Hệ thống chính trị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) hình thành từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là hệ thống chính trị của chế độ mới chế độ dân chủ nhân dân, rồi chuyển sang thời kỳ quá độ lên CNXH. Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước được độc lập, thống nhất hoàn toàn, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, hệ thống chính trị nước ta đã được tiếp tục từng bước xây dựng, củng cố. Hoạt động của hệ thống chính trị đã hướng vào việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Trang 1
Ban Chấp hành Trung ương BCHTW
Trang 2MỞ ĐẦU
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001
1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng về đổi
mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị từnăm 1991 đến năm 2001
1.2 Sự chỉ đạo của Đảng về đổi mới phương thức hoạt động
của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001
Chương 2 KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM ĐẢNG LÃNH
ĐẠO ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001
2.1 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
2.2 Kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng lãnh đạo đổi
mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị từnăm 1991 đến năm 2001
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống chính trị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) hình thành từ sau thắng lợi của Cách mạngTháng Tám là hệ thống chính trị của chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân,rồi chuyển sang thời kỳ quá độ lên CNXH Sau Đại thắng mùa Xuân năm
1975, đất nước được độc lập, thống nhất hoàn toàn, cả nước bước vào thời kỳquá độ lên CNXH, hệ thống chính trị nước ta đã được tiếp tục từng bước xâydựng, củng cố Hoạt động của hệ thống chính trị đã hướng vào việc thực hiệnhai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổquốc Việt Nam XHCN Tuy nhiên, trước những biến động lớn lao của tìnhhình trong nước và trên thế giới, trước những yêu cầu mới của thời kỳ quá độ,phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nước ta cũng bộc lộ những mặthạn chế, bất cập
Nhận thức được vấn đề đó, ngay từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, Đảng
đã xác định mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Đổi mớitoàn diện, đồng bộ và triệt để với những bước đi và cách làm phù hợp Trongthời gian đầu, tập trung sức vào khâu then chốt là đổi mới kinh tế; đồng thờicũng phải kết hợp ngay từ đầu việc đổi mới hệ thống chính trị, mà trước hết làđổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
Quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới phương thức hoạt động của hệ thốngchính trị trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là giai đoạn từ năm 1991 đến năm
2001 - đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị theo tinh thầnCương lĩnh của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6.1991), và Nghịquyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6.1996) của Đảng khôngchỉ có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới đất nước mà còn đểlại nhiều kinh nghiệm quí báu cho hoạt động lãnh đạo của Đảng Đánh giá về
Trang 4quá trình đổi mới hệ thống chính trị trong thời gian này, Hội nghị lần thứ bảyBCHTW Đảng, khoá VIII (8.1999) đã khẳng định:
Từ sau Đại hội VI của Đảng, qua hai lần sắp xếp, hệ thống chính trị ởnước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đãtừng bước được cụ thể hoá về chức năng, nhiệm vụ, củng cố về tổ chức,
bộ máy tinh giản biên chế, đổi mới phương thức, lề lối làm việc…Nhữngtiến bộ đó đã phát huy sức mạnh tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị
và đội ngũ cán bộ, công chức, góp phần bảo đảm thắng lợi của sự nghiệpcách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta [16, tr.33]
Nghiên cứu, tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới phương thức hoạtđộng của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001; đánh giá đúng những kếtquả đạt được, tìm ra những khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân; từ đó rút ranhững kinh nghiệm để vận dụng tiếp tục đổi mới là vấn đề có ý nghĩa thiết thựcđối với nhiệm vụ nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như đối vớiyêu cầu thực tiễn đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị hiện nay
Với lý do đó, tác giả chọn đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001 làm luận văn cao học.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thuật ngữ hệ thống chính trị được Đảng ta chính thức sử dụng trongHội nghị lần thứ sáu BCHTW Đảng, khoá VI (3.1989) và đến Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng đã nêu lên một hệ thống quan điểm cơ bản
về hệ thống chính trị Từ đó, những vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ thốngchính trị và đổi mới hệ thống chính trị đã được đề cập nghiên cứu với mức độkhác nhau trong các công trình khoa học được công bố Có thể nêu lên một sốcông trình chủ yếu như sau:
Trang 5* Các công trình nghiên cứu chung về hệ thống chính trị, trong đó
có đề cập đến phương thức hoạt động của hệ thống chính trị.
Các đề tài khoa học:
Ngay từ đầu thập niên 90, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh(nay là Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) đã thực hiện
chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước (KX.05) Hệ thống chính trị
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, do GS Nguyễn Đức
Bình làm chủ biên Đề tài KX.05 có các nhánh đề tài như: Chính trị và hệ thống
chính trị trong Học thuyết Mác - Lênin và những bài học về sự vận dụng nó ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, mã số KX.05.01; Chính trị và hệ thống chính trị của các nước tư bản phát triển, mã số KX.05.02; Đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mã số KX.05.04;
Cơ chế thực hiện dân chủ trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, mã số
KX.05.05; Đặc điểm, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ
thống chính trị, mã số KX.05.06; Vị trí và tính chất hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị, mã số KX.05.10
Đây là một công trình khoa học quan trọng, nghiên cứu một cách cơbản, toàn diện về hệ thống chính trị ở nước ta trong thời kỳ quá độ lênCNXH; hệ thống hoá các đặc trưng, quan điểm, nguyên tắc xây dựng và hoạtđộng của hệ thống chính trị ở nước ta theo tinh thần đổi mới của Đảng; đềxuất mô hình tổng thể của hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ lênCNXH Đặc biệt, công trình này đã luận giải, làm rõ khái niệm hệ thốngchính trị, phân biệt hệ thống chính trị XHCN với hệ thống chính trị của thời
kỳ quá độ lên CNXH Công trình này cũng đã đi sâu nghiên cứu về vấn đềphương thức lãnh đạo của Đảng, về vị trí, vai trò, tính chất hoạt động của cácthành tố cấu thành hệ thống chính trị
Trang 6Đề tài khoa học cấp Bộ: Cải cách bộ máy hành chính nhà nước Việt
Nam, của GS.TS Nguyễn Duy Gia làm chủ biên Đề tài đã luận giải cơ sở
khoa học về vấn đề cải cách bộ máy hành chính nhà nước, nêu lên nhữngquan điểm, nguyên tắc, yêu cầu và phương hướng tổ chức bộ máy hành chínhnhà nước ở Việt Nam; đi sâu phân tích vấn đề cải cách tổ chức bộ máy, làm
rõ và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan trong bộ máyhành chính, khắc phục sự trùng lắp chức năng, nhiệm vụ, nâng cao hiệu quảquản lý nhà nước đối với xã hội
Một số cuốn sách viết về hệ thống chính trị:
Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới do PGS.PTS Trần Xuân Sầm chủ biên; Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1998; Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong
giai đoạn mới do GS Nguyễn Đức Bình, GS.PTS Trần Ngọc Hiên, GS Đoàn
Trọng Truyến, PGS.PTS Nguyễn Văn Thảo và PGS.PTS Trần Xuân Sầm
đồng chủ biên; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Xây dựng hệ thống
chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Học viện Chính trị quân sự, Nxb
Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000; Một số vấn đề về xây dựng hệ thống chính
trị ở Tây nguyên do Phạm Hảo, Trương Minh Dục (Đồng chủ biên), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003
Các cuốn sách trên đã đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản như bản chất, đặctrưng của hệ thống chính trị nước ta, vai trò của Đảng, Nhà nước và các tổchức trong hệ thống chính trị, phân tích vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đếnquá trình xây dựng, đổi mới, tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta
* Các công trình nghiên cứu từng mặt, từng thành tố của hệ thống chính trị nước ta đã được công bố như: Đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng của GS.TS Trần Đình Nghiêm, GS.TS Phạm Ngọc Quang, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ
Trang 7đổi mới đất nước, vấn đề và kinh nghiệm do TS Nguyễn Văn Sáu, PGS.PTS.
Trần Xuân Sầm, PGS.TS Lê Doãn Tá (Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội 2002; Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay do TS Thang Văn Phúc, TS.
Nguyễn Minh Phương (Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2007; Mối quan hệ Đảng - Nhà nước - Dân trong cuộc sống, Nguyễn Khánh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007; Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội
trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, Nguyễn Hữu Đổng (Chủ biên),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Nhà nước của dân, do dân, vì dân
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời
kỳ mới do Học viện Chính trị biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2010
Một số luận án:
Bệnh quan liêu của bộ máy nhà nước và phương hướng khắc phục
trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, Trần Thành,
Luận án Phó tiến sĩ Triết học, mã số 5.01.02, Hà Nội, 1994; Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từ năm 1996 đến năm 2006, Hồ Xuân Quang, Luận án Tiến sĩ Lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008; Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo xây dựng nền hành chính nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1991 đến năm 2005, Trần Đình Thắng, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam mã số 62 22 56 01, Hà Nội, 2009
Những công trình khoa học nói trên đã đề cập đến một số vấn đề lý luận
cơ bản về hệ thống chính trị và xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta; phântích vai trò của từng tổ chức thành viên của hệ thống chính trị; nêu lên nhữngkinh nghiệm và giải pháp xây dựng, đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạocủa các thành tố trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ
Trang 8quốc); phân tích mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị…Tuychưa đề cập trực tiếp đến vấn đề đổi mới phương thức hoạt động của hệ thốngchính trị với tính chất hệ thống, song những công trình này đã cung cấp choluận văn nhiều tư liệu trong quá trình nghiên cứu.
* Các công trình trực tiếp bàn về đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị như: Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp
huyện một số tỉnh miền núi phía Bắc trong điều kiện hiện nay Đề tài khoa học cấp
Bộ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, phân viện Hà Nội, PTS Lê
Văn Phụng (chủ nhiệm đề tài), 1999; Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống
chính trị ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay do PGS.TS Tô Huy Rứa, PGS.TS.
Nguyễn Cúc, PGS.TS Trần Khắc Việt (Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2003
Mặc dù các công trình nêu trên đều tiếp cận nghiên cứu hệ thống chínhtrị ở phạm vi từng khu vực cụ thể; song đã góp phần hệ thống hoá các quanđiểm của Đảng về hệ thống chính trị, luận giải một số vấn đề như khái niệm
hệ thống chính trị và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, đề xuấtnhững giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở…
* Các công trình giới thiệu về hệ thống chính trị và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị của một số nước trên thế giới như:
Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, xây dựng Đảng cầm quyền, kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Tập hợp các
tham luận của các nhà khoa học nghiên cứu lý luận và thực tiễn, những ngườilàm công tác lý luận, tư tưởng của Việt Nam và Trung Quốc về kinh nghiệmxây dựng Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền -thành tố quan trọng nhất của hệ thống chính trị XHCN
Hệ thống chính trị của Anh, Pháp, Mỹ (Sách tham khảo), Nguyễn Văn
Huyên (Chủ biên), Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2007 Cuốn sách đã giới
Trang 9thiệu về mô hình hệ thống chính trị ở một số nước tư bản chủ nghĩa, vai tròcủa các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị và mối quan hệ giữachúng; đồng thời có sự so sánh, liên hệ với mô hình tổ chức hệ thống chính trị
ở nước ta
Như vậy, cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệthống chính trị và đổi mới hệ thống chính trị ở nhiều mức độ khác nhau; tuynhiên vấn đề Đảng lãnh đạo đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chínhtrị trong công cuộc đổi mới đất nước vẫn còn là một nội dung khá mới mẻ, cả về
lý luận và thực tiễn chưa được tập trung nghiên cứu một cách hệ thống và toàndiện
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích
Luận văn làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng về đổi mới phương thức hoạtđộng của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001; qua đó, khẳng định nhữngkết quả, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm, góp phần cung cấp luận cứ để tiếptục đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay
* Đối tượng
Nghiên cứu quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về đổi mớiphương thức hoạt động của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001
Trang 10* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về đổi mới phương thứchoạt động của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001 Để có thể sosánh, luận văn đề cập đến một số vấn đề liên quan trước năm 1991 và saunăm 2001
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về hệ thống chính trị XHCN và đổi mới hệ thống chính trị ởnước ta hiện nay
-* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học Lịch sử,chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc Ngoài ra, luận văn còn sửdụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đồng đại, lịch đại
5 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả của luận văn góp phần nghiên cứu đầy đủ hơn quá trình lãnh đạođổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nói riêng, đổi mới hệthống chính trị nói chung của Đảng từ năm 1991 đến năm 2001; khẳng định tínhđúng đắn, sáng tạo trong đường lối của Đảng; đồng thời đánh giá kết quả và rút
ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng trong thực tiễn hiện nay
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảngdạy và học tập môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các học viện, nhàtrường trong và ngoài quân đội
6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận vàdanh mục tài liệu tham khảo
Trang 11Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001 1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng về đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001
1.1.1 Hệ thống chính trị và yêu cầu khách quan đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
1.1.1.1 Hệ thống chính trị và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
* Khái niệm hệ thống chính trị
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ thống chính trị củaCNXH chính là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội mà nhờ đó, nhân dânlao động thực thi quyền lực của mình trong xã hội
Dưới CNXH, do có sự thống nhất về lợi ích giữa giai cấp công nhân giai cấp cầm quyền và nhân dân lao động, nên hệ thống chính trị không chỉ là
-hệ thống quyền lực của giai cấp công nhân, mà còn là cơ chế xã hội để qua
đó, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình dưới sự lãnh đạo củaĐảng của giai cấp công nhân
Ở nước ta, hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức bao gồm: Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân cùng các quan hệ giữa các
tổ chức đó với nhau, hợp thành cơ chế dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trang 12Hệ thống chính trị nước ta là hệ thống chính trị XHCN hoạt động theo
cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Đảng Cộng sảnViệt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiềnphong của nhân dân lao động, đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động vàcủa toàn dân tộc, có sứ mệnh lãnh đạo toàn bộ xã hội thông qua nhà nước vàcác đoàn thể nhân dân; Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cóchức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội, là công cụ, phương tiện để qua
đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cácđoàn thể nhân dân có chức năng tập hợp các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong
xã hội tham gia việc quản lí nhà nước, quản lý xã hội
* Phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
Phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là hệ thống các cáchthức, phương pháp, hình thức mà hệ thống chính trị sử dụng để tác động vàođối tượng lãnh đạo, quản lý, vận động của mình (các tổ chức, các lực lượngquần chúng) để tập hợp các tổ chức đó và đông đảo quần chúng nhằm thựchiện mục tiêu, nhiệm vụ do hệ thống chính trị đặt ra
Hệ thống chính trị nước ta bao gồm nhiều thành tố; mỗi thành tố có vịtrí, chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động riêng nhưng gắn bó chặtchẽ với nhau theo một cơ chế hoạt động thống nhất để tác động vào các quátrình kinh tế - xã hội Do đó, có thể xem xét phương thức hoạt động của hệthống chính trị trên hai phương diện, đó là:
Thứ nhất, phương thức hoạt động chung của toàn bộ hệ thống chính trị, tức là những cách thức, phương pháp giải quyết mối quan hệ qua lại và tác
động lẫn nhau giữa các thành tố của hệ thống chính trị; điều hành, phối hợphoạt động của các thành tố đó theo mục tiêu chung của cả hệ thống
Trang 13Ở phương diện này, có thể coi phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị là sự cụ thể hoá cơ chế vận hành: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ.
Thứ hai, phương thức hoạt động của từng thành tố, tức là toàn bộ cách
thức, phương pháp hoạt động của mỗi thành tố nhằm thực hiện chức năng,nhiệm vụ của mình Cụ thể là:
Phương thức hoạt động của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân
lãnh đạo hệ thống chính trị, giữ vai trò lãnh đạo chính trị đối với toàn xã hội Sựlãnh đạo của Đảng bao gồm nội dung lãnh đạo và công tác tổ chức thực hiện nộidung đó, trong đó có phương thức lãnh đạo Phương thức lãnh đạo của Đảng là
hệ thống các cách thức, phương pháp mà Đảng vận dụng để tác động vào các tổchức, các lực lượng nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội xác định:
Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng
về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền,thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gươngmẫu của đảng viên Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủnăng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạochính quyền và các đoàn thể [23, tr.405]
Đảng thực hiện vai trò hạt nhân lãnh đạo của mình bằng việc đề rađường lối và các chính sách của Đảng, lãnh đạo biến các chủ trương chínhsách đó thành pháp luật của Nhà nước cho mọi người dân thực hiện Đảnglãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và giới thiệu cán bộ vào những vị trí quantrọng của cơ quan Nhà nước, giáo dục cán bộ, đảng viên của Đảng giữ gìnphẩm chất đạo đức cách mạng, hết lòng phục vụ nhân dân, chấp hành nghiêmchỉnh luật pháp của Nhà nước Đồng thời, Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của
Trang 14mình thông qua việc xây dựng các tổ chức quần chúng, động viên, giáo dụcquần chúng vừa thực hiện pháp luật và các chính sách của Nhà nước vừa giữvai trò phản biện xã hội; đóng góp ý kiến xây dựng, kiểm tra đôn đốc với các
cơ quan của Nhà nước Mặt khác, Đảng còn lãnh đạo phối hợp thống nhấthoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị và tiến hành công tác kiểmtra đối với các tổ chức đó thông qua tổ chức đảng và cá nhân đảng viên hoạtđộng trong hệ thống chính trị
Phương thức hoạt động của Nhà nước: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là một trụ cột của hệ thống chính trị và là công cụ chủ yếu đểthực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước có chức năng trực tiếpquản lý, điều hành mọi hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước; thể chế hoá và tổchức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng Phương thức hoạt động của Nhànước là hệ thống các cách thức, phương pháp, biện pháp mà Nhà nước sử dụng
để quản lý, điều hành xã hội nhằm thực hiện đường lối chính trị của Đảng
Nhà nước quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật Cácquan hệ cơ bản trong xã hội được xác định và điều chỉnh chủ yếu bằng pháp luật.Pháp luật của Nhà nước thể hiện quyền lực của nhân dân, về thực chất, là sự thểchế hoá đường lối, chủ trương, các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng.Phương thức hoạt động của Nhà nước thể hiện trong việc Nhà nước thực hiệnquyền lực của mình trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp
Phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân
dân có chức năng vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên động lực chủ yếu trong sự phát triểncủa đất nước
Trang 15Phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoànthể nhân dân là hệ thống các cách thức, phương pháp mà Mặt trận và các đoànthể nhân dân sử dụng để vận động, tập hợp các tầng lớp quần chúng nhân dânthực hiện các chương trình hành động chung và các chương trình hành động củamỗi tổ chức theo chức năng cụ thể của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đề ra chương trình hành động chung, tiến hành hiệp thươngdân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên; các thành viênđảm nhận từng phần việc phù hợp với chức năng và khả năng của mình Sự phốihợp, thống nhất hành động trong nội bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và giữa Mặttrận với các tổ chức thành viên là vấn đề cơ bản nhất trong phương thức hoạt độngcủa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân
* Vai trò của phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
Phương thức hoạt động của hệ thống chính trị có vai trò rất quan trọng,tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Nói cáchkhác, các tổ chức trong hệ thống chính trị chỉ có thể phát huy vai trò, chức năngcủa mình trên cơ sở xác định được phương thức hoạt động phù hợp
Phương thức hoạt động của hệ thống chính trị gắn chặt và phụ thuộcvào vai trò, chức năng, tính chất hoạt động của hệ thống chính trị và vậnđộng, phát triển cùng với sự phát triển của các thành tố trong hệ thống chínhtrị Các thành tố trong hệ thống chính trị với tư cách chủ thể, đương nhiên cầnđược tổ chức xây dựng một cách hợp lý và không ngừng cải cách, đổi mới về
tổ chức, bộ máy theo sự phát triển của xã hội qua mỗi thời kỳ Tuy nhiên, nhưthế vẫn chưa đủ, vấn đề là cùng với xây dựng tổ chức bộ máy, phải xác địnhđược phương thức hoạt động phù hợp với vai trò, chức năng, tính chất của tổchức, bộ máy đó và phù hợp với điều kiện xã hội Phương thức hoạt động là
hệ thống các phương pháp, hình thức, biện pháp được các tổ chức trong hệthống chính trị sử dụng tác động đến đối tượng của mình Do đó, phương thức
Trang 16hoạt động chính là con đường để hiện thực hoá mục tiêu của các tổ chức trong
hệ thống chính trị và của cả hệ thống chính trị
Nội dung hoạt động của hệ thống chính trị và phương thức hoạt độngcủa hệ thống chính trị luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó nộidung hoạt động là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất, phương thức hoạt động làyếu tố rất quan trọng Nội dung hoạt động tốt, phương thức hoạt động phùhợp thì hiệu quả hoạt động sẽ cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng.Nếu có nội dung hoạt động tốt mà phương thức hoạt động kém hoặc khôngphù hợp thì hiệu quả thực hiện nội dung đó sẽ không cao Lẽ dĩ nhiên, khôngthể có một phương thức hoạt động tốt nếu nội dung hoạt động không đượcxác định đúng đắn hoặc chất lượng thấp “Kinh nghiệm cho thấy, mức độthành công của công cuộc đổi mới phụ thuộc vào tính đúng đắn của đườnglối, đồng thời còn trực tiếp phụ thuộc vào khả năng tìm kiếm, lựa chọn cácphương thức tổ chức và hoạt động thích hợp” [11, tr.15]
Như vậy, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị tuy phụ thuộc vàochức năng, nhiệm vụ, tính chất tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và nộidung hoạt động của hệ thống chính trị, nhưng có vai trò hết sức quan trọng trongviệc thực hiện nội dung hoạt động của hệ thống chính trị Hệ thống chính trịXHCN chỉ có thể đủ mạnh và đáp ứng được yêu cầu giữ vững sự lãnh đạo củaĐảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy đầy đủ quyền làmchủ của nhân dân khi đồng thời đáp ứng những vấn đề cơ bản đó là: có tổ chứchợp lý, có nội dung hoạt động đúng và có phương thức hoạt động phù hợp
1.1.1.2 Yêu cầu khách quan đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
Ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản ViệtNam đã xác định đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mớichính trị Quan điểm của Đảng là phải tiến hành đổi mới toàn diện, đồng bộ
và triệt để với những bước đi và cách làm phù hợp Trong thời gian đầu, tập
Trang 17trung sức đổi mới kinh tế, song tiến hành đồng thời việc đổi mới hệ thốngchính trị, mà trước hết là đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt độngcủa các tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể nhân dân
Trong đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta, cùng với đổi mới về tổchức, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là một yêu cầuhết sức quan trọng và là một đòi hỏi khách quan Tính tất yếu khách quan đóthể hiện trên những vấn đề sau đây:
* Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là yêu cầu khách quan đáp ứng sự vận động phát triển của hệ thống chính trị.
Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minhrằng mọi yếu tố, mọi trạng thái, mọi sự vật, hiện tượng của thế giới đều ởtrong khuynh hướng vận động, phát triển không ngừng Sự vận động, pháttriển của các sự vật, hiện tượng sẽ dẫn đến việc thay thế cái cũ không còn phùhợp bằng cái mới tốt hơn, tiến bộ và phù hợp hơn Theo nghĩa chung nhất đóchính là sự đổi mới
Mặt khác, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin khichứng minh tính thống nhất của thế giới cũng đồng thời chỉ ra rằng mọi yếu
tố, mọi trạng thái tồn tại của thế giới đều có mối liên hệ tác động và ảnhhưởng lẫn nhau trong một quá trình đa dạng, phong phú
Trong mối quan hệ biện chứng và khuynh hướng vận động phát triển
đó, khi một yếu tố, một trạng thái bất kỳ của thế giới biến đổi, chuyển hoá đều
có thể tác động, gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến toàn bộ hệ thống
Hệ thống chính trị là một bộ phận của hệ thống xã hội, do đó cũng luônvận động, phát triển và không ngừng đổi mới Trong hệ thống xã hội, với vịtrí, chức năng của mình, hệ thống chính trị là nhân tố cơ bản quyết định sựphát triển của xã hội; nhưng mặt khác, sự tồn tại và phát triển của hệ thốngchính trị lại được quy định bởi cơ sở kinh tế - xã hội và cơ sở chính trị xã hội
Trang 18của nó Do đó, khi cơ sở kinh tế - xã hội và cơ sở chính trị - xã hội biến đổi,tất yếu hệ thống chính trị sẽ biến đổi Đổi mới hệ thống chính trị trước hết làyêu cầu tự thân của chính hệ thống chính trị trong quá trình phát triển, hoànthiện; đổi mới chính là để tiếp tục phát triển
Sự vận động phát triển, đổi mới của hệ thống chính trị với tư cách là mộtchỉnh thể thống nhất, đòi hỏi sự vận động, phát triển của các yếu tố cấu thànhtrong hệ thống và theo đó, là sự vận động phát triển, đổi mới của phương thứchoạt động của cả hệ thống cũng như của mỗi thành tố trong hệ thống chính trị
Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là một yêu cầukhách quan, sự đổi mới đó nhằm đạt tới một phương thức hoạt động phù hợpvới chủ thể của hoạt động là các thành tố của hệ thống chính trị đã và đangđổi mới; đảm bảo cho hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả cao nhất
* Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị xuất phát từ
sự đổi mới nội dung hoạt động của hệ thống chính trị nhằm đáp ứng sự thay đổi, phát triển của nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ cách mạng.
Phương thức hoạt động của hệ thống chính trị luôn gắn liền với mục tiêu,nhiệm vụ chính trị được xác định bởi đường lối chính trị của thành tố giữ vai tròlãnh đạo hệ thống chính trị Trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, ĐảngCộng sản Việt Nam - thành tố giữ vai trò lãnh đạo, đề ra đường lối định hướnghoạt động của hệ thống chính trị nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nướctrong mỗi thời kỳ Đường lối chính trị của Đảng sẽ quyết định phương thức hoạtđộng của hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu của cách mạng và hiện thực xãhội đặt ra
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cả nước độclập thống nhất, quá độ lên CNXH; cách mạng Việt Nam chuyển sang giaiđoạn mới, giai đoạn tiến hành các mạng XHCN trong cả nước Quy mô rộnglớn và tính chất phức tạp của những nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong thời kỳ
Trang 19quá độ, cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa hai con đường XHCN và tư bản chủnghĩa; cuộc đấu tranh của nhân dân ta với chủ nghĩa đế quốc và các thế lựcthù địch đòi hỏi phải tăng cường hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị
Nhiệm vụ cách mạng thay đổi, do đó hệ thống chính trị của nước tacũng chuyển sang giai đoạn mới: từ hệ thống chuyên chính dân chủ nhân dânlàm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản trong phạm vi miền Bắc trởthành hệ thống chuyên chính vô sản hoạt động trong phạm vi cả nước Hệthống chuyên chính vô sản nước ta từ sau năm 1975 là hệ thống chuyên chính
vô sản mang đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH
Quan niệm của Đảng ta về xây dựng hệ thống chuyên chính vô sảntrong thời kỳ này là xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN; tức là xây dựngmột hệ thống hoàn chỉnh các quan hệ xã hội, thể hiện ngày càng đầy đủ sựlàm chủ của nhân dân lao động trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân
Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng tiếp tục khẳng định hai nhiệm vụ chiếnlược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vữngchắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Về nhiệm vụ xây dựng CNXH, Đảng xácđịnh: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại củachặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tụcxây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCNtrong chặng đường tiếp theo Đồng thời, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụxây dựng CNXH, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đề cao cảnh giác, tăngcường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước, quyết đánh thắng kiểuchiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, bảo đảm chủ động trong mọi tìnhhuống để bảo vệ Tổ quốc
Trang 20Nội dung hoạt động của hệ thống chính trị thay đổi nhằm đáp ứng nhữngyêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, do đó, đòi hỏi Đảng ta phải lãnh đạo đổimới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
* Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị xuất phát từ yêu cầu khắc phục những hạn chế trong phương thức hoạt động của hệ thống chuyên chính vô sản thời kỳ trước đổi mới.
Hệ thống chuyên chính vô sản của nước ta từ khi được xây dựng sauCách mạng tháng Tám luôn được chăm lo xây dựng, củng cố và đã phát huytốt vai trò thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dânlao động Việt Nam, đặc biệt là trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân
Trong những năm cả nước thống nhất đi lên xây dựng CNXH, hệ thốngchuyên chính vô sản giữ vai trò quan trọng trong tổ chức và phát huy sứcmạnh của cả dân tộc thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN,đạt được những thành tựu to lớn
Tuy nhiên, tổ chức và hoạt động của hệ thống chuyên chính vô sản thời
kỳ này cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về tổ chức và phương thức hoạtđộng mà biểu hiện cụ thể là:
Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân ở từng đơn vị chưa đượcxác định thật rõ; mỗi bộ phận, mỗi tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sảnchưa làm tốt chức năng của mình Hoạt động còn nhiều biểu hiện chồng chéo,lấn sân về chức năng, nhiệm vụ; đồng thời có mặt lại bị buông lỏng Chế độtrách nhiệm không nghiêm, pháp chế XHCN còn nhiều thiếu sót
Về xây dựng Đảng, Hội nghị lần thứ sáu BCHTW Đảng, khoá VI(3.1989) nhận định:
Bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cảnước, Đảng coi nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng kinh tế là chủ yếu,nhưng tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của Đảng cũngnhư của cả hệ thống chính trị về cơ bản vẫn theo mô hình và
Trang 21phương thức cũ Khuyết điểm lớn nhất là chức năng, nhiệm vụ chưa
phân định rõ, bộ máy rất nặng nề, cồng kềnh, nhiều cấp trung gian; các tổ chức trong hệ thống hoạt động chồng chéo, trùng lắp, kém hiệu quả [21, tr.915]
Sự lãnh đạo của Đảng chưa ngang tầm những nhiệm vụ của giai đoạnmới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết nhiều vần đề kinh tế - xã hội cơbản và cấp bách mà thực tiễn đặt ra “Phong cách lãnh đạo và lề lối làm việcmang nặng chủ nghĩa quan liêu, lời nói không đi đôi với việc làm, không tuânthủ quy trình làm việc và ra quyết định Việc chỉ đạo, điều hành thường khôngtập trung, thiếu kiên quyết và nhất quán” [23 tr.25]
Về hoạt động của Nhà nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI củaĐảng đánh giá: “Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức và chức năng, tiêu chuẩncán bộ chưa được xác định rõ ràng… Phong cách làm việc nặng về hình thức,giấy tờ… việc tổ chức thực hiện lại yếu” [23, tr.115] Các cơ quan nhà nướckhông chú trọng làm công tác vận động quần chúng, mà nhấn mạnh các biệnpháp mệnh lệnh hành chính
Về tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể: Đảngchưa phát huy tốt vai trò và chức năng của các đoàn thể trong việc giáo dục,động viên quần chúng tham gia quản lý kinh tế - xã hội Các đoàn thể chưatích cực đổi mới phương thức hoạt động đúng với tính chất của tổ chức quầnchúng; còn tình trạng quan liêu trong các cơ quan quản lý và các tổ chứcchuyên trách về công tác quần chúng
Những hạn chế trên đây cùng với những yêu cầu của công cuộc đổimới, đặt ra yêu cầu phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệthống chính trị
Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là một yêucầu tất yếu khách quan xuất phát từ sự phát triển theo quy luật tự thân của
Trang 22hệ thống chính trị với tư cách là một bộ phận của đời sống xã hội Mặtkhác, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị còn nhằm khắcphục những hạn chế, khuyết điểm của hệ thống chuyên chính vô sản trongnhững thời kỳ trước đây; nhằm đạt tới một phương thức hoạt động phù hợphơn, đáp ứng sự phát triển nội dung hoạt động của hệ thống chính trị trướcnhững yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng Đổi mới phương thức hoạtđộng của hệ thống chính trị là một yêu cầu có ý nghĩa hết sức quan trọngnhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi quá trình đổi mới hệ thống chính trị nóiriêng và thắng lợi của sự nghiệp đổi mới nói chung
1.1.2 Chủ trương của Đảng về đổi mới phương thức hoạt động của
Thứ nhất, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải đảm bảo giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị cũng như đối với từng thành tố của hệ thống chính trị
Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đãkhẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi củacách mạng Việt Nam Trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, Đảng cũng làngười kịp thời nắm bắt tình hình thời cuộc và nguyện vọng của quần chúng
Trang 23nhân dân, khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đạt được những thànhtựu quan trọng “Những thành tựu đã đạt được trên các lĩnh vực chứng tỏđường lối và bước đi của Đảng ta là đúng đắn, năng lực cụ thể hoá nghị quyết
và tổ chức chỉ đạo thực hiện của các cấp, các ngành có tiến bộ” [23, tr.314]
Đánh giá kết quả mười năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 1996),Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cũng đã khẳng định: “Toàn
bộ thành tựu và khuyết điểm của công cuộc đổi mới gắn liền với trách nhiệmlãnh đạo và hoạt động của Đảng ta Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng là mộtnhân tố quyết định tạo ra những thành tựu đổi mới” [23, tr.640]
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội là nhân
tố quyết định thắng lợi công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; do đó, giữ vững
và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là quan điểm có tính nguyên tắc chiphối toàn bộ quá trình đổi mới hệ thống chính trị nói chung cũng như đổi mớiphương thức hoạt động của hệ thống chính trị nói riêng
Thứ hai, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH khẳngđịnh: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giaiđoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” [23, tr.421 - 422]
Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài gian khổ dưới sựlãnh đạo của Đảng, nhân dân ta mới giành được độc lập dân tộc, giànhđược quyền làm chủ đất nước, làm chủ đời sống xã hội, kết quả đó là ýnghĩa đích thực của cách mạng XHCN Quyền làm chủ đó thể hiện ởquyền lực của nhân dân thông qua các tổ chức, các thiết chế xã hội mà tậptrung nhất là thông qua hệ thống chính trị Do đó, đổi mới phương thức
Trang 24hoạt động của hệ thống chính trị phải đảm bảo cho hệ thống chính trị hoànthành chức năng thực thi quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ:
Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một nội dung cơ bản của đổimới hệ thống chính trị ở nước ta Phải có cơ chế và cách làm cụ thể đểthực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đốivới các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thực hiện tốt
cơ chế làm chủ của nhân dân, làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trựctiếp cùng các hình thức tự quản tại cơ sở [23, tr.638]
Như vậy, quá trình đổi mới phương thức hoạt động của hệ thốngchính trị phải gắn liền với quá trình bảo đảm quyền lực chính trị thực
sự thuộc về nhân dân, từng bước hoàn thiện và nâng cao trình độ nềndân chủ XHCN Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trịphải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng chính đáng về dân chủ của nhândân, căn cứ vào trình độ giác ngộ và năng lực thực hành dân chủ củanhân dân Đồng thời, phải căn cứ vào trình độ nền dân chủ, vào sự tiến
bộ trong việc nhân dân nắm và sử dụng quyền làm chủ của mình đối với
xã hội, đối với cộng đồng mà đánh giá kết quả đổi mới phương thứchoạt động của hệ thống chính trị Đổi mới phương thức hoạt động của
hệ thống chính trị chỉ được xem là thành công khi nào nhân dân, với tưcách chủ thể của quyền lực chính trị trực tiếp tham gia xây dựng, thựchiện và kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của các tổ chức trong
hệ thống chính trị
Thứ ba, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải đảm bảo tính hiệu quả, bảo đảm giữ vững sự ổn định chính trị và định hướng XHCN.
Trang 25Đổi mới luôn bao hàm một sự thay đổi, tổ chức lại, cải tạo và xây dựng,kiến tạo cái mới; song đổi mới lại bắt đầu từ một tiền đề, một điều kiện tiênquyết đó là phải dựa trên sự ổn định, đặc biệt là ổn định chính trị Không có
ổn định chính trị thì không có bất cứ công việc nào, nhiệm vụ nào của đổi mớithực hiện được Tính hiệu quả của đổi mới phương thức hoạt động của hệthống chính trị phụ thuộc căn bản vào sự ổn định chính trị
Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị hoàn toàn không
có nghĩa làm thay đổi bản chất của hệ thống chính trị XHCN, mà ngược lại lànhằm làm cho hệ thống chính trị trở nên hoàn thiện hơn, hoạt động tốt hơn;đảm bảo giữ vững bản chất của hệ thống chính trị; và qua đó, làm cho chế độchính trị ngày càng trở nên ổn định và bền vững, phát huy tính ưu việt và vaitrò tích cực của chế độ chính trị XHCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Để giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đổi mới phương thức hoạtđộng của hệ thống chính trị thì việc giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng làmột yêu cầu hệ trọng và quyết định nhất
Mặt khác, đổi mới ở lĩnh vực chính trị là vấn đề nhạy cảm, liênquan đến nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành “Chính trị là lĩnh vựccực kỳ phức tạp Khi chưa được chuẩn bị các tiền đề cần thiết mà đã vộivàng đẩy nhanh đổi mới chính trị và đổi mới không đúng sẽ dẫn đến tìnhtrạng mất ổn định về chính trị, mà chính trị đã không ổn định thì toàn bộ
công cuộc đổi mới sẽ gặp nhiều khó khăn, trắc trở” [23, tr.380] Do đó,
đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhất thiết phải trên
cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc; phải có hình thức, bước đi
và biện pháp thích hợp; không chủ quan, nóng vội dẫn đến sai lầm, chệchhướng Chỉ có như vậy, mới giữ vững được ổn định chính trị và địnhhướng XHCN, tạo tiền đề thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hoá, xãhội…Nói cách khác, giữ vững ổn định chính trị và định hướng XHCN là
Trang 26một trong những nguyên tắc cơ bản của quá trình đổi mới phương thứchoạt động của hệ thống chính trị
Thứ tư, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải nhằm củng cố về tổ chức và phát huy hiệu lực hoạt động của cả hệ thống chính trị và từng thành tố trong hệ thống chính trị
Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải làm chomỗi thành tố trong hệ thống và cả hệ thống chính trị được củng cố về tổchức, nâng cao được chất lượng hoạt động và làm cho hệ thống chính trịhoạt động có hiệu quả hơn Phương thức hoạt động của hệ thống chính trịcũng như của từng thành tố trong hệ thống chính trị có quan hệ chặt chẽ
và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như tổ chức bộ máy và nhân tố conngười trong từng tổ chức và cả hệ thống Do đó quá trình đổi mới phươngthức hoạt động của hệ thống chính trị phải gắn với việc kiện toàn tổ chức,
bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của mọi tổ chức trong hệthống chính trị Đổi mới phương thức hoạt động gắn với củng cố các tổchức trong hệ thống chính trị giúp cho từng thành tố hoạt động hiệu quảhơn và làm cho cả hệ thống hoạt động nhịp nhàng, ăn khớp hơn, phát huyđược hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị
Thứ năm, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước trong từng thời kỳ cách mạng.
Hệ thống chính trị của nước ta gồm nhiều tổ chức, mỗi tổ chức có vị trí,vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng cùng tácđộng vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện nhữngnhiệm vụ chính trị của đất nước trong từng thời kỳ cách mạng Đổi mớiphương thức hoạt động của hệ thống chính trị là nhằm làm cho hệ thống chínhtrị hoạt động có hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính
Trang 27trị của đất nước Nhiệm vụ chính trị của đất nước ta trong suốt thời kỳ quá độlên CNXH là “Tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”[23, tr.668] Vì thế, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trịphải đảm bảo cho hệ thống chính trị thực hiện tốt hơn nhiệm vụ hai nhiệm vụchiến lược nói trên Sự gắn bó giữa đổi mới phương thức hoạt động của hệthống chính trị với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước thể hiệntrên cả hai mặt: đổi mới là để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và mặtkhác, phải dựa trên cơ sở những kết quả đạt được trong thực hiện nhiệm vụchính trị mà từng bước tiến hành đổi mới.
1.1.2.2 Chủ trương của Đảng về đổi mới phương thức hoạt động của
hệ thống chính trị
Trên cơ sở những quan điểm đã đề ra, trong những năm 1991 - 2001,Đảng đã xây dựng nhiều chủ trương nhằm đổi mới phương thức hoạt độngcủa hệ thống chính trị tập trung vào các vấn đề chủ yếu, đó là:
Thứ nhất, xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng thành tố và mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các thành tố đó trong một thiết chế chung thống nhất, khắc phục tình trạng trùng lắp, lấn sân hoặc đùn đẩy lẫn nhau, không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình.
Báo cáo chính trị của BCHTW (Khoá VI) tại Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII chỉ rõ: “Để đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị, xây dựng
và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, vấn đề mấu chốt là phân định rõ chức
năng và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân” [23, tr.311].
Việc phân định rõ chức năng và giải quyết tốt mối quan hệ giữa cácthành tố trong hệ thống chính trị là yêu cầu rất quan trọng Chỉ có trên cơ
sở đó mới đảm bảo cho mỗi thành tố của hệ thống chính trị hoạt động
Trang 28đúng trong phạm vi chức trách, quyền hạn, đúng lĩnh vực; tránh được hiệntượng lấn sân, bao biện, trùng lắp, đồng thời cũng tránh được hiện tượngđùn đẩy lẫn nhau, trốn tránh trách nhiệm, dẫn đến buông lỏng sự lãnh đạocủa Đảng, giảm sút hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước, không pháthuy được vai trò tổ chức vận động quần chúng của Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể nhân dân.
Mặt khác, phân định rõ chức năng và giải quyết tốt mối quan hệ giữacác thành tố trong hệ thống chính trị cũng là cơ sở để điều hành, phối hợphoạt động của các thành tố trong hoạt động chung theo mục tiêu chung của cả
hệ thống chính trị
Trong những năm trước đổi mới và cả thời kỳ đổi mới toàn diện từ năm
1986 đến năm 1991, mặc dù ở tầm vĩ mô, chức năng của các thành tố trong hệ
thống chính trị đã được xác định tương đối rõ ràng ở cơ chế “Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Tuy nhiên, trong thực tế hoạt
động của hệ thống chính trị, việc thực hiện đúng cơ chế nói trên vẫn cònnhiều điều bất cập, kể cả ở trung ương và địa phương Do đó việc xác định
rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng thành tố và mối quan hệ tác động qua
lại lẫn nhau giữa các thành tố là một trong những vấn đề hết sức quan trọng
Thứ hai, chủ trương về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Trong điều kiện là đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo xã hội, đổi mới
tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng luôn được xem là khâu đột phá, làvấn đề mấu chốt, có ý nghĩa quyết định đối với đổi mới tổ chức và phươngthức hoạt động của cả trong hệ thống chính trị
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã xácđịnh những vấn đề cơ bản về công tác xây dựng Đảng, làm rõ quan điểm vềphương thức lãnh đạo của Đảng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII của Đảng đề ra yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo
Trang 29của Đảng theo phương hướng mà Cương lĩnh Chính trị đã đề ra, trong đó cần
tập trung làm tốt việc hoàn chỉnh và cụ thể hóa Cương lĩnh, Chiến lược, đểđịnh hướng cho hoạt động của hệ thống chính trị và toàn xã hội; làm tốt côngtác kiểm tra việc thực hiện các quyết định của Đảng; đồng thời, quy định cụthể mối quan hệ và lề lối làm việc giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thểnhân dân ở các cấp, trước hết là ở trung ương
Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ ba BCHTW Đảng, khoá VII (6.1992) củaĐảng, vấn đề tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao chấtlượng và hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhândân, tạo ra sức mạnh của hệ thống chính trị đã được Đảng xác định là mộttrong bốn yêu cầu phải đạt được trong đổi mới, chỉnh đốn Đảng Hội nghị
khẳng định: “…là đảng cầm quyền, Đảng ta có trách nhiệm lãnh đạo tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội… Nhưng trong tình hình mới, Đảng cần có
phương thức lãnh đạo thích hợp để nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạocủa Đảng” [21, tr.112]
Để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, Đảng xác định cần tậptrung làm tốt những nội dung cơ bản đó là:
* Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Toà án, Viện Kiểm sát)
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là vấn đề
rất hệ trọng, do đó các cơ quan Đảng ở Trung ương cần căn cứ vào các Nghịquyết của Đảng và Hiến pháp, từng bước hoàn chỉnh và cụ thể hoá các quanđiểm, nguyên tắc về xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân; lãnh đạoNhà nước xây dựng luật về tổ chức các cơ quan nhà nước; từng bước hoànthiện các văn bản pháp quy về Nhà nước để đưa vào thực hiện Mặt khác, cầnxây dựng quy chế về phương thức lãnh đạo, về quan hệ công tác giữa Đảng
và các cơ quan Nhà nước
Trang 30* Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Đảng xác định vấn đề quan trọng nhất hiện nay là: Đảng phải định
hướng mục tiêu phát triển trước mắt và lâu dài của các đoàn thể, lãnh đạođổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức đó; lựa chọn cán
bộ đủ tiêu chuẩn giới thiệu vào các chức vụ chủ chốt của các đoàn thể đồngthời thông qua đảng đoàn, đảng viên trong mặt trận để hướng dẫn, kiểmtra… bảo đảm cho các đoàn thể hoat động đúng hướng Đồng thời, Đảngphải lãnh đạo xây dựng mối quan hệ giữa mặt trận, các đoàn thể nhân dânvới cơ quan Nhà nước các cấp
* Đổi mới phương thức hoạt động trong nội bộ Đảng
Đảng xác định cần phải tập trung cải tiến quy trình ra các nghị quyết,quyết định của Đảng; chú trọng việc tổ chức chỉ đạo thực hiện; đổi mới cơchế và phương pháp công tác tổ chức, cán bộ của Đảng; cải tiến quy trình quychế làm việc của cấp uỷ các cấp; giải quyết mối quan hệ giữa các cấp và các
cơ quan trong Đảng, mối quan hệ tập thể và cá nhân trong tổ chức Đảng vàđổi mới công tác kiểm tra của Đảng…
Thứ ba, chủ trương của Đảng về đổi mới phương thức hoạt động của Nhà nước.
Đổi mới phương thức hoạt động của Nhà nước là một nội dung đặc biệtquan trọng của quá trình đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chínhtrị Đây cũng là vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm vì lĩnh vực tổ chức vàquản lý nhà nước là lĩnh vực khó khăn nhất đối với một đảng cầm quyền.Lênin đã từng viết: “Đó là nhiệm vụ khó khăn nhất, vì vấn đề là phải tổ chứctheo phương thức mới những cơ sở kinh tế của đời sống của hàng chục vàhàng triệu con người” [40, tr.210] Cũng vì thế, trong quá trình đổi mới, vấn
đề củng cố, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước nói chung, cũng như đổi mớiphương thức hoạt động của Nhà nước nói riêng luôn được Đảng coi là một
Trang 31mối quan tâm hàng đầu Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng
đã đặt vấn đề phải thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các
cơ quan nhà nước Xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà nước thểhiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp Phải đổimới phong cách làm việc của bộ máy Nhà nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã đánh giá về đổi mớihoạt động của Nhà nước qua năm năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI:
Đã có những chủ trương, biện pháp sửa đổi tổ chức và phương thức
hoạt động của các cơ quan nhà nước Hoạt động lập pháp được đẩy
mạnh Các kỳ họp Quốc hội đã thể hiện rõ hơn tinh thần dân chủ,quyền hạn và trách nhiệm của các đại biểu nhân dân Hoạt độnggiám sát của Quốc hội được tăng cường và có hiệu quả hơn trước.Hội đồng Bộ trưởng và uỷ ban nhân dân các cấp đã bước đầu đổimới phương thức hoạt động, có tiến bộ trong điều hành và quản lýnhà nước bằng pháp luật, giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế, xãhội quan trọng [23, tr.311]
Đại hội VII cũng nêu lên những hạn chế trong đổi mới tổ chức, phươngthức hoạt động của bộ máy nhà nước và nhận định: “khuyết điểm lớn là đến
nay chưa thực hiện được cuộc cải cách cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước
như Đại hội VI đã đề ra” [23, tr.311 - 312]
Trên cơ sở nhận định những ưu điểm và hạn chế đó, Báo cáo Chính trịtại Đại hội VII đã đề ra mục tiêu, phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động
của hệ thống chính trị đó là: “Tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theo phương
hướng: Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân Nhà nước quản lý xãhội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức và hoạt động theonguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phâncông, phân cấp rành mạch” [23, tr.353 - 354]
Trang 32Theo quan điểm của Đại hội VII, nội dung chủ yếu đổi mới phương thứchoạt động của Nhà nước tập trung vào việc sửa đổi Hiến pháp; tăng cường phápchế XHCN; cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân đểlàm đúng chức năng quy định Sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt độngcủa Chính phủ Xác định lại chức năng, nhiệm vụ của cấp tỉnh, huyện, xã để sắpxếp lại tổ chức của mỗi cấp, đề cao quyền chủ động và trách nhiệm của địaphương; đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước trung ương.Tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật Đổi mới hệ thống tổchức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm
1991 xác định:
Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay
mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng
định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằngpháp luật Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hànhchính, kiện toàn các cơ quan luật pháp để thực hiện có hiệu quảchức năng quản lý của Nhà nước…Tổ chức và hoạt động của bộmáy quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thốngnhất quyền lực, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sựchỉ đạo thống nhất của trung ương
Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó [23, tr.422].
Như vậy, chủ trương của Đảng về đổi mới phương thức hoạt độngcủa Nhà nước thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2001 thể hiện trên những vấn
đề cơ bản đó là:
* Xác định và nhấn mạnh yêu cầu cấp bách của việc đổi mới phương thức hoạt động của Nhà nước, coi đó là một trong những nhân tố quan trọng
Trang 33quyết định đến thành công của đổi mới phương thức hoạt động của hệ thốngchính trị nói riêng và đổi mới hệ thống chính trị nói chung.
* Xác định mục tiêu chung của đổi mới phương thức hoạt động của Nhà nước là nhằm làm cho hoạt động của Nhà nước phù hợp với sự phát triển mới
của nền kinh tế, thực hiện tốt chức năng quản lý, điều hành các lĩnh vực xã hội
Về thực chất, là nhằm làm cho bản chất cách mạng của Nhà nước “của dân, do
dân và vì dân” được đảm bảo và thể hiện rõ trong cuộc sống thực tế, hiệu lực và
hiệu quả quản lý của Nhà nước được tăng cường tác động tốt đến sự phát triểncủa đất nước
* Xác định nội dung đổi mới phương thức hoạt động của Nhà nước bao
gồm nhiều mặt: đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sáttối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; cải cách nềnhành chính nhà nước; cải cách hoạt động tư pháp, đẩy mạnh cuộc đấu tranhchống tham nhũng; xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhànước theo phân cấp; đổi mới phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ trongcác cơ quan nhà nước
Thứ tư, chủ trương của Đảng về đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trongviệc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc; đại diện cho quyền lợi hợp pháp và nguyện vọng chính đáng củanhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên, giáo dục lý tưởng và đạođức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân; động viên toàn dân tộc thực hiệncác chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; thực hiện dân chủ và đổi mới
xã hội; thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân
Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểnhân dân là một yêu cầu khách quan, bức xúc là một nội dung quan trọng
Trang 34trong đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta Nhậnthức được điều đó, ngay từ năm 1990, Hội nghị lần thứ tám BCHTW Đảng,
khoá VI đã có riêng một nghị quyết chuyên đề Về đổi mới công tác quần
chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân (Nghị
quyết 8B) Nghị quyết đã nêu lên những quan điểm chỉ đạo đổi mới công tácquần chúng của Đảng, vạch ra những định hướng cơ bản đổi mới tổ chức vàphương thức hoạt động của từng tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể nhân dân và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân đối với nhiệm vụ đổi mới công tác quần chúng
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng ta tiếp tục phát triểnnhững quan điểm của Nghị quyết 8B, khẳng định:
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần được đổi mới về tổ
chức và hoạt động để thực sự góp phần thực hiện dân chủ và đổimới xã hội, chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân;tham gia các công việc quản lý nhà nước; giữ vững và tăng cườngmối liên hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân Cácđoàn thể có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức mới,động viên, phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân,đoàn kết toàn dân, phấn đấu cho sự thành công của công cuộc đổimới [23, tr.354 - 355]
Đại hội cũng xác định: nguyên tắc hoạt động của Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể nhân dân là tự nguyện, tự chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng và tuântheo pháp luật của Nhà nước, hướng về cơ sở, sát với đoàn viên, hội viên.Khắc phục tình trạng nhà nước hoá, hành chính hoá Đại hội yêu cầu Nhànước cần thể chế hóa quyền hạn và trách nhiệm của Mặt trận, của các đoànthể trong việc tham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội; phối hợp chặt chẽ hoạtđộng của các đoàn thể với nhau và với các cơ quan nhà nước từng cấp
Trang 35Sau Đại hội VII, nhiều nghị quyết của Đảng tiếp tục nhấn mạnh những chủtrương quan trọng về đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể nhân dân, theo đó, mục tiêu, phương hướng cơ bản đổi mới tổ chức vàphương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là:
Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức, góp phần thực hiệndân chủ và đổi mới xã hội; đại diện và bảo vệ lợi ích chính đáng của đoànviên, hội viên và nhân dân
Củng cố hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăngcường sự lãnh đạo của Đảng; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa nhân dânvới Đảng và Nhà nước
Thực hiện tốt chức năng giám sát và tham gia tích cực vào các côngviệc quản lý nhà nước
Phát huy tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực xã hội của các tầng lớpnhân dân, phối hợp thống nhất hành động của các tầng lớp nhân dân tạo sứcmạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới
1.2 Sự chỉ đạo của Đảng về đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001
1.2.1 Đổi mới phương thức hoạt động chung của hệ thống chính trị
Trong những năm 1991 - 2001, Đảng đã tập trung chỉ đạo đổi mới hoànthiện phương thức hoạt động chung của hệ thống chính trị trên một số vấn đềchủ yếu đó là:
Thứ nhất, làm rõ và thực hiện đúng chức năng, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng ta luôn khẳng định sứ mệnh lịch sử của Đảng là lực lượng duylãnh đạo cách mạng Việt Nam Khi đất nước đã độc lập, tự do, Đảng Cộngsản Việt Nam là Đảng cầm quyền duy nhất lãnh đạo xây dựng và phát huyquyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây
Trang 36dựng đất nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Đảng có quyền lựcchính trị được nhân dân thừa nhận, nhưng Đảng không biến mình thành cơquan quyền lực nhà nước Ngược lại, Đảng phải luôn tôn trọng, phát huy vaitrò, thẩm quyền, hiệu lực quản lý của Nhà nước Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 khẳng định: “Đảngkhông làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị Đảnglãnh đạo hệ thống chính trị đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảngliên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trongkhuôn khổ hiến pháp và pháp luật” [23, tr.424] Đảng chịu trách nhiệm trướcnhân dân lãnh đạo Nhà nước và cả hệ thống chính trị và chính sự lãnh đạo củaĐảng là nhân tố quyết định chất lượng, hiệu quả, hiệu lực hoạt động của Nhànước và cả hệ thống chính trị.
Thứ hai, xác định rõ và thực hiện đúng vai trò, chức năng của Nhà nước.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổ chức được nhândân trao cho quyền lực và chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý mọi mặtđời sống xã hội Nhà nước là cơ quan quyền lực thống nhất, xuất phát từnguyên tắc toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, đồng thời có sự phân công,phân cấp rành mạch ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhà nước cómối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ýkiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII của Đảng xác định:
Cải cách bộ máy Nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, tăngcường pháp quyền Bảo đảm quyền lực Nhà nước thống nhất, phânđịnh chức năng và quyền hạn của các cơ quan lập pháp, hành pháp,
tư pháp; phân biệt bộ máy quản lý Nhà nước và các tổ chức kinh
Trang 37doanh; đổi mới quan hệ làm việc giữa bộ máy Nhà nước với hệthống tổ chức đảng và các đoàn thể [23, tr.468].
Thứ ba, xác định rõ và thực hiện đúng vai trò, chức năng của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân.
Cương lĩnh của Đảng khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cácđoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đoàn kết, vậnđộng toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chăm lo lợi ích của các đoànviên, hội viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, giáo dục lý tưởng và đạođức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng,Nhà nước với nhân dân” [23, tr.423]
Trong điều kiện một Đảng cầm quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cònđảm nhiệm vai trò của một tổ chức giám sát và phản biện xã hội đối với sựlãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân
dân và cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, cáctôn giáo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Các đoàn thể nhân dântuỳ theo tính chất, tôn chỉ và mục đích đã xác định, vừa vận động đoàn viên,hội viên giúp nhau chăm lo, bảo vệ các lợi ích thiết thực; vừa giáo dục nângcao trình độ mọi mặt cho đoàn viên, hội viên; vừa tham gia quản lý nhà nước,quản lý xã hội
Thứ tư, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhànước quản lý, nhân dân làm chủ”; trong đó, Đảng vừa là một bộ phận của hệthống chính trị, vừa là “hạt nhân” lãnh đạo hệ thống ấy, hoạt động trongkhuôn khổ Hiến pháp, pháp luật Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng
Trang 38sản Việt Nam lãnh đạo; có chức năng thể chế hoá và tổ chức thực hiện đườnglối, quan điểm của Đảng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trịcủa các đoàn thể nhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầnglớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhândân; hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, có vai trò quan trọngtrong việc thực hiện phản biện, giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xâydựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Nhân dân là ngườilàm chủ xã hội, làm chủ thông qua Nhà nước và các cơ quan đại diện, đồng
thời làm chủ trực tiếp thông qua cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra”; làm chủ thông qua hình thức tự quản
Trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnhđạo Nhà nước, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhândân Tuy nhiên, mọi hoạt động của Đảng đều nằm trong khuôn khổ hiến pháp
và pháp luật của Nhà nước Mặt khác, Đảng cũng là một thành viên của Mặttrận Tổ quốc Nhà nước là cơ quan quyền lực chịu sự lãnh đạo của Đảng, cóchức năng quản lý, điều hành toàn xã hội Đối với Mặt trận Tổ quốc, Nhànước tuy không phải là một thành viên, nhưng Nhà nước và Mặt trận Tổ quốccùng là thành viên của hệ thống chính trị, cùng chịu sự lãnh đạo của Đảng,cùng thực hiện quyền lực của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân
Việc giải quyết mối quan hệ, điều hành, phối hợp hoạt động giữa cácthành tố trong hệ thống chính trị dựa trên cơ sở hướng tới mục tiêu cuốicùng của sự tồn tại và hoạt động của hệ thống chính trị là thực thi quyềnlàm chủ của nhân dân trên thực tế Đảng xuất phát từ nguyện vọng củanhân dân, căn cứ vào thực tiễn đất nước đề ra đường lối xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc, lãnh đạo việc cụ thể hoá, thể chế hoá đường lối thành các kếhoạch, biện pháp, chương trình công tác của cơ quan nhà nước và các đoànthể nhân dân, chuyển quan điểm tư tưởng, quan điểm chủ trương của Đảngthành hành động cụ thể, thiết thực của Nhà nước và nhân dân Đồng thời
Trang 39Đảng cũng là lực lượng trực tiếp thực hiện đường lối đã đề ra thông quacác tổ chức và đảng viên của Đảng trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật
và dưới sự giám sát của nhân dân Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc theo chứcnăng, nhiệm vụ của mình tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối của Đảngbằng cách thực thi quyền lực của mình thông qua các thiết chế của Nhànước và các thiết chế ngoài nhà nước
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy hiệu lực quản lý của Nhànước và quyền làm chủ của nhân dân thông qua nhà nước và các đoàn thểnhân dân là các mặt thống nhất, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trên cơ sở xác lậpđược một cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, phân định rõ chức năng,nhiệm vụ của từng thành tố, quan hệ tác động qua lại giữa chúng là nội dungđổi mới quan trọng phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, nhằm làmcho hệ thống chính trị thật sự trở thành một cơ chế chính trị - xã hội tổng thểthực hiện và bảo vệ quyền lực nhân dân, làm cho dân thực sự là chủ và thật sựlàm chủ xã hội Thông qua hệ thống chính trị, nhân dân thực hiện được sự uỷquyền của mình và trực tiếp tham gia kiểm tra, giám sát, phản biện việc thựcthi quyền lực được ủy thác của các tổ chức, của đội ngũ cán bộ, công chứctrong hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của nó
1.2.2 Đổi mới phương thức hoạt động của từng thành tố trong hệ thống chính trị
* Về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng:
Ngay sau Hội nghị lần thứ ba BCHTW Đảng, khoá VII, Ban Bí thưTrung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 21 tháng 7 năm 1992 vềviệc quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Hội nghị
Tháng 1.1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VIIĐảng nhận định: Về phương thức lãnh đạo và phong cách công tác của Đảng
đã có sự chấn chỉnh và đổi mới theo hướng dân chủ, tập thể, đúng nguyên tắc
Trang 40hơn, tuy nhiên, việc đổi mới diễn ra còn chậm dẫn đến chất lượng lãnh đạo vàhiệu quả hoạt động của nhiều cấp uỷ đảng còn thấp Các cấp uỷ còn coi nhẹviệc kiểm tra thực hiện điều lệ, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.Báo cáo chính trị của Hội nghị vạch rõ:
Đảng lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo,
cá nhân phụ trách; lãnh đạo thông qua tổ chức đảng chứ không chỉthông qua cá nhân đảng viên; lãnh đạo bằng các quyết định của tậpthể và bằng cách theo dõi, cho ý kiến chỉ đạo, kiểm tra việc thựchiện, khuyến khích những mặt tốt, uốn nắn những lệch lạc, nhằmphát huy mạnh mẽ vai trò và hiệu lực của Nhà nước, chứ khôngđiều hành thay Nhà nước [23, tr.555 - 556]
Quan điểm trên của Hội nghị là cơ sở định hướng cho việc tiếp tục đổimới phương thức lãnh đạo của Đảng
Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám BCHTW, khoá VII (1.1995)của Đảng đã chỉ rõ các nội dung, phương thức cụ thể của Bộ Chính trị và Đảngđoàn Quốc hội lãnh đạo Quốc hội; Bộ Chính trị lãnh đạo Chính phủ; Bộ Chínhtrị và Ban cán sự Đảng của của các cơ quan tư pháp lãnh đạo các cơ quan tưpháp; phân định trách nhiệm giữa BCHTW, Bộ Chính trị, Ban Bí thư…
Trong nhiệm kỳ Đại hội VII, sự chỉ đạo của Đảng đã đưa đến nhữngđổi mới bước đầu, song rất quan trọng về phương thức lãnh đạo của Đảng,nhất là về phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước Hội nghị lần thứ baBCHTW Đảng, khoá VIII đánh giá: Nội dung và phương thức lãnh đạo củaĐảng đối với Nhà nước đã có bước đổi mới, vừa đảm bảo tăng cường vai tròlãnh đạo của Đảng, vừa phát huy trách nhiệm, tính chủ động của cơ quan nhànước Tuy vậy, sự lãnh đạo của Đảng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của quátrình đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà nước