chỉ làm việc với nền tảng CNTT cơ bản Với những nền tảng cơ bản, nguồn nhân lực vẫn
Trang 24có chỗ đứng riêng của mình để phục vụ cho những sản phẩm đã và vẫn đang được duy trì ứng dụng tuy nhiên nó là số ít và sẽ được thay thế hoặc chuyển đổi theo thời gian ví dụ như: thị trường CNTT Nhật Bản là một nước có nền CNTT phát triển song vẫn duy trì một số công nghệ và nền tảng cũ cho việc phát triển hạ tẩng phần mềm bởi nó đảm bảo được độ chính xác, tính đơn giản, gọn nhẹ nhưng lại chạy trên môi trường và thiết bị hạ tầng có thông số
kỹ thuật cao Tuy nhiên việc này phụ thuộc vào từng bài toán cụ thể đặt ra cho mỗi đơn vị, tổ chức để có những phương án riêng
Trong phát triển nguồn nhân lực đi sâu vào chuyên môn, đón nhận hội nhập sẽ có những phương án ngắn hạn, dài hạn để bồi dưỡng, nâng cao bắt nhịp được hội nhập, hòa chung vào sự phát triển cộng đồng quốc tế Thúc đẩy phát triển NNL này còn tạo ra sức cạnh tranh chiếm ưu thế lớn hơn trong việc ứng dụng CNTT trong tổ chức và trong các doanh nghiệp
Phát triển kỹ năng làm việc
Trong phát triển chất lượng nguồn nhân lực, phát triển kỹ năng làm việc là yếu tố không thể thiếu trong làm việc, nếu như trình độ chuyên môn là
cơ bản và thiết yếu; là điều kiện cần cho người làm công nghệ thông tin thì kỹ năng làm việc sẽ hội đủ điều kiện cho làm việc và phát triển nguồn nhân lực này Có rất nhiều kỹ năng nguồn nhân lực này cần phát triển để đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường lao động và đặc biệt trong bối cảnh hội nhập Nguồn nhân lực này có cơ hội tiếp cận và chuyển đổi thuận lợi trong mọi vị trí mà nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu khi hội nhập bởi cầu về nguồn nhân lực này đa dạng trong địa điểm làm việc, làm trong nước, làm ngoài nước theo yêu cầu của từng tổ chức, doanh nghiệp
Nguồn nhân lực CNTT trong phát triển thường chú ý đến chuyên môn
ít quan tâm các kỹ năng khác ngoài chuyên môn, do vậy để ứng dụng vận dụng CNTT trong từng ngành nghề đòi hỏi các kỹ năng như: giao tiếp, kỹ
Trang 25năng nắm bắt yêu cầu, phân tích yêu cầu và tự học hỏi, kỹ năng truyền đạt,
Kỹ năng làm việc nhóm…
Trong hội nhập kinh tế quốc tế kỹ năng ngoại ngữ là yếu tố thiết yếu để
có thể hòa nhập và phát triển chuyên môn cũng như cơ hội để thúc đẩy phát triển các nguồn lực khác trong xã hội Tuy nhiên, kỹ năng ngoại ngữ không phải là yếu tố quyết định trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực
1.2.3.3 Phát triển theo cơ cấu nguồn nhân lực CNTT
Phát triển nguồn nhân lực theo ngành chuyên môn và theo nhu cầu thực
tế của thị trường về các đối tượng khác nhau Nguồn nhân lực CNTT được sử dụng trong mọi ngành nghề tuy nhiên cơ cấu nguồn nhân lực được thể hiện trên các thông tin và nội dung:
- Nguồn nhân lực phân theo chuyên môn
- Nguồn nhân lực theo vị trí, vai trò
- Nguồn nhân lực nghiên cứu công nghệ mới
Cơ cấu nguồn nhân lực không chỉ đáp ứng được yêu cầu thực tại trong nước trong phát triển kinh tế xã hội mà cần đáp ứng cho hội nhập kinh tế quốc tế
Nguồn nhân lực được tạo ra phù hợp với chế thị trường và nhu cầu thực
tế do vậy việc phát triển nguồn nhân lực dựa trên cơ cấu của nguồn nhân lực
sẽ tối ưu hóa sức mạnh nguồn nhân lực đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Phát triền nguồn nhân lực theo chuyên môn với mục đích chuyên môn hóa trong công việc tạo ra hiệu suất cao và tạo ra đội ngũ có chất lượng chuyên sâu, tạo nền tảng vững chắc trong việc ứng dụng, sử dụng nguồn nhân lực
Tạo ra một cơ cấu nguồn nhân lực CNTT linh hoạt, nền tảng vững chắc thúc đẩy được đa dạng hơn, chuyên sâu hơn về nguồn lực là yếu tố có thể thúc đẩy phát triển nhanh hơn các lĩnh vực trong việc ứng dụng CNTT đóng góp chung vào thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
Trang 261.2.4 Vai trò của phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế xã hội nói chung, cho nhà nước cũng như đối với các doanh nghiệp, tổ chức và người lao động nói riêng:
- Đối với nhà nước: Là công cụ quan trọng hàng đầu trong việc cải cách
bộ máy hành chính nhà nước;
- Đối với doanh nghiệp: Với phát triển nguồn nhân lực, đào tạo được
xem là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu, chiến lược của tổ chức Chất lượng nguồn nhân lực trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệp Nó giúp doanh nghiệp giải quyết được các vấn đề về tổ chức, chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận, và giúp cho doanh nghiệp thích ứng kịp thời với sự thay đổi của xã hội Quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thành công sẽ mang lại những lợi ích sau: Cải tiến về năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc; Giảm bớt được sự giám sát, vì khi người lao động được đào tạo, trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết họ có thể tự giám sát được; Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức, tạo thái độ tán thành và hợp tác trong lao động Duy trì và nâng cao chất luợng nguồn nhân lực CNTT và cả nguồn nhân lực không phải chuyên môn về CNTT trong tổ chức, đạt được yêu cầu trong công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực; Sự ổn định và năng động của tổ chức tăng lên, chúng đảm bảo giữ vững hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngay cả khi thiếu những người chủ chốt do có nguồn đào tạo dự trữ để thay thế; Tạo ra được lợi thế cạnh tranh mang tính quốc gia với các chính phủ và giữa các tổ chức, doanh nghiệp, tạo đà cho áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật và quản lý vào tổ chức
- Đối với người lao động: Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho tổ chức mà nó còn giúp chop người
Trang 27lao động cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới, áp dụng thành công các thay đổi về công nghệ, kỹ thuật Nhờ có đào tạo và phát triển mà người lao động tránh được sự đào thải trong quá trình phát triển của tổ chức, xã hội Và nó còn góp phần làm thoả mãn nhu cầu phát triển cho người lao động
- Đối với nền kinh tế xã hội: Giáo dục, đào tạo và phát triển năng lực
của người lao động có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Đào tạo là cơ sở thế mạnh, là nguồn gốc thành công của các nước phát triển mạnh trên thế giới như Anh, Pháp, Nhật…Sự phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp cũng chính là yếu tố tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là điều kiện tiên quyết để tổ chức có thể tồn tại và đi lên trong xã hội phát triển có mức độ canh tranh cao trong mọi lĩnh vực, mọi thành phần
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày một mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa thì phát triển nguồn nhân lực CNTT lại càng trở nên quan trọng hơn Với những cái chung nhất để tạo lợi thế khi nắm bắt công nghệ được thể hiện trên một số điểm như:
- Nắm bắt được công nghệ mới, đón đầu và phát triển nhanh hơn
- Phát triển nguồn nhân lực tạo ra các sản phẩm có giá trị cao, không chỉ tạo ra vị thế cạnh tranh trong nước mà còn có thể xuất khẩu ra ngoài nước
- Nguồn nhân lực CNTT trực tiếp thúc đẩy sản xuất phát triển với tốc
độ nhanh hơn nhờ công nghệ và quảng bá sản phẩm nhanh nhất tới thị trường, người tiêu dùng
Hơn nữa giá trị sản phẩm từ nguồn nhân lực này có giá trị cao hơn so với các sản phẩm hữu hình đơn thuần Từ đó có thể biến đổi cả về chất lẫn về lượng trong việc biến chuyển từ một nước có nền nhân công giá rẻ trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra sản phẩm có giá trị, thay đổi nhanh chóng mức thu nhập
và chất lượng lao động
Trang 281.3 Cơ sở thực tiễn phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
1.3.1 Tiêu chí phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực công nghệ thông tin đòi hỏi nhân lực ngành đáp ứng được các tiêu chuẩn chung mang tính quốc tế Chính
vì các yêu cầu cao về chất lượng nguồn nhân lực CNTT trong quá trình hội nhập sẽ tạo ra những động lực lớn thúc đẩy phát triển hơn nguồn nhân lực Để hội nhập một cách chủ động chúng ta cần có phương án và lộ trình cho phát triển nguồn nhân lực với các mức độ khác nhau nhưng nhất thiết phải theo các tiêu chuẩn với các quốc gia hội nhập và thường là các tiêu chuẩn mang tính quốc tế hóa Do vậy cần phải có những tiêu chí xác định nguồn nhân lực có phương án phát triển phù hợp với các tiêu chí đáp ứng được trong nước cũng như tiêu chuẩn quốc tế
Trên thế giới có những tiêu chí đánh giá về phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin với tiêu chí và tiêu chuẩn khác nhau trên phạm vi khác nhau Việt Nam cũng có các tiêu chuẩn riêng để đánh giá nhân lực CNTT, căn
cứ thông tư: 11/2015/TT-BTTTT của bộ TT và truyền thông chuẩn kỹ năng
về đạo tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT như trong đó bao hàm từ như tiêu chí chung cho mọi quốc gia song có những tiêu chí riêng trong phạm vị của từng nước Theo quan điểm của tác giả thì các tiêu chí đáng giá phát triển nguồn nhân lực gồm có:
1.3.1.1 Tiêu chí phát triển nội lực của bản thân nhân lực:
Kỹ năng giải quyết vấn đề và hành động chuyên nghiệp; kỹ năng đánh giá và trở thành người tiên phong, luôn hướng tới mục tiêu cuối cùng Khả năng sáng tạo, kỹ năng giao tiếp, thuyết trình và làm việc nhóm Kỹ năng vận dụng tư duy toán học, phát triển bản thân thành chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực CNTT Thúc đẩy và giải quyết tốt tiêu chí này sẽ chuẩn bị cho nguồn
Trang 29nhân lực chuyên môn công nghệ thông tin phục vụ công tác phát triển, sản xuất ra các sản phẩm và chuyển giao có chất lượng cho ứng dụng
1.3.1.2 Tiêu chí phát triển đào tạo:
Xây dựng chuẩn đầu ra đối với sản phẩm đào tạo nhân lực CNTT theo tiêu chuẩn quốc tế Cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cần có các chuẩn đầu ra rõ ràng: Lập trình viên, nhân viên kiểm tra chất lượng, chuyên viên phân tích, chuyên viên mạng, kỹ sư xử lý phần cứng, chuyên môn về dữ liệu, chuyên môn triển khai, kiểm tra chất lượng Có chứng chỉ chuyên môn của các tổ chức thẩm định uy tín trong nước và quốc tế chứng nhận chuyên môn hoặc tham gia vào các khóa đào tạo chuyên sâu Mức độ xã hội hóa nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực CNTT được đào tạo và doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan phối hợp, cùng tham gia đào tạo nguồn nhân lực CNTT, bao gồm đào tạo mới
và đào tạo lại theo nhu cầu sử dụng
1.3.1.3 Tiêu chí phát triển chuyên môn CNTT
- Chuẩn kỹ năng cơ bản cho nhân lực CNTT chuyên nghiệp , tùy theo chuyên môn và có các nội dung cụ thể như: Chuẩn kỹ năng Cơ sở dữ liệu; Chuẩn
kỹ năng Hệ thống mạng; Chuẩn kỹ năng Quản lý hê ̣ thống CNTT; Chuẩn kỹ năng
An toàn thông tin; Chuẩn kỹ năng Thiết kế và phát triển phần mềm;
- Chuẩn kỹ năng chuyên sâu: những chuyên viên CNTT có bằng đại học về CNTT thực hiện chuyên môn hóa cao trong công việc của mình, có thể
xử lý mọi công việc trong phạm vi chuyên môn
- Kinh nghiệm thực tiễn và tham gia các dự án lớn: là những nội dung không những thể hiện chuyên môn cao mà còn thể hiện khả năng bao quát, quản lý Nhân lực có khả năng phụ trách một nhóm cán bộ kỹ thuật từ 50 người trở lên thuộc lĩnh vực phù hợp với chuẩn kỹ năng tương ứng là một trong những tiêu chí để đánh giá hạng bậc của nguồn nhân lực
Các tiêu chí phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho nhà tuyển dụng (những đơn vị, tổ chức sử dụng nguồn nhân lực) cũng
Trang 30như các tổ chức đào tạo, được định hình và lên chương trình, phối hợp đào tạo sát thực, bám sát yêu cầu thực tiễn, tạo ra nguồn nhân lực hữu hiệu, có thể tạo
ra giá trị ngay cho xã hội, làm nền tảng chắc chắn cho việc hội nhập kinh tế quốc tế
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
Phát triển nguồn nhân lực CNTT là một loại nguồn nhân lực đặc thù có nhiều yếu tố tác động và sản phầm của nguồn nhân lực này là sản phẩm trí tuệ Do vậy các nhân tố ảnh hưởng cũng có những đặc thù và khác biệt Các nhân tố ảnh hưởng phát triển nguồn nhân lực CNTT gồm những yếu tố được chia thành các nhóm như sau:
1.3.2.1 Nhân tố bên trong
Nhân tố bên trong có tác động đến phát triển nguồn nhân lực được hiểu như môi trường học tập và phát triển NNL, cơ sở hạ tầng tác động trực tiếp tới phát triển NNL Đầu tư vốn lớn, cần huy động mọi nguồn lực để đào tạo, tạo ra môi trường ứng dụng, tạo các sản phẩm công nghệ thông tin Ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi nghành nghề, lĩnh vực Nếu không có sự ứng dụng đa dạng và chiều sâu thì nhân lực công nghệ thông tin không có cơ hội
và điều kiện để phát huy khả năng về chuyên môn, phát triển kỹ năng và thúc đẩy CNTT phát triển Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tạo điều kiện thuận lợi phát triển CNTT, thuận lợi cho nguồn nhân lực tiếp nhận, khai thác và phát triển Sức hấp dẫn của ngành là chưa lớn (điều kiện làm việc, mức thu nhập, thời gian làm việc ) do vậy nguồn nhân lực sẽ tập trung hơn cho các ngành khác thay vì CNTT Sự phức tạp và khó khăn trong việc tiếp thu kiển thức của ngành CNTT là đa dạng và có độ khó nhất định, phụ thuộc và khả năng học, tiếp thu của từng cá nhân Môi trường đào tạo, chương trình đào tạo Sự gắn kết các tổ chức đơn vị ứng dụng, phát triển sản phầm CNTT và các chương trình đào tạo là một rào cản gây trở ngại hoặc khó khăn cho nguồn nhân lực tiếp nhận và định hướng
Trang 31Trên thực tế CNTT được hiểu là ngành công nghệ cao, học và làm việc với ngành này là khó khăn và cần một năng lực nhất định mới có thể tiếp thu và phát triển, do vậy người tham gia học phải đủ tự tin dẫn đến không nhiều thành phần tham gia và theo đuổi Các chương trình học được phân chia cho mọi thành phần với các chương trình học với các chuyên môn cho ngành CNTT như: lập trình viên, quản trị mạng, khoa học máy tính, tin học ứng dụng, công nghệ mạng vv nhưng thiếu đi sự định hướng cho phát triển nguồn nhân lực ngành Từ đó có thể xác định và có định hướng phát triển cụ thể hơn cho nhu cầu thị trường cũng như đảm bảo được chất lượng nguồn nhân lực ngành CNTT
Các nhân tố trên thuộc tính chất và đặc điểm rất riêng với yếu tố cơ bản phụ thuộc và bản năng của nguồn nhân lực Tuy nhiên yếu tố này mang tính phân tích riêng để thấy rõ được các đặc trưng của nguồn nhân lực
1.3.2.2 Nhân tố bên ngoài :
Là các yếu tố do các chính sách của nhà nước với các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động về CNTT, chính sách với người lao động, chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tác động trực tiếp hay gián tiếp tới phát triển NNL công nghệ thông tin Các chính sách của nhà nước tới đầu tư, thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước và các thủ tục của cơ quan nhà nước với chuyên ngành Hệ thống giáo dục và Môi trường đào tạo: các chương trình thiết thực, bám sát nhu cầu thực tế Hành lang pháp lý cho việc phát triển nguồn nhân lực CNTT: bảo vệ sản phẩm chất xám, những sản phẩm, giải pháp vô hình do nguồn lực này tạo ra Sự chênh lệch phát triển các khu vực là khác nhau khá nhiểu, sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực trong quốc gia, trong khu vực
Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển nguồn nhân lực CNTT
Việt Nam có quy mô dân số trên 90 triệu người, đứng thứ 13 thế giới, thứ 7 châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á Dân số phân bố không đều
Trang 32và có sự khác biệt lớn theo vùng Dân cư Việt Nam phần đông vẫn còn là cư dân nông thôn (khoảng 68 % - năm 2013) Trình độ học vấn của dân cư ở mức khá; tuổi thọ trung bình tăng khá nhanh (năm 2013 đạt 73,1 tuổi)
Lực lượng lao động nước ta hiện nay khoảng 52.207.000 người; hàng năm trung bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động (Số liệu sử dụng trong bài từ Niên giám thống kê năm 2013 của Tổng cục Thống kê)
Số liệu trên cho thấy lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là khá cao và việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT là rất tốt trong điều kiện hiện nay Việc phát triển nguồn nhân lực này là cần thiết bởi tình hình thực tế của hội nhập được tác giả nêu trong mục ảnh hưởng của hội nhập tới phát triển nhân lực kỹ sư CNTT
Hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu bởi tốc độ phát triển các nền kinh tế, hợp tác, hiệp thương, sự ràng buộc các quốc gia, tổ chức kinh tế đã và đang diễn ra trong phạm rộng khắp toàn cầu mà chúng ta đã được biết đến bởi thế giới phẳng (Flat world của Thomas Friedman) Vậy điều gì làm cho thế giới phẳng như vậy, có thể nói rằng đó chính là bởi sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin CNTT tạo tiền đề làm ngắn khoảng cách về địa lý, tạo ra điều kiện và cơ hội làm việc như nhau trên mọi vùng, lãnh thổ thông qua máy tính, thiết bị di động, hệ thống thông tin liên lạc và truyền thông…vv Đó cũng chính là động cơ trực tiếp thúc đẩy phát triển nhân lực công nghệ thông tin CNTT tạo ra để phục vụ con người và con người phải học tập và được đào tạo
để ứng dụng và khai thác từ đó tiếp tục có những yêu cầu cao hơn cho phát triển CNTT và chu kỳ đó sẽ liên tục tiếp diễn đi lên theo sự phát triển
Phát triển nguồn nhân lực CNTT trong hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu bởi:
- Học những thành quả:
Tiếp thu và học hỏi công nghệ mới từ các nước phát triển đưa vào ứng dụng trong nước làm ngắn lại quá trình nghiên cứu, phát triển và ứng dụng,
Trang 33nắm bắt và thúc đẩy phát triển nhanh hơn Tuy nhiên việc này cũng có những điểm không thuận lợi và rủi ro trong quá trình ứng dụng bởi công nghệ đó chỉ được chuyển giao và ứng dụng không thể tự phát triển và kiểm soát toàn bộ trong khai thác và sử dụng Việc xử lý và kiểm soát công nghệ sẽ bị thụ động
và lệ thuộc theo những giải pháp, công nghệ đã đưa ra trong đó nó chỉ có thể giải quyết hoặc thực hiện theo những phạm nhất định mà chưa chắc đã phù hợp với mô hình hay tình hình thực tế trong nước Do vậy cần phải có phương pháp tiếp cận công nghệ mới để có thể có những giải pháp riêng trong định hướng phát triển bởi công nghệ thường xuyên thay đổi và đặc biệt là CNTT Sự đổi mới và thay đổi diễn ra rộng khắp trên thế giới và có tốc độ thay thế nhanh bởi đặc thù của nó Nếu chúng ta không có phương án cho việc phát triển nguồn nhân lực một cách cụ thể thì việc học hỏi những thành quả sẽ không xác định được một cách rõ ràng cho ứng dụng hay chủ động phát triển lĩnh vực CNTT làm tiền đề cho ngành nghề khác phát triển
Nhìn lại lịch sử hội nhập ASEAN chúng ta đã có thể mua được những máy tính giá rẻ, phổ dụng cho mọi cá nhân, tổ chức và dần đưa CNTT trở nên phổ biến Việc này đã tạo động lực và nhu cầu cho đào tạo nhân lực ứng dụng
và dịch vụ phần cứng máy tính lan rộng khắp các tỉnh thành trong cả nước Nhu cầu quản trị mạng được phân chuyên ngành và đào tạo với những ngành chuyên môn khác nhau để phù hợp với phát triển công nghệ thông tin
Tại thời điểm đầu của việc mở cửa và hội nhập, chúng ta chỉ biết ứng dụng máy tính và thiết bị công nghệ thông tin cho những công việc đơn giản bởi nguồn nhân lực cho lĩnh vực này là rất hạn chế Ứng dụng CNTT vào thực tế còn khó, việc tạo ra sản phẩm, giải pháp CNTT còn khó khăn hơn nhiều trong thời điểm đầu
Do chính sách hội nhập, công nghệ thông tin đã phát triển nhanh chóng
và vũ bão, công nghệ phần cứng không còn là khó khăn, nguồn nhân lực có
Trang 34thể đáp ứng và một nấc thang mới phải đặt ra là nguồn nhân lực chuyên môn cao để nắm bắt và làm chủ công nghệ, đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày càng cao trong quá trình hội nhập
- Phải hòa nhập hoặc đào thải
Nguồn nhân lực CNTT trong hội nhập kinh tế sẽ khó khăn hơn bởi phải đồng thời đón nhận; học hỏi những công nghệ mới và có những giải pháp cho việc phát triển làm chủ công nghệ Đó là một áp lực lớn cho nguồn nhân lực này bởi không chỉ nghiên cứu, học hỏi và chuyển giao mà tạo ra các sản phẩm CNTT phù hợp ngay với tiến trình hội nhập trong từng thời kỳ với những thách thức và quy định khác nhau
Sự thay đổi và phát triển nguồn nhân lực được diễn ra như tất yếu bởi
áp lực của hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình này được diễn ra có thể trước hoặc sau thời điểm hội nhập và không để hụt hơi hay lạc lõng trong quá trình
nó cần phải được chuẩn bị trước đảm bảo sự vững vàng trong hội nhập kinh tế quốc tế thay vì thụ động theo những công nghệ và phương thức mới sinh ra
Thực tế cho thấy từ sau khi mở cửa và vào đầu những năm 1990, máy tính được dần đưa vào ứng dụng và tại thời điểm đó máy tính được mua nhập nguyên chiếc Việc này được thể hiện rõ sau sự kiện Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận kính tế với Việt Nam, nguồn nhân lực không đáp ứng được các yêu cầu với công nghệ khá mới và việc xác định cần làm chủ máy tính, lắp ráp và có máy tính thương hiệu máy tính trở thành mục tiêu, đầu những năm 2000 các thương hiệu máy tính trong nước đã lần lượt ra đời như Tiger, sing PC, FPT Elead và nguồn nhân lực CNTT tập trung cho ứng dụng thiết lập cho phần cứng máy tính
Khi đến thời điểm đã làm chủ được phần nào về nắm bắt, khai thác với nguồn nhân lực ứng dụng đã không còn phù hợp bởi chúng ta không thể sản xuất ra linh kiện máy tính, phần mềm hệ điều hành máy tính Bài toán về phát
Trang 35triển nguồn nhân lực CNTT có chuyên môn sâu được đặt ra cho việc phát triển và ứng dụng phần mềm khi không thể phát triển công nghệ sản xuất phần cứng Hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho chúng ta thay đổi các mục tiêu, phương hướng phát triển tại mỗi thời điểm cho nguồn nhân lực CNTT đặc biệt hội nhập với các nước có nền kinh tế phát triển Nó tác động trực tiếp đến sự thay đổi cơ cấu và chính sách cho nguồn nhân lực CNTT làm thay đổi đáng kể chất lượng, số lượng nguồn nhân lực để đáp ứng cầu thị trường cho nguồn nhân lực này
- Tạo ra cơ hội để đón đầu và phát triển
Xác định rõ rằng hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để học tập, nghiên cứu song cần phải xác định nhiệm vụ tạo ra các sản phẩm, chủ động trong công nghệ Sự chuẩn bị tốt hơn về nguồn nhân lực sẽ làm chủ động hơn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Công nghệ thông tin là một yếu tố lớn, quan trọng thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và nguồn nhân lực là nhân tố nền tảng, chủ lực của CNTT Vậy ta có thể xác định nguồn nhân lực CNTT cần phát triển trước hay hội nhập kinh tế quốc tế cần phát triển trước hay đồng thời tiến hành cả hai việc này
Cơ hội học tập và phát triển được tạo ra khi nguồn nhân lực CNTT chủ động tiếp cận, làm chủ đồng thời học hỏi và phát triển đảm bảo tiến trình này được kết hợp hài hòa tạo ra những động lực phát triển mà không bị đuối sức trước những công nghệ phát triển và những thay đổi nhanh chóng trên thế giới
Chúng ta có nhiều bài học cho những thất bại và một số thành công trong lĩnh vực công nghệ thông tin như:
Đạt được một số thành tựu như:
- Nguồn nhân lực tạo ra các sản phẩm cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài, tự ứng dụng các giải pháp đáp ứng yêu cầu trong nước trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, công nghiệp sản xuất, giải trí
Trang 36- Có thể sản xuất sản phẩm, ứng dụng trong mọi ngành nghề hoặc những phân đoạn nằm trong chuỗi giải pháp
- Nguồn nhân lực CNTT được tăng lên cả về chất lượng lẫn số lượng thông qua việc đảm bảo chất lượng outsourcing với các nước phát triển chấp nhận như Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ và số lượng các đơn vị cung cấp dịch vụ này tăng lên đáng kể theo bảng thống kê về sự gia tăng về đơn vị CNTT
Hội nhập càng sâu rộng chúng ta càng học hỏi nhiều song thách thức sẽ lớn hơn và nguồn nhân lực CNTT là nguồn nhân lực nền tảng sẽ càng trở nên
áp lực trước yêu cầu, nhu cầu cả trong lần ngoài nước Phát triển nguồn nhân lực này thế nào về: chất lượng, số lượng, phát triển theo loại nào: nhân lực ứng dụng, đào tạo hay chuyên môn, tạo ra sản phẩm? là những vấn đề cần đặt
ra để có giải pháp cho việc phát triển nguồn nhân lực CNTT
Ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế tới phát triển nhân lực kỹ
sư CNTT
Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế: là sự gắn kết các nền kinh tế, hội
nhập là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia
nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu
Cơ hội và thách thức luôn là những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập
và đặc biệt hơn trong những thập kỷ gần đây Không chỉ nước ta mà các nước đang phát triển và cả những nước kém phát triển đều nhận rõ vấn đề muốn phát triển thì phải hội nhập với quốc tế, tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật để cải biến nhanh chóng quá trình phát triển của quốc gia, rút ngắn thời gian phát triển Tuy nhiên phát triển nguồn nhân lực và đặc biệt nhân lực CNTT là một trong những nhân tố then chốt để thúc đẩy quá trình phát triển
Trang 37o Những ảnh hưởng tích cực tới phát triển nguồn nhân lực CNTT:
Hội nhập kinh tế quốc tế là để phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy nguồn nhân lực CNTT phát triển cả về chất lượng và số lượng Kích thích nguồn nhân lực chủ động nâng cao kiến thức chuyên môn để tiếp nhận và bắt kịp với sự phát triển khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin có tốc độ thay đổi và phát triển rất nhanh Hội nhập tạo ra những cơ hội về việc làm, môi trường làm việc tăng thu nhập cho nhân lực công nghệ thông tin Cơ hội được đào tạo và tiếp cận những công nghệ mới các phương thức và quy trình làm việc cũng như phát triển các kỹ năng cho nguồn nhân lực này
Với các quốc gia đã vững mạnh trong phát triển nguồn nhân lực tạo ra thị trường mới cho việc phát triển nguồn nhân lực này nhiều hơn nữa để tạo ra những cơ hội cho ứng dụng và triển khai công nghệ cao mới tới các nước chưa có thế mạnh về lĩnh vực đó
o Những yêu cầu đặt ra với nguồn nhân lực CNTT trong bối cảnh hội nhập: Đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn quốc tế về nguồn nhân lực khi hội nhập,
đó là điều tất yếu khi nguồn nhân lực hoạt động trong nước cần phải đặt ra
Phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh hội nhập là yêu cầu bắt buộc để phát triển và hòa nhập với nền kinh tế khu vực và toàn cầu, song cần phải đặt ra những mục tiêu để trở thành cơ hội trong việc hội nhập, sáng tạo ra lợi thế về công nghệ trong hội nhập để không chỉ đáp ứng trong quá trình hội nhập mà còn hòa nhập, thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực công nghệ ra bên ngoài
Giữ được nguồn nhân lực cao cấp trong lĩnh vực này, các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nước sẵn sàng trả lương cao, môi trường tốt để có được nhân sự gây nên tình trạng đã thiếu thì lại thiếu trầm trọng hơn trong thực tế
1.3.3 Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho phát triển nguồn nhân lực công
nghệ thông tin cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 38Có nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển nguồn nhân lực CNTT trên các quốc gia trên thế giới từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển, song tác giả tìm hiểu kinh nghiệm của các nước nổi lên về phát triển thành công nguồn nhân lực cũng như nền tảng công nghệ tin nhanh chóng và mang lại những lợi ích to lớn cho quốc gia đó Các quốc gia với những phương hướng phát triển khác nhau với nền tảng khác nhau song kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực CNTT đều bao gồm một số nội dung: Phát triển nhân lực đào tạo CNTT; Phát triển nhân lực ứng dụng công nghệ thông tin; Phát triển nhân lực làm công nghệ thông tin (kỹ sư công nghệ thông tin: mạng, kỹ sư phần mềm, phần cứng, dịch vụ công nghệ thông tin)
Tùy theo thời điểm, nhu cầu thị trường, mức độ phát triển quốc gia đó sẽ
có chiến lược cho phát triển nguồn nhân lực CNTT với thứ tự nội dung nào trước, nội dung nào sau, phương án kết hợp các nội dung trong các bước phát triển nguồn nhân lực này Tuy nhiên vấn đề quan trọng phải xác định và định hướng cầu để có phương pháp phù hợp cho việc phát triển Ấn Độ và Hàn Quốc là hai quốc gia khá thành công trong việc phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin với các định hướng khá rõ ràng và có mục tiêu và chiến lược cụ thể trong việc phát triển công nghệ thông tin nói chung và nguồn nhân lực CNTT nói riêng
Ấn Độ:
CNTT đang được Ấn Độ xác định là ngành mũi nhọn, ngành này đã giúp Ấn Độ trở thành một trong 12 nền kinh tế lớn nhất thế giới, phấn đấu trở thành siêu cường quốc về CNTT của thế giới trong thế kỷ 21 Trong những năm xuất khẩu về công nghiệp phần mềm máy tính ở Ấn Độ tăng đều đặn ở mạng lưới 1.200 trường đại học và cao đẳng kỹ thuật nằm rải rác khắp toàn quốc Nhiều nhà khoa học về máy tính của Ấn Độ giữ vị trí lãnh đạo trong các công ty hàng đầu của thế giới
Trang 39Tuy nhiên ngành này ở Ấn Độ đang phải đối mặt với sự thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao (theo số liệu thống kê năm 2008) Hàng năm Ấn Độ đào tạo ra hàng trăm ngàn kỹ sư tin học, trong đó xuất khẩu sang
Mỹ, Châu Âu, số khác sang Nhật, Hàn Quốc Mỗi năm có hơn 60 nghìn người tài của Ấn Độ ra nước ngoài làm việc Ấn Độ đang áp dụng các biện pháp như hoàn lại tiền đào tạo, “Chất xám Ấn Độ hồi hương” để giữ nguồn nhân lực CNTT làm việc trong nước
Như vậy việc phát triển nguồn lực và các cơ chế chính sách để giữ nguồn nhân lực này trở nên khó khăn trong mọi nền kinh tế, khi CNTT ngày càng phát triển từ môi trường đào tạo, ứng dụng thì nguồn nhân lực cho ngành này càng trở nên cấp thiết Xem xét điển hình về bài học của ngành công nghiệp gia công phần mềm để miêu tả những thách thức và sự liên kết giữa môi trường vĩ mô và vi mô về chính sách cho nguồn nhân lực với phát triển kinh tế dựa trên xu hướng xuất khẩu loại dịch vụ này Sự phát triển nhanh chóng của của ngành dịch vụ gia công phần mềm tại Ấn Độ đã tăng khả năng của ngành này trở thành động cơ chính trong tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ Căn cứ trên dựa trên tìm hiểu thực hiện qua giai đoạn bốn năm, thách thức về chính sách nguồn hân lực đe dọa sự phát triẻn của ngành: hai vấn đề vĩ mô là:
kỹ năng ngắn hạn và không có khả năng đào tạo những kỹ năng cáo hơn cho phát triển dài hạn và ổn định cho ngành; hai vấn đề vi mô là: mức lương của nhân lực có trình rất độ cao và sự gia tăng chi phí nhân công nhanh chóng
Công nghiệp gia công phần mềm vào năm 2006 – 2007 khoảng 47,8 tỷ
đô la và được định hướng phát triển tới 150 tỷ đô la vào năm 2012
Trang 40Bảng 1.1: Thống kê chi phí cho ngành phần mềm và CN dịch vụ
Phần mềm CNTT và các ngành công nghiệp dịch vụ tại Ấn Độ:
3,235
3,032
Điều phối viên cấp cao HA2 4,638 4,321
7,240 6,855 Trợ lý giám đốc điều hành HA4 10,023 9,865
Khả năng giao tiếp Tiếng anh của nhân
240,000
Nguồn: Biên soạn bởi nhóm tác giả theo nghiên cứu của Viện ứng dụng
Nhân lực; NASSCOM-KPM
Số liệu này có được từ các cuộc trao đổi với các nhà quản trị nhân lực - những
người tại thời điểm đó trao đổi đã khẳng định rằng thị trường lao động cần
Tiếng anh đã bão hòa Số liệu này cũng căn cứ vào một ước tình gần đây rằng