Những năm qua, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, CTĐN đã góp phần giữ vững, củng cố môi trường hòa bình và tạo những điều kiện quốc tế ngày càng thuận lợi cho công cuộc xây và bảo vệ Tổ quốc. Bộ đội Biên phòng là lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng; là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia; là cơ quan đại diện của Nhà nước thực hiện CTĐN ở KVBG
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm qua, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở,
đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước
ta, CTĐN đã góp phần giữ vững, củng cố môi trường hòa bình và tạo nhữngđiều kiện quốc tế ngày càng thuận lợi cho công cuộc xây và bảo vệ Tổ quốc
Bộ đội Biên phòng là lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng; làmột thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt, chuyêntrách trong quản lý, bảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia; là cơ quan đại diệncủa Nhà nước thực hiện CTĐN ở KVBG Để hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao, BĐBP phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp công tác Trong đó,CTĐN chiếm một vị trí hết sức quan trọng, là một trong những nhân tố tạonên sức mạnh góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền ANBG quốc gia, xâydựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng
Tỉnh Lạng Sơn là địa bàn chiến lược quan trọng có đường biên giớigiữa nước ta với Trung Quốc Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, BĐBPtỉnh Lạng Sơn thường xuyên phải giải quyết những vấn đề về chủ quyềnANBG có liên quan đến hai nhà nước và tiếp xúc với người nước ngoài Vìvậy, CTĐN luôn được BĐBP tỉnh Lạng Sơn xác định là một nhiệm vụchính trị, một biện pháp quan trọng góp phần vào thực hiện thắng lợiCTĐN của Đảng và Nhà nước, bảo vệ và giữ vững chủ quyền ANBG quốcgia, thúc đẩy được mối quan hệ và tăng hiệu quả trong xử lý các vấn đề nảysinh trên biên giới
Hiện nay và trong những năm tới, tình hình trên tuyến biên giới đất liềnViệt Nam - Trung Quốc nói chung và tuyến biên giới tỉnh Lạng Sơn nói riêng,bên cạnh những thuận lợi, tiếp tục có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởngtrực tiếp đến CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn Chính điều này sẽ đặt ra cho
Trang 2CTĐN những khó khăn và thách thức mới Bên cạnh đó, yêu cầu, nhiệm vụbảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia trong tình hình mới cũng đang đặt ranhiều vấn đề mới đối với CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn Vì vậy, CTĐNcủa BĐBP tỉnh Lạng Sơn cần phải được quan tâm, chú trọng, có sự phát triểnmới cả về lý luận và thực tiễn.
Trong những năm qua, BĐBP tỉnh Lạng Sơn đã chủ động tiến hành cóhiệu quả CTĐN, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền ANBG quốc gia vàxây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị Tuy nhiên, CTĐN của BĐBP tỉnhLạng Sơn còn có những hạn chế, bất cập cả về nội dung, phương thức thựchiện, cơ chế hoạt động, phối hợp cũng như hiệu quả thực tế Một bộ phậncán bộ, chiến sỹ BĐBP tỉnh Lạng Sơn còn nhận thức chưa đúng, chưa đầy
đủ về tầm quan trọng của CTĐN; chưa nắm vững chức năng, nhiệm vụ củaBĐBP trong thực hiện CTĐN biên phòng; năng lực tổ chức, thực hiệnCTĐN của một bộ phận cán bộ, chiến sỹ còn bộc lộ những hạn chế, yếukém… Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện cả lý luận và thực tiễn về CTĐNcủa BĐBP tỉnh Lạng Sơn, trên cơ sở đó đề xuất yêu cầu và một số giải pháp
cơ bản nhằm thực hiện tốt CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn hiện nay là vấn
đề mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn “Công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn hiện nay” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành
chủ nghĩa xã hội khoa học
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Công tác đối ngoại có vai trò rất quan trọng đối với nước ta trong thời
kỳ hội nhập quốc tế, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnhthổ, an ninh quốc gia, tranh thủ các điều kiện quốc tế để xây dựng, phát triểnđất nước và phát huy ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế Vì vậy, vấn
đề này được nhiều ngành, nhiều nhà khoa học cả trong và ngoài quân đội
Trang 3nghiên cứu Các công trình đã đề cập đến vấn đề đối ngoại trên các mặt, cácgóc độ khác nhau.
* Nghiên cứu về tư tưởng và thực tiễn hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Có nhiều sách tham khảo viết về tư tưởng cũng như thực tiễn hoạt động
ngoại Hồ Chí Minh như: Vũ Dương Huân (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh
về ngoại giao, Nxb Thanh niên, H; Đỗ Đức Hinh (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại - một số nội dung cơ bản, Nxb CTQG, H; Nguyễn Dy Niên (2008), Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H; Bộ Ngoại giao, Ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao (2009), Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb CTQG, H
Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ: Nguyễn Thế Hưởng (2010), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động đối ngoại nhân dân trong thời kỳ đổi mới, Luận án Tiến sĩ, H; Lê Hồng Trang (2007), Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta thời kỳ đổi mới, Luận văn Thạc sĩ, H; Hoàng Thị Thu Hương (2008), Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh vào việc hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, H; Phạm Thanh Thủy (2009), Quan điểm của
Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, H
Nhìn chung, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về tư tưởng đối ngoại
và thực tiễn hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhữnggiai đoạn cụ thể của cách mạng Việt Nam Qua đó, rút ra những giá trị tolớn về mặt lý luận và thực tiễn đối với hoạt động đối ngoại của Đảng vàNhà nước ta; sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc hoạch định, đề
ra đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước qua các kỳ đạihội và đưa ra một số kiến nghị nhằm vận dụng có hiệu quả tư tưởng ngoạigiao Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Trang 4*Nghiên cứu về công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước
Có các luận văn thạc sĩ như: Nguyễn Thanh Tâm (2005), Đường lối hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Luận văn Thạc sĩ, H; Nguyễn Thị Thùy (2006), Sự phát triển quan hệ Việt - Trung từ sau khi bình thường hóa và tác động của nó tới quá trình giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ, Luận văn Thạc sĩ, H; Lê Thị Trường An (2006), Quan hệ Việt Nam - Campuchia trong việc giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ, Luận văn Thạc sĩ, H; Trần Đức Hùng (2007), Quan hệ Việt - Mỹ từ khi bình thường hóa đến nay, Luận vănThạc sĩ, H; Nguyễn Hải Yến (2008), Vai trò của Quốc hội Việt Nam trong hoạt động đối ngoại thời kỳ đổi mới, luận văn Thạc sĩ, H; Nguyễn Ngọc Minh (2009), Ngoại giao đa phương Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Luận văn Thạc sĩ, H; Đào Thị Mai Anh (2011), Quan hệ đối tác chiến lược trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, H Các tác giả
đã tập trung nghiên cứu làm rõ đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng vàNhà nước ta trong thời kỳ đổi mới và chủ trương, nguyên tắc, đối sách trongquan hệ ngoại giao với từng nước cụ thể Trên cơ sở đó, đề xuất những yêucầu và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác đối ngoại củaĐảng, Nhà nước và nâng cao hiệu quả quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam vớicác nước
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TỈNH LẠNG SƠN HIỆN NAY
1.1 Một số vấn đề lý luận về công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn hiện nay
1.1.1 Nhận thức chung về công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng
* Cơ sở lý luận của công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kết hợp giữa chủ
Trang 5nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; về vấn đề dân tộc
Chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế của giai cấpcông nhân là những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Chủ nghĩayêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là haikhái niệm có nội hàm khác nhau nhưng đều nằm trong bản chất của giaicấp công nhân và gắn liền với nhau một cách chặt chẽ Trong Tuyên ngôncủa Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph Ăngghen đã khẳng định: “Cuộc đấutranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung,không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thứcđấu tranh dân tộc Đương nhiên và trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phảithanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã” [39, tr.611]
Như vậy, cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo vềbản chất là cuộc cách mạng quốc tế, nhưng trước hết nó được tiến hành trongtừng dân tộc, từng quốc gia Cuộc cách đó phải đồng thời giải quyết hai vấn đềquan hệ chặt chẽ với nhau là vấn đề giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp
Do vậy, để giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước cũngnhư quốc tế thì đòi hỏi tất yếu khách quan là phải kết hợp chặt chẽ chủ nghĩayêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Kết hợpchủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân lànguồn gốc tạo nên sức mạnh tổng hợp để giai cấp công nhân hoàn thành thắnglợi sứ mệnh lịch sử của mình Đồng thời, đảm bảo cho sự phát triển độc lập,vững chắc của từng dân tộc, đảm bảo cho quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩatrong từng nước cũng như trên phạm vi quốc tế ngày càng phát triển và giànhthắng lợi Từ đó, có đủ sức mạnh để bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, củng cốmôi trường hòa bình, ổn định và tranh thủ được sự giúp đỡ của quốc tế đối với
sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân ở mỗi nước
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kết hợp chủ nghĩa yêu nước
Trang 6chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân chỉ ra những vấn đề
có tính nguyên tắc đối với cách mạng của mỗi nước, đó là: Phải kết hợp chặtchẽ giữa cách mạng của từng nước với cách mạng thế giới; giải quyết đúng đắnmối quan hệ lợi ích dân tộc và giai cấp, lợi ích quốc gia và quốc tế; tuân thủnghiêm những nguyên tắc trong quan hệ quốc tế
Nghiên cứu vấn đề dân tộc và phong trào dân tộc trong điều kiện của chủnghĩa tư bản, V.I.Lênin đã chỉ ra hai xu hướng khách quan của sự phát triểncác dân tộc, đó là: các dân tộc tách ra để trở thành các dân tộc độc lập và liênhiệp lại với nhau giữa các dân tộc
Xét trong mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc, biểu hiện của hai xuhướng khách quan đó thể hiện rất nổi bật Thời đại hiện nay là thời đại cácdân tộc bị áp bức đã vùng dậy, xóa bỏ xiềng xích nô lệ và giành lấy quyền tựquyết định vận mệnh của dân tộc mình Xu hướng này biểu hiện trong phongtrào giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc áp bức bóc lột Xuhướng này còn biểu hiện rõ nét trong tình hình hiện nay, đó là những nướcchậm phát triển đấu tranh giữ độc lập tự chủ, chống lại sự phụ thuộc vàonhững nước lớn Ngược lại, trong thời đại hiện nay, xu hướng các dân tộcmuốn xích lại gần nhau để trở lại hợp nhất thành một quốc gia thống nhất; xuhướng tập đoàn hóa ở các khu vực của thế giới cũng tăng lên rõ rệt không chỉ
do tác động của các lợi ích kinh tế mà còn do sức thúc đẩy của các lợi íchchính trị và giải quyết những vấn đề chung của cả nhân loại
Nhận thức rõ vấn đề này, mỗi dân tộc, quốc gia phải biết thực hiện chínhsách mở cửa để hòa nhập vào xu thế chung của thời đại Đồng thời, phải cóchiến lược, sách lược và giải pháp hữu hiệu để giữ vững độc lập, tự chủ, giữgìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình
Điểm nổi bật trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dântộc được thể hiện sâu sắc trong Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin, đó là: các
Trang 7dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc có quyền tự quyết và đoàn kết giaicấp công nhân các dân tộc.
Thực chất của bình đẳng dân tộc là xoá bỏ nạn nô dịch của dân tộc nàyđối với dân tộc khác Trên cơ sở đó dần dần xoá bỏ sự chênh lệch về trình
độ phát triển giữa các dân tộc và để các dân tộc được tham gia bình đẳngvào các hoạt động của cộng đồng quốc gia và quốc tế
Thực hiện tốt quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiệnquyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa cácdân tộc đối với nhau
Quyền tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnhdân tộc mình, quyền tự quyết định chế độ chính trị - xã hội và con đườngphát triển của dân tộc mình Quyền dân tộc tự quyết còn có nghĩa là cácdân tộc không được can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc là một nội dung cơ bản trongCương lĩnh dân tộc của Lênin; phản ánh bản chất quốc tế của phong trào côngnhân, sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.Đồng thời, đảm bảo cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắnglợi Để chiến thắng các thế lực áp bức, bóc lột, một tất yếu khách quan là phải
tổ chức sự liên minh giai cấp công nhân các dân tộc trong từng quốc gia cũngnhư trên phạm vi thế giới
Những quan điểm trên của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là cơ sở lý luận
để Đảng và Nhà nước ta đề ra đường lối, chính sách đối ngoại Đồng thời, là
cơ sở lý luận của CTĐN của BĐBP trong việc xác định nội dung, hình thức,phương pháp giải quyết các vấn đề có liên quan đến chủ quyền, ANBG quốcgia và trong quan hệ với lực lượng BVBG của các nước láng giềng
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đối ngoại
Trang 8Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là hệ thống những nguyên lý, quanđiểm, quan niệm về các vấn đề thế giới và thời đại, về đường lối quốc
tế, chiến lược, sách lược, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Namthời kỳ hiện đại Tư tưởng này còn thể hiện trong hoạt động đối ngoạithực tiễn của Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước Việt Nam [43,tr.89]
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm những nội dung chủ yếunhư: các quyền dân tộc cơ bản; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội;độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế; kếthợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; hòa bình và chống chiến tranhxâm lược; hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới vớiViệt Nam; quan hệ với các nước lớn; ngoại giao là một mặt trận
Trong tư tưởng ngoại giao, Hồ Chí Minh luôn khẳng định các quyền dân tộc
cơ bản và nhấn mạnh độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là những vấn
đề liên quan chặt chẽ với nhau và chi phối toàn bộ mọi hoạt động ngoại giao
Nội dung cốt lõi trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là độc lập tự chủ, tựlực tự cường gắn với đoàn kết và mở rộng hợp tác quốc tế Người nêu rõ: “Muốnngười ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã”[40, tr.293] Hồ ChíMinh luôn xác định cách mạng Việt Nam có mối liên hệ mật thiết với các trào lưu
và lực lượng tiến bộ trên thế giới Vì vậy, việc tăng cường các mối liên hệ và hợptác quốc tế là một trong những điều kiện giúp ta kháng chiến thắng lợi, kiến quốcthành công Sức mạnh của Việt Nam là ở sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đồngthời ở việc đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế Đó cũng chính là cơ sở
để phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Người còn sớm nêu ra ýtưởng hợp tác cùng có lợi với tất cả cả các nước và rất chú trọng tăng cường quan
hệ hữu nghị hợp tác với các nước láng giềng Đồng thời, xử lý đúng đắn mối quan
hệ với các nước lớn, phấn đấu mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam theo hướng
Trang 9đa dạng hóa, là bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai:
“Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chínhphủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc giacủa nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới ”[41, tr.8]
Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh đã trở thành một mặt trậnquan trọng, triển khai khắp thế giới và ngay tại hậu phương của đối phương Hồ ChíMinh đã chỉ rõ: “Tiến công ngoại giao là một mặt tiến công quan trọng có ý nghĩachiến lược” [33, tr.36] Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và kháng chiếncứu nước, ngoại giao đã phối hợp nhịp nhàng với đấu tranh quân sự và chính trị tạothành sức mạnh tổng hợp Ngoại giao đóng góp đắc lực tranh thủ sự đồng tình, ủng
hộ quốc tế, thực hiện vừa đánh vừa đàm, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượngtừng thời kỳ, trực tiếp tham gia kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi cuối cùng Đó
là một kỳ tích trên mặt trận ngoại giao
Gắn liền với tư tưởng là phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao
Hồ Chí Minh Đó là phương pháp dự báo và nắm đúng thời cơ, ngoại giao tâmcông và “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; phong cách ngoại giao với tư duy độc lập, tựchủ, sáng tạo, ứng xử linh hoạt, thể hiện giản dị, dễ cảm hóa, dễ thuyết phục vàngắn gọn, hàm súc, dễ hiểu; nghệ thuật vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” (biếtmình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến), nhân nhượng có nguyên tắc
và lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương Phương pháp, phong cách vànghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh được thể hiện nhuần nhuyễn trong mọi hoạtđộng ngoại giao của Người Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự mềm mỏng nhưng rấtquyết đoán, kiên trì chân lý, bảo vệ nguyên tắc, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, tạođược sức cảm hóa và thuyết phục đối với mọi đối tượng trong quan hệ ngoại giao
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh luôn là cơ sở nền tảng lý luận đểBĐBP vận dụng vào thực hiện CTĐN của mình
Trang 10Trong quá trình lãnh đạo, quản lý điều hành đất nước, Đảng và Nhànước ta luôn xác định CTĐN là một bộ phận rất quan trọng nhằm thực hiệnthắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược bảo vệ Tổ quốc.Qua các kỳ Đại hội VII, Đại hội VIII, Đại hội IX và Đại hội X của Đảng, Đảng taluôn khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoáquan hệ quốc tế và đề ra những phương châm đối ngoại rất quan trọng Trong đó,nhấn mạnh nội dung: coi trọng kết hợp hoạt động đối ngoại của Đảng, đối ngoạicủa nhà nước và đối ngoại nhân dân; xác định rõ mục tiêu đối ngoại là góp phầncủng cố môi trường hoà bình, hợp tác để xây dựng và bảo vệ đất nước
Tiếp tục kế thừa và phát triển đường lối, chính sách đối ngoại từ các kỳĐại hội trước, Đại hội XI của Đảng ta tiếp tục khẳng định:
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình,hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thànhviên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia,dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh [31,tr.236]
Đại hội XI của Đảng ta đã xác định rõ nhiệm vụ của CTĐN là giữvững môi trường hoà bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnhthổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vìhoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
Về đường lối, phương châm chỉ đạo hoạt động đối ngoại, Đảng tanhấn mạnh:
Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa cácmối quan hệ quốc tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập,
tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân
Trang 11tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực củaquá trình hội nhập quốc tế Tích cực hợp tác cùng các nước,các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc đối phó với nhữngthách thức an ninh phi truyền thống, và nhất là tình trạng biếnđổi khí hậu; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc
tế và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủđộng, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hànhđộng can thiệp vào công việc nội, xâm phạm độc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổnđịnh chính trị của Việt Nam” [31, tr.236 - 237]
Đối với vấn đề biên giới, lãnh thổ, Đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ:
Thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ,ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sởnhững nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắcứng xử của khu vực; làm tốt công tác quản lý biên giới, xây dựngđường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển” [31,tr.237]
Những quan điểm, tư tưởng của Đảng về CTĐN luôn là những nguyên tắclớn, là sự định hướng đúng đắn, xuyên suốt để BĐBP vận dụng thực hiện CTĐN
có hiệu quả vào nhiệm vụ quản lý, BVBG Đó là: xây dựng biên giới hoà bình,hữu nghị trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ củanhau; tăng cường hợp tác, mở rộng quan hệ đối ngoại là điều kiện thuận lợi đểBĐBP hoàn thành tốt nhiệm vụ; đảm bảo vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên tinhthần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau bảo vệ vững chắc chủ quyền ANBG; khi giảiquyết các vấn đề xung đột ở biên giới phải bằng đàm phán, thương lượng, không
để xảy ra xung đột vũ trang, gây mất ổn định biên giới
* Cơ sở pháp lý tiến hành công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng
Trang 12Tại điều 16, Pháp lệnh BĐBP, được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thôngqua ngày 28 tháng 03 năm 1997, đã chỉ rõ: Bộ đội Biên phòng được quan hệ,phối hợp với lực lượng BVBG, chính quyền địa phương nước tiếp giáp theo quyđịnh của Chính phủ để thi hành các điều ước quốc tế về biên giới, xây dựng biêngiới hòa bình, hữu nghị; đấu tranh ngăn chặn mọi hành động làm phương hạiđến quan hệ biên giới giữa các nước có chung biên giới và xâm phạm chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại Điều 6, Nghị định số 02/1998/NĐ-CP, ngày 06/01/1998 của Chínhphủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh BĐBP và mục 1, Thông tư2866/1998/TT-BQP, ngày 12/9/1998 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn thi hànhNghị định số 02/1998/NĐ-CP, ngày 06/01/1998 của Chính phủ quy định chitiết thi hành một số điều của Pháp lệnh BĐBP đã nêu cụ thể: Bộ đội Biênphòng được quan hệ, phối hợp với lực lượng BVBG và chính quyền địaphương nước tiếp giáp trong việc thi hành các điều ước quốc tế về biên giới,xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, đấu tranh ngăn chặn mọi hành độnglàm phương hại đến quan hệ biên giới giữa các nước có chung biên giới
Trách nhiệm cũng như cơ sở để BĐBP tiến hành CTĐN còn được xácđịnh cụ thể tại: Quyết định số 05/2003/QĐ-BQP, ngày 15/01/2003 của Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng về Quy định hoạt động đối ngoại biên phòng; điều
14 trong Nghị định 89/2009/ NĐ-CP của Chính phủ, ngày 19/10/2009;Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới trên đất liền giữa Chính phủ nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhândân Trung Hoa, Bắc Kinh, ngày 18-11-2009; Nghị định thư phân giới cắmmốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc giữa Chính phủ nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhândân Trung Hoa, Bắc Kinh, ngày18-11-2009
Trang 13Các văn bản, quy phạm pháp luật trên không những là hành lang pháp lýtạo ra sự nhận thức chung về ý thức chủ quyền dân tộc mà còn thể hiện sựquan tâm lớn của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ANBGquốc gia nói chung và nhiệm vụ của CTĐN của BĐBP nói riêng trong xu thếhội nhập, mở cửa hiện nay.
* Khái niệm công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng
Công tác đối ngoại là quá trình triển khai những hoạt động, những quan
hệ để thực hiện đường lối, chính sách ngoại giao của một nhà nước, một tổchức xã hội đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài nhằm đạt được những mụcđích nhất định trong quan hệ ngoại giao
Công tác đối ngoại của một nhà nước do nhiều cơ quan thực hiện Đối vớiViệt Nam, ở trong nước có cơ quan quan hệ đối ngoại chung (Nhà nước, Quốchội, Chính phủ, Bộ ngoại giao, Bộ trưởng Bộ ngoại giao) và cơ quan quan hệđối ngoại chuyên ngành như: Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, BộCông an, Bộ Quốc phòng… Ở ngoài nước có cơ quan quan hệ đối ngoại chínhthức như: Đại sứ quán, Lãnh sự quán và cơ quan quan hệ đối ngoại lâm thời.Công tác đối ngoại quốc phòng là một bộ phận quan trọng trong CTĐNcủa Đảng và Nhà nước ta, là một lĩnh vực hoạt động quan trọng của quân đội.Công tác đối ngoại quốc phòng thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại củaĐảng và Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng góp phần duy trì hòa bình, ổnđịnh, đồng thời góp phần xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng, an ninh.Công tác đối ngoại quốc phòng là nhiệm vụ của toàn quân Hiện nay,bên cạnh Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng là cơ quan chuyên trách đối ngoại vànhiều cơ quan khác trong toàn quân cũng trực tiếp tham gia CTĐN quốcphòng, như: Tổng cục II, Viện Chiến lược quân sự, lực lượng BĐBP…
Công tác đối ngoại biên phòng là một bộ phận quan trọng trong CTĐNquốc phòng, CTĐN của Đảng và Nhà nước Công tác đối ngoại biên phòng
Trang 14thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại và quan điểm, chủ trương giải quyếtcác vấn đề biên giới, lãnh thổ của Đảng và Nhà nước góp phần bảo vệ vữngchắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ANBG quốc gia và xây dựng biên giới hòabình, hữu nghị với các nước láng giềng.
Tiến hành CTĐN biên phòng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị,của toàn dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Trong đó thường xuyên vàtrực tiếp là cấp ủy, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội, nhân dân, cácngành và các lực lượng vũ trang ở KVBG; BĐBP làm nòng cốt trong thammưu, phối hợp hoạt động và tổ chức thực hiện CTĐN biên phòng
Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong thực hiệnCTĐN biên phòng Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của BĐBP;trách nhiệm của BĐBP trong thực hiện CTĐN biên phòng, khái niệm CTĐNcủa BĐBP được xác định là:
Công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng là những hoạt động của
Bộ đội Biên phòng các cấp, bằng các quan hệ tiếp xúc, làm việc vớiđại diện biên phòng nước láng giềng, người nước ngoài ở khu vựcbiên giới hoặc lực lượng biên phòng các nước có liên quan nhằm giữvững mối quan hệ hữu nghị, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền anninh biên giới quốc gia trên cơ sở đường lối, chính sách đối ngoạicủa Đảng và Nhà nước [36, tr44]
Công tác đối ngoại của BĐBP là một bộ phận của CTĐN biên phòng,CTĐN quốc phòng và CTĐN của Đảng và Nhà nước Công tác đối ngoại củaBĐBP giữ vị trí, vai trò quan trọng trong quản lý, bảo vệ chủ quyền ANBG quốcgia Công tác đối ngoại của BĐBP đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung thốngnhất của Quân ủy Trung ương; chỉ đạo, quản lý của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vàhướng dẫn của cơ quan đối ngoại Bộ Quốc phòng nhằm quản lý, bảo vệ vững
Trang 15chắc chủ quyền ANBG quốc gia; phối hợp với lực lượng BVBG của nước tiếpgiáp duy trì việc thực hiện các hiệp ước, hiệp định, quy chế biên giới, xây dựngbiên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.
* Nhiệm vụ công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng
Từ nghiên cứu nội dung hoạt động đối ngoại biên phòng và trách nhiệmcủa BĐBP trong thực hiện hoạt động đối ngoại biên phòng được quy định ởNghị định 89/2009/NĐ - CP; từ tổng kết thực tiễn CTĐN của BĐBP trong thờigian qua và dự báo sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, xácđịnh nhiệm vụ CTĐN của BĐBP là:
Tham mưu cho Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về biên giớiquốc gia, các chủ trương, chính sách về hoạt động đối ngoại biên phòng và tổchức thực hiện đối ngoại biên phòng theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Quốcphòng, hướng dẫn của Bộ Ngoại giao để quản lý, bảo vệ chủ quyền ANBGquốc gia, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị
Tham gia các đoàn của Nhà nước, các Bộ, ngành trung ương, ủy ban nhândân theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, kế hoạch của ủy ban nhân dâncấp tỉnh để đàm phán, trao đổi giải quyết các vấn đề liên quan đến thực hiệnHiệp ước, Hiệp định về biên giới Thỏa thuận hợp tác biên phòng theo thẩmquyền để bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ gìn ANTT, an toàn xã hội ở KVBG,cửa khẩu theo quy định của pháp luật
Phối hợp với lực lượng BVBG nước láng giềng thực hiện tuần tra, kiểmsoát, quản lý, bảo vệ đường biên giới, mốc quốc giới; phối hợp đấu tranhchống tội phạm, ngăn chặn các hoạt động khủng bố, vượt biên, buôn bán vậnchuyển các chất ma túy, buôn lậu, buôn bán người qua biên giới, rửa tiền, truybắt tội phạm, cứu hộ, cứu nạn và tuyên truyền đối ngoại xây dựng biên giớihòa bình, hữu nghị
Trang 16Thực hiện trao đổi tình hình liên quan định kỳ hoặc đột xuất với lựclượng BVBG nước láng giềng nhằm thông báo, trao đổi tình hình thực hiệnHiệp định về Quy chế biên giới, Thỏa thuận hợp tác biên phòng; tình hình viphạm chủ quyền lãnh thổ; công tác phối hợp đấu tranh, ngăn chặn các hành vi
vi phạm các quy định về quản lý, BVBG, giữ gìn ANTT, an toàn xã hội ởKVBG, cửa khẩu liên quan đến hai bên biên giới; tiếp nhận và trao trả người,tang vật, phương tiện vi phạm Hiệp định về Quy chế biên giới; gửi thư phảnkháng các hành vi vi phạm Hiệp định về Quy chế biên giới và các thỏa thuận
đã ký kết…
Mời và thăm xã giao theo lời mời; tổ chức đón tiếp lực lượng BVBGnước láng giềng đến làm việc, thăm xã giao, chúc mừng nhân dịp ngày lễ, tết
và các hoạt động khác theo kế hoạch, chỉ đạo của trên
* Nguyên tắc tiến hành công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng
Khi tiến hành CTĐN của BĐBP cần thực hiện tốt các nguyên tắc sau:Nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vềCTĐN trên các tuyến biên giới, giữ vững độc lập, chủ quyền, không đượcnhân nhượng, thoả hiệp vô nguyên tắc
Thực hiện đúng thẩm quyền, nguyên tắc trong quan hệ, tiếp xúc, làmviệc, bảo đảm giữ bí mật quốc gia; trong đấu tranh cần quán triệt, vận dụng
năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình, thực hiện phương châm "vừa hợp tác, vừa đấu tranh" , xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị.
Tôn trọng độc lập, chủ quyền, an ninh của nước khác, không can thiệpvào công việc nội bộ của nhau, tích cực xây dựng mối quan hệ hoà bình, hữunghị giữa lực lượng biên phòng và nhân dân hai bên biên giới, cùng nhau thựchiện Hiệp ước, Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới mà hai nước đã ký kết Đảm bảo an toàn nội bộ, giữ nghiêm kỷ luật, trong quan hệ đối ngoạiphải thận trọng chặt chẽ, vừa đảm bảo pháp lý, vừa đảm bảo hoà bình hữunghị Luôn tỉnh táo, kiềm chế, không để sơ hở, làm lộ bí mật quốc gia
Trang 17Không được phép thoả thuận với nước ngoài làm thay đổi đường biên,mốc giới Chỉ được trao đổi những vấn đề thuộc thẩm quyền và được cấp trêncho phép.
Những nguyên tắc trên có mối quan hệ biện chứng, quy định chặt chẽ lẫnnhau; nội dung của từng nguyên tắc giữ vị trí, vai trò quan trọng, là nhữngquy định mang tính bắt buộc, đòi hỏi người chỉ huy, cán bộ, chiến sỹ BĐBPphải luôn nắm vững và thực hiện đúng trong quá trình tổ chức thực hiệnCTĐN
* Phương thức tiến hành công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng
Phương thức tiến hành CTĐN của BĐBP là tổng hợp các hình thức,phương pháp hoạt động để thực hiện nội dung CTĐN phù hợp với chức năng,thẩm quyền và đặc điểm hoạt động của BĐBP
Hình thức CTĐN của BĐBP là cách thức tiến hành quan hệ tiếp xúc, làmviệc của BĐBP với các đối tượng quan hệ đối ngoại trên biên giới, nhằm quản
lý, bảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị
và ổn định lâu dài Hình thức CTĐN của BĐBP thường thể hiện trong cáctrường hợp: tiếp xúc làm việc, thăm xã giao, thông báo, phản kháng và hộiđàm giữa lực lượng BĐBP Việt Nam với lực lượng BVBG, chính quyền địaphương nước tiếp giáp và lực lượng biên phòng các nước có liên quan để thựchiện thắng lợi nhiệm vụ quản lý, BVBG và xây dựng biên giới hoà bình, hữunghị Công tác đối ngoại của BĐBP tiến hành qua các hình thức cơ bản sau:
Trang 18các trường hợp: thăm xã giao; gặp gỡ hội đàm trao đổi định kỳ gặp gỡ hộiđàm đột xuất; gặp gỡ trực tiếp để phản kháng…
Hình thức quan hệ gián tiếp
Là hình thức thực hiện CTĐN thông qua khâu trung gian như: gửi thưmời, thư thông báo, thư phản kháng giữa lực lượng BĐBP Việt Nam với lựclượng BVBG nước tiếp giáp để thực hiện nội dung CTĐN của BĐBP theophạm vi thẩm quyền và quy định của pháp luật
Phương pháp tiến hành CTĐN của BĐBP là cách thức, quy trình tổchức thực hiện các nội dung, hình thức đối ngoại thuộc trách nhiệm vàthẩm quyền của BĐBP Phương pháp tiến hành CTĐN được áp dụng trongcác trường hợp: bạn sang ta làm việc; ta sang bạn làm việc; tham gia đoànđịa phương Đồng thời phải được thể hiện cụ thể ở các khâu như: công tácchuẩn bị trước khi làm việc; tổ chức làm việc; kết thúc làm việc
1.1.2 Quan niệm, vai trò và nội dung tiến hành công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn hiện nay
* Đặc điểm tình hình tỉnh Lạng Sơn
Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Đông Bắc của Tổ quốc, phía Tâygiáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnhBắc Giang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc Địa hình hiểm trởchủ yếu là đồi núi cao, rừng rậm, bị chia cắt bởi khe sâu, sông suối Đất đaicằn cỗi nên gây nhiều khó khăn trong sản xuất nông nghiệp ở địa phương
Hệ thống giao thông phát triển, quốc lộ 1A, 1B và tuyến đường sắt quốc tếViệt - Trung là những tuyến thuận lợi nhất từ Hà Nội đến biên giới phíaBắc Tỉnh Lạng Sơn có các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính, cửa khẩuphụ, và nhiều lối mòn, đường tắt qua lại biên giới, rất thuận tiện cho việclưu thông hàng hoá và ra vào KVBG Vì vậy, Lạng Sơn là tỉnh trọng điểm
Trang 19trên tuyến biên giới phía Bắc về lưu thông biên giới, buôn bán, trong đóhoạt động xuất, nhập cảnh, buôn lậu qua biên giới, với số lượng người,hàng hoá, phương tiện ngày càng gia tăng.
Khu vực biên giới tỉnh Lạng Sơn gồm 05 huyện (Tràng Định, VănLãng, Cao Lộc, Lộc Bình và Đình Lập) với 20 xã và 01 thị trấn, là nơi cư trú,sinh sống của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao và Hoa (trong đódân tộc Tày, Nùng chiếm đa số) Đồng bào các dân tộc có mối quan hệ thântộc, dòng tộc sâu sắc Chủ yếu đồng bào theo tín ngưỡng truyền thống củatừng dân tộc, ngoài ra ở KVBG còn có một số hộ theo đạo Thiên chúa, tậptrung ở thị trấn Đồng Đăng, xã Tân Mỹ và xã Tân Thanh Các dân tộc, tôngiáo sinh sống bình đẳng, đoàn kết, đan xen nhau cùng lao động sản xuất xâydựng các thôn, bản văn hoá ở KVBG
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội ở KVBG tỉnh LạngSơn cơ bản phát triển, đời sống của nhân dân đã từng bước được cải thiện vànâng lên Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số hộ gia đình đời sống còngặp rất nhiều khó khăn cùng với tác động của mặt trái nền kinh tế thị trườngnên đã có người vì lợi ích vật chất đơn thuần, bất chấp quy định của pháp luậtlén lút vượt biên làm ăn, buôn bán, làm cửu vạn, thậm chí có những trườnghợp tiếp tay cho bọn tội phạm Phần đông nhận thức về pháp luật, hiểu biết vềquốc gia, quốc giới còn rất hạn chế Đây là vấn đề khó khăn đặt ra cho BĐBPtỉnh Lạng Sơn trong công tác quản lý, BVBG nói chung và CTĐN nói riêng
Hệ thống chính trị cơ sở ở KVBG tỉnh Lạng Sơn luôn được cấp uỷđảng, chính quyền địa phương, các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm xâydựng, củng cố và kiện toàn Nhìn chung các tổ chức đảng, chính quyền cơ sở
đã phát huy được vai trò lãnh đạo, quản lý nhà nước ở địa phương, thực hiệnđúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; lãnhđạo, chỉ đạo các đoàn thể, tổ chức quần chúng, tuyên truyền, vận động nhândân tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn ANTT thôn, bản
Trang 20Tình hình hoạt động của các loại đối tượng
Lạng Sơn là một địa bàn chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị,quốc phòng, an ninh và đối ngoại Là tỉnh có nhiều cửa khẩu và nhiều điểm
du lịch hấp dẫn Do đó, có nhiều dân lao động tập trung làm ăn, buôn bán
và khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch, vì vậy tìnhhình ANTT ở KVBG tỉnh Lạng Sơn hết sức phức tạp và thường diễn ra cácloại tội phạm như: vận chuyển tài liệu trái phép ra nước ngoài; vận chuyển,mua bán, tàng trữ, sử dụng các chất ma túy; vận chuyển, mua bán tiền giả,
vũ khí; mua bán phụ nữ, trẻ em; xuất, nhập cảnh trái phép; buôn lậu … cóchiều hướng gia tăng
Thực trạng tình hình hoạt động của các loại đối tượng đang diễn rahàng ngày ở KVBG tỉnh Lạng Sơn đã có tác động, ảnh hưởng không nhỏtới công tác quản lý, BVBG nói chung cũng như CTĐN biên phòng nóiriêng Gây khó khăn, phức tạp cho các lực lượng BVBG và mối quan hệđối ngoại giữa chính quyền địa phương hai tỉnh biên giới Lạng Sơn củaViệt Nam và Quảng Tây của Trung Quốc
Trước khi Nghị định thư phân giới cắm mốc và các văn kiện quản lýbiên giới mới có hiệu lực Trên tuyến biên giới tỉnh Lạng Sơn - Việt Nam
và tỉnh Quảng tây - Trung Quốc, hai bên vẫn quản lý biên giới theo ranhgiới của Hiệp định tạm thời Phía Trung Quốc thường xuyên có các hoạt
Trang 21động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, xâm nhập vũ trang, ngăn cản Bộ độiCông binh của ta rà phá vật cản, hành hung đe dọa, phá hoại hoa màu, thudụng cụ sản xuất của nhân dân ta đang canh tác ở sát biên giới Trung Quốctiếp tục tiến hành các hoạt động tạo hiện trường mới trên biên giới nhằmtạo thế có lợi trong phân giới cắm mốc trên thực địa.
Sau khi Chính phủ hai nước Việt Nam - Trung Quốc công bố Nghị địnhthư phân giới cắm mốc và các văn kiện về biên giới mới có hiệu lực (ngày14/7/2010), các hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh thổ nước ta của lực lượng vũtrang nước đối diện giảm hơn so với thời gian trước nhưng vẫn còn rất phức tạp.Đặc biệt là hoạt động đẩy người từ Trung Quốc qua biên giới về Việt Nam đãtạo thêm sự phức tạp về an ninh, gây rối địa bàn, trật tự an toàn xã hội ởKVBG Công tác đối ngoại của BĐBP tỉnh Lạng Sơn hiện nay chủ yếu tậptrung vào giải quyết các vụ việc về biên giới như giải quyết về hoa màu, câykinh tế; chuyển giao đất quy thuộc về mỗi bên; giữ gìn ANTT; đấu tranhchống tội phạm ở KVBG
Tình hình Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn
Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệchủ quyền ANBG trên tuyến biên giới tỉnh Lạng Sơn Tổ chức, biên chế củaBĐBP tỉnh Lạng Sơn hiện nay gồm có: Bộ Chỉ huy và 07 phòng, ban trựcthuộc (Tham mưu, Chính trị, Trinh sát, Hậu cần, Kỹ thuật, phòng chống tộiphạm về ma túy, Văn phòng) Các đơn vị cơ sở gồm có 11 đồn biên phòng, 01đại đội cơ động (c1), 01 tiểu đoàn huấn luyện (d19) Cán bộ lãnh đạo, chỉ huycác cấp được đào tạo cơ bản qua các trường trong và ngoài quân đội, năng lựclãnh đạo, chỉ huy tác chiến phòng thủ cao Cán bộ, chiến sỹ BĐBP tỉnh LạngSơn cơ bản được đào tạo qua các trường, lớp trong và ngoài lực lượng hoặc đãtrải qua huấn luyện; được trang bị những kiến thức về quân sự, nghiệp vụ, phápluật; có bề dày kinh nghiệm công tác ở địa bàn; am hiểu thực tiễn công tácquản lý, BVBG nói chung và CTĐN của BĐBP nói riêng Đây chính là những
Trang 22thuận lợi cơ bản đối với quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý, BVBG quốc giatrong đó có CTĐN của BĐBP Tuy nhiên, trước sự tác động của cơ chế thịtrường và những diễn biến phức tạp của tình hình ANTT trong KVBG tỉnhLạng Sơn, một số cán bộ, chiến sỹ do thiếu tinh thần trách nhiệm trong khithực hiện nhiệm vụ, tha hoá, biến chất chạy theo lợi ích vật chất nên vi phạmpháp luật Quá trình thực hiện nhiệm vụ kết quả đạt được chưa cao, do vậychưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia cũngnhư những đòi hỏi của CTĐN của BĐBP trong tình hình mới.
Tình hình các lực lượng vũ trang địa phương
Bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn gồm có: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh vàBan Chỉ huy Quân sự các huyện biên giới Bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn
là những đơn vị vũ trang tập trung, thường xuyên phối hợp chặt chẽ với cácđơn vị BĐBP tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia và thựchiện CTĐN biên phòng Đây là lực lượng cơ động mạnh, có sức chiến đấucao, sẵn sàng hỗ trợ cho BĐBP trong giải quyết các vụ việc xảy ra trên biêngiới
Lực lượng dân quân tự vệ là những tổ chức vũ trang quần chúng trong cácngành, các đơn vị, cơ sở sản xuất, cơ quan hành chính sự nghiệp và ở các xã đượcphát triển rộng khắp Đây là lực lượng tham gia phối hợp với BĐBP thực hiệnnhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, ANBG quốc gia, giữ gìn ANTT ở KVBG
Hệ thống tổ chức của Công an tỉnh Lạng Sơn gồm: Sở Công an, công
an các huyện, thị trấn và các xã biên giới Theo quy chế, các lực lượng nàythường xuyên phối hợp với BĐBP nhằm trao đổi thông tin, nắm bắt tìnhhình về mọi mặt và xử lý các tình huống xảy ra trong KVBG, bảo vệ vữngchắc chủ quyền ANBG quốc gia
Ngoài các lực lượng trên, quá trình thực hiện CTĐN, BĐBP tỉnh LạngSơn còn thường xuyên phối hợp với lực lượng Hải Quan trong lĩnh vực phòng
Trang 23chống các hoạt động buôn lậu như tuần tra ngăn chặn, bắt giữ và xử lý cácloại hàng lậu qua các đường mòn, đường tắt vào nước ta.
Những đặc điểm trên có tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến CTĐNcủa BĐBP tỉnh Lạng Sơn Do vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện, đòi hỏicấp ủy, chỉ huy các đơn vị BĐBP tỉnh Lạng Sơn phải nắm chắc đặc điểm tìnhhình có liên quan để đề ra nghị quyết, kế hoạch sát đúng và tổ chức thực hiệnluôn đảm bảo chủ động, linh hoạt
* Quan niệm về công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn hiện nay
Từ những vấn đề lý luận về CTĐN của BĐBP nói chung, CTĐN của
BĐBP tỉnh Lạng Sơn được xác định như sau: Công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn là tổng thể các hoạt động của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn trong tham mưu, phối hợp và tổ chức thực hiện công tác đối ngoại biên phòng theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.
Công tác đối ngoại của BĐBP tỉnh Lạng Sơn được tiến hành với mụcđích nhằm quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối, chính sáchđối ngoại và quan điểm, chủ trương giải quyết các vấn đề về biên giới, lãnhthổ của Đảng và Nhà nước trong công tác biên phòng, góp phần bảo vệ vữngchắc chủ quyền ANBG quốc gia, xây dựng đoạn biên giới Việt Nam - TrungQuốc hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài, hợp tác cùng phát triển
Chủ thể tiến hành CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn là lãnh đạo, chỉ huy,cán bộ, chiến sỹ BĐBP tỉnh Lạng Sơn, trong đó trực tiếp và thường xuyên là cácđồn biên phòng, do cấp uỷ, chỉ huy các đồn tổ chức thực hiện
Nhiệm vụ CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn là làm tham mưu cho Tỉnh
ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Bộ Tư lệnh BĐBP về thực hiện CTĐNtheo quy định của Bộ Quốc phòng; tham gia cùng các đoàn thể, chính quyền
Trang 24địa phương giải quyết các vấn đề có liên quan đến quan hệ biên giới giữa hainước và phối hợp với các lực lượng liên quan trên địa bàn đấu tranh, ngănchặn các hành vi vi phạm các hiệp ước, hiệp định và thỏa thuận cấp cao đãđược ký kết giữa hai nhà nước Việt Nam - Trung Quốc; thăm và làm việctheo lời mời của Công an Biên phòng, BĐBP tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc;mời và tổ chức đón tiếp bạn theo biên bản ghi nhớ định kỳ hàng năm hoặctham gia các hoạt động khác theo chỉ đạo của Tư lệnh BĐBP.
Đối tượng mà CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn tác động là các lực lượng
vũ trang, nhân dân, các cơ quan hữu quan làm nhiệm vụ ở KVBG của tỉnhQuảng Tây - Trung Quốc Trong đó, trực tiếp, thường xuyên là lực lượng Công
an Biên phòng, BĐBP, nhân dân và chính quyền địa phương ở KVBG tỉnhQuảng Tây - Trung Quốc
* Vai trò của công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn hiện nay
Công tác đối ngoại của BĐBP tỉnh Lạng Sơn là một trong sáu biện phápcông tác biên phòng, góp phần trực tiếp quản lý, BVBG và thực hiện thắng lợiđường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Trong tình hìnhhiện nay, CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn càng có ý nghĩa quan trọng tronggiải quyết các vấn đề về chủ quyền ANBG quốc gia, phát triển kinh tế, hợptác biên giới và đẩy lùi các nhân tố gây mất ổn định trên biên giới, giữ chobiên giới quốc gia luôn ổn định và phát triển
Công tác đối ngoại của BĐBP tỉnh Lạng Sơn góp phần tăng cường mốiquan hệ giữa chính quyền và nhân dân hai tỉnh Lạng Sơn - Việt Nam vàQuảng Tây - Trung Quốc Từ đó, thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnhLạng Sơn ngày càng phát triển thông qua mở rộng sự giao lưu, hợp tác vềkinh tế, văn hóa với chính quyền, các tổ chức kinh tế, xã hội của tỉnh QuảngTây - Trung Quốc
Trang 25Công tác đối ngoại của BĐBP tỉnh Lạng Sơn góp phần xây dựng vàcủng cố tình đoàn kết gắn bó giữa BĐBP tỉnh Lạng Sơn với các lực lượngBVBG phía Trung Quốc Từ đó, đưa mối quan hệ giữa BĐBP tỉnh Lạng Sơnvới các lực lượng BVBG phía Trung Quốc ngày càng đi vào chiều sâu và tăngniềm tin trong xử lý các vấn đề nảy sinh trên biên giới trên cơ sở tôn trọngđường biên giới và các hiệp định, quy chế quản lý biên giới.
* Nội dung tiến hành công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn hiện nay
Lãnh đạo, chỉ đạo công tác đối ngoại
Trên cơ sở quan điểm, đường lối chính sách đối ngoại của Đảng và Nhànước, nhiệm vụ cấp trên giao, cấp uỷ, chỉ huy các cấp BĐBP tỉnh Lạng Sơntiến hành trao đổi, bàn bạc xác định nhiệm vụ, mục tiêu, phương hướng côngtác để trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, đơn vị thuộc quyền thực hiệnCTĐN của BĐBP Lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết dứt điểm và có hiệu quảnhững vấn đề nổi lên hay những công việc cần phải làm ngay để phục vụcho CTĐN Các nghị quyết lãnh đạo, chương trình, kế hoạch, hướng dẫnthực hiện CTĐN phải đảm bảo tính lôgíc, biện chứng, theo đúng nhiệm vụđược giao và những yêu cầu đặt ra của CTĐN Công tác đối ngoại phảiđược xác định rõ trong nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy BĐBP tỉnh và cấp
ủy thuộc chi bộ các đồn biên phòng
Việc quán triệt nhiệm vụ là bước quan trọng giúp cho cấp ủy, người chỉ
huy các cấp BĐBP tỉnh Lạng Sơn nhận thức đúng ý định của cấp trên và củađịa phương, làm cơ sở để xác định nội dung, xây dựng kế hoạch CTĐN
Nghiên cứu đánh giá tình hình có liên quan đến CTĐN, trong đó cần tập
trung nghiên cứu đánh giá các yếu tố tình hình như: lực lượng, phương tiện,công tác quản lý, BVBG; quan điểm, động thái của lực lượng BVBG phía
Trang 26Trung Quốc… Tiến hành hội ý cấp uỷ, chỉ huy để thống nhất nhận định, xácđịnh nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện CTĐN
Xây dựng và thông qua kế hoạch CTĐN trước cấp uỷ, chỉ huy đơn
vị
Công tác đối ngoại phải được chuẩn bị chu đáo và khoa học Do vậy,khi xây dựng kế hoạch phải tiến hành họp cấp ủy, chỉ huy để quán triệtsâu sắc các chỉ thị, nghị quyết và chỉ đạo của cấp trên Đồng thời phảibám sát thực tiễn, nhận định đánh giá đúng tình hình có liên quan đếnCTĐN, xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và những chủ trương,biện pháp tổ chức thực hiện Trong xây dựng kế hoạch CTĐN, phải dựkiến được các tình huống có thể xảy ra và phương án xử trí các tình huốngtrong đàm phán, hội đàm Sau khi dự thảo kế hoạch, chỉ huy trưởngBĐBP tỉnh Lạng Sơn, đồn trưởng các đồn biên phòng, tiến hành thôngqua trước cấp uỷ, chỉ huy đơn vị để tập trung cao trí tuệ của tập thể vào kếhoạch đối ngoại, thực hiện đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụtrách Sau đó hoàn chỉnh kế hoạch, báo cáo cấp trên cho ý kiến chỉ đạo vàphê duyệt Đồng thời, báo cáo cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương đểtranh thủ ý kiến chỉ đạo và đề xuất hỗ trợ kinh phí hoạt động CTĐN
Sau khi kế hoạch CTĐN được phê duyệt, chỉ huy trưởng BĐBP tỉnhhoặc đồn trưởng các đồn biên phòng tổ chức phổ biến kế hoạch, quántriệt và giao nhiệm vụ cho các bộ phận và từng cá nhân thực hiện Tổchức hiệp đồng với các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương cóliên quan để thực hiện kế hoạch CTĐN Đối với những nội dung đốingoại quan trọng và nhạy cảm trong quá trình tiến hành ở cấp đồn biênphòng, chỉ huy BĐBP tỉnh trực tiếp chỉ đạo hoặc cử cán bộ xuống tăngcường, hỗ trợ cho các đồn biên phòng
Trang 27Cấp ủy, người chỉ huy các cấp trong quá trình lãnh đạo, chỉ huy phảithường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, đôn đốc các đơn vị trong tổ chứcthực hiện CTĐN.
Tổ chức thực hiện các hoạt động đối ngoại
Tiến hành trao đổi định kỳ hoặc đột xuất với các cơ quan hữu quantương ứng của Trung Quốc để thông báo tình hình thực hiện hiệp định về quychế biên giới và các vấn đề có liên quan đến hoạt động quản lý, BVBG; việchạn chế hoặc tạm dừng qua lại biên giới; phản kháng các hành vi vi phạmHiệp định về Quy chế quản lý biên giới
Thường xuyên phối hợp với lực lượng BVBG phía Trung Quốc tuầntra, kiểm tra, quản lý đường biên giới và bảo quản mốc quốc giới; đấu tranhngăn chặn các hoạt động khủng bố, buôn bán vận chuyển các chất ma tuý,buôn lậu, buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới, phòng chống các loại tộiphạm khác, truy bắt tội phạm; phối hợp cứu hộ, cứu nạn và tuyên truyền đốingoại biên phòng, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị Nhận thông báocủa lực lượng BVBG phía Trung Quốc, trao trả, tiếp nhận người vi phạmHiệp định về Quy chế quản lý biên giới Tiếp xúc, gặp gỡ nhân viên, cán bộcủa lực lượng BVBG phía Trung Quốc hoặc thăm viếng xã giao theo quyđịnh
Thực hiện đàm phán, ký kết các hiệp định, thoả thuận về hợp tác côngtác biên phòng và thực hiện hoạt động đối ngoại biên phòng khác theo chỉđạo của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh BĐBP
Phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng có liên quan trong thực hiện công tác đối ngoại biên phòng
Trên cơ sở nắm chắc các yếu tố tình hình có liên quan, chức năng,nhiệm vụ được giao, BĐBP tỉnh tham mưu, phối hợp với cấp ủy, chínhquyền địa phương thực hiện CTĐN biên phòng Nội dung tham mưu, phối
Trang 28hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương thể hiện trên nhiều mặt công tác
và phù hợp với từng giai đoạn khác nhau: Xây dựng kế hoạch, chuẩn bị nộidung, đề xuất chủ trương, giải pháp, đối sách ngoại giao, thành phần thamgia và tham gia hoạt động đối ngoại
Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn phối hợp chặt chẽ với lực lượng cóliên quan như: Sở Ngoại vụ, Công an, Hải quan, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh.Qua công tác phối hợp nhằm phát huy sức mạnh và trách nhiệm của lực lượng
có liên quan cùng BĐBP thực hiện tốt CTĐN biên phòng
Sơ, tổng kết rút kinh nghiệm, báo cáo lên cấp trên trực tiếp và lưu trữ hồ
sơ đối ngoại
Sau mỗi lần tổ chức thực hiện CTĐN, các đơn vị đều phải tiến hành sơ,tổng kết; đánh giá điểm mạnh, yếu của từng bộ phận, từng cá nhân qua đó tìm ranguyên nhân, bài học kinh nghiệm Báo cáo cấp trên và cấp uỷ, chính quyền địaphương kết quả đạt được, những đề xuất, kiến nghị và biểu dương khen thưởngnhững tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện CTĐN
1.2 Thực trạng công tác đối ngoại của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn hiện nay và nguyên nhân của nó
1.2.1 Ưu điểm và nguyên nhân
* Ưu điểm
Một là, cấp ủy đảng, chỉ huy, cán bộ, chiến sỹ BĐBP tỉnh Lạng Sơn
nhận thức khá sâu sắc vai trò của CTĐN và trách nhiệm của mình trong thựchiện CTĐN của BĐBP
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của CTĐN của BĐBP trong sự nghiệpbảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia, Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lạng Sơnluôn quán triệt sâu sắc các quan điểm và thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghịquyết, nguyên tắc đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta; các nghị quyết, chỉ thị,hướng dẫn của Bộ Tư lệnh BĐBP; chỉ thị, hướng dẫn của Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân
Trang 29dân tỉnh Lạng Sơn và các cơ quan chức năng cấp trên Đảng ủy, chỉ huy BĐBPtỉnh, cấp ủy, chỉ huy các đồn biên phòng luôn bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo vàhướng dẫn về nghiệp vụ CTĐN của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh BĐBP, củaTỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế ở KVBG
để xây dựng chương trình, kế hoạch và xác định nội dung, hình thức, phươngpháp thực hiện CTĐN cho phù hợp Công tác lãnh đạo, chỉ đạo CTĐN đượctriển khai bằng hệ thống kế hoạch, được xác định trong nghị quyết lãnh đạo năm,quý của Đảng uỷ BĐBP tỉnh, cấp ủy các đồn biên phòng và được xác định trongQuyết tâm BVBG của Chỉ huy trưởng, Đồn trưởng
Các cấp ủy đảng và người chỉ huy các cấp BĐBP tỉnh Lạng Sơnthường xuyên lãnh đạo và chỉ đạo chặt chẽ việc tổ chức giáo dục nâng caonhận thức và trách nhiệm đối với việc thực hiện CTĐN của BĐBP cho toànthể cán bộ, chiến sỹ Qua tổng kết, kết quả công tác huấn luyện và giáo dụcchính trị - tư tưởng của BĐBP tỉnh Lạng Sơn từ năm 2006 đến năm 2010, đạtkết quả trên 70% khá và giỏi hàng năm (Phụ lục 03) Nhờ đó, từng bướcnâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sỹ về đường lối, quan điểm đối ngoạicủa Đảng và Nhà nước; hiểu rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng củaCTĐN đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền ANBG của lực lượng BĐBPnói chung, BĐBP tỉnh Lạng Sơn nói riêng Từ đó, hình thành tư duy, nhậnthức đúng đắn về CTĐN và ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiệnquan hệ đối ngoại với lực lượng BVBG và nhân dân KVBG tỉnh QuảngTây - Trung Quốc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác quản lý, bảo vệANBG quốc gia
Do nhận thức đúng tầm quan trọng của CTĐN, lãnh đạo, chỉ huy cáccấp của BĐBP tỉnh Lạng Sơn đã chăm lo kiện toàn tổ chức lực lượng làmCTĐN với số lượng và cơ cấu hợp lý; tích cực bồi dưỡng kiến thức, nghiệp
vụ chuyên ngành, pháp luật, ngoại ngữ…nâng cao năng lực tiến hànhCTĐN của cán bộ, chiến sỹ
Trang 30Phần đông đội ngũ cán bộ chủ trì làm CTĐN thể hiện bản lĩnh chínhtrị vững vàng, có trình độ năng lực trong tổ chức thực hiện CTĐN; đượctrải nghiệm qua thực tiễn, nắm chắc tình hình địa bàn; nắm vững các Hiệpước, Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới, chủ trương chính sách đốingoại của Đảng và Nhà nước; có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản
lý, BVBG; am hiểu nội dung và phương thức hội đàm khi giải quyết cácvấn đề về biên giới
Trong những năm qua, các cấp ủy đảng và người chỉ huy các cấpBĐBP tỉnh Lạng Sơn đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnhđạo, chỉ đạo đối với CTĐN Trên cơ sở quán triệt các quan điểm, chủtrương của Đảng, các văn bản pháp lý của Nhà nước về CTĐN và các chỉthị, nghị quyết của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP, hàng năm và định kỳ hàngtháng, hàng quý, Đảng ủy, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Lạng Sơn ra nghị quyếtlãnh đạo CTĐN Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng CTĐN và tình hìnhtừng đơn vị, từ đó, đề ra các chủ trương, kế hoạch chỉ đạo cụ thể đối với cơquan và các đồn biên phòng Với sự chỉ đạo kịp thời và chặt chẽ của Đảng
ủy, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh, các đơn vị và các đồn biên phòng đã triển khai vàthực hiện tốt CTĐN; giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lấn chiếm biêngiới; đấu tranh bảo vệ, giữ vững đường biên, cột mốc, chống xâm canh, xâm
cư, lấn chiếm biên giới, không để xảy ra điểm nóng hay sự việc phức tạp kéodài trên biên giới; tham gia và bảo vệ an toàn cho các nhóm phân giới cắmmốc thực hiện nhiệm vụ tại thực địa, giữ vững ANTT ở KVBG Qua khảo sátthực tế từ năm 2006 đến hết năm 2010 cho thấy, do có sự chỉ đạo kịp thời vàchặt chẽ của Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lạng Sơn nên các đồn biên phòng đãtriển khai và thực hiện tốt CTĐN với lực lượng BVBG tỉnh Quảng Tây -Trung Quốc để giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lấn chiếm biên giới,
vi phạm Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới Trong phần đánh giá chungcủa Báo cáo tổng kết CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn năm 2010 đã nhấn
Trang 31mạnh: “Việc xử lý các vụ việc xảy ra luôn nhạy bén, linh hoạt, đúng chủtrương đối sách, đạt được mục đích, yêu cầu đề ra, đảm bảo bí mật, không để
bị động, sơ hở trong tiếp xúc, duy trì tốt quan hệ hữu nghị hai bên biên giới”[7, tr.3]
Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh luôn chú trọng tới công tác kiểm tra,đôn đốc các đơn vị về CTĐN Thông qua công tác kiểm tra, nắm bắt tình hìnhthực hiện nhiệm vụ CTĐN của các đơn vị, kịp thời uốn nắn, chỉ đạo khắcphục những hạn chế, thiếu sót của các đơn vị, cán bộ, chiến sỹ trong quá trình
tổ chức thực hiện CTĐN Hàng năm, BĐBP tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành sơ,tổng kết CTĐN định kỳ sáu tháng, một năm và báo cáo kết quả lên cấp trên.Thực hiện hướng dẫn của Bộ Tư lệnh BĐBP về CTĐN của BĐBP, sau mỗilần hội đàm định kỳ hay đột xuất, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Lạng Sơn đều tổchức đánh giá rút kinh nghiệm và báo cáo bằng văn bản kết quả hội đàm,những đề xuất, kiến nghị về Bộ Tư lệnh BĐBP
Hai là, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn đã tích cực thực hiện các nội
dung, vận dụng sáng tạo các hình thức, biện pháp CTĐN của BĐBP
Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lạng Sơn luôn nhận thức sâu sắc vàxác định rõ CTĐN của BĐBP là một bộ phận của CTĐN quốc phòng, là mộttrong sáu biện pháp công tác của BĐBP nhằm góp phần quản lý, bảo vệ vữngchắc chủ quyền, ANBG quốc gia Chính vì vậy, trong những năm qua, CTĐNcủa BĐBP tỉnh Lạng Sơn được thực hiện có nền nếp và khoa học, đảm bảođúng nguyên tắc, phương châm, yêu cầu đối ngoại của Đảng, Nhà nước tatrong quan hệ đối ngoại với lực lượng BVBG của tỉnh Quảng Tây - TrungQuốc và người nước ngoài qua lại KVBG, cửa khẩu; do đó, kết quả CTĐNcủa BĐBP tỉnh ngày càng được nâng lên, khẳng định vị trí hết sức quan trọngcủa CTĐN trong quản lý, bảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia vầ xây dựng biêngiới hòa bình, hữu nghị
Trang 32Quan hệ giữa BĐBP tỉnh Lạng Sơn với lực lượng BVBG tiếp giáp phíaTrung Quốc được củng cố và mở rộng trên các lĩnh vực quốc phòng, xuấtnhập cảnh, ANTT… Qua thăm dò ý kiến bằng phiếu điều tra, có tới 75,83% ýkiến nhất trí việc duy trì, củng cố và tạo được mối quan hệ tốt giữa BĐBP tỉnhLạng Sơn với các lực lượng BVBG của Trung Quốc (phụ lục 01) Các nộidung quan hệ, phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh trên biên giới đượchai bên thông báo, trao đổi định kỳ hoặc đột xuất, trực tiếp qua đường dâynóng, trên bàn đàm phán hoặc ngoài thực địa Khảo sát thực tế kết quả CTĐNcủa BĐBP tỉnh Lạng Sơn từ năm 2006 đến hết năm 2010 cho thấy, BĐBPtỉnh Lạng Sơn đã tổ chức quan hệ gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với lực lượngBVBG và chính quyền địa phương phía đối diện được 57 lần; gặp gỡ trực tiếptrên biên giới và ở cửa khẩu để giải quyết các vấn đề về ANBG, ANTT được
69 lần; gửi 566 thư thông báo, trao đổi, phản kháng… cho lực lượng BVBG
và chính quyền địa phương phía đối diện (phụ lục 02)
Thông qua các cuộc hội đàm định kỳ, lực lượng BVBG hai bên đã traođổi tình hình quản lý, BVBG, phản ánh những trường hợp vi phạm hiệp địnhtạm thời, vi phạm quy chế KVBG của công dân trong KVBG hai nước Phốihợp chặt chẽ trong tấn công tội phạm, giữ gìn ANTT ở KVBG Duy trì việcchấp hành luật pháp biên giới của hai nước, thực hiện các biên bản thoả thuận,duy trì hoạt động phối hợp tuần tra song phương BVBG Thống nhất cácphương án và phối hợp giải quyết các vụ việc vi phạm trên biên giới, phòngchống tội phạm…Tạo điều kiện cho nhân dân hai nước, người nước ngoài vàcác tổ chức qua lại biên giới thăm thân, du lịch, trao đổi kinh tế phục vụ chínhsách mở cửa, hội nhập phát triển kinh tế của đất nước Trong Báo cáo kết quảhội đàm giữa đoàn đại biểu BĐBP tỉnh Lạng Sơn với đoàn đại biểu BĐBPthành phố Sùng Tả, Quảng Tây - Trung Quốc tháng 04 năm 2011, đã chỉ rõ:
Công tác phối hợp quản lý đường biên, mốc giới giữa các đồn biênphòng Lạng Sơn với Trạm hội ngộ hội đàm Bộ đội Biên phòng Bằng
Trang 33Tường và Long Châu - Trung Quốc trong thời gian qua rất có hiệuquả Hai bên đã thường xuyên trao đổi thông tin tình hình đường biên,mốc giới; tổ chức gặp gỡ hội đàm định kỳ theo quy định và gặp trựctiếp trên biên giới để phối hợp giải quyết các vấn đề biên giới lãnhthổ; tạo điều kiện thuận lợi cho dân hai bên thu hoạch hoa màu, câykinh tế trên diện tích quy thuộc [8, tr.2]
Biện pháp CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn trong những năm qua cũngđược tiến hành linh hoạt theo các hình thức và từng loại đối tượng Việc gặp gỡđịnh kỳ giữa đại diện các cấp của hai bên được tổ chức luân phiên tại mỗi nước.Khi có tình huống đột xuất, căn cứ vào tính chất công việc và yêu cầu giải quyết.Các đồn biên phòng tỉnh Lạng Sơn đã chủ động mời phía bên kia tổ chức gặp
gỡ, trao đổi để giải quyết Các vụ việc nảy sinh trên biên giới được hai bên thảoluận, trao đổi và xử lý theo tinh thần thẳng thắn, tôn trọng độc lập, chủ quyền vàtoàn vẹn lãnh thổ, thuyết phục là chính, không sử dụng vũ lực để giải quyết.Trong quan hệ xã giao, BĐBP tỉnh Lạng Sơn đã mở rộng các hình thứcthăm hỏi, chúc mừng nhân ngày lễ, tết cổ truyền của hai nước Thông quacác hoạt động gặp gỡ, trao đổi, quan hệ xã giao… lực lượng BVBG hai bênkịp thời nắm tình hình và cùng nhau giải quyết vụ việc, đồng thời khôngngừng tăng cường tình đoàn kết hữu nghị Với những kết quả đạt được đãkhẳng định CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn đóng vai trò quan trọng, gópphần tích cực trong quản lý, BVBG và xây dựng biên giới hòa bình, hữunghị, hợp tác cùng phát triển
Ba là, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn đã làm tốt công tác tham mưu và
phối hợp với cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương và các lực lượng có liên
quan trong thực hiện CTĐN biên phòng
Với vai trò làm lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệchủ quyền, ANBG quốc gia, những năm qua BĐBP tỉnh Lạng Sơn đã tích
Trang 34cực và chủ động làm tốt công tác tham mưu, phối hợp với cấp uỷ, chínhquyền địa phương trong quản lý BVBG nói chung, trong thực hiện CTĐNbiên phòng nói riêng Góp phần quan trọng giúp cho Tỉnh uỷ, Ủy ban nhândân tỉnh Lạng Sơn xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với chính quyền địaphương, các lực lượng, cơ quan, ban, ngành tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc;bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ, giữ gìn ANTT ở KVBG, giải quyếtcác vấn đề dân sự, hình sự xảy ra trên biên giới và tham gia phát triển kinh
tế, văn hoá - xã hội ở địa phương Qua thăm dò ý kiến của cán bộ, chiến sỹBĐBP tỉnh Lạng Sơn, có tới 84,16 % cho rằng BĐBP tỉnh Lạng Sơn đã làmtốt công tác tham mưu, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương và cáclực lượng trong thực hiện CTĐN biên phòng (phụ lục 01)
Bộ đội biên phòng tỉnh Lạng Sơn đã tích cực tham mưu cho cấp ủy, chínhquyền địa phương đẩy mạnh hoạt động ngoại giao nhân dân hai bên biên giới,kết hợp tốt giữa CTĐN biên phòng với công tác tuyên truyền đặc biệt, chủ độngphòng ngừa và hạn chế những vi phạm của cư dân hai bên biên giới
Lãnh đạo, chỉ huy BĐBP tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo các đồn biên phòng xâydựng kế hoạch tổ chức hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, các ban, ngànhtrong huyện biên giới để tổ chức thực hiện tốt CTĐN Trong quá trình thựchiện CTĐN, BĐBP tỉnh Lạng Sơn đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với SởNgoại vụ, Bộ Chỉ huy Quân sự và Công an tỉnh, lực lượng hải quan, công an
và dân quân tự vệ các xã biên giới để tiến hành CTĐN biên phòng như: Hộiđàm, đàm phán định kỳ hay đột xuất, phối hợp tuần tra, giải quyết các vấn đề
có liên quan đến biên giới…Các lực lượng trên đã phối hợp chặt chẽ và tíchcực giúp đỡ về mọi mặt, tạo điều kiện thuận lợi để BĐBP tỉnh thực hiện cóhiệu quả CTĐN của BĐBP
Trang 35Các phòng chức năng của cơ quan BĐBP tỉnh Lạng Sơn đã duy trì tốt quan
hệ với Văn phòng tỉnh uỷ, Văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Ngoại vụ, BanBiên giới của tỉnh để nắm tình hình, trao đổi nghiệp vụ CTĐN
Như vậy, trong những năm qua, BĐBP tỉnh Lạng Sơn luôn quán triệt
và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, nghị định của Đảng, Nhà nước, Quânđội, Bộ Tư lệnh BĐBP về CTĐN Vì vậy, CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn
đã có sự đổi mới tương đối toàn diện và có chiều sâu, mang lại nhiều kết quảquan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, ANBG và xây dựng biêngiới hòa bình, hữu nghị
* Nguyên nhân của ưu điểm
Nguyên nhân khách quan
Quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc ngày càng mở rộng, toàn diện
và mở rộng hợp tác trên mọi lĩnh vực Với việc ký kết nhiều hiệp định và thỏathuận ở cấp nhà nước Đặc biệt là việc ký kết Hiệp ước biên giới trên bộ, Hiệpđịnh về Quy chế quản lý biên giới, Nghị định thư phân giới cắm mốc và hoànthành việc phân giới cắm mốc trên thực địa đã tạo cơ sở để CTĐN của BĐBPtỉnh Lạng Sơn ngày càng thực hiện có hiệu quả cao
Nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc nói chung và nhân dân giữahai tỉnh Lạng Sơn - Việt Nam và Quảng Tây - Trung Quốc nói riêng có truyềnthống đoàn kết, gắn bó từ lâu đời Đây là điều kiện thuận lợi cho CTĐN củaBĐBP tỉnh Lạng Sơn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng biên giớihòa bình, hữu nghị, ổn định và tăng cường tình đoàn kết giữa nhân dân haibên biên giới
Đảng ủy, Bộ Tư lệnh và các cơ quan chức năng thuộc Bộ Tư lệnh BĐBP vàcấp ủy đảng, chính quyền địa phương tỉnh Lạng Sơn đã thường xuyên quan tâm,chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi để BĐBP tỉnh Lạng Sơn thực hiện tốt CTĐN
Nguyên nhân chủ quan
Lãnh đạo, chỉ huy các cấp của BĐBP tỉnh Lạng Sơn luôn xác định rõ vị
Trang 36trí, vai trò quan trọng của CTĐN trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệchủ quyền ANBG; luôn bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan cấp trênđối với CTĐN; thường xuyên quán triệt cho cán bộ, chiến sỹ trong đơn vịnâng cao nhận thức và tổ chức thực hiện tốt CTĐN
Đội ngũ cán bộ chỉ huy các đơn vị có trình độ, năng lực trong tổ chứcthực hiện CTĐN; nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại củaĐảng, Nhà nước và Hiệp ước, Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới; xử lýcác tình huống quan hệ đối ngoại đảm bảo đúng nguyên tắc đối ngoại và sựchỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chức năng Bộ Tư lệnh BĐBP
1.2.2 Hạn chế và nguyên nhân
* Hạn chế
Qua nghiên cứu Nghị quyết của Đảng ủy và các báo cáo tổng kết CTĐNcủa Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lạng Sơn từ năm 2006 đến hết năm 2010 chothấy CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn còn bộc lộ một số hạn chế sau:
Thứ nhất, cấp ủy, chỉ huy ở một số đơn vị của BĐBP tỉnh Lạng Sơn
chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc nhiệm vụ và vai trò CTĐN của BĐBP, dẫnđến trong quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện CTĐN còn bộc lộ những yếu
kém, bất cập Có tới 60,83% ý kiến cho rằng, nguyên nhân làm hạn chế kết
quả CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn là do năng lực lãnh đạo, quản lý điềuhành của cấp ủy, chỉ huy (Phụ lục 01) Nghị quyết lãnh đạo công tác biênphòng năm 2010 của Đảng ủy Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lạng Sơn đã đánh giákhái quát mặt hạn chế:
Việc quán triệt và chấp hành đường lối, quan điểm của Đảng,chính sách của Nhà nước và các chỉ thị của Bộ Quốc phòng, Bộ
Tư lệnh Bộ đội Biên phòng có liên quan đến công tác đối ngoạicủa Bộ đội Biên phòng ở một số cấp ủy, chỉ huy đồn biên phòngchưa được tiến hành thường xuyên và nghiêm túc Chưa thực sựphát huy hết vai trò, trách nhiệm của mình trong lãnh đạo, chỉ
Trang 37đạo, kiểm tra, đôn đốc các lực lượng tham gia thực hiện công tácđối ngoại [32, tr.4]
Đội ngũ cán bộ, chỉ huy một số đồn biên phòng trong quá trình tổ chứcthực hiện CTĐN cũng còn bộc lộ những hạn chế nhất định Theo báo cáo tổngkết CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn năm 2009 đã đánh giá:
Chỉ huy một số đồn biên phòng nắm chưa vững các nguyên tắcđối ngoại; chưa nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn của trên vềthực hiện nhiệm vụ CTĐN; chất lượng soạn thảo văn bản đốingoại còn thấp, chưa chặt chẽ; dự kiến tình huống và cách xử tríchưa sát với tình hình thực tế; công tác tham mưu cho cấp ủychính quyền địa phương thực hiện hoạt động đối ngoại còn hạnchế [6, tr.3]
Công tác nắm tình hình phục vụ cho CTĐN tuy được tiến hành thườngxuyên song còn thiếu toàn diện, chiều sâu và còn bị động Các tin tức ngoại biênthu thập còn thiếu và độ chính xác chưa cao; chưa nắm chắc những âm mưu, thủđoạn lấn chiếm biên giới và các chính sách an ninh, kinh tế của chính quyền phíađối diện có tác động đến chủ quyền ANBG nước ta Vì vậy, dẫn đến chưa dựkiến đầy đủ các tình huống trong thực hiện hoạt động đối ngoại
Trong tổ chức thực hiện CTĐN ở một số đồn biên phòng còn thiếu tính
hệ thống và đồng bộ Quá trình vận dụng các hình thức, phương pháp chưalinh hoạt vào thực tiễn CTĐN Một số đồn biên phòng khi tiến hành quan hệđối ngoại chưa có hệ thống và khoa học, chưa nắm chắc và vận dụng tốt cácHiệp định, Hiệp ước về Quy chế quản lý biên giới, chủ yếu dựa vào kinhnghiệm thực tiễn của đơn vị và kinh nghiệm chỉ đạo của cơ quan chức năngdẫn đến trong quá trình tổ chức và thực hiện còn bị động, lúng túng, đơn giảnhoá trong công tác lễ tân ngoại giao (đón tiếp khách, xã giao) Công tác chuẩn
Trang 38bị cho các hoạt động quan hệ đối ngoại, nhất là việc chuẩn bị các tài liệu,chứng cứ pháp lý, dự kiến các tình huống phục vụ cho hội đàm, phản kháng…
có lúc còn thiếu chu đáo
Công tác bố trí, sử dụng lực lượng thực hiện CTĐN ở một số đồn biênphòng còn chưa hợp lý, mới chỉ chú trọng về cơ cấu, chưa chú ý tới trình độ,năng lực, kinh nghiệm của từng cá nhân, nên đã làm hạn chế đến kết quả cáchoạt động quan hệ đối ngoại, nhất là trong hội đàm, phản kháng
Thứ hai, việc tổ chức thực hiện CTĐN của BĐBP tỉnh Lạng Sơn
trong những năm qua mới chỉ tổ chức duy trì thực hiện thường xuyên ởcấp đồn biên phòng cửa khẩu, riêng với các đồn biên phòng khác duy trìchưa thường xuyên Từ đó, làm cho mối quan hệ giữa các đồn biên phòngvới lực lượng BVBG phía đối diện chưa được gắn bó chặt chẽ, dẫn đếnnhững khó khăn trong giải quyết các vụ việc xảy ra trên biên giới có liênquan đến hai bên Công tác phối hợp trong phòng, chống các loại tội phạmcòn nhiều bất cập và hạn chế Báo cáo kết quả hội đàm giữa đoàn đại biểuBĐBP tỉnh Lạng Sơn với đoàn đại biểu BĐBP thành phố Sùng Tả, Quảng Tây
- Trung Quốc tháng 04 năm 2011 đã chỉ rõ: “Việc trao đổi thông tin, phối hợpđấu tranh, phòng chống tội phạm, chống xuất nhập cảnh trái phép, buôn bánvận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới còn hạn chế” [8, tr.3]
Thứ ba, trình độ, phẩm chất, năng lực của một số cán bộ, chiến sỹ
tham gia thực hiện CTĐN còn bộc lộ nhiều hạn chế Có tới 79,17% ý kiếncho rằng, nguyên nhân dẫn đến hạn chế của CTĐN là do nhận thức, trình
độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, chiến sỹ tham giaCTĐN còn yếu (phụ lục 01) Một số cán bộ, chiến sỹ BĐBP tỉnh Lạng Sơnchưa nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò CTĐN của BĐBP và những quanđiểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đối ngoại Qua
Trang 39điều tra, khảo sát vẫn còn 06,67% khó trả lời khi được hỏi về vai trò củaCTĐN trong thực hiện quản lý, bảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia (phụ lục01) Một số cán bộ, chiến sỹ thiếu hiểu biết sâu rộng về pháp luật, tập quánquốc tế, lịch sử quan hệ biên giới, nghệ thuật giao tiếp và kinh nghiệm xửtrí các tình huống trong quan hệ đối ngoại Đặc biệt hầu hết cán bộ, chiến
sỹ không biết tiếng Trung Quốc, nên khi quan hệ, giao tiếp còn lúng túng,
bị động Kiến thức, kỹ năng về CTĐN và phong cách ngoại giao ở một bộphận cán bộ, chiến sỹ tham gia thực hiện CTĐN còn hạn chế, bộc lộ ngaytrong công tác lễ tân ngoại giao, trong đàm phán; khi đấu tranh với nhữngsai phạm của phía đối phương đôi khi thiếu kiên trì, khôn khéo, còn bịđộng lúng túng khi xử lý tình huống xảy ra ngoài dự kiến
Thứ tư, công tác phối hợp, hiệp đồng trong tổ chức thực hiện CTĐN của
một số đồn biên phòng với các cơ quan, ban ngành và lực lượng trên địa bàncòn hạn chế, thiếu đồng bộ, nên chất lượng và hiệu quả thực hiện chưa cao.Thực tế cho thấy, BĐBP và các lực lượng Công an, Quân đội, Hải quan trênđịa bàn tỉnh đều có lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ BVBG và thường xuyên
tổ chức lực lượng theo quy chế phối hợp tuần tra, kiểm soát trên biên giới.Nhưng do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động, mặt khác trình độnhận thức và chức năng nhiệm vụ khác nhau, nên việc xây dựng kế hoạchphối hợp và công tác tổ chức thực hiện phối hợp còn nhiều điểm hạn chế,chưa tạo được sự thống nhất, đồng bộ, chưa đi vào chiều sâu, dẫn đến kết quảđạt được trong phối hợp thực hiện CTĐN biên phòng chưa cao
* Nguyên nhân của hạn chế
Nguyên nhân khách quan.
Phạm vi địa bàn KVBG tỉnh Lạng Sơn rộng lớn, khí hậu thiên nhiênkhắc nghiệt, địa hình cách trở, ảnh hưởng trực tiếp đến CTĐN như: tuần tra
Trang 40song phương; tiếp nhận và trao trả người vi phạm; gặp gỡ tại đường biêngiới Đoạn biên giới giữa tỉnh Lạng Sơn - Việt Nam và Quảng Tây - TrungQuốc còn một số khu vực khó nhận biết Tình hình kinh tế - xã hội ở KVBGtỉnh Lạng Sơn vẫn đang trong tình trạng kém phát triển, đời sống của nhândân còn nhiều khó khăn
Trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, trong đó có đoạn biên giớigiữa hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Tây do lịch sử để lại còn một số khu vựcthường nảy sinh các vấn đề phức tạp, đặc biệt là các hoạt động tranh chấp, lấnchiếm lãnh thổ, xâm canh, xâm cư
Trong quá trình quan hệ tiếp xúc giải quyết các vấn đề liên quan, Trung
Quốc vẫn thường thể hiện tư tưởng “nước lớn” nên luôn có những toan tính
thực dụng và tiến hành các hoạt động lấn chiếm tạo ra các vụ việc tranh chấpchủ quyền rất phức tạp; quá trình phối hợp, giải quyết một số vụ việc nảy sinhtrên biên giới còn lẩn tránh, thường đổ lỗi cho cấp dưới hoặc làm ngơ đối vớicác sự vụ do công dân của họ vi phạm
Các thế lực thù địch và các loại đối tượng phản động luôn tìm cách lợidụng chính sách mở cửa hội nhập của Nhà nước ta; lợi dụng quan hệ tốt đẹpgiữa hai Đảng, hai Nhà nước; lợi dụng những khó khăn về kinh tế - xã hội vàtrình độ dân trí thấp để kích động, chống phá, gây chia rẽ mối quan hệ gắn bógiữa lực lượng BVBG hai bên và gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội ở KVBG Qua thăm dò ý kiến, có tới 54,16% ý kiến cho rằng, sựphá hoại của các thế lực thù địch đã gây ra những khó khăn, hạn chế cho việctiến hành CTĐN (phụ lục 01)
Cơ chế phối hợp giữa BĐBP tỉnh Lạng Sơn với cấp ủy, chính quyền địaphương và các lực lượng có liên quan đứng chân trên địa bàn chưa rõ ràng,chặt chẽ Do đó, chưa tạo được sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm và