Để sản xuất được miến người ta thường dùng tinh bột của hạt đậu xanh và dong riềng vì 2 loại tinh bột này có các tính chất công nghệ như sau: 1.1.2.1 Tỷ lệ amylose và amylosepectin Am
Trang 1CHƯƠNG 1 :TỔNG QUAN 1.1 Tình hình sản xuất miến sợi ở Việt Nam hiện nay
Giới thiệu
Theo Lê Thị Long Vy và công sự, 2011, miến (bún tàu) là loại thực phẩm dạng sợi khô
sản xuất từ tinh bột được sử dụng trên nhiều quốc gia thuộc khu vực châu Á: Trung Quốc, Philipines, Malaysia… cũng như trong các món ăn phương Đông được phục vụ ở
châu Âu và Bắc Mỹ Miến gạo bắt nguồn từ Trung Hoa, có từ hơn 400 năm trước Miến
có thể được sản xuất từ các loại tinh bột ngũ cốc khác nhau hoặc phối trộn nhiều loại tinh bột ngũ cốc như: tinh bột đậu xanh, tinh bột dong riềng hoặc phối trộn giữa tinh bột đậu xanh và tinh bột khoai tây Sợi miến khi nấu lên dai, trong và không trương lên, có tính
dễ tiêu hóa
Miến là một loại thực phẩm khô sơ chế phổ biến trong các hàng quán ăn nhanh lẫn trong gia đình Việt Nam, chỉ đứng sau bún Khi sử dụng miến, rửa sạch rồi cho vào chần
trong nồi nước dùng, bỏ trực tiếp vào bát
Ngày lễ, tết, cúng giỗ ở các vùng nông thôn miền Bắc Việt Nam không thể nào thiếu bát miến măng khô nấu cùng với lòng gà, mộc nhĩ, nấm hương và các gia vị khác Có thể
ăn chan với cơm tẻ, có thể ăn không
Trong nem (chả ram), người ta cũng cắt nhỏ miến để trộn vào Ở các đường phố lớn miến cũng góp mặt trong các món phổ thông như: miến ngan, miến cua, miến lươn
Các loại miến dong hiện nay
Miến dong: đi từ nguồn nguyên liệu là tinh bột dong riềng thường có màu: hơi xám (không dùng chất tẩy trắng), trắng hơi vàng (có dùng chất tẩy trắng), vàng (có dùng bột nghệ)
Trang 2 Miến đậu xanh: đi từ nguồn nguyên liệu tinh bột đậu xanh có màu trắng
Miến hỗn hợp: đi từ nhiều nguồn nguyên liệu tinh bột khác nhau: đậu xanh, khoai tây…
1.1.1 Những nguyên liệu thường dùng trong sản xuất miến sợi
Hình 1.1 a) Miến dong xám b) Miến dong trắng vàng c) Miến dong vàng
Hình 1.2 Miến đậu xanh
Hình 1.3 Miến đậu xanh và khoai tây
Trang 31.1.1.1 Tinh bột dong riềng (Canna edulis Ker)
Theo Trung Tâm Dữ Liệu Thực Vật Việt Nam
Loài: Canna edulis Ker
Dong riềng là họ thực vật một lá mầm chỉ có một chi duy nhất là chi Canna, thân là
củ ngầm dưới đất, chỉ có cuống lá và lá mọc thò lên trên mặt đất Thường trồng bằng các hái từ củ mẹ ra, thường trồng vào mùa xuân, phát triển tốt nhất ở mùa hè và hết vụ vào mùa đông, tinh bột tích tụ vào khi củ đã già đủ tuổi, và thu họach để lấy bột Củ dong cho tinh bột làm miến dài chừng một gang tay, màu trắng ngà Mặc dù nó có mặt hầu hết ở các vùng nhiệt đới nhưng ít khi được trồng và sử dụng như một nguồn thực phẩm thiết yếu Rễ cây có nhiều chất xơ nên ít được sử dụng do nghèo dinh dưỡng và thời gian chế biến dài (từ 2-5 giờ)
Công dụng của dong riềng
Dong riềng được trồng chủ yếu để lấy tinh bột Cho đến nay, tinh bột dong riềng là loại có kích thước hạt lớn nhất (70-130μm), do đó nó lắng rất nhanh
Một phần lớn của tinh bột dong riềng sản xuất ở Việt Nam được đưa vào chế biến miến, một loại thức ăn cao cấp ở Đông Nam Á và theo truyền thống thường làm từ tinh bột đậu xanh rất đắt tiền Miến loại ngon dày khoảng 2 mm, có độ dai cao và trong suốt Lượng chất khô mất đi trong suốt quá trình nấu khoảng <10%
Miến dong riềng ở Việt Nam có chất lượng tốt hơn rất nhiều so với các loại miến làm
từ tinh bột khoai tây và sắn Mặc dù chức năng công nghệ của dong riềng không cao nhưng nó vẫn được dùng thay thế toàn bộ cho đậu xanh đắt tiền như là nguyên liệu thô để
Hình 1.4 Củ dong riềng
Trang 4Theo: Viện Dinh Dưỡng – Bộ Y Tế ( 1994), Thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam, NXB Y
Học
sản xuất miến ở Việt Nam So với các loại tinh bột khác, tinh bột dong riềng có hàm lượng amylose cao (có thể lên đến 47%) Gel của tinh bột dong riềng có khả năng tái kết tinh cao và trong suốt, ảnh hưởng đến chất lượng của miến
Có hai loại tinh bột dong riềng là tinh bột khô và tinh bột ướt Để làm miến, người ta thường làm từ tinh bột ướt, như thế giá thành sẽ rẻ hơn Thông thường, ở các vùng làm nghề miến dong, luôn có các hộ sản xuất tinh bột dong riềng ướt để bán cung ứng nguyên liệu, vì vậy nguyên liệu làm miến dong được cung cấp rất thuận tiện Một vài thương hiệu miến dong riềng nổi tiếng như: Lai Trạch, Việt Cường, Bình Liêu, Nhất Thiện
Phân bố
Theo Lê Thị Long Vy và công sự, 2011, người ta ước tính rằng diện tích gieo trồng
dong riềng trên thế giới là khoảng 200,000 – 300,000 ha, trong đó châu Phi chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất và năng suất là khoảng 30 tấn mỗi ha Ở Việt Nam, dong riềng có nguồn gốc từ Peru đã được trồng thực dân Pháp từ năm 1896 Sản lượng dong riềng ở Việt Nam là khoảng 30,000 ha Tập trung ở một tỉnh miền Bắc như: Hưng Yên, Hà Nội,
Trang 5Cao Bằng, Bắc Kạn ngoài ra còn trồng ở một số vùng khác như: Huế, Đồng Nai dong
riềng được trồng chủ yếu để sản xuất bột và miến
1.1.1.2 Đậu xanh (Vigna radiata)
Theo Trung Tâm Dữ Liệu Thực Vật Việt Nam
Đặc tính thực vật
Giới: thực vật Ngành: Magnoliophyta Bộ: Fabales
Họ: Fabaceae Chi: Vigna Loài: V.ratiara
Đậu xanh thuộc loại cây thảo mọc đứng Lá mọc kép 3 chia, có lông hai mặt Hạt đậu xanh có kích thước nhỏ và có hình bầu dục nằm ở bên trong quả đậu Quả đậu thường có hình trụ thẳng, do hai mảnh ghép lại, mảnh nhưng số lượng nhiều, có lông
Cấu tạo của hạt đậu xanh thường bao gồm: Vỏ hạt bao bọc xung quanh có tác dụng chống lại ảnh hưởng xấu của điều kiện ngoại cảnh Là loại vỏ trần, được cấu tạo từ nhiều lớp tế bào mà thành phần của nó chủ yếu là cellulose và hemicellulose Vỏ hạt đục, không trong suốt hoặc đôi khi có màu, có lông và có tác dụng bảo vệ phôi hạt
Ở các loại hạt khác thì ngoài vỏ ra chúng còn có đầy đủ 3 phần là lớp aloron, nội nhũ và phôi đứng tách biệt nhau Tuy nhiên ở đậu xanh thì khác, toàn bộ hạt đậu là một phôi lớn được bao bọc bằng vỏ hạt Hoa màu vàng lục mọc ở kẽ lá, mảnh nhưng số lượng nhiều, có lông trong chúa hạt hình tròn hơi thuôn, kích thước nhỏ, màu xanh, ruột màu vàng, có mầm ở giữa có kích thước hạt nhỏ (đường kính khoảng 2–2,5 mm) Đậu xanh là loại cây họ đậu có giá trị dinh dưỡng rất cao
Công dụng cùa đậu xanh
Trong đời sống hằng ngày đậu xanh được sử dụng rộng rãi và phổ biến với nhiều cách khác nhau như: làm bánh, nấu chè, xôi, sữa thích hợp cho cả ăn chay và ăn mặn
Hình 1.5 Hạt đậu xanh
Trang 6Theo các chuyên gia dinh dưỡng tại Đại học Kentucky ở Lexington (Mỹ) và là tác giả chương trình “Magic Bean” (hạt đậu kì diệu) nếu ăn một chén cháo đậu xanh nấu chín mỗi ngày có thể hạ thấp 20% lượng cholesterol trong 3 tuần, nguy cơ mắc bệnh tim mạch
và huyết áp giảm 40% Chất xơ trong đậu xanh còn có khả năng loại bỏ các độc tố trong
cơ thể, do đó giúp ngăn ngừa chứng ung thư ruột kết
Ngoài ta đậu xanh còn sử dụng để làm miến, miến đậu xanh được coi là sản phẩm mới
và hiện nay rất được ưa chuộng trên thị trường Do củ dong riềng hiện nay cho năng suất thấp mà hàm lượng chất xơ trong đó lại rất cao Nên người ta đã quyết định chọn nguyên liệu thay thế là đậu xanh vì đậu xanh có hàm lượng amylose cao chính vì lý do đó mà miến đậu xanh đã ra đời Vẫn giữ được đặc tính trên khi ta thay thế nguyên liệu đậu xanh cho nguyên liệu dong riềng thì không những hàm lượng amylose trong đậu xanh tương đối cao (có thể lên đến 54%) mà đậu xanh còn chứa rất nhiều chất dinh dưỡng, ngoài ra
nó như một liều thuốc hữu hiệu chữa rất nhiều bệnh cho con người Vì vậy khi ta đem thay thế nguyên liệu đậu xanh cho dong riềng thì không những đậu xanh tạo cho chúng ta một loại miến dẻo dai trong suốt mà nó còn có tác dụng làm mát gan, lọc máu, thanh nhiệt nhờ đậu xanh giàu VTM B1, B2, C, giàu chất sắt, giàu Ca và giàu caroten
Một vài thương hiệu miến đậu xanh nổi tiếng như: Phú Hương, Hoàng Mai
Trang 7Theo: Viện Dinh Dưỡng – Bộ Y Tế ( 1994), Thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam, NXB Y
Trang 8 Phân bố
Hạt đậu xanh trồng phổ biến ở các tỉnh Tây Nguyên: như Đắc Nông, Đắc Lắc, Gia Lai với sản lượng khoảng 2,100 tấn hạt/năm và một số tỉnh miền Tây
1.1.2 Tính năng công nghệ chung của nguyên liệu dùng để sản xuất miến sợi
Để sản xuất được miến người ta thường dùng tinh bột của hạt đậu xanh và dong riềng
vì 2 loại tinh bột này có các tính chất công nghệ như sau:
1.1.2.1 Tỷ lệ amylose và amylosepectin
Amylose
Amylose là loại mạch thẳng, chuỗi dài từ 500-2,000 đơn vị glucose, liên kết nhau bởi liên kết α−1,4 glycoside
Có hai loại amylose:
Amylose có mức độ trùng hợp tương đối thấp (khoảng 2,000) thường không có cấu trúc bất thường và bị phân ly hoàn toàn bởi β-amylase
Amylose có mức độ trùng hợp lớn hơn, có cấu trúc án ngữ đối với β−amylase nên chỉ
bị phân hủy 60%
Trong hạt tinh bột hoặc trong dung dịch hoặc ở trạng thái thoái hóa, amylose thường
có cấu hình mạch giãn, khi thêm tác nhân kết tủa vào, amylose mới chuyển thành dạng xoắn ốc Mỗi vòng xoắn ốc gồm 6 đơn vị glucose Đường kính của xoắn ốc là 12,97 A0, chiều cao của vòng xoắn là 7,91A0 Các nhóm hydroxyl của các gốc glucose được bố trí
ở phía ngoài xoắn ốc, bên trong là các nhóm C-H
Hình 1.6 Công thức hóa học của amylose
Trang 9 Amylopectin
Amylopectin là polymer mạch nhánh, ngoài mạch chính có liên kết α-1,4 glucoside còn
có nhánh liên kết với mạch chính bằng liên kết α-1,6 glucoside Mối liên kết nhánh này làm cho phân tử cồng kềnh hơn, chiều dài của chuỗi mạch nhánh này khoảng 25-30 đơn
vị glucose Phân tử amylopectin có thể chứa tới 100,000 đơn vị glucose
Sự khác biệt giữa amylose và amylopectin không phải luôn luôn rõ nét Bởi lẽ ở các phân tử amylose cũng thường có một phần nhỏ phân nhánh do đó cũng có những tính chất giống như amylopectin
Hình 1.7 Công thức hóa học của amylopectin
Hình 1.8 Cấu trúc không gian của amylose và amylosepectin
Trang 10Đa số thành phần tinh bột của các hạt cốc tỷ lệ giữa amylose và amylopectin là ¼ Tuy nhiên ở tinh bột đậu xanh và dong riềng thì thành phần amylose chiếm trên dưới 54% (đậu xanh) và 47% (dong riềng)
Chính đặc điểm này làm tinh bột đậu xanh và tinh bột dong riềng có một số tính chất khác biệt và được ứng dụng nhiều trong công nghiệp sản xuất miến có chất lượng cao
So với các loại tinh bột khác thì 2 loại tinh bột đậu xanh và tinh bột dong riềng có chứa nhiều amyloza (đậu xanh 46-54%, dong riềng 38-41%) làm sợi miến dai và bền hơn Điều đó có thể giải thích: sợi miến là sự chập lại của rất nhiều phân tử amylose và amylopectin Độ dai hay độ bền đứt toàn sợi là do tương tác giữa các phân tử hay lực tương tác nội phân tử quyết định Liên kết giữa các phân tử là lực Van der Waals hoặc liên kết hidro…So với năng lượng của các liên kết hóa trị (60-120 cal/mol) thì năng lượng của các lực hút giữa các phân tử là bé (1-6 cal/mol) nhưng số lượng của các liên kết này lại rất nhiều nên giá trị tổng năng lượng này sẽ vượt rất xa năng lượng của các liên kết hóa trị trong mạch Khi đứt sợi, đầu tiên sẽ đứt liên kết giữa các phân tử do đó các phân tử được định hướng Sau khi định hướng hoàn toàn thì sự đứt sẽ xảy ra ở chính mạch phân tử Phân tử amylose dài nên lực tương tác giữa các phân tử lớn và do đó có độ bền đứt lớn Các chuỗi amylose liên kết với nhau rất chặt nên khó bị trương ra hơn, do đó sợi chắc và dai Các tinh bột giàu amylopectin, các mạch nhánh của amylopectin thường rất ngắn nên lực tương tác giữa các phân tử yếu do đó độ bền đứt kém Khi ta chập nhiều phân tử lại để thành sợi sẽ có nhiều khuyết tật do đó sợi tinh bột dễ bị nhão và đứt Kích thước hạt tinh bột lớn (đậu xanh 30-50µm, dong riềng 70-130µm) tạo điều kiện cho quá trình lắng diễn ra nhanh hơn
Hình 1.7 a) Tinh bột dong riềng b) Tinh bột đậu xanh
a)
a)
b)
Trang 111.1.2.2 Khả năng hấp thụ nước và sự hồ hóa
Tinh bột là những polymer có khả năng hấp thu nước tốt (gấp 2,000 lần thể tích của nó) và hòa tan tốt trong nước Khi hòa tan tinh bột vào nước, đầu tiên các phân tử nước sẽ thâm nhập vào giữa các phân tử tinh bột có kích thước phân tử lớn và tương tác với các nhóm hoạt động của tinh bột tạo ra lớp vỏ nước và làm cho mắc xích nào đó của phân tử tinh bột bị yếu đi Kết quả, phân tử tinh bột bị xê dịch, nhão ra rồi trương lên Quá trình trương xảy ra không hạn chế sẽ làm bung các phân tử tinh bột và hệ chuyển thành dạng dung dịch Quá trình trương luôn xảy ra trước quá trình hòa tan và đây là một quá trình phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ bên ngoài Quá trình hòa tan tinh bột vào nước diễn ra như sau:
Sự hòa tan tinh bột vào nước cần phải có thời gian để nước có thể đi vào bên trong mạch tinh bột (do kích thước phân tử nước nhỏ, linh động hơn phân tử tinh bột nên ban đầu chỉ có nước khuếch tán vào bên trong tinh bột) và làm thay đổi dần độ linh động của mạch tinh bột, do đó đa số các tinh bột không thể hòa tan ngay mà phải qua một quá trình hấp thu một lượng lớn nước, đó là quá trình trương Tế bào trương lên có chứa nước bên trong sẽ tồn tại tách biệt với nước trong hỗn hợp Sau một thời gian, khi mạch đã đủ linh động thì chúng bắt đầu khuếch tán dần dần vào nước và hình thành hai lớp: lớp dung dịch tinh bột đậm đặc và lớp chủ yếu là nước Phải một thời gian nữa thì hai pha mới khuếch tán vào nhau để cho ta một một pha đồng nhất, cùng nồng độ
Sự phá hủy hạt tinh bột có thể xem như giới hạn tự nhiên giữa hai trạng thái khác nhau của tinh bột: tinh bột ban đầu với các mức hydrat hóa khác nhau và dung dịch keo của tinh bột
Nhiệt độ để phá vỡ hạt, chuyển hạt từ trạng thái đầu có mức độ hidrat hóa khác nhau thành dung dịch keo gọi là nhiệt độ hố hóa
Các hạt tinh bột khác nhau,từ các nguồn khác nhau sẽ có nhiệt độ hồ hóa khác nhau, thường là một khoảng nhiệt độ
Trang 12Nhìn chung thì quá trình hồ hóa ở tất cả các loại tinh bột đều giống nhau: ban đầu
độ nhớt của hồ tinh bột tăng dần lên sau đó qua một cực đại rồi giảm xuống do pha phân tán trong dịch tăng dần cho đến khi hệ đồng nhất thì pha phân tán giảm xuống
Trong tinh bột đậu xanh và dong riềng có chứa nhiều amylose hơn một số loại tinh bột khác Do amylose có cấu trúc mạch dài và không phân nhánh nên liên kết hóa học giữa các phân tử bên trong mạch bền hơn và năng lượng tương tác giữa các mạch lớn làm cho mạch amylose cứng hơn amylopectin và cản trở việc tách chúng ra khỏi nhau dẫn đến khả năng hòa tan trong nước chậm và nhiệt độ hồ hóa cao hơn các loại tinh bột có chứa ít amylose hơn Mặt khác trong dung dịch các amylose có xu hướng liên kết lại với nhau để tạo tình thể nên nhiệt độ hồ hóa của tinh bột đậu xanh và dong riềng cũng cao hơn
Có thể làm tăng khả năng hòa tan và giảm nhiệt độ hồ hóa của tinh bột đậu xanh
và dong riềng bằng cách cho thêm vào dung dịch một lượng muối vừa phải hoặc bổ sung tác nhân kiềm trong quá trình hòa tan
1.1.2.3 Độ trong của hồ tinh bột
Tinh bột sau khi đã hồ hóa thường có một độ trong suốt nhất định Chính độ trong suốt này có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhiều sản phẩm thực phẩm có chứa tinh bột, đặc biệt là làm tăng giá trị cảm quan Dịch hồ trong hay đục là do sự tán xạ ánh sáng đi qua nó ít hay nhiều Thường thì các loại tinh bột có chứa nhiều amylopectin sẽ trong hơn tinh bột có chứa nhiều amylose vì dịch hồ của tinh bột giàu amylose thì các phân tử tinh bột phân tán tương đối đều nên ánh sáng đi qua bị tán xạ nhiều lần làm cho dịch hồ ít trong Tinh bột đậu xanh có chứa nhiều amylose hơn tinh bột dong riềng nên dịch hồ thu được thường đục hơn
Để làm tăng độ trong của hồ tinh bột đậu xanh và dong riềng ta có thể bổ sung vào chất hoạt động bề mặt natri laurysulfat vì phức này có khả năng tạo phức với amylose làm tăng độ trong của hồ tinh bột Đường cũng có thể làm tăng đáng kể độ trong của hồ tinh bột
Trang 131.1.2.4 Tính chất nhớt dẻo của hồ tinh bột
Độ nhớt và độ dẻo của hồ tinh bột là một trong những tính chất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng và tính chất của nhiều loại thực phẩm Phân tử tinh bột chứa nhiều nhóm hydroxyl có khả năng liên kết lại với nhau làm cho phân tử tinh bột tập hợp lại đồ
sộ hơn và giữ được nhiều phân tử nước hơn khiến cho dung dịch có độ đặc, độ dẻo, độ dính và độ nhớt cao hơn Tinh bột chứa nhiều amylopectin thì tính chất này càng thể hiện mạnh hơn
Do tinh bột đậu xanh và tinh bột dong riềng có chứa nhiều amylose nên trong dịch
hồ thu được các phân tử amylose ở dạng mạch thẳng luôn có xu hướng liên kết lại với nhau, phá vỡ các liên kết nước cùng với cấu trúc mạch thẳng làm khả năng giữ nước của các phân tử amylose kém hơn nên dẫn đến dịch hồ thu được từ tinh bột đậu xanh sẽ có độ nhớt thấp hơn tinh bột dong riềng
1.1.2.5 Khả năng tạo gel
Một tính chất quan trọng khác nữa của tinh bột là khả năng tạo gel của nó Gel tinh bột được hình thành khi có sự sắp xếp một cách có trật tự của các phân tử tinh bột khi để nguội dịch hồ tinh bột Gel tinh bột được hình thành hoàn toàn là do sự hình thành các liên kết hidro nối trực tiếp các phân tử tinh bột với nhau hoặc thông qua các cầu phân tử nước Ngoài khả năng tự tạo gel thì tinh bột còn có khả năng đồng tạo gel với protein
Vì trong tinh bột có cả amylose và amylopectin nên trong mạng gel tinh bột có cả vùng kết tinh và vùng vô định hình Chính đặc điểm này tạo nên độ bền và độ đàn hồi cho gel
Tinh bột chứa nhiều amylopectin thì khó tạo gel hơn tinh bột có chứa nhiều amylose vì cấu trúc phân nhánh của nó làm cản trở sự giàn phẳng và liên kết lại với nhau của các phân tử để tạo thành mạng gel Tuy nhiên với nồng độ tinh bột cao (khoảng 30%) thì cũng tạo gel được
So với các loại tinh bột khác thường có tỉ lệ amylose/amylopectin là ¼ thì tinh bột
Trang 14đậu xanh và tinh bột dong riềng có thành phần amylose tương đối lớn nên khả năng tạo gel của nó cũng khác Do có chứa nhiều amylose nên quá trình hình thành gel của dịch tinh bột diễn ra nhanh và dễ dàng hơn
1.1.2.5 Khả năng tạo màng của tinh bột
Giống như các hợp chất cao phân tử khác,tinh bột có khả năng tạo màng tốt Để tạo màng, các phân tử tinh bột sẽ giàn phẳng ra, sắp xếp lại và tương tác trực tiếp với nhau nhờ các liên kết hidro và/hoặc gián tiếp thông qua các phân tử nước Tính chất này dùng để sản xuất các loại bánh tráng, bánh cuốn, bánh phở, miến…từ tinh bột
Các bước tiến hành để tạo thành màng từ tinh bột như sau:
Cho tinh bột phân tán trong nước đến một nồng độ nhất định (không quá đặc và cũng không quá loãng vì nếu quá đặc hoặc quá loãng thì trong quá trình hình thành màng rất dễ bị rách)
Hồ hóa sơ bộ để tạo ra một độ nhớt nhất định
Khuấy kỹ và rót dịch tinh bột thành một lớp mỏng lên bề mặt kim loại phẳng và nhẵn đã được gia nhiệt thích hợp (có thể phết một lớp parafin để trơ hóa bề mặt kim loại, tránh cho màng khỏi bị dính sau khi khô)
Nhìn chung cơ chế của việc tạo thành màng chủ yếu là do sự bốc hơi nước của dịch
hồ dưới tác dụng của nhiệt (nước tự do sẽ bốc hơi trước), tạo điều kiện cho các phân tử tinh bột sắp xếp tập hợp lại với nhau thông qua các liên kết bên trong phân tử, liên kết hydro, liên kết Van der Waals…
Các giai đoạn của quá trình tạo màng diễn ra như sau:
Giai đoạn 1: Nước bốc hơi từ bề mặt tự do của chất lỏng (trong trường hợp này,
áp suất hơi bão hòa là trở ngại duy nhất)
Giai đoạn 2: Nồng độ tinh bột tăng lên và các hạt tinh bột dịch lại gần nhau, phân
tán sắp xếp lại thành lớp “đơn hạt”, một lớp gel nhớt sẽ tạo ra trên bề mặt màng (nước phải thắng trở lực của lớp gel này)
Giai đoạn 3: Nước nằm giữa các hạt (nước solvate hóa, liên kết bền vững hơn với
tinh bột) bắt đầu bốc hơi Lúc này nước phải thắng trở lực của lớp màng mới tạo
Trang 15ra Các hạt tiếp xúc nhiếu hơn và bắt đầu bị biến dạng Sức căng bề mặt có khuynh hướng làm biến dạng bề mặt của hệ thống
Giai đoạn 4: Các hạt bắt đầu thể hiện tính cố kết tạo nên tính chất cơ lý của màng
Giai đoạn 5: Màng được tạo thành do kết quả của việc bốc hơi nước
Màng sau khi thu được sẽ bị giảm thể tích và có độ cứng nhất định Tính chất của màng thu được còn phụ thuộc vào tốc độ bốc hơi, nồng độ dung dịch và thành phần của tinh bột
Nếu màng thu được từ dung dịch có nồng độ thấp, tốc dộ bốc hơi nhanh thì các phân tử tinh bột sẽ được định hướng mạnh mẽ làm màng thu được bền nhưng ứng suất nội sẽ rất lớn Ngược lại màng thu được từ dung dịch có nồng độ cao, tốc độ bốc hơi chậm hơn, màng được làm khô từ từ nên kém bền nhưng không có ứng suất nội Vì vậy
ta có thể thay đổi nhiệt độ điều chỉnh tốc độ bốc hơi, thay đổi độ nhớt và nồng độ tinh bột
để thu được màng có tính chất như mong muốn
Ngoài ra màng tinh bột thu được thường giòn và dễ rách là do việc hình thành cấu trúc cục bộ vững chắc trong suốt quá trình tạo thành màng Do bề mặt kim loại không có khả năng thay đổi kích thước nên sự hình thành cấu trúc cục bộ sẽ dẫn đến hình thành các ứng suất nội Nếu ứng suất này bé hơn độ bền của màng ngay tại thời điểm đó thì màng không bị rách còn ngược lại thì sẽ làm rách màng
Khắc phục hiện tượng trên bằng cách tăng cao nhiệt độ tạo màng để làm tăng tốc
độ chuyển động nhiệt gây cản trở quá trình hình thành cấu trúc cục bộ hoặc bổ sung các chất hóa dẻo (là những chất có khối lượng, kích thước nhỏ và có cùng bản chất) vào dung dịch Các chất này sẽ nằm xen kẽ giữa các phân tử tinh bột và làm giảm lực liên kết giữa chúng
1.1.2.6 Khả năng tạo sợi của tinh bột
Tinh bột cũng có khả năng tạo sợi, khả năng tạo sợi của tinh bột dựa vào sự sắp xếp và định hướng giữa các mạch amylose và amylopectin trong hồ tinh bột Tinh bột chứa nhiều amylose thì khả năng tạo sợi tốt hơn và sợi thu được có chất lượng tốt hơn
Trang 16Khả năng tạo sợi là ứng dụng quan trọng nhất của tinh bột đậu xanh và dong riềng Sợi thu được từ hai loại tinh bột này có độ dai cao và tính chất cảm quan tốt
Thuyết minh quy trình
Tinh bột nhào trộn với nước: Lượng nước càng nhiều thì mức độ trương nở tinh
bột càng cao Lượng nước thích hợp được tìm thấy thông qua thực nghiệm Quá trình trương nở đạt tối ưu khi hàm ẩm bên trong khối bột nhào (trước khi hồ hóa) khoảng 27-34% khối lượng Thời gian nhào trộn thông thường là 10-15 phút Nước sử dụng có thể ở nhiệt độ phòng hoặc nước ấm, tức khoảng 30-600C
Kết thúc quá trình mang khối bột sang giai đoạn hồ hóa tinh bột: Hơi nước được
sử dụng để hồ hoá tinh bột Hơi nước được sục vào song song hay ngay sau khi cho nước vào Hơi nước được phun vào sao cho nhiệt độ của nguyên liệu tăng lên đến 500C trong vòng 15-60s kể từ lúc phun hơi và sau đó tiếp tục tăng lên đến 85oC, thể tích tăng lên gấp
3 lần và quá trình hồ hoá xảy ra hoàn toàn Lên đến 90oC, quá trình hồ hoá kết thúc quá trình hồ hoá kết hợp với khuấy đảo liên tục Khi khối bột nhào đã hồ hoá sẽ tạo ra một khối gel đồng nhất, trong suốt Bột phải được nấu chín vì nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của miến thành phẩm Bột không nấu chín sẽ làm cho sợi miến dễ vỡ
Tinh bột
Sấy khô Đóng gói
Nhào trộn với nước Hồ hóa tinh bột Ép đùn Sấy sợ bộ
Ngâm và tẩy trắng Tráng bánh Sấy sơ bộ Cắt
Sấy khô hoàn toàn
Trang 17Bột sau khi nấu chín sẽ được cho vào máy ép đùn: Chuyển khối bột thành dạng
sợi Đường kính lỗ có thể điều chỉnh tùy theo nhu cầu sử dụng: 0,5mm, 1mm
Sau khi ép đùn mang đi sấy: Để hàm ẩm cuối cùng còn lại trong sản phẩm khoảng
12,5% hoặc thấp hơn Tác nhân sấy sử dụng có thể là bức xạ vi sóng, không khí nóng, cấp nhiệt qua điện môi, sấy tầng sôi Hàm ẩm của miến trước khi vào quá trình sấy khoảng 25-27% Khi qua giai đoạn sấy đầu tiên, hàm ẩm của miến giảm xuống 17-19%
Miến tiếp tục đựơc đưa qua giai đoạn sấy tiếp theo để giảm hàm ẩm xuống còn 12,5% Sau đó, sản phẩm được đem đi làm nguội xuống còn 28-320C để chuẩn bị đóng gói Nhiệt độ sấy là 55-65oC, thời gian sấy là 4,5-5h
Cuối cùng mang miến đi đóng gói: Miến là loại thực phẩm khô đã được xử lý
nhiệt ở 1000C qua quá trình hồ hoá bột, tráng bánh, lại không có các phụ gia như gia vị, chất béo nên vấn đề bảo quản không phức tạp lắm Nhằm kéo dài thời hạn bảo quản, nâng cao giá trị tiêu dùng, hàng hoá, miến thành phẩm cần được bao gói trong các bao màng kín PP, PE hoặc OPP Tuỳ theo yêu cầu khách, ta có thể quyết định hình thức, chất lượng bao bì cho phù hợp
1.1.2.2 Chỉ tiêu chất lượng
Tiêu chuẩn sản phẩm: theo TCVN 6348:1998
Chỉ tiêu cảm quan
Trạng thái: Sợi miến tương đối thẳng, sợi miến khô cứng và khá dòn
Màu sắc: Sợi miến trong suốt và không có đốm trắng
Kích thước: Sợi miến thường có độ dày 1,5-2,5mm, độ dài tùy trạng thái đóng gói
mà có kích thước khác nhau
Không có mùi ôi, mốc, có mùi thơm đặc trưng của nguyên liệu
Chỉ tiêu hóa lý
Hàm ẩm không quá 12,5%
Trang 18Theo: Viện Dinh Dưỡng – Bộ Y Tế ( 1994), Thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam, NXB Y
Học
1.1.4 Tình hình tiêu thụ miến tại Việt Nam
Miến dong thường được tiêu thụ mạnh tại thị trường miền Bắc Theo thống kê của www.congthuongbackan.gov.vn, 2013, các cơ sở làm miến dong riềng nổi tiếng hiện nay tại Việt Nam như: Nhất Thiện, Na rì ở Bắc Kạn, Lai Trạch ở Hưng Yên, đều có khả năng sản xuất từ 1-2,5 tấn miến mỗi ngày riêng Công ty thương mại dịch vụ Bình Liêu ở Quảng Ninh có thể sản xuất đến 60 tấn miến dong một ngày nhưng vẫn chưa đủ để cung cấp cho thị trường tiêu thụ miến hiện nay
Trước đây miến dong riềng rất phổ biến đặc biệt là tại các tỉnh miền Bắc do củ dong riềng rất hợp với khí hậu ở đây nên mang lại sản lượng cao, nhưng hiện nay khi
Trang 19miến đậu xanh ra đời với quy mô công nghiệp nên chất lƣợng cao và tiện lợi hơn thì miến đậu xanh cũng bắt đầu chiếm ƣu thế hơn
Hình 1.10 Bản đồ của một số tỉnh tiêu thụ mạnh miến sợi tại miền Bắc
và miền Trung Việt Nam
Trang 201.2 Cây khoai nưa
1.2.1 Đặc tính thực vật
Theo Trung Tâm Dữ Liệu Thực Vật Việt Nam
Tên khoa học: Amorphophallus Trifolium
Giới: Thực vật Ngành: Magnoliophyta Lớp: Liliopsida Bộ: Alismatales Họ: Araceae Chi: Amorphophallus Loài: A Trifolium
Cây và củ nưa: Là loại cây thảo có củ lớn hình cầu lõm, đường kính có thể tới
25cm, trước ra hoa, sau ra lá
Lá nưa: Mỗi lá chia làm 3 nhánh, các nhánh lại chia đốt, phiến lá xẻ thuỳ sâu hình
lông chim, các thuỳ cuối hình quả trám thuôn, nhọn đầu; cuống lá thon, dài 40-80cm, nhẵn, màu lục nâu, có điểm các chấm trắng
Hoa nưa: Cụm hoa có mo lớn, phần bao mo màu lục nhạt điểm các vết lục thẫm, ở
phía mép màu hung tím, mặt trong màu đỏ thẫm Trục hoa dài gấp đôi mo, quả mọng
Hình 1.11 Cây nưa Amorphophallus Trifolium
Trang 21
Đặc điểm sinh lý sinh thái
Khoai nưa có đặc điểm sinh lý quan trọng là một loại cây chịu được bóng, có thể trồng khoai nưa dưới các cây ăn quả trong vườn
Khoai nưa có khả năng chịu hạn cao
Không có yêu cầu khắt khe về đất trồng Tuy nhiên trên đất đồi núi còn tốt hoặc trên đất phù sa, thoát nước thì thích hợp với khoai nưa, trồng sẽ cho năng suất cao
Khoai nưa là một loại cây ưa canxi, nếu trồng trên đất chua thì nên bón thêm vôi
Khoai nưa là loại cây dễ trồng, mọc nhanh, ít bị sâu bệnh
1.2.2 Phân bố
Nơi sống và thu hái
Khoai nưa được trồng ở Nhật bản, Trung quốc, Việt Nam và Philippin Ở nước ta, các dân tộc ở một số vùng đồi núi thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà bắc… đã có tập quán trồng khoai này từ lâu đời, gần đây Trà Vinh, Đà Lạt, Huế là các tỉnh bắt đầu trồng phổ biến loại củ này, nhiều vùng nông thôn thường trồng để lấy củ làm thức ăn Củ
Hình 1.12 a) Củ nưa mọc mầm b) Mầm phát triển thành cây c) Lá nưa d) Hoa
nưa e) Củ nưa f) Mặt cắt củ nưa
Trang 22khoai nưa có kích thước lớn, nếu thu hoạch sớm khi chưa già thì bở mà ít ngứa, để quá vụ thu hoạch thì sẽ bị sượng, không bở có thể gây ngứa khi ăn.
Kỹ thuật trồng
Trồng chủ yếu bằng chồi củ: Cắt củ khoai nưa ra làm nhiều mảnh (đã lấy hết phần bột) Mỗi mảnh củ làm giống để trồng phải có một số mắt (chồi) và có một ít rễ Trước khi trồng phải chấm mặt trong của mảnh củ giống vào tro bếp
Chuẩn bị đất trồng: Cuốc đất, đập tơi nhỏ, lên luống, chạy theo đường đồng mức Hoặc cũng có thể đào từng hố 30 x 30 x 30 cm, nếu đất xấu cần phải bón lót phân chuồng hoại và phân lân Đặt các mảnh khoai xuống hố, phủ đất lên, dấn chặt, sau đó phủ thêm một lớp đất mỏng mịn Sau cùng trên mặt hố, phủ thảm mục khô để giữ ẩm và hạn chế cỏ dại mọc
Mỗi hố trồng cách nhau 50 x 50 cm, chạy theo đường đồng mức hàng cách hàng 1 x 1m
Khi dọc mọc cao 15-20 cm, làm cỏ xới và vun cao gốc tạo thành luống, chạy theo đường đồng mức
Chú ý thoát nước cho khoai sau các trận mưa lớn, không được để úng nước, nhất là giai đoạn cây đã có củ
Khi cây khoai nưa ra hoa, cắt bỏ hoa để các chất dinh dưỡng tập trung vào củ
Trong năm đầu, từ chồi mắt sẽ mọc ra một dọc lá, đến cuối năm dọc này sẽ lụi đi Vào đầu năm sau, từ củ sẽ mọc lên một cum hoa màu đỏ, khi cụm hoa tàn sẽ mọc lên một dọc mới của năm thứ 2, sau đó sẽ lụi đi vào cuối năm này
Trang 23Theo Trung Tâm Dữ Liệu Thực Vật Việt Nam, một số giống nưa tại Việt Nam
Amorphophallus coudercii Bogner (Nưa couder)
Amorphophallus corrugatus N.E Br (Nưa đầu nhăn)
Amorphophallus scaber Serebryan (Nưa trạm trổ, nưa cuống vảy)
Amorphophallus panomemsis Gagnep (Nưa thái)
Amorphophallus paeoniifolius (Nưa chuông)
Tất cả các giống nưa này hiện đang được trồng thử nghiệm tại: Cao Bằng, Đà Lạt, Trà Vinh
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hiện nay của củ nưa
1.2.2.1 Thế giới
Nghiên cứu
Các tác giả: Zhao.J, Zhang.D và cộng sự, 2010, Tạp Chí Nghiên Cứu Thực Phẩm Quốc tế 17: 113-1124: Phát triển kỹ thuật xử lý hai giai đoạn có chi phí thấp để sản xuất tinh bột khoai nưa có hàm lượng lưu huỳnh thấp
Trang 24Nghiên cứu này đề xuất một loại kỹ thuật mới xử lý hai giai đoạn với chi phí thấp nhằm sản xuất tinh bột khoai nưa tinh khiết có hàm lương lưu huỳnh thấp Kỹ thuật này kết hợp giữa kĩ thuật chế biến truyền thống khô và ướt Nghiên cứu bao gồm việc sử dụng các kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất công nghiệp Kết quả của phương pháp kết hợp giữa chế biến khô và ướt trong việc sản xuất tinh bột nưa tinh khiết là đã đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng của Tiêu chuẩn công nghiệp Trung Quốc cho bột nưa Bột nưa
thu được bằng kỹ thuật này có hiệu suất cao, hàm lượng lưu huỳnh thấp
Manzo Shimizu và cộng sự, 1973, đã được cấp bằng sáng chế của Mỹ với công trình nghiên cứu: Phương pháp tách có chọn lọc bột nưa từ củ nưa (180,405)
Sáng chế này đã đưa ra: Phương pháp chiết xuất bột nưa từ củ khoai nưa (Amorphophallus Konjac) Sản xuất bằng phương pháp nghiền ướt, bột nưa sau khi tách
ra được mang đi đánh bóng để loại bỏ bụi trong quá trình sản xuất để đáp ứng tiêu chuẩn sạch của bột nưa
Vladimir Vuksan và công sự, 2000, đã có nghiên cứu về lợi ích từ việc dùng thức
ăn lỏng có độ nhớt cao từ tinh bột củ nưa trong vấn đề về Hội chứng kháng insulin Kết quả được ghi nhận trong quá trình thử nghiệm trao đổi chất được kiểm soát của các tác giả trên Chất xơ hòa tan gần đây đã được công nhận về việc giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường và bệnh tim Để kiểm tra giả thuyết này, các tác giả trên đã nghiên cứu hiệu quả của việc bổ sung chế độ ăn giàu carbohydrate với chất xơ từ Konjac Mannan (KJM) về kiểm soát chuyển hóa trong cơ thể với các syndro kháng insulin
Ứng dụng
Theo www.konjacfoods.com, tại Nhật củ nưa được dùng để tạo thành: Konnyaku được làm từ củ nưa có vị hơi ngọt, rất giòn, ăn gần như món Thạch ở Việt Nam Người Nhật đặc biệt yêu thích các món chay làm từ Konnyaku đặc biệt là phụ nữ vì Konnyaku có khả năng làm chậm quá trình tiêu hóa giúp họ có có được cảm giác no lâu Từ Konnyaku người Nhật có thể chế biến ra rất nhiều loại thức ăn khác nhau Ngoài ra tinh bột nưa có thể dùng để uống, sử dụng như một chất làm đông đặc trong các sản phẩm: kẹo cao su, thạch rau câu, làm nước sốt trong các sản phẩm đóng hộp
Trang 251.2.2.2 Tại Việt Nam
Ứng dụng
Tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu ứng dụng của nưa trong đời sống hằng ngày nên người dân tại nơi trồng thường dùng luộc ăn hoặc gọt vỏ nấu độn với cơm Dân gian còn có thể dùng tinh bột khoai nưa để làm miến và sử dụng trong công nghiệp để hồ vải Ngoài ra tinh bột nưa còn có thể sử dụng để uống như tinh bột sắn dây
Hình 1.13 Konnyaku
Hình 1.14 Tinh bột khoai nưa
Trang 26d)
Dọc hay chột (thân) khoai nưa cũng ăn được, thường để làm dưa Củ, dọc và lá, bã bột khoai nưa là nguồn thức ăn rất tốt để chăn nuôi gia súc Một số nơi người ta còn dùng chột nưa để chế biến thức ăn Chột nưa được lột sạch vỏ từ gốc lên ngọn, xong, thái thành lát dày khoảng lóng tay, cá vụn rửa sạch để nguyên con thêm mắm muối, tiêu hành và ít thịt mỡ rồi kho vừa nước Ngoài ra, chột nưa còn có thể nấu nhiều món canh bình dân như canh chua cá trê hoặc cá tràu, canh chột nưa nấu với tôm, chột nưa hầm thịt Dưa món làm từ chột nưa ăn với cá nướng cũng rất tuyệt
Theo www.vnexpress.net ngày 16/06/2012 ông Ngô Chánh tổng giám đốc công ty Tùng Vinh, tại Huyện Hóc Môn, TpHCM đã giới thiệu thử nghiệm một số món ăn chay làm từ khoai nưa cho các nhà sư tại Tịnh xá Trung Tâm quận Bình Thạnh, TpHCM
Trang 27Công ty TNHH Long Hải, tại TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương đã sử dụng bột khoai nưa kết hợp với bột Carragennan (rau câu) theo tỷ lệ 30/60 để sản xuất thạch rau câu trái cây, khoai môn
Hình 1.16 Thạch rau câu Long Hải
Trang 28CHƯƠNG II: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 2.1 Nguyên liệu
Nguồn gốc
Tên gọi nguyên liệu thí nghiệm: Tinh bột khoai nưa
Sản xuất từ nguyên liệu: Amorphophallus Trifolium
Nguồn gốc: cơ sở sản xuất Gia Hưng 330, khóm 1, Thị Trấn Duyên Hải, Huyện Duyên Hải, Tỉnh Trà Vinh
Mô tả
Có màu trắng sáng, mùi thơm đặc trưng của khoai nưa
2.2 Phương pháp, nghiên cứu
Trang 29 Bể điều nhiệt
Tủ hút
Máy ly tâm
pH kế
Máy đo độ nhớt Broolfield
Kính hiển vi huỳnh quang Nikon
Trang 30Quá trình thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm công nghệ và phòng thí nghiệm hóa học trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM, Viện Sinh Học Nhiệt Đới 9/621 Xa Lộ Hà Nội, P Linh Trung, Q Thủ Đức, Tp HCM và kết quả phân tích thành phần hóa học được gửi tại Trung Tâm Dịch Vụ Phân Tích Thí Nghiệm TP.HCM số
2 Nguyễn Văn Thủ, P Đa Kao, Quận 1, TP.HCM,
2.2.2 Sơ đồ tóm tắt quá trình thực nghiệm
Khả năng bắt màu của tinh bột khoai nưa Tinh bột nưa
Tỷ lệ AM/AP
Trang 31Phối trộn Khảo sát tỷ lệ tinh bột và nước (g:ml)
Tráng bánh (hồ hóa) Khảo sát thời gian tráng bánh
Sấy sợ bộ (W= 24-25%)
Khảo sát nhiệt độ sấy
Thời gian sấy
Tạo hình
Sấy khô hoàn toàn (W= 12-13%)
Khảo sát nhiệt độ sấy
Thời gian sấy
Đóng gói
Độ dai Chỉ tiêu hóa lý
Sản phẩm
Đánh giá chất lượng sản phẩm
Đánh giá chất lượng nấu miến
Đánh giá tổn thất nguyên liệu trong quá trình nấu
Khả năng tạo màng
Khả năng tạo gel
Hình 2.2 Sơ đồ tóm tắt quá trình thực nghiệm
Trang 322.2.3 Sơ đồ quy trình dự kiến
Tinh bột
Phối trộn với nước
Tráng bánh
Tạo hình Sấy sơ bộ
Sấy khô hoàn toàn
Đóng gói
Sản phẩm
Hình 2.3 Sơ đồ tóm tắt quy trình dự kiến
Trang 332.3 Phương pháp phân tích
2.3.1 Phương pháp mô tả cảm quan tinh bột nưa (TCVN 6348:1998)
Màu sắc: Cho tinh bột nưa vào đĩa sứ trắng, quan sát bằng mắt và dùng từ thích
hợp diễn tả như: trắng, trắng tinh, trắng hơi ngã vàng
Mùi: Cho một ít tinh bột nưa lên đĩa tiến hành ngửi và nhận xét về mùi, dùng các
từ ngữ thơm nhẹ, thơm nồng
Trạng thái: Cho một ít tinh bột nưa lên đĩa dùng đũa đảo trộn và nhận xét trạng thái
của bột dùng các từ ngữ diễn tả như: khô mịn tơi xốp, khô hạt to tơi xốp, vón cục ẩm cao, bột bị mốc xanh
Tạp chất, sâu mọt: Cho một ít tinh bột nưa vào rây có kích thước lỗ 1mm
2.3.2 Xác định khả năng bắt màu của tinh bột nưa
Nguyên tắc: dựa vào khả năng bắt màu khác nhau của tinh bột sau khi hồ hóa
Phương pháp: cân 1g tinh bột nưa phối trộn với 100ml nước cất sau đó khảo sát khả
năng bắt màu tại các trạng thái: dung dịch tinh bột khoai nưa chưa hồ hóa nhỏ vào 5 giọt thuốc thử lygol (1), dung dịch tinh bột khoai nưa hồ hóa đến 400C nhỏ vào 5 giọt thuốc lygol sau đó tiếp tục hồ hóa đến 800C trong 5 phút (2), dung dịch tinh bột khoai nưa sau khi hồ hóa ở 800C trong 5 phút xong nhỏ vào 5 giọt thuốc thử lygol quan sát và tiến hành lắc đều, tiếp tục quan sát (3)
2.3.3 Xác định khả năng hydrat hóa và khả năng hòa tan của tinh bột khoai nưa Nguyên tắc: Độ hòa tan và khả năng hydrat hóa của tinh bột được đo bởi phương
pháp của Manfred Richter và cộng sự Đun tinh bột trong một lượng nước dư và khuấy
trộn liên tục trong nồi cách thủy ở nhiệt độ khác nhau từ 40-800C Sau đó ly tâm với tốc
Trang 34độ 3000 vòng/phút trong 10 phút Lượng tan còn lại trong dung dịch sau khi ly tâm chính
là lượng tinh bột hòa tan Từ đó có thể tính được khả năng hòa tan và khả năng hydrat hóa của tinh bột
Phương pháp: Cho 5g tinh bột vào 100ml nước, liên tục khuấy trong nồi cách thủy ở
nhiệt độ khác nhau từ 40-800C trong 30 phút và đem đi ly tâm với tốc độ 3000 vòng/phút trong 5phút Phần nước của dịch ly tâm chắt ra và lấy 50 ml cho bốc hơi khô đến khối lượng không đổi và cân Lượng tinh bột nằm trong pha nước sau khi ly tâm chính là lượng tinh bột hòa tan Lượng nước và tinh bột nằm trong phần lắng đem cân, sau đó sấy khô tinh bột lắng này đến khối lượng không đổi và cân lại để xác định khả năng hấp thụ nước của tinh bột theo các công thức sau:
Hàm lượng nước liên kết với tinh bột được tính theo công thức: W = r - a
Trong đó
r: khối lượng tinh bột lắng sau khi ly tâm
a: khối lượng tinh bột lắng sau li tâm đem sấy khô
𝑨.𝑽
m: Khối lượng dung dịch sau khi hồ hóa
b: Khối lượng tinh bột còn lại trong dung dịch sau khi ly tâm được xác định theo phương pháp sấy khô
A: Khối lượng tinh bột ban đầu
V: Thể tích dung dịch đem sấy khô
𝑨(𝟏𝟎𝟎−𝑳)
Trang 352.3.4 Chỉ tiêu hóa lý 2.3.4.1 Phương pháp xác định độ ẩm tinh bột khoai nưa (TCVN 4048:2011) Nguyên tắc: Xác định độ ẩm bằng phương pháp sấy khô đến khối lượng không đổi
Dựa vào khả năng tách rời hơi nước và các chất dễ bay hơi khỏi mẫu trong cùng một áp suất và nhiệt độ Dùng sức nóng làm bay hơi nước trong sản phẩm thực phẩm Cân sản phẩm trước và sau khi sấy, từ đó tính được độ ẩm của sản phẩm
Bảng 2.2 Bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng
hydrat hóa (W%) của tinh bột khoai nưa
Bảng 2.3 Bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng
hòa tan (L%) của tinh bột khoai nưa
Trang 36Phương pháp: Lấy một khối lượng mẫu chính xác đến 0,1g sấy trong tủ sấy điện ở
nhiệt độ 1050C trong vòng 6 giờ để loại hết nước của mẫu
Lấy 3 mẫu tinh bột nưa cho vào 3 chén sứ đã sấy trước và cân sẵn Sau đó cho mẫu cần xác định độ ẩm vào tủ sấy và sấy trong vòng 6 giờ đến khi khối lượng không thay đổi, lấy
ra cho vào bình hút ẩm đến khi nguội rồi mang ra cân chính xác đến 0,1g
Độ ẩm X (%) được tính bằng công thức:
X = *100
)PP(
)PP(
3 1
2 1
Trong đó: P1 : khối lượng chén cân và tinh bột trước khi sấy
P2 : khối lượng chén cân và bột sau khi sấy
P3 : khối lượng chén cân khi không có bột
chén P 3 ( g)
Khối lượng chén và tinh bột trước khi sấy
P 1 (g)
Khối lượng chén và tinh bột sau khi sấy
Nguyên tắc: dùng phương pháp chuẩn độ với dung dịch chuẩn NaOH 0,1N với chỉ thị
Phenolphthalin (PP) 1% để trung hòa lượng acid có trong mẫu
Bảng 2.4 Bố trí thí nghiệm xác định độ ẩm tinh bột khoai nưa