MỞ ĐẦU “Hệ thống học thực vật là sự mở đầu của các nghiên cứu sinh học thực vật, đồng thời là mối liên kết cuối cùng, kết quả của các nghiên cứu đó.” Với nhiệm vụ góp phần tạo nên một
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Trung Thành
GS TS Phan Kế Lộc
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
“Nothing worth having comes easy”
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu
sắc tới GS TS Phan Kế Lộc, nguyên cán bộ giảng dạy của trường Đại học Khoa học Tự
nhiên – ĐHQGHN Thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt 2 năm học vừa qua
Tôi xin gửi lòng cảm tạ và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Trung Thành,
Phó chủ nhiệm khoa Sinh học, chủ nhiệm bộ môn Thực vật, cán bộ giảng dạy của trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN Thầy đã không quản ngại khó khăn, định hướng
và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ThS Nguyễn Anh Đức, cán bộ giảng dạy, chuyên viên
phòng tiêu bản thực vật HNU, trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN Thầy đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể thực hiện nghiên cứu này của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy, Cô giáo Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN, đặc điệt là các Thầy, Cô giáo thuộc Bộ môn Thực vật đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập
Để có bộ mẫu nghiên cứu chất lượng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới cô Đỗ Thị Xuyến,
cô Dương Thị Hoàn, anh Phạm Văn Thế đã thu thập và chia sẻ mẫu vật cho tôi, giúp luận văn được hoàn thiện một cách chính xác nhất
Tôi xin gửi lời cảm ơn các cán bộ, học viên, sinh viên đã và đang công tác, học tập tại phòng tiêu bản HNU đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ đang công tác và làm việc tại phòng tiêu bản thực vật HN - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể nghiên cứu bộ mẫu của phòng
Cuối cùng, tôi xin được gửi lòng biết ơn chân thành tới gia đình, người thân và bạn
bè, đã luôn ủng hộ và là chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Hà Nội, ngày 9 tháng 11 năm 2016
Học viên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan nghiên cứu phân loại và đặc điểm họ Ráng màng Hymenophyllaceae trên thế giới 3
1.2 Tổng quan nghiên cứu phân loại họ Hymenophyllaceae ở Việt Nam 6
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1 Đối tượng, nội dung và thời gian nghiên cứu 9
2.2 Phương pháp nghiên cứu 9
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14
3.1 Đặc điểm sinh thái, hình thái và phân loại 14
họ Ráng màng Hymenophyllaceae ở Việt Nam 14
3.2 Đặc điểm các chi thuộc họ Ráng màng Hymenophyllaceae ở Việt Nam và các loài trong chi 19
3.2.1 Abrodictyum C.Presl 19
3.2.2 Cephalomanes C.Presl 28
3.2.3 Crepidomanes (C.Presl) C.Presl 31
3.2.4 Didymoglossum Desv 47
3.2.5 Hymenophyllum Sm 54
3.2.6 Vandenboschia Copel 84
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5Danh mục bảng
Bảng 1.1 Hệ thống phân loại họ Ráng màng Hymenophyllaceae (Copeland, 1947) 4 Bảng 1.2 Danh sách các loài Ráng màng đã từng ghi nhận ở Việt Nam (1939-2010) 8 Bảng 2.1 Các điểm khảo sát, thu mẫu ngoài thực địa 11
Bảng 3.1 Bảng so sánh đặc điểm hình thái H barbatum, H oxyodon, H
khasianum, H poilanei, H fasitigosum 61
Trang 6
Danh mục hình
Hình 1.1 Hệ thống 8 chi của Iwatsuki, 1985 và mối quan hệ có thể có giữa các chi
4
Hình 3.1 Dạng cây và Dạng sống 14
Hình 3.2 Các kiểu thân rễ và rễ 15
Hình 3.3 Các kiểu gân giả 15
Hình 3.4 Một số hình thái lá và lá chét 16
Hình 3.5 Các dạng tổng bao 17
Hình 3.6 Bản ảnh Abrodictyum idoneum (C.V.Morton) Ebihara & K.Iwats 22
Hình 3.7 Bản ảnh Abrodictyum obscurum Blume Ebihara & K.Iwats var obcurum 25
Hình 3.8 Bản ảnh Abrodictyum pluma (Hook.) Ebihara & K.Iwats 27
Hình 3.9 Bản ảnh Cephalomanes javanicum var sumatranum (Alderw.) K.Iwats
30
Hình 3.10 Bản ảnh Crepidomanes bipunctatum (Poir in Lam.) Copel 34
Hình 3.11 Bản ảnh Crepidomanes kurzii (Bedd.) Tagawa & K.Iwats 37
Hình 3.12 Bản ảnh Crepidomanes latealatum (Bosch) Copel 40
Hình 3.13 Bản ảnh Crepidomanes latemarginale (A.A.Eaton) Copel 43
Hình 3.14 Bản ảnh Crepidomanes minutum (Blume) K.Iwats 46
Hình 3.15 Type Trichomanes henzaianum Parish ex Hook 49
Hình 3.16 Type Trichomanes motleyi Bosch 51
Hình 3.17 Bản ảnh Didymoglossum sublimbatum (Müll.Berol.) Ebihara & K.Iwats. 53
Hình 3.18 Bản ảnh Hymenophyllum badium Hook & Grev 57
Trang 7Hình 3.19 Type của các loài được cho là tên cùng nghĩa (synonym) của
Hymenophyllum barbatum (Bosch) Baker 60
Hình 3.20 Các mẫu vật thu được tại Việt Nam có các đặc điểm giống với bản tên hợp lệ của các loài đang so sánh 60
Hình 3.21 Bản ảnh Hymenophyllum barbatum (Bosch) Baker 63
Hình 3.22 Bản ảnh Hymenophyllum denticulatum Sw 66
Hình 3.23 Bản ảnh Hymenophyllum digitatum (Sw.) Fosberg 68
Hình 3.24 Bản ảnh Hymenophyllum exsertum Wall 71
Hình 3.25 Bản ảnh Hymenophyllum fimbriatum J.Sm 73
Hình 3.26 Bản ảnh Hymenophyllum javanicum Spreng 75
Hình 3.27 Bản ảnh Hymenophyllum nitidulum (Bosch) Ebihara & K.Iwats 77
Hình 3.28 Bản ảnh Hymenophyllum pallidum (Blume) Ebihara & K.Iwats 80
Hình 3.29 Bản ảnh Hymenophyllum polyanthos (Sw.) Sw 83
Hình 3.30 Bản ảnh Vandenboschia auriculata (Blume) Copel 87
Hình 3.31 Bản ảnh Vandenboschia cystoseiroides (H.Christ ex Tardieu & C.Chr.) Ching 89
Hình 3.32 Bản ảnh Vandenboschia striata (D.Don) Ebihara 93
Trang 8Bảng ký hiệu các chữ viết tắt
CCVN Câycỏ Việtnam – An Illustrated Flora of Vietnam
DLTVVN Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Fl Flora
KBTL & SC Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
VQG Vườn Quốc Gia
BM British Museum of Natural History
E Royal Botanic Garden, Edinburgh
GH Harvard University Herbaria
HN Herbarium of National Center for Natural Sciences and Technology HNU Herbarium of Vietnam National University
K Royal Botanic Gardens Kew
KYO Herbarium of Kyoto University
L National Herbarium of the Netherlands
P Muséum National d'Histoire Naturelle
S Swedish Museum of Natural History
VNM Herbarium of Institute of Tropical Biology
YU Herbarium of Yale University
Trang 9MỞ ĐẦU
“Hệ thống học thực vật là sự mở đầu của các nghiên cứu sinh học thực vật,
đồng thời là mối liên kết cuối cùng, kết quả của các nghiên cứu đó.”
Với nhiệm vụ góp phần tạo nên một Hệ thống thực vật hợp lý cho tất cả các taxôn thực vật, Phân loại học Thực vật đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc khám phá và khai thác thực vật của con người, trước hết là tạo nên sự thống nhất về Danh pháp thực vật nhằm hỗ trợ con người có thể trao đổi với nhau, sau đó là giúp chúng ta lĩnh hội về sự đa dạng thực vật và cung cấp các thông tin về vai trò của chúng trong sinh quyển cũng như trong đời sống của con người
Giới Thực vật trong sinh giới hiện nay ước tính có khoảng 374.000 loài, chia làm các nhóm lớn là Tảo (Algae) 44.000 loài, Rêu (Mosses) 21.925 loài, Thông đất
(Lycopods) 1.290 loài, Dương xỉ (Ferns) 10.560 loài, Thực vật có hạt (Seed Plants)
296.462 loài [10] Tất cả các nhóm đã và đang được nghiên cứu một cách có hệ thống, riêng rẽ và hài hòa với nhau Một trong các nhóm thực vật cần được nghiên cứu phân loại kỹ càng là nhóm Dương xỉ với số lượng loài chiếm 3,4% trên tổng số 308.312 loài thực vật có mạch Tuy rằng hầu hết các loài Dương xỉ ít có vai trò đối với đời sống của con người, nhưng Dương xỉ lại có vai trò thiết yếu đối với hệ sinh thái Chúng vừa là nguồn thức ăn, nơi ở cho các loài côn trùng và vi sinh vật vừa có tác dụng giữ nước và góp phần bền vững hóa cấu trúc bề mặt của rừng nơi mà chúng sống Vì vậy nghiên cứu về Dương xỉ đã và đang được các nhà thực vật học
ở khắp nơi trên thế giới quan tâm nghiên cứu
Việt Nam là một trong các khu vực nhiệt đới có điều kiện khí hậu thuận lợi cho các loài Dương xỉ phát triển Tính đến năm 2010, Việt Nam ghi nhận hơn 700 loài Dương xỉ bản địa chiếm 6,3% tổng số loài so với ước tính hơn 11.000 loài thực vật cả nước [5; 29] Hệ thống phân loại Dương xỉ mới nhất trên thế giới hiện nay được thực hiện bởi tác giả Christenhuz năm 2011 [9] Tuy nhiên, áp dụng hệ thống phân loại Dương xỉ vào Việt Nam mới chỉ được cập nhật đến năm 2010 trong công trình nghiên cứu của GS.TS Phan Kế Lộc dựa trên hệ thống phân loại Dương xỉ của
Trang 10Smith năm 2006 Theo đó hệ Dương xỉ Việt Nam ghi nhận 724 loài, thuộc 28 họ,
134 chi (chiếm 6,6% tổng số Dương xỉ trên thế giới) [29]
Họ Ráng màng Hymenophyllaceae có khoảng trên 600 loài đã được ghi nhận trên thế giới [23] được coi là một trong các họ lớn trong hệ Dương xỉ Tại Việt Nam, nghiên cứu phân loại họ Ráng màng Hymenophyllaceae còn hạn chế và chưa được tỉ mỉ Do nhiều loài trong họ có kích thước nhỏ, hình dạng khá giống rêu, khó tìm kiếm nên họ Ráng màng thường bị bỏ qua trong các chuyến khảo sát thực địa Thêm nữa, nhiều mẫu tiêu bản đã được thu thập và lưu trữ tại các bảo tàng còn chưa được xác định và chỉnh lý theo hệ thống mới
Do vậy chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu:
“Góp phần nghiên cứu phân loại họ Ráng màng (Hymenophyllaceae) ở
Việt Nam”
Với mục tiêu:
Góp phần phân loại họ Ráng màng (Hymenophyllaceae) ở Việt Nam, theo một hệ thống phân loại nhất định, đồng thời hoàn chỉnh bản mô tả hình thái các taxon bậc chi và loài đã biết của họ thực vật vật này ở nước ta;
Đề cập được đầy đủ nhất các thông tin khoa học có liên quan, về mặt danh pháp; mẫu vật; phân bố và đặc điểm sinh thái của các loài thuộc họ Ráng màng (Hymenophyllaceae) ở Việt Nam
Kết quả của đề tài trước hết hoàn thiện phân loại họ Ráng màng Hymenophyllaceae ở Việt Nam, đồng thời có ý nghĩa quan trọng với quá trình nghiên cứu phân loại Dương xỉ ở Việt Nam, cũng như góp phần hỗ trợ các nghiên cứu cơ bản về sinh học và đa dạng sinh học ở Việt Nam trong tương lai
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan nghiên cứu phân loại và đặc điểm họ Ráng màng
Hymenophyllaceae trên thế giới
Hymenophyllaceae Mart., Consp Regn Veg.: 3 1835 [39]
Type danh pháp: Hymenophyllum Sm 1793
Từ nhiều năm trước, các nhà Dương xỉ học đã chú ý tới họ Hymeno- phyllaceae bởi sự đa dạng và vẻ đẹp của các loài trong họ cũng như cấu trúc hình thái kỳ lạ của chúng Họ Hymenophyllaceae hay còn gọi là filmy ferns - Ráng màng
là một trong các họ Dương xỉ thực sự (leptosporangiate) lớn với hơn 600 loài đã được ghi nhận trên thế giới, có sự phân bố rộng trên toàn khu vực nhiệt đới và khu vực ôn đới phía Nam, không những thế bào tử của chúng có khả năng sống được ở
cả khu vực ôn đới phía Bắc thậm chí vươn xa ra cả Bắc bán cầu [34] Các loài trong
họ có thể phân biệt dễ dàng với các loài thuộc họ khác dựa vào cấu trúc phiến lá 1 lớp tế bào dày, tổng bao dạng mảnh hoặc tổng bao dạng ống
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phân loại học họ Ráng màng Hymenophyllaceae với những hệ thống phân loại khác nhau được sử dụng bởi các cá nhân và các vùng miền khác nhau Tài liệu cổ xưa nhất cho tới nay được tìm thấy mô tả họ Hymenophyllaceae là cuốn Conspectus Regni Vegetabilis do tác giả Martius soạn thảo năm 1835 Trong tài liệu này họ Ráng màng Hymenophyllaceae
ghi nhận hai chi Hymenophyllum và Trichomanes
Việc chia họ Hymenophyllacae thành hai chi Hymenophyllum với tổng bao hai mảnh và Trichomanes với tổng bao dạng ống được nhiều tác giả công nhận trong một thời gian dài
Về sau Morton (1968) đã mở rộng các taxon cho họ với 6 chi trong đó có 2 chi Hymenophyllum và Trichomanes xuất hiện các phân chi đặt dưới nó và 4 chi còn lại (Cardiomanes, Hymenoglossum, Rosenstockia, Serpyllopsis) là các chi đơn, không có các phân chi Hệ thống này được công bố và áp dụng rộng rãi những năm sau đó
Trang 12Ngược lại Copeland (1947) dựa vào quan sát mẫu vật lưu trữ tại các bảo tàng
ở châu Á đã tách họ này thành 34 chi tuy nhiên hệ thống này chỉ được chấp nhận và thực hiện trong các công trình nghiên cứu về thực vật tại châu Á trong đó có Việt Nam
Bảng 1.1 Hệ thống phân loại họ Ráng màng Hymenophyllaceae (Copeland, 1947) Abrodictyum Craspedophyllum Hemicyatheon Meringium Rosenstockia Amphipterum Crepidomanes Hymenoglossum Microgonium Selenodesmium Apteropteris Crepidopteris Hymenophyllum Microtrichomanes Serpyllopsis Buesia Davalliopsis Lecanium Myriodon Sphaerocionium Callistopteris Didymoglossum Leptocionium Nesopteris Trichomanes Cardiomanes Feea Macroglena Pleuromanes Vandenboschia Cephalomanes Gonocormus Mecodium Polyphlebium
Một hệ thống khác gồm 47 chi được đề xuất bởi Pichi Sermolli (1977), tuy nhiên, nó chỉ được chấp nhận ở một số công trình thực vật tại châu Phi [16] Sau đó, Iwatsuki đã hợp nhất toàn bộ những nghiên cứu của mình về các đặc điểm hình thái thành một hệ thống sắp xếp mới bao gồm 8 chi (Iwatsuki, 1985) Hệ thống này được áp dụng nhiều nhưng gặp phải sự mâu thuẫn lớn về vấn đề mẫu type Loài
Trichomanes crispum được cho là type của chi Trichomanes (Copeland (1933,
1938), Iwatsuki (1984)), trong khi đó, theo Morton (1968) type của chi
Trichomanes lại là loài Trichomanes scandens
Hình 1.1 Hệ thống 8 chi của Iwatsuki, 1985 và mối quan hệ có thể có giữa các chi
Trang 13Cuối cùng, Ehibara và đồng nghiệp (2006) đã nghiên cứu mối quan hệ phát sinh chủng loại bằng sinh học phân tử dựa vào trình tự rbcL có trong lục lạp kết hợp với phương pháp hình thái đã đưa ra một cái nhìn mới về mối quan hệ hệ thống trong họ Ráng màng Hymenophyllaceae Theo hệ thống này, họ Ráng màng bao
gồm 9 chi Trong đó tất cả các loài thuộc nhánh Hymenophyllum s.l thuộc một chi duy nhất là Hymenophyllum, còn nhánh Trichomanes s.l được chia nhỏ thành 8 chi (Crepidomanes, Vandenboschia, Didymoglossum, Polyphlebium, Callistopteris, Trichomanes, Abrodictyum, Cephalomanes) tương ứng với 8 nhánh lớn trong các
nghiên cứu trên toàn cầu trước đó
Năm 2006, A Smith và đồng nghiệp đã phân loại lại hệ thống toàn bộ nhóm ngành thực vật bậc cao có mạch sinh sản bằng bào tử trong đó có sử dụng hệ thống phân loại của Ebihara vào họ Ráng màng Hymenophyllaceae Theo đó họ Ráng màng Hymenophyllaceae bao gồm 9 chi, trên 600 loài có vị trí phân loại hiện nay như sau:
Trang 141.2 Tổng quan nghiên cứu phân loại họ Hymenophyllaceae ở Việt Nam
Cho tới thời điểm hiện tại, có năm công trình lớn nghiên cứu về phân loại và
hệ thống Dương xỉ ở Việt Nam Công trình đầu tiên là của các tác giả Tardieu-Blot
& Christensen năm 1939-1951 Trong tài liệu này nhóm Dương xỉ ghi nhận 587 loài thuộc 116 chi, 14 họ Trong đó họ Hymeophyllaceae ghi nhận 33 loài thuộc 2 chi truyền thống là Hymenophyllum và Trichomanes
Năm 1991, Phạm-hoàng Hộ trong công trình “Câycỏ Việtnam- An Illustrated Flora of Vietnam” đã mô tả có hình ảnh đi kèm của 633 loài Dương xỉ thuộc 137 chi và 27 họ Trong đó họ Hymenophyllacae ghi nhận 33 loài thuộc 10 chi Đến năm 1999, công trình này được tái bản và sửa chữa, họ Ráng màng được bổ sung thêm 2 loài thành 36 loài thuộc 10 chi
Năm 2001, Phan Kế Lộc trong cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam tập
1 đã bổ sung và gộp một số loài cho Việt Nam, theo đó họ Ráng màng ghi nhận 34 loài thuộc 5 chi
Năm 2010, Phan Kế Lộc dựa trên nghiên cứu của A Smith và cộng sự, 2006
đã cập nhật lại tất cả các loài Dương xỉ ở Việt Nam từ trước đến nay Kết quả ghi nhận Dương xỉ Việt Nam có 724 loài thuộc 134 chi, 28 họ Trong đó họ Hymenophyllaceae ghi nhận 7 chi với 36 loài
Ngoài các công trình tổng quan về Dương xỉ, các nghiên cứu riêng về phân loại họ Hymenophylleae ở Việt Nam chưa được thực hiện Chỉ có duy nhất một nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Thế và đồng nghiệp năm 2013 về việc ghi nhận
loài Abrodictyum pluma (Hook.) Ebihara & K.Iwats thuộc họ Hymenophyllaceae
tìm thấy mẫu vật ở Việt Nam
Hiện tại, trong nghiên cứu của mình, chúng tôi áp dụng Hệ thống phân loại
họ Ráng màng Hymenophyllaceae của Ebihara và các đồng tác giả (2006) để làm cơ
sở phân loại
Trang 15Bảng 1.2 Danh sách các loài Ráng màng đã từng ghi nhận ở Việt Nam (1939-2010)
Tardieu &
Christensen
1939, (33 loài)
Phạm-hoàng Hộ, 1991 (33 loài)
Phạm-hoàng Hộ, 1999 (36 loài)
Phan Kế Lộc, 2001 (34 loài)
Phan Kế Lộc, 2010 (36 loài)
H denticulatum Meringinum denticulatum Meringinum denticulatum H denticulatum H denticulatum
H exsertum Mecodium exsertum Mecodium exsertum H exsertum H exsertum
H fimbriatum H fimbriatum H fimbriatum H fimbriatum H fimbriatum
H javanicum Mecodium javanicum Mecodium javanicum H javanicum H javanicum
H polyanthos Mecodium polyanthos Mecodium polyanthos H polyanthos H polyanthos
T acutilobum T acutilobum T acutilobum T acutilobum Crepidomanes acutilobum
T auriculatum Vandenboschia auriculata Vandenboschia auriculata C auriculatum Vandenboschia auriculata
T bipunctatum Crepidomanes bipunctatum Crepidomanes bipunctatum Crepidomanes bipunctatum Crepidomanes bipunctatum
T birmanicum Crepidomanes birmanicum Crepidomanes birmanicum Crepidomanes birmanicum Vandenboschia birmanica
T
cystoseiroides T cystoseiroides T cystoseiroides T cystoseiroides Vandenboschia cystoseiroides
T javanicum Cephalomanes javanicum Cephalomanes javanicum Cephalomanes javanicum Cephalomanes javanicum
Trang 16T kurzii Crepidomanes kurzii Crepidomanes kurzii Crepidomanes kurzii Crepidomanes kurzii
T latealatum Crepidomanes latealatum Crepidomanes latealatum Crepidomanes latealatum Crepidomanes latealatum
latemarginale Crepidomanes latemarginale
T maximum Crepidomanes maximum Crepidomanes maximum Crepidomanes maximum Vandenboschia maximum
T motley Microgonium motleyi Microgonium motleyi T motleyi Didymoglossum motley
T nitidulum Sphaerocionium nitidulum Sphaerocionium nitidulum Sphaerocionium nitidulum H nitidulum
T obscurum Cephalomanes obscurum Cephalomanes obscurum Cephalomanes obscurum Abrodictyum obscurum
T pallidum Crepidomanes pallidum Crepidomanes pallidum Crepidomanes pallidum H pallidum
T plicatum T plicatum T plicatum syn C latealatum syn C latealatum
T sublimbatum Microgonium sublimbatum T sublimbatum /
Microgonium sublimbatum T sublimbatum Didymoglossum sublimbatum
T sumatranum Cephalomanes sumatranum Cephalomanes sumatranum Cephalomanes sumatranum Cephalomanes sumatranum
Vandenboschia radicans Vandenboschia radicans C radicans Vandenboschia radicans Gonocormus minutus Gonocormus minutus Crepidomanes minutum Crepidomanes minutum Microgonium henzaianum Microgonium henzaianum T henzaianum Didymoglossum henzaianum
T parvifolium Crepidomanes parvifolium Crepidomanes bilabiatum Crepidomanes bilabiatum
Abrodictyum pluma
H austral Chú thích: C = Crepidomanes; H = Hymenophyllum; T = Trichomanes; syn = synonym
Trang 17CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, nội dung và thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các taxon trong họ Ráng màng
Hymenophyllaceae Mart., thuộc bộ Hymenophyllales, lớp Podipolyopsida ở Việt Nam
Nội dung nghiên cứu:
Tiếp tục nghiên cứu phân loại họ Ráng màng Hymenophyllaceae ở Việt Nam bao gồm các nội dung:
- Đặc điểm sinh thái và hình thái họ Ráng màng Hymenophyllaceae;
- Xây dựng khóa xác định và đặc điểm các chi thuộc họ Ráng màng Hymenophyllaceae ghi nhận ở Việt Nam;
- Xây dựng khóa xác định, mô tả và cung cấp các thông tin về sinh thái, phân bố, mẫu vật nghiên cứu và bản ảnh của các loài thuộc các chi trong họ Ráng màng Hymenophyllaceae ở Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: Tháng 07/2015 đến tháng 11/2016
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại họ Ráng màng Hymenophyllaceae, chúng tôi sử dụng phương pháp hình thái so sánh
- Giai đoạn một: Sử dụng các kết quả nghiên cứu đã có trên thế giới và ở Việt Nam về phân loại họ Ráng màng Hymenophyllaceae để phục vụ giai đoạn đầu nghiên cứu xác định
- Giai đoạn hai: Đối chiếu các mẫu vật với các bản tên hợp lệ (protologue)
để xác định tên đúng đắn
- Giai đoạn ba: Xử lý danh pháp bao gồm cả tên cùng nghĩa synonym(s)
Trang 18Để làm tốt phương pháp hình thái so sánh, cần tiến hành tốt các nội dung sau:
Thu thập mẫu vật
- Herbarium: Mẫu vật được lưu trữ trong các Herbarium là các bằng chứng
tin cậy nhất và cũng là công cụ nghiên cứu chủ yếu của các nhà thực vật học Trong
nghiên cứu của mình, chúng tôi phân tích bộ mẫu Hymenophyllaceae thuộc phòng tiêu bản HNU và phòng tiêu bản HN (120 số hiệu mẫu vật thuộc HNU và 30 số hiệu mẫu vật thuộc HN) Đây là các mẫu vật được thu từ nhiều nơi ở Việt Nam với đầy
đủ thông tin về địa điểm lấy mẫu, năm thu, người thu, sinh học và sinh thái học
- Thu thập mẫu vật ngoài thực địa: Do thường bị bỏ qua trong các chuyến
thu thập đa dạng thực vật nên nhiều loài trong họ chưa có mẫu tiêu bản Bên cạnh
đó việc quan sát hình thái và sinh thái của mẫu vật ngoài tự nhiên là điều cần thiết cho bất kỳ một nghiên cứu phân loại nào Bởi vậy, chúng tôi cũng tiến hành tổ chức một số chuyến thực địa thu mẫu ngoài thực tế dựa theo phương pháp điều tra thực
địa được thầy Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong cuốn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” Cụ thể:
- Dựa vào bản đồ địa hình của khu vực nghiên cứu, máy định vị (GPS) để xác định tuyến điều tra và vị trí thu mẫu ngoài thực địa để có những tuyến đi hợp lý, khảo sát được tất cả các sinh cảnh của khu vực nghiên cứu;
- Ghi nhận kỹ lưỡng những đặc trưng của các sinh cảnh trên tất cả các điểm, tuyến khảo sát Các đặc điểm của mẫu để phục vụ công tác xác định;
- Thu thập mẫu tiêu bản: Sử dụng kéo cắt cành, dao để lấy mẫu Đối với mẫu Dương xỉ cần thu đầy đủ các bộ phận bao gồm: gốc, thân, lá và bào tử Nếu có những mẫu không phân biệt được với Rêu thì thu hết trong trường hợp nghi ngờ để
sẽ chọn lọc kỹ trong Phòng thí nghiệm;
Trang 19- Xử lý mẫu ngoài thực địa: Các mẫu thu thập được xử lý sơ bộ để đảm bảo nguyên vẹn mẫu không bị hư và bảo quản trong cồn 60⁰ - 70⁰, kèm theo lý lịch và nhãn gắn chặt với mẫu đó (nhãn chỉ cần số hiệu);
- Chụp ảnh: Trong quá trình thu hái mẫu, sử dụng máy ảnh để ghi lại hình ảnh của các loài (ghi lại số hiệu mẫu cùng với số thứ tự ảnh trong sổ tay để tiện cho việc tra cứu sau này)
Bảng 2.1 Các điểm khảo sát, thu mẫu ngoài thực địa
Điểm khảo sát Thời gian khảo sát Số lượng
số hiệu mẫu vật
Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Khau Ca,
tỉnh Hà Giang Tháng 08/2015 60 số hiệu Rừng phòng hộ xã Trà Cang, huyện Nam
Trà My, tỉnh Quảng Nam Tháng 09/2015 03 số hiệu Khu bảo tồn Thiên nhiên Sông Thanh,
tỉnh Quảng Nam Tháng 09/2015 02 số hiệu Vùng giáp danh giữa tỉnh Khánh Hòa
(xã Sơn Thái) và tỉnh Lâm Đồng (xã
Dachays, xã Lát)
Tháng 01/2016 Tháng 04/2016 31 số hiệu Ngoài ra có nhiều mẫu vật mới, được thu nhờ các đồng nghiệp khác trong các chuyến công tác thực địa ở các vùng khác góp phần làm phong phú số lượng và chất lượng mẫu vật nghiên cứu Cụ thể: VQG Tam Đảo (02 số hiệu), VQG Cát Bà (01 số hiệu), VQG Cúc Phương (02 số hiệu), VQG Xuân Liên (05 số hiệu), Xã Hương Lộc, Thừa Thiên Huế (02 số hiệu)
Do đó, tổng số số hiệu mẫu vật mới thu thêm là 108 số hiệu mẫu vật
Tổng số số hiệu mẫu vật nghiên cứu là: 258 số hiệu mẫu vật
Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm
Mẫu vật thu được ngoài thực địa xử lý theo các bước sau:
- Chụp ảnh chi tiết các đặc điểm mà chưa có điều kiện chụp khi ở ngoài tự nhiên Máy ảnh được sử dụng là máy kỹ thuật số có độ phân giải cao (Canon EOS DS6041, DS126071, DS126061) với các ống kính (EFS 18 – 55 mm, Macro 1:2X
Trang 20(Taiwan), Macro Lens EF 100 mm 1:2.8 USM, ống nối dài Raynox 250), phần phụ phóng đại máy ảnh (x2, x4, x10) và phụ kiện hỗ trợ ánh sáng Macro RingFlash ML-
120
- Mẫu tiêu bản được xử lý khô theo phương pháp làm tiêu bản khô tại phòng tiêu bản Thực vật (HNU), Bảo tàng Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (HUS), Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU), sau đó được khâu dán bằng keo 502 trên bìa dầy hai lớp (carton duplex) có thông tin và số hiệu và barcode của phòng tiêu bản HNU đi kèm
Đối chiếu các mẫu vật với bản tên hợp lệ (protologue)
Thông qua các mẫu vật:
- Mẫu tiêu bản thực vật khô sẵn có thuộc họ Ráng màng Hymenophyllaceae tại phòng tiêu bản thực vật HNU và phòng tiêu bản thực vật HN;
- Mẫu thực vật thuộc họ Ráng màng Hymenophyllaceae thu thập bổ sung ngoài thực địa;
- Các mẫu thực vật số hoá (bản ảnh) được lưu trữ tại các Virtual Herbaria của các phòng tiêu bản thực vật lớn trên thế giới như phòng tiêu bản thực vật Arnold Arboretum, Đại học Harvard (A), phòng tiêu bản thực vật của vườn thực vật hoàng gia Kew (K), phòng tiêu bản thực vật của bảo tàng lịch sử quốc gia Pháp (P), phòng tiêu bản thực vật của vườn thực vật Missouri, St Louis, Hoa Kỳ (MO),
Từ đó đối chiếu với bản tên hợp lệ của các taxon trong họ để xác định và
phân loại các loài Ráng màng Hymenophyllaceae ở Việt Nam
Soạn thảo danh pháp và xử lý tên cùng nghĩa
- Tên họ, tên chi, tên loài được chỉnh lý danh pháp theo Luật danh pháp quốc
tế Tokyo, 1994 và luật Melbourne, 2012
Trang 21- Tên khoa học chính thức của taxon họ và chi được soạn thảo kèm với tên tác giả công bố, bài báo công bố, số trang, năm công bố và type danh pháp của taxon
- Tên khoa học của loài được soạn thảo kèm thêm tên tác giả công bố, bài báo công bố, số trang, năm công bố, basionym, synonym và cung cấp nơi thu, số hiệu, bảo tàng lưu trữ mẫu type của loài Nếu tác giả đã nhìn thấy mẫu type thì sử dụng quy ước “!” để kí hiệu bên cạnh từ thay thế (acronym) của bảo tàng lưu trữ mẫu type Trong trường hợp tác giả chỉ nhìn thấy ảnh chụp mẫu type thì ghi chú là
Trang 22CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm sinh thái, hình thái và phân loại
họ Ráng màng Hymenophyllaceae ở Việt Nam
a Đặc điểm sinh thái
Nơi sống: Rừng rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi hoặc
núi đá không vôi, hiếm khi sống trong trảng cỏ thứ sinh ven rừng
Dạng sống: Cây sống bám trên thân cành cây gỗ, trên đá hoặc đất ẩm ở ven
Cây thân cỏ, sống trên đất Hình 3.1 Dạng cây và Dạng sống
Trang 23Thân & Rễ: Thân rễ, thường bò dài hơn 5 cm, ít khi bò ngắn hơn 5 cm hoặc
thân rễ thẳng, thường phủ nhiều lông, đôi khi có ít lông hoặc không lông; rễ có nhiều, ít hoặc không có rễ hoặc là các chồi giống rễ, thường được phủ lông hoặc không
Hình 3.2 Các kiểu thân rễ và rễ
a HH 059 (Hymenophyllum sp.); b HH 041 (Crepidomanes sp.);
c T-XL 05 (Abrodictyum sp.); d HH 057 (Cephalomanes sp.);
e CPC 4023 (Vandenboschia sp.)
Hệ gân: Cấu tạo đơn giản gồm một gân thật đi lên từ gốc phiến lá sau đó xẻ
lông chim tới các thùy lá Một số loài có các tế bào hóa đá tạo thành gân giả ở gần mép phiến lá hoặc trong phiến lá
Hình 3.3 Các kiểu gân giả
a HH 012 (Crepidomanes sp.); b HH 041 (Crepidomanes sp.);
c Petelot 4072 (Didymoglossum sp.)
a.Thân rễ bò, dài hơn 5 cm không lông, rễ thật
b Thân rễ bò, dài hơn 5 cm, phủ lông, rễ là các chồi ngắn
c Thân rễ bò, ngắn hơn 5 cm rễ thật
d Thân rễ thẳng, rễ thật
e Thân rễ bò, dài hơn 5
cm phủ lông, rễ thật
Trang 24Lá: kép lông chim lẻ một hoặc nhiều lần, có khi lá đơn xẻ thùy, có kích
thước từ vài mm tới 30-40 cm, có cuống dài hoặc ngắn, cuống có cánh hoặc không,
ít khi không có cuống; phiến lá thường được cấu tạo từ một lớp tế bào dày tạo thành một lớp màng mỏng; mép phiến lá nguyên hoặc xẻ răng cưa, đôi khi lượn sóng, có hoặc không có lông; lá chét xẻ thùy dạng thuôn dài hoặc tiêu giảm thành các sợi mảnh
Hình 3.4 Một số hình thái lá và lá chét
a Lá kép lông chim lẻ 3 lần (HH 054; Crepidomanes sp.);
b Lá kép lông chim lẻ 1 lần, xẻ thùy rất sâu (P 11506; Hymenophyllum sp.);
c Lá đơn xẻ thùy (Petelot 4072; Didymoglossum sp.);
d Lá kép lông chim lẻ, trục phiến lá phân nhánh (HH 055; Hymenophylum sp.);
e Lá kép lông chim lẻ nhiều lần, các lá chét tiêu giảm thành sợi mảnh
(HAL 11724; Abrodictyum sp.)
Trang 25Ổ bào tử: ở tận cùng của gân, đơn độc, thường lồi ra ngoài hoặc chìm vào
trong các thùy lá hoặc ở mép phiến lá với những lá có cấu tạo đơn giản, có đế lồi hoặc không; tổng bao hai mảnh xẻ đến tận gốc hoặc gần gốc hoặc có hình ống, hình phễu với chóp cụt, hơi loe hoặc xẻ 2 môi
Hình 3.5 Các dạng tổng bao
a Tổng bao hai mảnh, xẻ đến đáy (HH 002; Hymenophyllum sp.)
b Tổng bao hai mảnh, xẻ 1/2, đế lồi (T-XL 05, Hymenophyllum sp.)
c Tổng bao hình phễu, chóp 2 môi, đế lồi (HH 047, Crepidomanes sp.)
d Tổng bao hình phễu, chóp loe (VH 6137, Hymenophyllum sp.)
e Tổng bao hình ống, chóp cụt (HH 057, Cephalomanes sp.)
f Tổng bao hình phễu, chóp loe (HH 065, Crepidomanes sp.)
g Tổng bao hình phễu, chóp cụt (HAL 11724, Abrodictyum sp.)
h Tổng bao chìm trong thùy lá, hình phễu, chóp 2 môi
(P 11506, Hymenophyllum sp.)
Trang 26c Phân loại:
Dựa trên hệ thống phân loại 9 chi của Ebihara và cộng sự năm 2006 kết hợp với kết quả nghiên cứu các mẫu vật của chúng tôi cho thấy họ Ráng màng Hymenophyllaceae Mart ở Việt Nam đã ghi nhận được 26 loài thuộc 6 chi, cụ thể Abrodictyum C.Presl (03 loài), Cephalomanes C.Presl (01 loài), Crepidomanes
C.Presl (05 loài), Didymoglossum Desv (03 loài), Hymenophyllum Sm (10 loài)
và Vandenboschia Copel (04 loài)
Khóa xác định các chi thuộc họ Ráng màng Hymenophyllaceae ở Việt Nam:
1a Thân rễ bò, dài hơn 5 cm
2a Thân rễ gần như không lông hay có lông thưa thớt màu nâu nhạt
Hymenophyllum
2b Thân rễ phủ nhiều lông màu nâu đỏ
3a Lá thường ngắn hơn 15 cm
4a Có gân giả song song với gân thật; lá đơn
1b Thân rễ bò, ngắn hơn 5 cm hoặc thân rễ thẳng
5a Phiến lá kép lông chim một lần
Cephalomanes
5b Phiến lá kép lông chim nhiều lần
Abrodictyum
Trang 273.2 Đặc điểm các chi thuộc họ Ráng màng Hymenophyllaceae ở Việt Nam và
các loài trong chi
3.2.1 Abrodictyum C.Presl, Hymenophyllaceae 20 1843; Ebihara, A., Blumea
51(2): 242 2006 Type: Abrodictyum cumingii C.Presl [16]
Cây thân cỏ, bám đá ẩm; thân rễ thẳng hoặc bò ngắn hơn 5 cm; rễ to, không
lông; phiến lá kép lông chim lẻ 3-4 lần; lá chét thuôn dài, có khi tiêu giảm thành
dạng sợi mảnh; tổng bao dạng ống hoặc phễu với chóp cụt, đế lồi dài
Việt Nam ghi nhận 3 loài trên tổng số 25 loài trên thế giới
Khóa xác định các loài thuộc chi Abrodictyum C.Presl ở Việt Nam:
Trang 283.2.1.1 Abrodictyum idoneum (C.V.Morton) Ebihara & K.Iwats., Blumea 51 (2):
243 2006; P K Loc, J Fairylake Bot Gard 9(3-4): 2 2010; Lindsay, S & Middleton, D J., Ferns of Thailand, Laos and Cambodia 2012.–
Trichomanes idoneum C.V.Morton, Contr U.S Natl Herb 38: 272 1973; – Trichomanes gemmatum J.Sm., J Bot (Hooker) 3: 417 (nom nud.)
1841; Copel., Philipp J Sci 51: 269 pl 61 f 2 1933; Tardieu & C Chr.,
Fl Gén Indo-Chine 7(2): 69 1939; P H Hộ, CCVN 1: 90
1991.-Macroglena gemmata (J.Sm.) Copel., Philipp J Sci 67: 83 1938; Tagawa,
M & Iwatsuki, K., Fl Thailand 3(1): 98 1979.– Cephalomanes gemmatum
(J.Sm.) K.Iwats., J Fac Sci Univ Tokyo, Bot 13(5): 547 1985; P K Lộc,
DLTVVN 1: 1034 2001 Type: Malacca (Malaixia), Cuming 400 (Isotype
E (Barcode: E00417469, đã nhìn thấy ảnh), isotype GH (Barcode:
GH00022236, đã nhìn thấy ảnh), isotype K (Barcode: K000235143, đã nhìn thấy ảnh), Isotype P (Barcode: P00623404; P00624491; P00624490), đã
nhìn thấy ảnh)
Mô tả:
Cây thân cỏ; thân rễ bò, ngắn hơn 5 cm, đường kính khoảng 2-3 mm, không lông; rễ ít, đường kính khoảng 1 mm, không lông; phiến lá kép lông chim lẻ ba lần, hình tam giác nhọn, dài 4-8 cm, rộng 1,4-4,5 cm, mang các lá chét xếp gần nhau; lá chét sơ cấp dài 1-3,5 cm; mép phiến lá nguyên; trục phiến lá dài 2,5-5 cm mang các lông dạng sợi màu nâu đỏ; cuống lá có đường kính 1 mm, dài 1,5-4 cm phủ nhiều lông dạng sợi màu nâu đỏ; ổ bào tử hình phễu, chóp hai môi ngắn, miệng nguyên, dài 1 mm; đế lồi ngắn, dài khoảng 0,5 mm mang các túi bào tử
Phân bố:
Ngoài Việt Nam: Ghi nhận có ở Thái Lan [35, 43], Malaixia [27]
Ở Việt Nam: Ghi nhận có ở Thanh Hóa, Phú Yên [1], Khánh Hòa [41]
Trang 29Mẫu vật nghiên cứu:
Thanh Hóa: Thường Xuân, Bát Mọt, VQG Xuân Liên, tháng 3/2016, P V
Thế T-XL 05 (HNU)
Trang 30Hình 3.6 Bản ảnh Abrodictyum idoneum (C.V.Morton) Ebihara & K.Iwats
a Dạng cây & Dạng sống; b Tiêu bản; c Phiến lá; d Ổ bào tử; e Cuống lá
Mẫu vật P.V Thế T-XL 05 (Người chụp ảnh: P V Thế, P K Lộc & P Hồng)
Trang 313.2.1.2 Abrodictyum obscurum (Blume) Ebihara & K.Iwats., Blumea 51(2): 244
2006; P K Loc, J Fairylake Bot Gard 9(3-4): 2 2010; Lindsay, S & Middleton, D J., Ferns of Thailand, Laos and Cambodia 2012; Liu, J X., Zhang Q Y., Ebihara, A & Iwatsuki, K., Fl China 2-3: 94 2013.–
Trichomanes obscurum Blume, Enum Pl Javae 2: 227 1828; Copel.,
Philipp J Sci 51: 233 t 43-44 1933; Tardieu & C Chr., Fl Gén
Indo-Chine 7(2): 69 1939.– Selenodesmium obscurum (Blume) Copel., Philipp
J Sci 67: 81 1938; Tagawa, M & Iwatsuki, K., Fl Thailand 3(1): 99
1979; Tsai, J L & Shieh, W C., Fl Taiwan 1: 127 1994.– Cephalomanes obsurum (Blume) K.Iwats., J Fac Sci Univ Tokyo, Bot 13(5): 547 1985;
P H Hộ, CCVN 1: 95 1991; P K Lộc, DLTVVN 1: 1035 2001 Type:
Java, Blume s.n (Syntype L (Barcode: L 0544609), đã nhìn thấy ảnh)
Abrodictyum obscurum (Blume) Ebihara & K.Iwats var obcurum
cm, đường kính 1-2 mm, có lông ngắn; ổ bào tử hơi chúi xuống đất; tổng bao hình ống, chóp cụt, dài 1,2 mm; đế lồi dài, khoảng 6 mm, mang các túi bào tử
Phân bố:
Ngoài Việt Nam: Ghi nhận có ở Ấn Độ [27], Thái Lan [35, 43], Nhật Bản [24],
Trung Quốc [27] (kể cả Đài Loan [37]), Philippin [27], Malaixia [27], Inđônêxia [27]
Ở Việt Nam: Phân bố rộng, ghi nhận có ở Thái Nguyên [3], Hà Tĩnh, Thừa
Thiên-Huế [1, 3], Đà Nẵng [3, 41], Quảng Nam [3], Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng, Kiên Giang [1, 3]
Trang 32Sinh thái:
Cây ưa ẩm và ưa bóng, mọc thành cụm, bám đá ẩm ven suối trong rừng rậm
thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá không vôi ở độ cao trên 1000 m
Ghi chú:
- Số lượng lông trên cuống lá và trục phiến lá không giống nhau trên cùng một mẫu vật và giữa các mẫu vật (nhiều, ít hoặc không có)
- Thứ còn lại của loài này, Abrodictyum obscurum var siamense (H.Christ)
K.Iwats chưa được ghi nhận ở Việt Nam
Mẫu vật nghiên cứu:
Hà Tĩnh: Hương Sơn, Sơn Kim, Rào Bún, tháng 05/2004, P K Lộc et al HAL 5057 (HNU).– Kon Tum: Kon Plông, Hiếu, Măng La, tháng 04/2000, Aver et al VH 5319 (HNU).– Đắk Nông: Đắk Gloong, Đắk P’Lao, núi Tà Đung, tháng 11/2005, Aver et al HLF 5687 (HNU).– Lâm Đồng: Lạc
Dương, Dachays, cách Trạm Hòn Giao khoảng 100 m, tháng 01/2016, P K Lộc et al P 11429 (HNU)
Trang 33Hình 3.7 Bản ảnh Abrodictyum obscurum Blume Ebihara & K.Iwats var obcurum
a Tiêu bản P 11429; b Ổ bào tử; c Cuống lá; d Lá chét Mẫu vật P K Lộc et al P 11429 (Người chụp ảnh: P K Lộc & P Hồng)
Trang 343.2.1.3 Abrodictyum pluma (Hook.) Ebihara & K.Iwats., Blumea 51(2): 243 2006;
P K Loc, J Fairylake Bot Gard 9(3-4): 2 2010; Lindsay, S & Middleton,
D J., Ferns of Thailand, Laos and Cambodia 2012; P V Thế et al.,
Taiwania 58(2): 151–155 2013.– Trichomanes pluma Hook., Icon Pl 6 t
997 1854
Mô tả:
Cây thân cỏ; thân rễ bò, ngắn hơn 5 cm, phủ nhiều lông; rễ nhiều, nhỏ, không
lông; lá hình trứng-thuôn dài, dài 6-8 cm, rộng 1,5 cm; phiến lá kép 2-3 lần, dài 3-5 cm; lá chét tiêu giảm, dạng sợi mảnh; cuống lá và trục phiến lá mang các sợi lông ngắn màu nâu đỏ khi khô; ổ bào tử mọc ở đỉnh các lá chét gần trục phiến lá, dài 1,5-
2 mm; tổng bao hình nón, chóp cụt; đế lồi
Phân bố:
Ngoài Việt Nam: Thái Lan [35, 43]
Ở Việt Nam: Phân bố hẹp, ghi nhận ở Quảng Bình
Sinh thái:
Cây ưa ẩm và ưa bóng, mọc thành cụm, bám đá ẩm trong rừng rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá không vôi ở độ cao khoảng 1000 m
Chi chú:
- Mẫu vật nghiên cứu HAL 11724 được một tác giả nào đó viết trong nhãn là
Nesopteris thysanostoma (Makino) Copel (=Trichomanes thysanostomum Makino)
Tuy nhiên, trong bản tên hợp lệ của loài này thì lá chét hình trứng-thuôn dài, khác hẳn mẫu vật của chúng tôi là hình sợi mảnh
- Ebihara và cộng sự 2006 đã nhận xét rằng nhiều nhà thực vật học ở châu Á
trước đây định tên loài A meifolium là loài A pluma Khi so sánh bản tên hợp lệ của
2 loài này chúng tôi thấy ý kiến của Ebihara và cộng sự là xác đáng, và xác định
mẫu vật HAL 11724 chính là loài A pluma
Trang 35Mẫu vật nghiên cứu:
Quảng Bình: Minh Hóa, Dân Hóa, núi Giăng Màn, trên biên giới Việt
Nam-Lào, tháng 4/2008, Aver et al HAL 11724 (HNU)
Hình 3.8 Bản ảnh Abrodictyum pluma (Hook.) Ebihara & K.Iwats
a Tiêu bản P 11724; b Ổ bào tử; c Một phần phiến lá;
d Trục phiến lá với các lông màu nâu đỏ
Mẫu vật Aver et al HAL 11724
(Người chụp ảnh: P Hồng (a, b, d) & L Averyanov (c))
a
c
Trang 363.2.2 Cephalomanes C.Presl, Hymenophyllaceae 17 1843; Ebihara, A., Blumea
51(2): 248 2006 Type: Cephalomanes atrovirens C.Presl [16]
Cây thân cỏ, bám đá ẩm; thân rễ thẳng; rễ to, nhiều, không lông; lá nhiều; phiến lá kép lông chim lẻ một lần; tổng bao dạng ống, chóp cụt; đế lồi dài
Việt Nam ghi nhận 1 loài trên tổng số 4 loài trên thế giới
3.2.2.1 Cephalomanes javanicum (Blume) C.Presl, Hymenophyll Javan 30-31,
pl 22 1861; Copel., Philipp J Sci 67: 67 1938; Tagawa, M & Iwatsuki, K., Fl Thailand 3(1): 96 1979; Iwatsuki, K., J Fac Sci Univ Tokyo, Bot 13(5): 548 1985; P H Hộ, CCVN 1: 95 1991; P K Lộc, DLTVVN 1:
1035 2001; Ebihara, A et al., Blumea 51(2): 248 2006; P K Loc, J Fairylake Bot Gard 9(3-4): 2 2010; Lindsay, S & Middleton, D J., Ferns
of Thailand, Laos and Cambodia 2012; Liu, J X., Zhang Q Y., Ebihara, A
& Iwatsuki, K., Fl China 2-3: 95 2013.– Trichomanes javanicum Blume,
Enum Pl Javae fasc 2: 224 1828; Copel., Philipp J Sci 51: 246 pl 52 f
1 1933; Tardieu & C Chr., Fl Gén Indo-Chine 7(2): 68 1939 Type: Java
(Indonesia), Blume s.n (đã nhìn thấy ảnh)
Theo Iwatsuki, K (1985), loài gồm có 3 var.: C javanicum (Blume) C.Presl var javanicum, C javanicum var asplenioides (C.Chr.) K.Iwats và C
javanicum var sumatranum (Alderw.) K.Iwats Ở Việt Nam mới gặp var
sumatranum (Alderw.) K.Iwats
var sumatranum (Alderw.) K.Iwats., J Fac Sci Univ Tokyo, Bot 13(5):
549 1985.– Trichomanes sumatranum Alderw., Bull Dépt Agric Indes
Néerl 18: 4 1908; Copel., Philipp J Sci 51: 248 pl 53 f 4 1933;
Tardieu & C Chr., Fl Gén Indo-Chine 7(2): 68 1939.– Cephalomanes sumatranum (Alderw.) Copel., Philipp J Sci 67: 67 1938; P H Hộ,
CCVN 1: 95 1991; P K Lộc, DLTVVN 1: 1035 2001; P K Loc, J
Fairylake Bot Gard 9(3-4): 2 2010 Type: Sumatra, Burck 87 (theo
Iwatsuki, K., 1985)
Trang 37Mô tả:
Thứ var sumatranum có đặc điểm ổ bào tử tập trung ở ngọn tạo thành bông
là đặc điểm chính phân biệt với 2 thứ còn lại (var asplenioides và var javanicum)
có ổ bào tử mọc ở cả lá bình thường
Cây thân cỏ; thân rễ thẳng; rễ nhiều, to 0,5 mm; lá kép lông chim 1 lần, thuôn dài, dài 10-20 cm, rộng 1,5-3 cm; phiến lá dài 6-15 cm; lá chét có cuống rõ, mép phiến lá xẻ răng cưa thưa, các lá chét ở phía gần cuống có chiều dài 1 cm, rộng 0,5 cm, sau đó to dần ở phần giữa phiến lá (dài 2 cm, rộng 0,8 cm) và nhỏ dần về phía ngọn 0,5 cm x 0,3 cm; cuống lá dài 2-5 cm, thiết diện tròn, đường kính 1 mm,
có lông màu nâu đỏ mọc rải rác; ổ bào tử mọc tập trung ở phần trên của phiến lá,
hình ống, chóp cụt; đế thò dài
Phân bố:
Ngoài Việt Nam: Ghi nhận có ở Ấn Độ [27], Mianma [27], Thái Lan [35,
43], Nhật Bản [24],Trung Quốc [27] (kể cả Đài Loan [37]), Malaixia [27]
Ở Việt Nam: Ghi nhận có ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà
Nẵng [3], Quảng Nam, Khánh Hòa [1, 3], Lâm Đồng và Kiên Giang [3, 41]
Sinh thái:
Cây ưa ẩm, mọc thành cụm, bám đá ẩm ven suối trong rừng rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá không vôi ở độ cao khoảng 100-1000 m
Mẫu vật nghiên cứu:
Quảng Bình: Bố Trạch, Hưng Trạch, tháng 1/2005, Aver et al HAL 6243
(HNU).– Quảng Trị: Đa Krông, Húc Nghì, tháng 3/2006, P K Lộc et al HLF 6114; HLF 5795 (HNU).– Thừa Thiên-Huế: Hương Thủy, Dương
Hòa, tháng 5/2005, Aver et al HAL 8151 (HNU); A Lưới, Hương Nguyên, tháng 5/2005, Aver et al HAL 7798 (HNU); Nam Động, Hương Sơn, tháng
3/2005, Aver et al HAL 6945 (HNU).– Quảng Nam: Nam Giang, Chà Val,
Tà Ung, KBTTN Sông Thanh, tháng 9/2015, P T Hồng & N A Đức HH
Trang 38057 (HNU); Đắc Prê, 56B, KBTTN Sông Thanh, tháng 3/2015, P T Hồng
& N A Đức HH 057b (HNU).– Lâm Đồng: Cát Tiên, Tiên Hoàng, tháng
12/1997, P K Lộc P-7610 (HNU)
Hình 3.9 Bản ảnh Cephalomanes javanicum var sumatranum (Alderw.) K.Iwats
a Tiêu bản HH 057; b Một phần phiến lá mang các ổ bào tử;
c Ổ bào tử; d Lá chét; e Cuống lá
Mẫu vật HH 057 (Người chụp ảnh: P K Lộc & P Hồng)
Trang 393.2.3 Crepidomanes (C.Presl) C.Presl, Epimel Bot.: 258 1851; Ebihara, A.,
Blumea 51(2): 237 2006 Type: Trichomanes intramarginale Hook & Grev (= Crepidomanes intramarginale (Hook & Grev.) C Presl) [16]
Cây thân cỏ, bám thân, cành cây gỗ hoặc đá ẩm; thân rễ bò, dài hơn 5 cm, phủ lông màu nâu thẫm; rễ có dạng chồi ngắn, phủ lông như thân rễ; phiến lá kép lông chim lẻ; tổng bao thường hình phễu với chóp có hai môi; đế thường lồi
Việt Nam ghi nhận 5 loài trên tổng số hơn 30 loài trên thế giới
Khóa xác định các loài thuộc chi Crepidomanes (C.Presl) C.Presl ở Việt Nam:
1a Có gân giả
2a Không có gân giả ở gần mép phiến lá, chỉ có ở trong lá
C latealatum
2b Có gân giả ở gần mép phiến lá, còn ở trong lá có hoặc không
3a Lá dài hơn 3 cm
Trang 403.2.3.1 Crepidomanes bipunctatum (Poir.) Copel., Philipp J Sci 67: 59 1938;
Tagawa, M & Iwatsuki, K., Fl Thailand 3(1): 90 1979; P H Hộ, CCVN 1: 90 1991; P K Lộc, DLTVVN 1: 1036 2001; Ebihara, A et al., Blumea 51(2): 238 2006; P K Loc, J Fairylake Bot Gard 9(3-4): 2 2010; Lindsay, S & Middleton, D J., Ferns of Thailand, Laos and Cambodia 2012; Liu, J X., Zhang Q Y., Ebihara, A & Iwatsuki, K., Fl China 2-3:
96 2013.– Trichomanes bipunctatum Poir., Encycl 8(1): 69 1808; Copel.,
Philipp J Sci 51: 177 pl 18 f 1-4 1933; Tardieu & C Chr., Fl Gén
Indo-Chine 7(2): 63 1939 Type: Madagascar, Petit Thouars s.n (Holotype
P (Barcode: P00482602, đã nhìn thấy ảnh), Isotype P (Barcode: P
00477821), đã nhìn thấy ảnh).– Trichomanes bilabiatum Nees & Blume,
Nov Actorum Acad Caes Leop.-Carol Nat Cur 11: 123 1823; Copel.,
Philipp J Sci 51: 179 pl 18 f 56 1933.– Crepidomanes bilabiatum
(Nees & Blume) Copel., Philipp J Sci 67(1): 59 1938; Tagawa, M & Iwatsuki, K., Fl Thailand 3(1): 90 1979; Tsai, J L & Shieh, W C., Fl Taiwan 1: 105 1994; P K Lộc, DLTVVN 1: 1036 2001; P K Loc, J
Fairylake Bot Gard 9(3-4): 2 2010 Type: Java (Indonesia), Blume s.n
(Holotype L (Barcode: L 0544641), đã nhìn thấy ảnh)
Mô tả:
Cây thân cỏ; thân rễ bò, dài hơn 5 cm, phủ lông đen; rễ dạng chồi, phủ lông đen; cuống lá dài (0,2) 1,3-4 (4,5) cm, có cánh tới tận gốc, mang các sợi lông ngắn; phiến lá hình trứng hoặc thuôn dài, tròn hoặc nhọn ở đỉnh, kép lông chim 3 lần, dài
từ (2) 4-15 cm, rộng 2-5 cm; lá chét 5-8 cặp, dài 1,5-3,5 cm, rộng 1-1,5 cm, có cuống ngắn hoặc không cuống ở những lá chét gần ngọn; lá chét thứ cấp thuôn dài hoặc gần tam giác có các thùy dạng thuôn dài, nhọn, mép nguyên; gân giả ở gần mép phiến lá, liên tục hoặc đứt đoạn, hai hoặc nhiều hơn hai hàng tế bào tính từ gân giả tới mép phiến lá; ổ bào tử mọc trên đỉnh của các thùy bên và thùy tận cùng ở cả phía lá chét đối ngọn và lá chét đối gốc; tổng bao dạng phễu, có cánh với chóp 2 môi hình tam giác cũng có cánh, dài 2-2,5 mm; đế lồi