NXB ĐHQGHN là nhà xuất bản đầu tiên của Việt Nam, trực thuộc ĐHQGHN một trung tâm nghiên cứu đào tạo hàng đầu đất nước, với một hệ thống gồm 6 trường Đại học thành viên, nhiều Trung tâm,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN TIẾN DŨNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ TRONG KINH DOANH XUẤT BẢN PHẨM TẠI NHÀ XUẤT
BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN TIẾN DŨNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ TRONG KINH DOANH XUẤT BẢN PHẨM TẠI NHÀ XUẤT BẢN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, và có kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Tiến Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo khoa Kinh tế Chính trị và các cán bộ Phòng đào tạo Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã hết lòng chỉ bảo, giảng dạy trong suốt quá trình tác giả học tập và nghiên cứu tại trường
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Trần Anh Tài Thầy đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian tác giả thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiến để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Tiến Dũng
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ iii
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3.1 Mục đích nghiên cứu 2
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Những đóng góp mới của luận văn 3
6 Kết cấu luận văn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Xuất bản và kinh doanh xuất bản phẩm 7
1.3 Lý luận chung về quản lý hoạt động kinh doanh, xuất bản 11
1.4 Mô hình quản lý kinh doanh xuất bản phẩm tại một số nhà xuất bản 16
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Một số phương pháp nghiên cứu cụ thể 19
2.2 Phương pháp thống kê mô tả 20
2.3 Phương pháp So sánh – Đối chiếu 20
2.4 Phương pháp phân tích tổng hợp 21
Trang 6Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH, XUẤT BẢN TẠI NXB ĐHQGHN 23
3.1 Tính chất đặc thù của xuất bản 23
3.2 Một số nét khái quát về NXB ĐHQGHN 24
3.3 Thực trạng năng lực quản lý của NXB ĐHQGHN về hoạt động kinh doanh, xuất bản 27
3.4 Những kết quả đạt được và hạn chế 52
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH, XUẤT BẢN TẠI NXB ĐHQGHN 57
4.1 Định hướng phát triển của NXB ĐHQGHN 57
4.2 Mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh, xuất bản của NXB ĐHQGHN 59
4.3 Một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý của NXB ĐHQGHN 60
4.4 Một số kiến nghị đối với cơ quan chủ quản (ĐHQGHN) và đơn vị và cơ quan quản lý Nhà nước 64
KẾT LUẬN 68
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
3 ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
4 KH&CN Khoa học và công nghệ
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Tổ chức loại hình các nhà xuất bản giai đoạn 2013 – 2015 27Bảng 3.2: Tổng hợp nguồn tài chính, cơ cấu nguồn tài chính giai đoạn
2013 - 2015 30Bảng 3.3: Tổng hợp nguồn tài chính, cơ cấu nguồn tài chính giai đoạn
2013 - 2015 39Bảng 3.4: Tổng hợp nguồn thu, nguồn thu thực từ hoạt động sản xuất dịch vụ giai đoạn 2013 - 2015 40Bảng 3.5: Danh mục đầu tư trang thiết bị năm 2014 - 2020 45Bảng 3.6: Bảng phân tích đánh giá thực trạng về xuất bản học liệu của ĐHQGHN tại NXB 50
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức nhà xuất bản 32Biểu đồ 3.1: Biểu đồ tài chính từ các hoạt động của NXB ĐHQGHN trong 10 năm (2003 - 2012) 38Biểu đồ 3.2: Nguồn tài chính và cơ cấu nguồn tài chính giai đoạn 2013-
2015 39
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xuất bản là hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng nhằm phổ biến, giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc
và tinh hoa văn hóa nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của con người Tuy nhiên xuất bản có những đặc thù riêng Hoạt động xuất bản phải coi trọng việc phục vụ nhiệm vụ chính trị, tư tưởng, đáp ứng nhu cầu đọc của nhân dân nhưng đồng thời phải thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh
Hiện nay, trên cả nước có tất cả 63 nhà xuất bản đang hoạt động với nhiều mô hình khác nhau như: Doanh nghiệp nhà nước; Đơn vị sự nghiệp; Công ty TNHH một thành viên; Công ty Mẹ - công ty Con Nhưng thực trạng các nhà xuất bản Việt Nam hiện nay đang gắp rất nhiều khó khăn Theo báo cáo của cục Xuất bản, bộ Thông tin và Truyền thông, cả nước hiện có đến 63 NXB, nhưng chỉ 4 “nhà” báo cáo lãi, phát triển ổn định và nộp đủ các nghĩa vụ thuế Sự yếu kém của các nhà xuất bản trên cả nước do rất nhiều nguyên nhân khách quan Một trong những nguyên nhân đó là năng lực quản lý nói chung và năng lược quản lý kinh doanh xuất bản của các nhà xuất bản nói riêng
NXB ĐHQGHN là nhà xuất bản đầu tiên của Việt Nam, trực thuộc ĐHQGHN một trung tâm nghiên cứu đào tạo hàng đầu đất nước, với một hệ thống gồm 6 trường Đại học thành viên, nhiều Trung tâm, Viện nghiên cứu, quy tụ đông đảo các nhà khoa học, tác giả có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu
và biên soạn sách Một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược của
Trang 11ĐHQGHN là có cơ sở học liệu xứng tầm nó đặt ra những trách nhiệm và mục tiêu cho NXB ĐHQGHN
Trong thực tế hơn một thập kỷ trải qua mô hình tự hoạch toán 100%, xuất phát điểm thấp, NXB đã gặp rất nhiều khó khăn khi phải đưa những dòng sách khoa học, chuyên ngành ra thị trường Bất cập về mô hình, chính sách đầu tư đã đem đến nhiều hệ lụy và hạn chế Công tác cán bộ còn nhiều bất cập khó có thể làm nên một sự thay đổi Nhiều năm NXB chỉ thu bù chi, việc thực hiện nhiệm vụ chính trị rất hạn chế, sự cạnh tranh yếu kém
Vì vậy việc nâng cao năng lực cho nhà xuất bản là một vấn đề cấp thiết
Sẽ có nhiều yếu tố phải được thay đổi, phải được cải cách và tăng cường
Nâng cao năng lực quản lý của nhà xuất bản trong hoạt động kinh doanh, xuất bản là một trong những vấn đề có tính nền tảng, mấu chốt mang tính tự thân của nhà xuất bản để có thể thay đổi bước đầu, những tiếp cận khoa học về lãnh đạo quản lý nhà xuất bản đối với hoạt động chuyên môn, nhiệm vụ có tính chất đặc thù của ngành, đặc thù của một nhà xuất bản khoa học một cách hiệu quả Vì vậy vấn đề luận văn đặt ra chính là nút thắt đầu tiên, cần thiết cho sự đổi thay nhằm nâng cao năng lực toàn diện cho nhà xuất bản
2 Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để nâng cao năng lực quản lý hoạt động kinh doanh, xuất bản tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý hoạt động kinh doanh, xuất bản tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động kinh doanh, xuất bản
Trang 12- Đề xuất và kiến nghị giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động kinh doanh, xuất bản tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
- Trên cơ sở đó, nhiệm vụ đặt ra đối với luận văn là đưa ra định hướng, giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực quản lý hoạt động kinh doanh xuất, bản tại nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội trong thời gian tới (2013-2015
và đến năm 2020)
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực quản lý về hoạt động kinh doanh, xuất bản tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
5 Những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý, luận văn chỉ
ra được những điểm mạnh, điểm tồn tại hạn chế trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh, xuất bản tại NXB ĐHQGHN
Từ đó, đề xuất những giải pháp cụ thể để hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh xuất bản nhằm thúc đẩy hiệu quả của hoạt động kinh doanh, xuất bản tại NXB ĐHQGHN
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Chương 3: Thực trạng về năng lực quản lý hoạt động kinh doanh, xuất bản tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý hoạt động kinh doanh, xuất bản tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam có rất nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề quản lý kinh doanh, cơ chế chính sách ở các tổ chức hay doanh nghiệp tại một đơn vị cụ thể Luận văn đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm đổi mới, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đã và đang có những mặt hạn chế và bất cập trong đơn vị Tuy nhiên, với ngành xuất bản là một ngành kinh doanh đặc thù nên các nghiên cứu, luận văn nghiên cứu về đề tài năng lực quản lý kinh hoạt động kinh doanh xuất bản là không nhiều chủ yếu dừng lại ở các báo cáo ngành, báo cáo của cơ quan chủ quản
- Cơ chế tài chính tại ĐHQGHN được nghiên cứu tương đối toàn diện
trong cuốn sách “Đổi mới cơ chế tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong định hướng chung đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Đại học Công lập của Việt Nam”, Phạm Xuân Hoan (2015) Tác giả cuốn sách đã khái quát được
những vấn đề chung, trình bày bức tranh toàn cảnh về thực trạng cơ chế tài chính trong hệ thống các trường đại học công lập tại Việt Nam Bên cạnh đó, công trình đã chỉ ra những ưu - nhược điểm nội tại trong cơ chế tài chính và tác động của nó vào hoạt động chung của ĐHQGHN Trên cơ sở đó, tác giả
đã đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình của đơn vị
- Luận văn Thạc sĩ “Quảng bá sách Việt Nam ra nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, tác giả Hoàng Thị Vui (2010) tập trung nghiên cứu
việc quảng bá sách hay những giá trị tốt đẹp, những lợi thế vốn có, đồng thời quảng bá, nâng cao vị thế vai trò của quốc gia trên trường quốc tế Đây là đề tài mang tính thiết thực, đặc biệt phù hợp với định hướng phát triển ngành
Trang 15xuất bản Việt Nam cũng như định hướng về công tác thông tin đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường và bối cảnh hội nhập quốc tế
- “Chiến lược kinh doanh độc lập của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam khi không còn độc quyền xuất bản sách giáo khoa”, luận văn Thạc sĩ tác giả
Hoàng Xuân Vinh (2011) tập trung nghiên cứu, khảo sát tính hình xuất bản
hiện nay của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam các sản phẩm phụ thuộc vào
sách giáo khoa đến mức độ nào, từ đó xây dựng một chiến lược xuất bản sản phẩm độc lập với sách giáo khoa trong ngắn hạn và dài hạn
- “Quản lý tài chính ở Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật”,
luận văn Thạc sĩ tác giả Lưu Thị Bình (2014) Tác giả đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về thực trạng quản lý ngành xuất bản hiện nay, góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính đối với đơn
vị sự nghiệp công Qua đó, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý tài chính ở Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý tài chính ở Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật
- Luận án Tiến sĩ “Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản”,
Nguyễn Anh Tú (2015) Tác giả đã đưa ra dự báo về hoạt động xuất bản và quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản trong thời gian tới với ảnh hưởng mạnh mẽ của sách điện tử và xuất bản trực tuyến Luận án nêu ra các quan điểm về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản trong đó nhấn mạnh quan điểm xã hội hóa hoạt động xuất bản Tác giả cho rằng đã đến lúc cần nâng cấp vai trò của tư nhân đối với hoạt động xuất bản, cho phép thí điểm cổ phần hóa 1, 2 NXB để tạo động lực mới cho hoạt động xuất bản Qua
đố đưa ra 4 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối
Trang 16mạnh vào việc nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan bảo vệ pháp luật (công an, tòa án, viện kiểm sát) trong việc phòng chống sách giả sách lậu
là yêu cầu cấp bách hiện nay đối với sự phát triển lành mạnh của hoạt động xuất bản hiện nay
Đã có một vài nghiên cứu nói đến vấn đề quản lý kinh doanh xuất bản phẩm tại các nhà xuất bản lớn trên toàn quốc Tuy nhiên chưa có nghiên cứu chuyên biệt về năng lực kinh doanh xuất bản phẩm tại Nhà xuất bản Đại học
quốc gia Hà Nội Vậy đề tài: “Nâng cao năng lực quản lý trong kinh doanh
xuất bản phẩm tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội” là một đề tài
mới chưa được nghiên cứu một cách cụ thể và hệ thống Trong quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh việc kế thừa, chọn lọc những thành tựu nghiên cứu đã
có, tác giả cũng tham khảo, kết hợp khảo sát những vấn đề mới nảy sinh, nhất
là những vấn đề lý luận và thực tiễn về xuất bản phẩm, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh xuất bản phẩm tại nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội trong thời gian tới
1.2 Xuất bản và kinh doanh xuất bản phẩm
1.2.1 Vài nét về xuất bản
- Khái niệm về xuất bản
Hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay, xuất bản ra đời là do nhu cầu thông tin và truyền bá thông tin, đáp ứng những nhu cầu về văn hóa tinh thần, giá trị văn hóa, tư tưởng xã hội
Xuất bản, tiếng Anh Publish / Publisher / Publishing – nghề, người hay công ty xuất bản và phát hành sách, tạp chí, âm nhạc hoặc các ấn phẩm khác
Xuất bản là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng nhằm phổ biến, giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc
và tinh hoa văn hóa nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt
Trang 17Nam, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Xuất bản là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu để
in và phát hành hoặc để phát hành trực tiếp qua các phương riện điện tử (Luật Xuất bản 2012) Là một quá trình hoạt động nối tiếp, đồng bộ, hoàn chỉnh Nó gồm 3 khâu: biên tập, in và phát hành
Thông thường mọi người chỉ coi xuất bản bao gồm các xuất bản phẩm đăng tải trên giấy như: sách, ấn phẩm Trên thực tế ngành xuất bản hiện nay
đã có những xuất bản phẩm không chỉ trên giấy như: băng đĩa nhạc hình, xuất bản phẩm điện tử Nhưng không phải tất cả tác phẩm trở thành tiền đề của xuất bản Nhưng xuất bản phẩm là chỉ tác phẩm sau khi biên tập, chế bản, in
ấn (nhân bản) phát hành tới công chúng
Như vậy, Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản thông qua nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được cấp giấy phép xuất bản bằng các ngôn ngữ khác nhau, bằng hình ảnh, âm thanh và được thể hiện dưới các hình thức sau đây:
a) Sách in;
b) Sách chữ nổi;
c) Tranh, ảnh, bản đồ, áp-phích, tờ rời, tờ gấp;
d) Các loại lịch;
đ) Bản ghi âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách
- Đặc điểm của xuất bản:
Một là, xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in, phát hành xuất
bản phẩm, là chiếc đòn bẩy mạnh mẽ của văn hóa, của việc giáo dục tinh
Trang 18hoạt động truyền bá văn hóa Ngay từ đầu xuất bản là hoạt động phổ biến truyền bá xuất bản phẩm, cung cấp tri thức khoa học, các giá trị thẩm mỹ và mọi nhu cầu tinh thần khác của con người Vì vậy, xuất bản thời đại nào cũng mang tính giáo dục
Hai là, sản phẩm của hoạt động xuất bản là vật thể vật chất nhưng lại
chứa đựng những giá trị tinh thần Cho nên quá trình biên tập, chế bản, nhân bản, đều là những khâu vừa mang tính chất khoa học, vừa mang tính văn hóa rõ rệt Tính chất văn hóa còn được biểu hiện qua quá trình lưu thông, phân phối xuất bản phẩm Quá trình này mang tính chất hàng hóa nhưng là hàng hóa đặc biệt mang giá trị sử dụng thuộc văn hóa tinh thần chứ không phải là hàng hóa đơn thuần Chính điều này làm cho hoạt động xuất bản mang tính chất đặc thù
Ba là, xuất bản là hoạt động truyền thông nhưng cũng được lưu thông
trao đổi trên thị trường như các loại hàng hóa thông thường khác Quá trình xuất bản chịu sự ràng buộc của các chỉ tiêu, định mức chi phí kinh tế - kỹ thuật, doanh nghiệp sản xuất phải hạch toán để có lãi trong sản xuất xuất bản phẩm và để tái sản xuất Nhà xuất bản, người làm xuất bản cũng phải hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường và điều tiết của thị trường giá cả, của quy luật cạnh tranh; phải tính toán chi phí để có lợi nhuận Như vậy, xuất bản
có tính chất kinh tế Vì vậy, xuất bản vừa thực hiện sự liên quan đến tư tưởng
và truyền thông, lại vừa liên quan đến kinh doanh và lợi nhuận
Theo Luật Xuất bản, hiện nay các nhà xuất bản được tổ chức và hoạt động theo 2 loại hình: sự nghiệp và doanh nghiệp
Các nhà xuất bản đại học thuộc loại hình đơn vị sự nghiệp công lập, có
chủ quản là các trường đại học, có nhiệm vụ tổ chức biên soạn, in ấn và phát hành giáo trình, tài liệu tham khảo, chuyên khảo phục vụ đào tạo đại học, sau đại học và một phần sách phổ thông (đối với những nhà xuất bản đại học có
Trang 19khối phổ thông),… nhằm phục vụ công tác nghiên cứu của cán bộ giảng dạy, học sinh, sinh viên, học viên và các cán bộ làm công tác nghiên cứu; tài liệu bồi dưỡng, nâng cao trình độ và các tài liệu khác…
1.2.2 Kinh doanh xuất bản phẩm
Về tên gọi, cùng một nội dung nhưng ở mỗi nơi, mỗi thời kỳ, tùy vào tính chất của nó mà người ta gọi theo những cách khác nhau: “buôn bán sách” (Liên xô và Đông Âu), “thương mại sách” (các nước phương Tây), ở Việt Nam trước đây gọi là “phát hành sách”, hiện nay gọi là “kinh doanh xuất bản phẩm” Dù tên gọi ở các xã hội có thể chế chính trị khác nhau nhưng phát hành sách đều có chung nội dung là sự phổ biến rộng rãi thông qua con đường mua bán các xuất bản phẩm không định kỳ - một loại hàng hóa đặc biệt Có thể hiểu thực chất của việc phát hành sách nói riêng và xuất bản phẩm nói
chung là đem bán hoặc phân phối một hay nhiều loại xuất bản phẩm nào đó cho các đối tượng sử dụng trong xã hội
Phát hành sách là một khâu và cũng là khâu cuối của quá trình hoạt động xuất bản Trong thời kỳ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, sản xuất sách được thực hiện theo kế hoạch, cho nên hoạt động phân phối, phát hành là chủ yếu, nó phản ánh rất đúng và rất tính chất của hoạt động này Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hoạt động phát hành đã khác về tính chất, về quy mô và khác về quan hệ cung cầu Cho nên, việc đổi tên từ phát hành sang kinh doanh là phù hợp với xu thế hiện nay
Trên phương diện xã hội, phát hành sách nhằm mục đích tuyên truyền, phổ biến nội dung tri thức chứa đựng trong sách và các xuất bản phẩm khác
để góp phần thực hiện những mục tiêu chung về văn hóa, xã hội Trong lịch
sử phát triển xã hội và đấu tranh giai cấp, giai cấp thống trị của bất kỳ xã hội nào cũng đều sử dụng sách như một công cụ, một vũ khí để đấu tranh, bảo vệ
Trang 20quyền lợi của giai cấp mình Tóm lại, phát hành sách là một khâu của hoạt động xuất bản, vừa có chức năng văn hóa, tư tưởng, vừa có chức năng kinh tế
1.3 Lý luận chung về quản lý hoạt động kinh doanh, xuất bản
Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên
Quản lý nói chung hay quản lý doanh nghiệp nói riêng bao gồm những
đề tài chính sau:
- Nhiệm vụ cơ bản của quản lý
Hoạch định: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm trong tương lai và lên các kế hoạch hành động
Tổ chức: sử dụng một cách tối ưu các tài nguyên được yêu cầu để thực hiện kế hoạch
Bố trí nhân lực: phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng cá nhân cho từng công việc thích hợp
Lãnh đạo/Động viên: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn
để đạt được các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho tổ chức)
Kiểm soát: Giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động theo kế hoạch (kế hoạch có thể sẽ được thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra)
Vậy năng lực quản lý là các yêu cầu đối với công việc có tính chất quản
lý bao bao gồm hoạch định, tổ chức, điều phối nguồn lực (ngân sách, con người) và thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá công việc Tùy theo tính chất phức tạp, mức độ và phạm vi quản lý mà mỗi chức danh có những yêu cầu về tiêu chuẩn năng lực quản lý khác nhau
Trang 21NXB ĐHQGHN là nhà xuất bản khoa học, nghiên cứu bên cạnh đó kinh doanh để đảm bảo một phần kinh phí để duy trì hoạt động Mục tiêu chính của NXB ĐHQGHN từ năm 2015 đến năm 2020 là:
+ Xây dựng và phát triển ĐHQGHN trở thành một trung tâm đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, đạt chuẩn quốc tế, nằm trong nhóm 200 trường đại học hàng đầu châu Á vào năm 2015, vươn lên nhóm 200 trường đại học tiên tiến của thế giới vào năm 2020
+ Xây dựng và phát triển ĐHQGHN thành một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, nghiên cứu khoa học và công nghệ đỉnh cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học; có sứ mệnh tiên phong, làm nòng cốt, đầu tàu đổi mới trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam
Là một nhà xuất bản của trường đại học lớn đa ngành đa lĩnh vực nên
số lượng và loại hình đề tài của NXB ĐHQGHN tương đối lớn Chính vì vậy nâng cao năng lực quản lý hoạt động kinh doanh, xuất bản tại NXB ĐHQGHN là khả năng bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực cho đội ngũ lãnh đạo, đội ngũ công tác chuyên môn, cộng tác viên
và quy tụ, kết nối tri thức từ các nhà khoa học, các tác giả trong nước và quốc
tế Song song với nó là khả năng hoạch định tài chính, quản lý quy trình xuất bản, đầu tư trang thiết bị
Mặc dù kinh doanh xuất bản phẩm là nghành kinh doanh mang tính đặc thù nhưng chúng cũng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố bên ngoài như:
- Tác động của sản phẩm nghe - nhìn đối với xuất bản - in - phát hành Trong sự phát triển tích hợp và hội tụ về CNTT, tất yếu sẽ ra đời các loại hình, sản phẩm và phương thức xuất bản mới so với ấn phẩm in và phát hành theo phương thức truyền thống Dự báo từ 5 đến 7 năm tới, sự phát triển
Trang 22của xuất bản phẩm trên mạng, sách điện tử tạo ra cuộc cạnh tranh mạnh mẽ về thị trường với sản phẩm xuất bản - in - phát hành truyền thống
Xu hướng phát triển mới của xuất bản - in - phát hành đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi mới, phức tạp hơn và ở tầm cao hơn cả về đầu tư, định hướng phát triển và công tác quản lý nhà nước cũng như khả năng dự báo chiến lược, nhằm xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, khuôn khổ pháp lý đảm bảo
sự phát triển hài hòa và bền vững của ngành
- Tác động của KH&CN vào hoạt động xuất bản - in - phát hành
Công nghệ làm xuất bản phẩm, báo, tạp chí, bản tin, progam, postal, bao bì, nhãn mác, hóa đơn chịu sự chi phối sâu sắc của công nghệ thông tin Việc thu thập các dữ liệu, tổ chức bản thảo, tổ chức phát hành đều có thể thực hiện bằng công nghệ mới Công nghệ chế bản, tách màu và thiết bị in ngày càng hiện đại Nhờ tác động của KH&CN nên hình thức xuất bản phẩm đa dạng hơn, kỹ thuật tốt hơn, chi phí nhân công ít hơn và giá thành rẻ hơn Việc ứng dụng và đổi mới công nghệ sẽ là yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả hoạt động của các đơn vị hoạt động xuất bản - in - phát hành
- Sự hội nhập và giao lưu quốc tế
Sự hội nhập và giao lưu về kinh tế - văn hoá của các nước trong khu vực và trên thế giới tạo cơ hội cho sự trao đổi toàn diện về hoạt động xuất bản
- in - phát hành, đồng thời việc thực thi các cam kết của WTO trong đó có các cam kết liên quan đến xuất bản phẩm vừa tạo cơ hội thuận lợi cho hoạt động xuất bản - in - phát hành mở rộng thị trường, trao đổi công nghệ và chuyên gia, hợp tác đầu tư vừa là thách thức lớn trong cạnh tranh độc giả của hoạt động xuất bản - in - phát hành
- Quản lý nhà nước về xuất bản
Đễ dễ dang trong việc quản lý và định hướng cho sự phát triển chung của ngành các cơ quan nhà nước về xuất bản như Sở Văn hóa thông tin và xã
Trang 23hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Xuất ban hành các thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành các hoạt động chung về xuất bản Chính vì vậy để thực hiện tốt tôn chỉ, mục đích của mình và tránh những sai sót, sai phạm không đáng có trong xuất bản đòi hỏi đội ngũ quản lý các NXB phải nắm được chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước:
a) Về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Thông tư số 03/2015/TT-BTTTT ngày 06/3/2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều, khoản của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2015)
Thông tư số 16/2015/TT-BTTTT ngày 17/6/2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết thi hành Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ về xuất khâu, nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực
in, phát hành xuất bản phẩm
Chủ trì triển khai xây dựng Thông tư quy định việc cấp, sử dụng và quản lý mã số sách tiêu chuẩn quốc tế; Đề án phí và lệ phí trong hoạt động xuất bản
Quyết định số 926/QĐ-BTTTT ngày 10/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn liên ngành phòng, chống in lậu Trung ương
b) Về công tác đào tạo, bồi dưỡng
Phối họp với Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông tổ chức các lớp “Bồi dưỡng kiến thức pháp luật xuất bản, nghiệp vụ biên tập” cho biên tập viên các nhà xuất bản; kiểm tra, xem xét hồ
sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề biên tập
c) Về xây dựng cơ chế, chính sách phát triển
Trang 24Báo cáo về thực trạng điều kiện hoạt động của các nhà xuất bản trong
cả nuớc và đề xuất Thủ tuớng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành xây dựng trình cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết các chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản đã được quy định tại Điều 7 Luật Xuất bản, Điều 3 Nghị định số 195/2013/NĐ-CP, Quyết định số 115/QĐ- TTg ngày 16/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch phát triển xuất bản, in, phát hành đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và một số chính sách ưu đãi đặc thù cho hoạt động xuất bản, như: không áp dụng cơ chế đấu thầu trong đặt hàng xuất bản; điều chỉnh giảm khung giá tiền thuê đất, thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước đối với các nhà xuất bản đóng tại địa bàn thành phố Hà Nội
d) Về kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu
Trong 6 tháng đầu năm, Cục Xuất bản, In và Phát hành đã xử lý 74 xuất bản phẩm vi phạm về nội dung của 33 nhà xuất bản Các xuất bản phâm vi phạm tập trung chủ yếu vào 04 nhóm vấn đề sau:
+ Sử dụng logo, hình ảnh minh họa bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện đầy đủ chủ quyền quốc gia;
+ Nội dung có những nhận định, đánh giá mang tính chủ quan và sai lệch về chế độ xã hội và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước;
+ Sai sót về sự kiện, thời gian, nhân vật lịch sử; sử dụng các dẫn chứng,
tư liệu chưa được xác nhận, kiểm chúng hoặc không có cơ sở khoa học;
+ Nội dung có những chi tiết thô tục, phản cảm, nhảm nhí, kích thích bạo lực, không phù hợp với việc giáo dục thanh thiếu nhi
+ Về công tác thanh tra, kiểm tra
Thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành được giao, Cục Xuất bản, In
và Phát hành đã chú trọng đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, đồng thời nâng
Trang 25cao chất lượng của đội ngũ cán bộ thực hiện công tác này, nhằm xử lý kịp thời
và đúng quy định pháp luật những sai phạm trong hoạt động xuất bản
1.4 Mô hình quản lý kinh doanh xuất bản phẩm tại một số nhà xuất bản
● Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật
NXB Chính trị Quốc gia – sự thật là một trong những NXB có quy mô lớn nhất Việt Nam Từ năm 2007 đến nay, NXB hoạt động theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (tự chủ một phần)
Khi chuyển sang cơ chế thị trường, hoạt động tài chính ở các cơ quan tổ chức hành chính – sự nghiệp trong khu vực công nói chung và NXB Chính trị Quốc gia – sự thật nói riêng phải được đặt trên những nền tảng mới Những bất cập của cơ chế tài chính cũ áp dụng cho các tổ chức ngày càng bộc lộ, khiến cho quá trình đổi mới là không tránh khỏi Với lợi thế là một NXB hàng đầu có uy tín, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật đã có chính sách chú trọng công tác đặt hàng bản thảo với những nhà nghiên cứu khoa học hàng đầu để cho ra đời những ấn phẩm mang giá trị riêng Tăng cường liên doanh, liên kết với các đối tác có năng lực để mở rộng mạng lưới, đổi mới cơ chế chiết khấu, chế độ nhuận bút tác giả, đặc biệt chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cộng tác viên, đổi mới phương pháp biên soạn sách lý luận, chính trị, pháp luật
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật hoạt động theo loại hình ĐVSN công lập tự chủ tài chính theo đúng quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch hóa mọi hoạt động, đã xây dựng và đưa vào vận hành một hệ thống tương đối đầy đủ và toàn diện với hơn 50 quy định, quy chế quản lý nội bộ Đồng thời có chính
Trang 26cơ bản, có năng lực và triển vọng đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt và lâu dài cho đơn vị Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ được tổ chức thực hiện một cách thường xuyên với nhiều hình thức phong phú Với đặc thù là NXB trực thuộc Ban Bí thư Trung ương và được nhà nước cấp 100% kinh phí hoạt động với nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương đường lối, chính sách của Đảng nên công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch và có những chính sách về tài chính được tập trung chú ý và thực hiện đồng bộ, kịp thời Từng bước khắc phục những bất cập khi chuyển đổi mô hình theo cơ chế thị trường
● Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Nhà xuất bản Khoa học Xã hội là ĐVSN công lập trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hoạt động theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với ĐVSN công lập công lập đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên từ 3/2004 Tháng 12/2012, NXB Khoa học xã hội đã chuyển sang thực hiện cơ chế tự chủ một phần theo nghị định 43/2006/NĐ-CP trong giai đoạn ổn định 3 năm (2012-2014) Khác với NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, NXB Khoa học xã hội đã không có nhiều lợi thế của riêng mình, chủ đề xuất bản thường chỉ bó hẹp trong phạm vi các đề tài, công trình nghiên cứu về khoa học – xã hội của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nên các ấn phẩm khó có khả năng phát hành trên thị trường Đứng trước yêu cầu mới của sự phát triển, đơn vị cũng đã xây dựng Chiến lược phát triển NXB Khoa học xã hội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Tuy nhiên cho đến nay việc tổ chức thực hiện theo Chiến lược còn gặp nhiều bất cập, khó khăn
do NXB thiếu kinh phí thực hiện Bên cạnh đó, năm 2013 – 2014 NXB Khoa học xã hội đã tiến hành tổ chức lại hoạt động trên cơ sở sáp nhập NXB Từ
Trang 27điển bách khoa vào NXB Khoa học xã hội, nên đã có thêm nhiều khó khăn hơn cho đơn vị trong công tác tổ chức, định hướng phát triển, đặc biệt là tài chính khi phải trang trải để trả lương cho cán bộ lao động, cùng với đó là công tác đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ vẫn chưa được chú trọng Mặc dù đã có chính sách khuyến khích động viên toàn thể cán bộ đối với công tác tổ chức bản thảo song đơn vị không thể tự tổ chức được bản thảo nào Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do nhuận bút chi trả cho tác giả là thấp, trong khi sách của NXB Khoa học xã hội có tính đặc thù, mang tính chuyên sâu cao, kén chọn độc giả nên tỉ suất lợi nhuận không cao Do vậy, đơn vị bản thân đã không có nguồn vốn đầu tư nên khó có thể trả nhuận bút ngoài mức quy định của Nhà nước Việc chuyển đổi mô hình hoạt động sang cơ chế tự chủ tài chính một phần đã dần tháo gỡ khó khăn cho đơn vị, hoạt động xuất bản đã có những tiến triển tốt hơn, bước đầu sản xuất kinh doanh có lãi
Tổng kết chương 1:
Chương 1 đã khảo sát tình hình nghiên cứu quản lý kinh doanh xuất bản phẩm nói chung của các tổ chức và doanh nghiệp ở Việt Nam, từ đó thấy được đòi hỏi cấp thiết của việc nghiên cứu công tác quản lý kinh doanh xuất bản phẩm tại NXB ĐHQGHN, vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều và chuyên sâu Những lý luận về quản lý kinh doanh XBP cho nhà xuất bản cũng được
đề cập một cách có hệ thống với mục đích làm cơ sở cho việc nghiên cứu của các chương tiếp theo
Trang 28Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Một số phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin
Nguồn số liệu sử dung trong luận văn chủ yếu là nguồn số liệu thứ cấp, bao gồm:
- Số liệu của Bộ Văn hóa - Thông tin;
- Số liệu của NXB Đại học Quốc gia Hà Nội;
Nguồn dữ liệu bên ngoài để thực hiện luận văn: Ngoài ra luận văn còn
sử dụng các nguồn tin thu thập được từ sách, báo, các trang web liên quan đến công trình nghiên cứu
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương 3 để phân tích, đánh giá thực trạng công tác KDXB phẩm Qua phân tích thực trạng, đưa ra giải pháp phù hợp để khắc phục những tồn tại, hạn chế và đưa ra các đề xuất, kiến nghị để nâng cao chất lượng quản lý kinh doanh xuất bản phẩm trong thời gian tới
2.1.2 Xử lý thông tin
Từ các số liệu thu thập được qua các nguồn, trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã loại bỏ những tài liệu không có nguồn gốc rõ ràng hoặc không đáng tin cậy Bằng phương pháp này, tác giả phân tích để hệ thống hóa những lý luận thực tiễn, đánh giá tài liệu, kiểm chứng, để nghiên cứu, tổng kết, phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề cần nghiên cứu, xác định rõ nguyên nhân làm cơ sở đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác kinh doanh xuất bản phẩm tại NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Các bước xử lý thông tin như sau:
Trang 29Bước 1: Tìm hiểu và đọc các tài liệu như các báo cáo, các công trình nghiên cứu
Bước 2: Tiến hành tổng hợp, đánh giá và phân loại các thông tin cũng như các tài liệu đã thu thập được
Bước 3: Áp dụng các phương pháp đánh giá phân tích các số liệu cũng như dữ liệu thu thập được để đánh giá kết luận của đề tài, sử dụng sự trợ giúp của máy tính và một số phần mềm word, excel
Phương pháp này ngoài chương 2 hầu như được sử dụng thông suốt trong quá trình làm luận văn
2.2 Phương pháp thống kê mô tả
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu tác giả đã lựa chọn sử dụng phương pháp thống kê mô tả cho luận văn của mình Các số liệu trong chương 3 được thống kê và mô tả cụ thể bằng các con số để trình bày các chỉ tiêu đã đưa ra làm cơ sở để đánh giá tình hình kinh doanh xuất bản phẩm tại NXB ĐHQGHN Là phương pháp phân tích để nhận dạng , xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích , sau đó xem xét tính chất ảnh hưởng của từng nhân tố , những nguyên nhân dẫn đến sự biến đô ̣ng của từng nhân tố
2.3 Phương pháp So sánh – Đối chiếu
Phương pháp này được tác giả sử dụng xuyên suốt đề tài để phân tích,
so sánh giai đoạn này với giai đoạn khác của ngành, của NXB, phân tích các
mô hình trong ngành xuất bản, các mô hình hoạt động, các chính sách; phân tích sự khác nhau giữa NXBĐHQG với các nhà xuất bản khác; phân tích các chỉ số trong lĩnh vực kinh doanh xuất bản phẩm của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, qua các giai đoạn, các năm Khi so sánh thường đối chiếu các chỉ tiêu hoạt động với nhau để biết được mức độ biến động của các đối
Trang 30tính Cụ thể, trong luận văn tác giả đã xem xét chỉ tiêu đang phân tích bằng cách so sánh chúng với chỉ tiêu gốc, từ đó đưa ra các nhận xét kết luận Hai phương pháp so sánh chủ yếu được sử dụng:
- Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối: được thể hiện cụ thể qua các
con số Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế, cho thấy sự biến động về mặt số lượng các chỉ tiêu qua các năm phân tích và tìm ra nguyên nhân biến động của các chỉ tiêu kinh tế, từ đó đề ra biện pháp khắc phục
- Phương pháp so sánh bằng số tương đối: được tính theo tỷ lệ %, là
kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế Phương pháp này dùng để làm rõ tình hình biến động của mức độ của các chỉ tiêu kinh tế trong thời gian nào đó So sánh tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu giữa các năm và so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu Từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục
2.4 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp phân tích: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích ở
trong cả 4 chương Sử dụng phương pháp phân tích có nghĩa là mọi vấn đề đặt
ra đều phải trả lời câu hỏi “tại sao“? Điều đó cho phép mọi vấn đề đều được nghiên cứu và hiểu một cách thấu đáo, cặn kẽ
Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở kết quả phân tích, phương pháp
tổng hợp được sử dụng để kết nối giữa các mặt, các nhân tố để có cái nhìn tổng thể về sự vật, hiện tượng
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu tác giả áp dụng phương pháp phân tích
dữ liệu khác nhau:
Phân tích theo chiều ngang
Phân tích theo chiều ngang các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, sẽ làm nổi bật biến động của một khoản mục nào đó qua
Trang 31thời gian, việc này sẽ làm nổi rõ về lượng và tỷ lệ các khoản mục theo thời gian Phân tích theo thời gian giúp đánh giá khái quát biến động của các chỉ tiêu từ đó đánh giá tình hình tài chính nhà xuất bản nói chung và NXB ĐHQGHN nói riêng Đánh giá đi từ tổng quát đến chi tiết, sau khi đánh giá ta liên kết các thông tin để đánh giá những hạn chế, tồn tại, xác định nguyên nhân chủ quan khách quan ảnh hưởng đến năng lực quản lý kinh doanh xuất
bản tại Nhà xuất bản
Phân tích theo chiều dọc
Báo cáo quy mô chung, từng khoản mục trên báo cáo được thể hiện bằng một tỷ lệ kết cấu so với một khoản mục được chọn là gốc có tỷ lệ 100%
So sánh số tương đối phân tích theo chiều dọc giúp chúng ta đưa về một điều kiện so sánh, dễ dàng thấy được kết cấu của từng chỉ tiêu bộ phận so với chỉ tiêu tổng thể tăng giảm như thế nào Từ đó khái quát tình hình kinh doanh xuất bản phẩm tại NXB ĐHQGHN Có thể thấy, sử dụng các phương pháp nghiên cứu một cách tổng hợp và hài hòa, bám sát vấn đề, từ đó sẽ tạo nên những hệ thống, luận điểm, luận cứ xác đáng
Tổng kết chương 2
Chương 2 dùng để chỉ ra cách tiếp cận và định hướng nghiên cứu của luận văn Việc nắm rõ các phương pháp này giúp tác giả có cái nhìn tốt hơn, tiết kiệm được thời gian hơn trong công tác thu thập, xử lý số liệu và từ đó đưa ra những dẫn chứng hay phân tích đánh giá sát với đề tài mình đang nghiên cứu
Trang 32Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH, XUẤT BẢN TẠI NXB ĐHQGHN
3.1 Tính chất đặc thù của xuất bản
Sản phẩm xuất bản sản phẩm của hoạt động xuất bản là vật thể vật chất nhưng lại chứa đựng những giá trị tinh thần Sảm phẩm xuất bản vừa mang tính chất khoa học, vừa mang tính văn hóa rõ rệt Tính chất văn hóa còn được biểu hiện qua quá trình lưu thông, phân phối xuất bản phẩm Quá trình này mang tính chất hàng hóa nhưng là hàng hóa đặc biệt mang giá trị sử dụng thuộc văn hóa tinh thần chứ không phải là hàng hóa đơn thuần Chính điều này làm cho hoạt động xuất bản là hoạt động mang tính chất đặc thù
Đối tượng của NXB ĐHQGHN chính là tổ chức kinh doanh, tổ chức xuất bản về loại hình sản phẩm hàng hóa đặc biệt Vì vậy đòi hỏi NXB ĐHQGHN đáp ứng được hai yếu tố đó là chính trị tư tưởng và hoạt động kinh doanh thị trường
NXB ĐHQGHN là một nhà xuất bản khoa học trước đây từ năm
2003-2013 NXB tự tran trải 100% kinh phí chủ yếu hoạt động theo cơ chế thị trường Đối với một nhà xuất bản khoa học thì yếu tố thị trường 100% là không phù hợp bởi vì các dòng sách thương hiệu, dòng sách phổ hẹp không thuộc về số đông thì nhu cầu thị trường là rất hạn chế dẫn đến nhà xuất bản yếu kém trì trệ trong nhiều năm
Từ năm 2014 đến nay, NXB ĐHQGHN là đơn vị sự nghiệp tự trang trải một phần kinh phí và một phần tự bươn trải kinh doanh trường Vậy nhiệm vụ của NXB ĐHQG phải thực hiện được hai yếu tố có tình chất cơ sở thực tiễn
Trang 33vừa đảm bảo được tôn chỉ mục đích của ĐHQGHN giao phó vừa phải kinh doanh để đảm bảo một phần kinh phí hoạt động
3.2 Một số nét khái quát về NXB ĐHQGHN
Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế, ĐHQGHN là một trung tâm nghiên cứu lớn, tiếp cận với nền tri thức của nhân loại, mở rộng biên độ hợp tác với nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới ĐHQGHN cũng kịp thời công bố các sản phẩm khoa học chuyên ngành, liên ngành, liên lĩnh vực
có tầm chiến lược, có tính chất mũi nhọn và có tính thời sự cao; có những công trình khoa học, những bài báo, những phát minh sáng chế có giá trị Trong thực tế, các sản phẩm nghiên cứu khoa học của ĐHQGHN không chỉ phát huy hiệu quả cao đối với ngành giáo dục mà còn góp phần quan trọng vào việc xây dựng chính sách, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần khẳng định vị trí xứng đáng của một trung tâm đại học lớn trong cả nước, đặc biệt là những chương trình đào tạo sinh viên tài năng, phục
vụ nhiệm vụ chiến lược, mũi nhọn
Bên cạnh đội ngũ đông đảo các nhà nghiên cứu khoa học kì cựu, ĐHQGHN còn có một đội ngũ các nhà khoa học trẻ được đào tạo ở những môi trường chính quy, hiện đại, có tốc độ tư duy sắc bén, sáng tạo; có những sản phẩm khoa học đóng góp kịp thời cho sự nghiệp nghiên cứu của ĐHQGHN, phục vụ nhiệm vụ phát kinh tế - xã hội của đất nước Con số này được tăng mạnh mẽ hàng năm Đó chính là tiềm lực mạnh cho việc nghiên cứu, biên soạn , tạo ra những sản phẩm tri thức có giá trị
Vì vậy, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập vào ngày 12/12/1995 theo Quyết định số 512/TCCB của Giám đốc ĐHQGHN NXB ĐHQGHN có trụ sở chính đặt tại số 16 Hàng Chuối, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội là một trong những đơn vị thành viên của
Trang 34của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm
vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Sau 20 năm đi vào hoạt động từ khi bắt đầu thành lập cho đến nay (1995 – 2015), NXB ĐHQGHN đã trải qua 3 giai đoạn với 3 mô hình hoạt động khác nhau:
- Giai đoạn 1995 – 2003: Nhà xuất bản là đơn vị dự toán và hạch toán cấp 2, được đầu tư vốn để hoạt động và hàng năm được cấp kinh phí hoạt động thường xuyên và được cấp nhiệm vụ xuất bản kèm theo
- Giai đoạn 2003 – 2013: Giai đoạn NXB chuyển đổi mô hình hoạt động: Năm 2003, NXB chuyển sang mô hình đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên
- Giai đoạn 2013 – 2015: Giai đoạn phát triển trên nhiều phương diện:
Từ năm 2013 đến nay, NXB đã chuyển từ mô hình hoạt động tự hạch toán, tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động sang cơ chế tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên
Đại học Quốc gia Hà Nội là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao, hướng tới đạt chuẩn quốc tế; có sứ mệnh tiên phong đóng góp vào nhiệm vụ đổi mới toàn diện và quốc tế hoá giáo dục đại học, tạo nên những đột phá trong đào tạo, trong nghiên cứu khoa học công nghệ và quản trị đại học Bao gồm hệ thống các trường đại học thành viên, các trung tâm, các viện nghiên cứu, các hệ thống trường phổ thông chuyên
Vì vậy chức năng nhiệm vụ của NXB được xây dựng dựa trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của ĐHQGHN với một sứ mệnh đặc thù và khác biệt
- Chức năng
Chức năng của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội là tổ chức bản thảo, in và phát hành giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo, tra cứu và các xuất bản phẩm khác đáp ứng nhu cầu đào tạo, nghiên cứu khoa học của
Trang 35ĐHQGHN và của các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế; phổ biến, giới thiệu tri thức, nâng cao dân trí, phục vụ dân sinh
- Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội là tổ chức biên tập, chế bản, in và phát hành các xuất bản phẩm phù hợp với mục đích đào tạo
và nghiên cứu khoa học của ĐHQGHN và nhu cầu của xã hội, bao gồm:
+ Cung cấp giáo trình cho các cơ sở đào tạo của ĐHQGHN;
+ Cung cấp sách tham khảo, chuyên khảo phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ; cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu xây dựng chính sách; công bố các công trình, phát Minh, sáng chế của ĐHQGHN
+ Cung cấp sách công cụ: từ điển, tra cứu, hướng dẫn, tư vấn;
+ Cung cấp sách phổ thông phục vụ đào tạo hệ tài năng, khối chuyên; + Xuất bản sách kỷ yếu phục vụ hội thảo, hội nghị của ĐHQGHN, của các đơn vị trong và ngoài ĐHQGHN;
+ Xuất bản sách phổ biến, giới thiệu tri thức, nâng cao dân trí cộng đồng, phục vụ dân sinh
+ Phối hợp với các đơn vị trong ĐHQGHN phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và hoạt động quản lý, điều hành của ĐHQGHN thông qua hoạt động xuất bản;
Bên cạnh đó, hợp tác, liên doanh, liên kết với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện công tác xuất bản, in và phát hành các xuất bản phẩm dưới dạng sách in và sách điện tử bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài theo quy định của pháp luật và của ĐHQGHN và thực hiện các hoạt động kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực xuất bản, in và phát hành các
Trang 363.3 Thực trạng năng lực quản lý của NXB ĐHQGHN về hoạt động kinh doanh, xuất bản
3.3.1 Về mô hình quản lý NXB ĐHQGHN
Theo luật xuất bản 2012, các NXB được tổ chức hoạt động theo hai loại hình là đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện Trên thực tế, theo số liệu thống kê của Cục xuất bản, đến nay cả nước ta có 63 NXB được tổ chức hoạt động dưới nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào
cơ quan chủ quản của nhà xuất bản (Cục Xuất bản – In và Phát hành, 2015)
Bảng 3.1 cho thấy, có sự thay đổi về tổng số NXB qua các năm và mô hình hoạt động có sự chuyển đổi Năm 2013, có 65 NXB trong đó có 3 NXB hoạt động theo loại hình DN nhà nước, 45 NXB hoạt động theo loại hình ĐVSN, 17 NXB hoạt động theo loại hình công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước Đến năm 2014, số lượng NXB có xu hướng giảm đi còn tổng cộng 64 NXB (giảm 01 NXB) Trong đó, số NXB tổ chức hoạt động theo loại hình DN nhà nước tăng lên thành 04 NXB (tăng 01 NXB), số NXB hoạt động theo loại hình ĐVSN giảm 01 NXB, số NXB theo loại hình Công
ty TNHH một thành viên giảm 02 NXB và có 01 NXB chuyển đổi hoạt động sang loại hình công ty Mẹ - công ty Con (NXB Giáo dục Việt Nam) Đến năm
2015, số lượng NXB còn tổng cộng là 63 NXB (giảm 01 NXB)
Tuy nhiên, có thể thấy rằng một trong những vướng mắc hiện nay hạn chế đến sự phát triển của các NXB và của toàn ngành là việc chuyển đổi các loại hình tổ chức và hoạt động của các NXB
BẢNG 3.1 TỔ CHỨC LOẠI HÌNH CÁC NHÀ XUẤT BẢN
GIAI ĐOẠN 2013 – 2015
TT Loại hình Doanh Nghiệp ĐVT 2013 2014 2015
Trang 37TT Loại hình Doanh Nghiệp ĐVT 2013 2014 2015
(Nguồn: Báo cáo của Cục Xuất bản – In và Phát hành năm 2015)
Việc chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH một thành viên của một
số NXB thời gian qua không có sự chuyển biến rõ nét Các điều kiện về chuyển đổi chưa áp dụng được với nhu cầu thực tế Những NXB này hoạt động theo mô hình mới, song thực chất vẫn là cơ chế hoạt động cũ, nhưng lại phát sinh những vấn đề mới tác động đến sự ổn định và phát triển của NXB sau khi chuyển đổi
Mô hình tổ chức và hoạt động của các NXB hiện nay cũng đang tạo ra
sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các NXB, chưa tạo điều kiện thuận lợi để một số NXB phát huy hết nội lực của mình
Ngoài các mô hình phân theo cơ chế hoạt động như đã nói ở trên, trên thực tế, các NXB có tổ chức quản lý hoạt động xuất bản có sự phân chia, phân cấp theo phạm vi hoạt động như khối NXB Trung ương – địa phương; khối thuộc các trường đại học; theo chức năng, nhiệm vụ như khối các NXB chuyên ngành, NXB tổng hợp,… Nhiều cách phân loại như vậy nên việc xây dựng cơ chế, chính sách cho từng nhóm đối tượng gặp nhiều khó khăn
Từ khi thành lập đến nay NXB ĐHQGHN trải qua 3 giai đoạn với 3
mô hình hoạt động khác nhau:
Giai đoạn 1995 – 2003
Đây là giai đoạn mới thành lập, giai đoạn NXB tập trung thực hiện 4
Trang 38khảo do ĐHQGHN giao, xuất bản tài liệu phục vụ các cơ sở giáo dục trong ĐHQGHN; các tạp chí công bố những bài báo, những phát minh sáng chế của ĐHQGHN; các bản tin tập hợp, công bố tin tức hoạt động hàng tháng, hàng
kỳ của ĐHQGHN và các ấn phẩm của NXB ĐHQGHN NXB ĐHQGHN là đơn vị dự toán và hạch toán cấp 2, được đầu tư vốn để hoạt động, được cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm và được cấp nhiệm vụ xuất bản kèm theo Giai đoạn này NXB đã tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của ĐHQGHN, đảm bảo tiến độ, chất lượng Ngoài ra, NXB không ngừng
mở rộng hợp tác liên kết xuất bản với các đối tác trong và ngoài nước
Giai đoạn 2003 - 2013
Năm 2003, NXB ĐHQGHN bắt đầu chuyển từ mô hình đơn vị dự toán
và hạch toán cấp 2 sang mô hình đơn vị sự nghiệp công lập đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên Giai đoạn này đơn vị vừa phải hoạt động theo cơ chế tự trang trải, lấy thu bù chi, gần như bị cắt đứt hoàn toàn mọi bao cấp, vừa phải đảm bảo nhiệm vụ chính trị, tôn chỉ, mục đích; cùng với chưa
có các chính sách đầu tư, chưa có định hướng lâu dài cho ngành xuất bản, cho NXB; NXB chưa được chú trọng đầu tư về cơ sở vật chất, văn phòng làm việc còn thiếu và ở trong tình trạng xuống cấp, nhiều năm không được nâng cấp sửa chữa Trang biết bị thiếu thốn, lạc hậu, phần lớn máy móc do NXB tự trang bị, vừa thiếu chất lượng lại thấp
Trong 10 năm hoạt động theo mô hình cơ chế tự chủ tài chính, NXB ĐHQGHN đã bộc lộ rất nhiều khó khăn, bất cập: mâu thuẫn giữa cơ chế hoạt động tự trang trải, tự hạch toán với nhiệm vụ chính trị, tôn chỉ, mục đích của một NXB khoa học chuyên ngành; mâu thuẫn giữa dòng sách phổ rộng, hàm luợng tri thức thấp, phục vụ độc giả số đông với dòng sách khoa học có hàm luợng tri thức cao, thời gian đầu tư lâu dài, công sức lớn đổi tuợng độc giả ít, chủ yếu là các dòng sách phổ hẹp, phục vụ đào tạo, nghiên cứu; mâu thuẫn
Trang 39giữa lợi nhuận, đuợc tính bằng doanh số với lợi nhuận tính bằng hàm luợng tri thức và phạm vi thụ huởng thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thế hệ
Do mâu thuẫn về mô hình cơ chế với tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ tư tuởng, chính trị nên NXB ĐHQGHN không thể tổ chức, điều hành hoạt động một cách khoa học, triệt để; không thể có kế hoạch phát triển NXB lâu dài, cụ thể, rõ ràng; không thể xây dựng một chính sách khoa học, hợp lý và công bằng mà sử dụng những chính sách có tính chất yếm thế, chưa có điều kiện cải cách và phát triển đơn vị, việc xây dựng các chính sách gặp nhiều khó khăn, trở ngại
Giai đoạn 2013 - 2015
Giai đoạn này NXB ĐHQGHN chuyển đổi mô hình hoạt động tự hoạch toán, tự đảm bảo 100% kinh phí hoạt động sang loại hình đơn vị trực thuộc ĐHQGHN, hoạt động theo cơ chế tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên và đã tháo gỡ được rất nhiều khó khăn
BẢNG 3.2: TỔNG HỢP NGUỒN TÀI CHÍNH, CƠ CẤU NGUỒN TÀI
Tỷ lệ (%)
1 Kinh phí NSNN cấp 1.491 18,5 3.116 26,5 6.028 45
2 Tổng thu hoạt động
sản xuất dịch vụ 6.396 81,5 8.628 73,5 7.709 55
Tổng cộng 7.887 100 11.744 100 13.373 100 (Nguồn: Báo cáo tài chính của NXB ĐHQGHN các năm 2013, 2014, 2015)
Trang 40Nhìn vào bảng 3.2 ta thấy nguồn NSNN năm 2014 tăng so với năm
2013 Điều này một phần nhờ vào chính sách của ĐHQGHN qua việc ban hành Quyết định số 33/QĐ-ĐHQGHN ngày 06/01/2014, cấp 20 xuất lượng cho NXB
So với năm 2014 kinh phí từ NSNN ngày càng tăng cho đến năm 2015 chiếm 45% tổng nguồn thu NSNN và hoạt động dịch vụ
Đây là một tín hiệu đáng mừng chứng tỏ sự tin tưởng, kỳ vọng và đầu
tư của ĐHQGHN đối với sự phát triển NXB ngày càng lớn mạnh
Đối với nhà NXB ĐHQGHN nguồn NSNN này là một nguồn kinh phí đóng vai trò quan trọng, tạo điều kiện cho NXB có thể phát triển đi lên đúng với tôn chỉ, mục đích của mình