LỜI CẢM ƠN Để góp phần tổng hợp kiến thức đã học và bước đầu làm quen với thực tiễn, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Ng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
PHẠM THỊ LOAN
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI
LAI 2 MÁU TẠI TRẠI LỢN XÃ LƯƠNG SƠN,
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN.”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Lớp: K43 – Chăn nuôi Thú y Khoá học: 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS Phạm Thị Phương Lan
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để góp phần tổng hợp kiến thức đã học và bước đầu làm quen với thực
tiễn, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú
y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em đã tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ngoại lai 2 máu tại trại lợn xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên.”
Trong quá trình học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và thực hiện đề tài này em đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ phía nhà trường, thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y Em xin bày tỏ lòng biết
ơchân thành và sâu sắc tới thầy cô giáo
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận
tình của cô giáo Ths Phạm Thị Phương Lan em đã hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình Qua đây em xin chân thành cảm ơn cô giáo Ths Phạm Thị
Phương Lan đã cho em những kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể công nhân viên tại trại lợn ngoại ông Hùng – Chi đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã ủng hộ, cổ vũ
em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin chúc thầy giáo, cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Phạm Thị Loan
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.2 Kết quả phục vụ sản xuất 37
Bảng 2.1: Kết quả điều tra số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại từ năm 2012 đến năm 2014 38
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn mẹ 39
Bảng 2.3 Chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái 41
Bảng 2.4 Các chỉ tiêu về lợn con của lợn nái lai 43
Bảng 2.5 Độ đồng đều của lợn con qua các giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 44
Bảng 2.6: Tiêu tốn thức ăn /1 kg tăng khối lượng 45
Bảng 2.7 Tình hình mắc bệnh của lợn nái và lợn con 46
Bảng 2.8 Kết quả công tác điều trị bệnh 47
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài: 1
1.3 Ý nghĩa đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn nái hậu bị 3
2.1.2 Các công thức lai và công tác chăn nuôi lợn ngoại hiện nay 4
2.1.3 Một số đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 5
2.1.4 Đặc điểm sinh sản ở lợn nái 10
2.1.6 Đặc điểm của giống lợn nái lai hai máu nuôi tại trại lợn ngoại xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên 19
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 20
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.5 Chỉ tiêu theo dõi 23
3.6 Phương pháp theo dõi và tính toán các chỉ tiêu 24
Trang 63.7 Phương pháp xử lý số liệu 26
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 28
4.1.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất 28
* Công tác tiêm phòng 30
4.1.2 Kết quả phục vụ sản xuất 37
4.2 Kết quả nghiên cứu 38
4.2.1 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái lai 2 máu nuôi tại trại lợn xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên 38
4.2.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục trên đàn lợn mẹ 39
4.2.3 Khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 40
4.2.4 Nghiên cứu các chỉ tiêu về lợn con 43
4.2.5 Tỷ lệ đồng đều của lợn con qua các giai đoạn 44
4.2.6 Tiêu tốn thức ăn /1 kg tăng khối lượng 45
4.2.7 Tình hình mắc bệnh của lợn nái và lợn con 46
4.2.8 Công tác điều trị bệnh lợn nái và lợn con 47
PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Tồn tại 50
5.3 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 7PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam 80% dân số làm Nông nghiệp, ngành chăn nuôi ở nước ta đã
và đang được quan tâm phát triển Trong các ngành chăn nuôi thì chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Hiện nay thịt lợn chiếm khoảng 80% nhu cầu về thịt cho tiêu dùng trong nước
Do nhu cầu tiêu thụ thịt trong nước đang tăng nhanh, đặc biệt là thịt nạc, do sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng và giá cả của lợn giống, lợn hơi
và các sản phẩm chế biến từ thịt lợn trên thị trường trong nước và quốc tế, nhiều hộ nông dân, trang trại và xí nghiệp chăn nuôi lợn ở nước ta đã cố gắng chuyển phương thức chăn nuôi truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vốn có và nguồn thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp
Trong quá trình phát triển của ngành chăn nuôi lợn việc nâng cao chất lượng con giống đã và đang tích cực đẩy mạnh nhằm nâng cao chất lượng và năng suất của đàn lợn nước ta thêm một bước mới Các giống lợn ngoại thuần
và các tổ hợp nái lai 02 máu ngoại đã được sử dụng để tạo ra các con lai thương phẩm 2, 3 và 4 máu ngoại nuôi thịt Do đó, nhập ngoại các giống lợn cao sản, lai tạo các giống mới là yêu cầu cấp thiết và cấp bách hiện nay
Xuất phát từ xu thế và thực tế trên, nhằm nâng cao kiến thức cũng như góp phần đẩy mạnh công tác chăn nuôi lợn ở Việt Nam, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ngoại lai 2 máu
tại trại lợn xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên.”
1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái tại trại lợn ngoại xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên
Trang 9PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn nái hậu bị
Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì có biển hiện về tính dục Lợn nái khi thành thục về tính sẽ xuất hiện các triệu chứng động dục và kèm theo quá trình rụng trứng Đồng thời lợn nái hậu bị vẫn tiếp tục sinh trưởng để thành thục về thể vóc Tuy nhiên trong giai đoạn xảy ra chu kỳ
động dục của lợn nái hậu bị thường bị giảm mức tăng trọng so với bình
thường Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái bao gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung (cổ thân và sừng tử cung), âm đạo và các cơ quan bên ngoài
Buồng trứng: khác so với dịch hoàn, buồng trứng nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Buồng trứng lợn cái có hình chùm nho, khối lượng một buồng trứng là 4 – 7g Ở lợn trưởng thành buồng trứng có 10 – 25 nang thành thục, đường kính là 8 – 12mm, thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng đường kính 5 – 10mm Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [6] Buồng trứng thực hiện 2 chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh
hormone sinh dục cái)
Ống dẫn trứng: được chia thành 4 đoạn: Tua diềm, phễu, phồng ống
dẫn trứng và eo Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo một hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời Phồng ống dẫn trứng là nơi xảy ra sự thụ tinh Ống dẫn trứng tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho các giao tử và sự phát triển ban đầu của phôi
Tử cung: Gồm có 2 sừng, 1 thân và 1 cổ tử cung Tử cung lợn thuộc loại 2 sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có độ dài đến 1m Độ dài này thích hợp cho việc mang thai nhiều Ở lợn trưởng thành, trung bình các sừng
tử cung dài 40 – 45cm, thân cử cung 5cm, cổ tử cung dài 10cm và có đường kính ngoài 2 – 3cm Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung và các
Trang 10chất dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trinh sản xuất bao gồm các chức năng sau: Vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng của thể vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ Nguyễn Đức Hùng và
cs (2003) [6]
Âm đạo: Có cấu tạo như một ống cơ có thành dầy, dài 10 – 12cm Đây
là cơ quan giao cấu của lợn nái, là ống thải dịch cổ tử cung, nội mạc tử cung
và ống dẫn trứng, đồng thời cũng là đường cho thai ra ngoài khi đẻ
Bộ phận sinh dục bên ngoài: Là phần có thể sờ thấy và quan sát được,
bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình
2.1.2 Các công thức lai và công tác chăn nuôi lợn ngoại hiện nay
Trang 112.1.3 Một số đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
* Sự thành thục về tính và thể vóc
Sự thành thục về tính Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ về tính dục và có khả năng sinh sản Khi gia súc thành thục về tính, bộ máy sinh dục
đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố, con vật bắt đầu xuất hiện những phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục,
con đực có hiện tượng giao phối
Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (2001) [12], cho biết lợn Landrace thành thục về tính là 213,1 ngày
Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như
giống, chế độ dinh dưỡng, nhiệt độ và độ ẩm môi trường, mùa vụ, mật độ nuôi nhốt…
- Giống: giống là yếu tố quyết định đến sức sinh sản của lợn nái Các giống khác nhau thì cho năng suất sinh sản khác nhau.Tuổi thành thục sinh dục của lợn ngoại so với lợn nội thuần chủng muộn hơn thường ở tháng thứ 6
đến tháng thứ 7 (180 - 210 ngày), Võ Trọng Hốt và cs (2000) [5] Trong cùng
một giống nhưng khi phối đồng huyết thì thành thục về tính muộn hơn
- Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Anderson (1967) [13], tiến hành thí nghiệm mức ăn hạn chế về năng lượng đã làm chậm tuổi thành thục về tính 16 ngày
- Nhiệt độ và độ ẩm môi trường: nhiệt độ và độ ẩm cao sẽ làm chậm quá trình động dục của lợn
Trang 12- Mùa: Lợn cái sinh ra trong mùa xuân thành thục sớm hơn lợn cái sinh
ra ở các mùa khác nhau Theo Lê Xuân Cương (1986) [3], mùa hè lợn cái thành thục tính dục chậm hơn so với mùa thu - đông
- Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng
- Ảnh hưởng của sự tiếp xúc với lợn đực: Sự kích thích của con đực có ảnh hưởng đến tuổi thành thục tính dục của lợn cái Theo Paul Hughes và
James (1996) [20], lợn cái ngoài 90 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc
2 lần/ngày với lợn đực mỗi lần 15 - 20 phút sẽ làm tăng nhanh hoạt động tính dục và tới 83% lợn cái động dục lần đầu Thời gian tiếp xúc và tuổi của lợn cái lúc tiếp xúc lợn đực có ý nghĩa quan trọng đến sự đáp ứng được thu nhận,
do vậy cần phải theo dõi chặt chẽ đàn lợn cái hậu bị để có kế hoạch cho tiếp xúc với lợn đực hợp lý
Sự thành thục về thể vóc Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, xương đã được cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn
định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về
tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên
Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho
phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối
* Chu kỳ động dục
Trang 13Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó
được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính Chu kỳ tính được
bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi
cơ thể cái già yếu Quá trình này lặp lại theo một quy trình nhất định với thời gian trung bình là từ 18 đến 22 ngày và được chia thành 4 giai đoạn
Giai đoạn trước động dục (kéo dài 2 – 3 ngày)
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục Ở giai đoạn này các noãn bao
phát triển thành thục và nổi rõ lên bề mặt buồng trứng Buồng trứng to hơn bình thường các tế bào ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục tăng tiết dịch nhày và xung huyết nhẹ, hệ thống tuyến ở cổ tử cung tiết dịch nhày, các noãn bao chín và tế bào trứng tách ra ngoài, tử cung co bóp mạnh, niêm dịch đường sinh dục chảy nhiều, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Các biến đổi trên tạo điều kiện cho tinh trùng tiến lên trong đường sinh dục cái gặp tế bào trứng và tiến hành thụ tinh
Biểu hiện bên ngoài: Âm đạo sưng to, đỏ hồng, không có hoặc có ít nước nhờn không cho đực nhảy hoặc bỏ chạy khi ta để tay vào hông Ở giai
đoạn này lợn thường bỏ ăn hoặc ít ăn, hay kêu rít
Giai đoạn động dục (kéo dài 2 – 3 ngày) Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm
hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên,
Trang 14phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang mép bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống sẵn sàng chịu đực Nếu ở giai đoạn này trứng gặp được tinh trùng, hợp tử
được hình thành thì chu kỳ tính ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai
và cho đến khi đẻ xong một thời gian nhất định thì chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại Trường hợp gia súc không có thai thì chuyển sang giai đoạn tiếp
Giai đoạn sau động dục (kéo dài 1 ngày)
Ở giai đoạn này toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng
dần dần trở lại trạng thái hoạt động sinh lý bình thường Các phản xạ về hưng phấn, về sinh dục dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh Trên buồng trứng thể vàng xuất hiện và bắt đầu tiết progesteron Progesteron tác động lên trung khu thần kinh làm thay đổi tính hưng phấn, làm kết thúc giai đoạn động dục, niêm mạc của toàn bộ đường sinh dục ngừng tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại
Giai đoạn nghỉ ngơi
Đây là giai đoạn dài nhất của chu kỳ sinh dục Thời kỳ này con vật
hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục dần dần trở lại trạng thái yên tĩnh sinh lý bình thường Trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng, toàn bộ cơ quan sinh dục dần dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo
Chu kỳ động dục của lợn cái thay đổi theo giống, điều kiện nuôi dưỡng, tuổi và mùa vụ Burger (1952) [14] xác định độ dài chu kỳ động dục ở lợn Large White là 20,9 ngày, còn ở lợn Large Black là 21,7 ngày Lợn cái hậu bị thường có chu kỳ động dục dài hơn lợn nái cơ bản Nếu nuôi dưỡng và chăm
Trang 15sóc kém thì chu kỳ sẽ kéo dài hơn Mùa hè chu kỳ động dục của lợn thường kéo dài hơn những mùa khác
Thời gian động dục của lợn nái phụ thuộc vào giống, tuổi và điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc Thời gian động dục của lợn nái ngoại trung bình 5 ngày, lợn Ỉ là 5, 6 ngày Lê Xuân Cương (1986) [3]
* Cơ chế động dục của lợn nái Khi lợn đến tuổi thành thục về tính, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn,… và các kích thích nột tiết đi theo dây thần kinh đến
vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus), tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors) có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH (Follicle Stimulating Hormone) làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục thì thượng bì bao noãn tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn cái có biểu hiện động dục ra bên ngoài Cuối chu kỳ tuyến yên tiết ra LH (Luteinizing Hormone) làm cho trứng chín và rụng Sau khi trứng rụng sẽ hình thành thể vàng buồng trứng, thể vàng buồng trứng tiết ra Progesteron có tác dụng kích thích sự tăng sinh của màng nhầy tử cung chuẩn bị cho hợp tử làm tổ trong sừng tử cung, đồng thời ức chế tuyến yên sinh ra FSH, ức chế sự thành thục của bao noãn trong buồng trứng làm cho bao noãn không phát dục Ngoài ra, còn kích thích tuyến yên tiết Prolactin, kích thích tuyến vú phát triển Nếu lợn nái có chửa thì thể vàng sẽ tiêu biến sau khi lợn đã đẻ và nuôi con, lúc này tuyến yên không bị Progesteron ức chế nữa nên lại sản sinh ra FSH, bao noãn mới lại bắt đầu phát dục và đi vào một chu kỳ mới Nếu lợn nái không có chửa thể vàng sẽ tồn tại khoảng 17 ngày sẽ thoái hóa và bao noãn mới lại phát dục và đến khoảng 21 ngày lại xuất hiện một chu kỳ động dục mới
* Biểu hiện động dục ở lợn nái Thời gian động dục của lợn nái nội từ 3 – 4 ngày, của lợn nái ngoại 4 –
5 ngày, của nái hậu bị ngoại có thể dài hơn từ 5 – 7 ngày
Trang 16Trước động dục
- Thay đổi tính nết, kêu rít
- Bỏ ăn hoặc kém ăn
- Phá chuồng, dũi đất
- Bồn chồn, tai đuôi ve vẩy
- Thích gần lợn đực
- Thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên nó
- Âm hộ đỏ tươi sưng mọng có nước nhờn chảy ra Chịu đực (mê ì)
choãi rộng ra, lưng cong võng xuống
- Có hiện tượng són đái
- Âm hộ chuyển màu sẫm hoặc mận chín, chảy dịch nhờn
- Khi lợn đực lại gần thì đứng im cho phối
- Thời gian này kéo dài khoảng 2 ngày (lợn ngoại), 28 – 30 giờ (lợn nội) Nếu được phối giống vào giai đoạn này thì tỷ lệ thụ thai cao
Sau chịu đực
2.1.4 Đặc điểm sinh sản ở lợn nái
* Các chỉ tiêu theo dõi sinh sản ở lợn nái Tuổi động dục lần đầu
Là tuổi khi lợn nái có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu tiên khác nhau phụ thuộc vào giống lợn Lợn nội có tuổi động dục lần
đầu sớm hơn lợn ngoại
Theo Phùng Thị Vân và cs (2001) [12], cho biết tuổi động dục lần đầu của lợn Landrace là 219,4 ± 4,09 ngày
Tuổi phối giống lần đầu
Trang 17Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta chưa tiến hành giao phối cho lợn nái vì ở thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường tiến hành giao phối cho lợn nái vào chu kỳ thứ 2 hoặc thứ 3
Tuổi phối giống lần đầu được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần
đầu với thời gian động dục của một hoặc hai chu kỳ nữa hoặc tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu
Tuổi đẻ lứa đầu Sau khi thụ thai, lợn chửa trung bình 114 ngày Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên
Số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ/lứa đẻ:
Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ
nhiều hay ít con của giống, trình độ kỹ thuật của dẫn tinh viên và điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái chửa Trong vòng 24 giờ sau khi sinh ra, lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống (quá bé), không phát dục hoàn toàn, dị dạng … thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, do lợn con mới sinh ra, chưa nhanh nhẹn, nên dễ bị lợn mẹ đè chết
Bình quân số lợn con đẻ ra còn sống/lứa: là tỷ lệ giữa tổng số lợn con
đẻ ra còn sống trong vòng 24 giờ kể từ khi lợn nái đẻ xong của tất cả các lứa
đẻ trên tổng số lứa đẻ
Số lợn con để lại nuôi
Số lợn con đẻ ra con sống để lại nuôi: Đối với lợn ngoại: khối lượng > 0,8kg, đối với lợn nội: khối lượng > 0,3 kg
Tỷ lệ sống: tỷ lệ sống của lợn con đến 24 giờ là tỷ lệ giữa số lợn con sống đến 24 giờ trên số con đẻ ra còn sống
Số lợn con cai sữa/lứa
Đây là chỉ tiêu kinh tế quan trọng, quyết định năng suất trong chăn nuôi
lợn nái Nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết
Trang 18sữa, khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con
Đó là số con còn sống đến khi cai sữa Thời gian cai sữa dài hay ngắn
phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật chế biến thức ăn và kỹ thuật chăn nuôi Hiện nay những cơ sở chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, người ta tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 21 ngày tuổi hoặc 28 ngày tuổi Còn trong chăn nuôi đại trà thường tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 45 ngày tuổi, thậm trí là 56 ngày tuổi Nếu chúng ta tiến hành cai sữa sớm cho lợn con sẽ góp phần tăng số lứa đẻ trên năm của lợn nái và hạn chế một số bệnh hay lây từ lợn mẹ sang lợn con
Trong một số trường hợp số lợn con sơ sinh nhiều nhưng người ta chỉ giữ lại một số lượng nhất định để nuôi nhằm mục đích đảm bảo cho sự phát triển bình thường của lợn con Thông thường tỷ lệ sống càng cao càng tốt
Số con cai sữa/nái/năm
Là chỉ tiêu tổng quát để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Chỉ tiêu này phụ thuộc vào thời gian cai sữa lợn con và số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa đẻ Nếu cai sữa sớm sẽ tăng số lứa đẻ/nái/năm và tăng số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa đẻ thì số lượng lợn con cai sữa/nái/năm sẽ cao
Trang 19Theo nghiên cứu của Đặng Vũ Bình (1999) [1], chỉ tiêu năng suất sinh sản phân biệt rõ nét qua giống là: tương ứng với các giống Móng Cái, Yorkshire và Landrace tuổi đẻ lứa đầu lần lượt là: 272,3 ngày; 418,5 ngày; 409,5 ngày
Tuổi phối giống lần đầu Tuổi và khối lượng phối giống lần đầu thích hợp phải đảm bảo lợn thành thục về tính dục và thể vóc Nhìn chung trong chăn nuôi lợn nái, tuổi
đưa vào sử dụng của lợn nái càng sớm càng tốt vì xét về mặt kinh tế sẽ làm
giảm chi phí chăn nuôi
Nếu cho lợn phối giống lứa đầu quá sớm thì tuổi lợn quá nhỏ, chưa
đảm bảo thành thục về tính và thể vóc nên khả năng sinh sản còn kém, chưa đảm bảo sẵn sàng cho việc nuôi bào thai và nuôi con
Nếu phối giống lứa đầu quá muộn thì trước tiên làm giảm hiệu quả kinh
tế vì con nái nói chung chỉ sử dụng đến một độ tuổi nhất định, nếu sử dụng nái muộn thì thời gian sử dụng nái ít nên khả năng sinh sản của cả đời nái thấp và mang lại hiệu quả kinh tế không cao
Phương pháp nhân giống và kỹ thuật phối giống Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất sinh sản khác nhau Nếu nhân giống thuần thì năng suất sinh sản của nái cũng chính là năng suất sinh sản của giống Nếu lai giống thì năng suất sinh sản sẽ cao hơn hai giống gốc, đảm bảo nếu giống gốc càng thuần mà sử dụng vào lai giống thì cho ưu thế lai càng cao Để nâng cao tỷ lệ thụ thai cũng như số con đẻ ra và khối lượng sơ sinh người ta có thể dùng phương pháp phối kép, phối lặp
Kỹ thuật phối giống cũng chính là việc xác định đúng thời điểm cần phối giống, thao tác thực hiện phối giống Nếu xác định đúng thời điểm phối giống, thực hiện phối giống đúng thao tác thì sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và tăng
Trang 20số con đẻ ra/ổ Nếu phối giống quá sớm hoặc quá muộn đều làm cho tỷ lệ thụ thai và số con sơ sinh/ổ giảm sút nhanh chóng
Thời gian nuôi con Thời gian nuôi con dài hay ngắn cũng ảnh hưởng đến mức độ hao hụt của con nái, do đó ảnh hưởng tới chất lượng lứa đẻ Nếu phải nuôi con trong thời gian dài thì sau khi cai sữa con nái cần thời gian dài hơn để phục hồi lại trạng thái sức khoẻ cho lứa đẻ tiếp theo
Chế độ dinh dưỡng Dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp và cũng quyết định trực tiếp tới năng suất sinh sản của lợn nái thông qua khả năng sinh sản và chất lượng đàn con
Có thể nói yếu tố dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định phần lớn năng suất sinh sản lợn nái và lợn hậu bị có chửa cần cung cấp đủ về số lượng và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả dinh dưỡng tốt Năng lượng, protein, vitamin, khoáng là các nhân tố chính quan trọng đối với chăn nuôi lợn nói chung và đặc biệt chăn nuôi lợn nái mang thai Bởi vì nhu cầu dinh dưỡng lúc này không chỉ cho một cơ thể sống mà còn liên quan đến sự phát triển của bào thai, chất lượng đàn con phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ dinh dưỡng của lợn mẹ
Thời tiết và khí hậu Với lợn nói riêng và các loài gia súc nói chung thì điều kiện khí hậu thời tiết, mùa vụ (nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, vv…) đều ảnh hưởng rất lớn đến sức sinh sản của con cái Nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao sẽ gây stress nhiệt cho con vật do đó ảnh hưởng không tốt Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn tới sức sinh trưởng của lợn, đặc biệt là lợn nái trong giai đoạn mang thai
* Hoạt động sinh dục của lợn nái Chu kỳ động dục
Trang 21Sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không
có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh
lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể cái già yếu Quá trình này lặp lại theo một quy trình nhất định với thời gian trung bình là từ 18 đến 22 ngày
Mang thai Khi tế bào trứng được thụ tinh hợp tử hình thành và làm tổ trên niêm mạc cổ tử cung Lúc đó có phản ứng miễn dịch dung nạp xảy ra trong cơ thể lợn nái Suốt cả thời kỳ mang thai thể vàng phát triển, tiết ra hormone progesterone cần thiết để duy trì sự có chửa trong suốt thời gian có chửa là
114 ngày Tuy nhiên đến khoảng 112 - 114 ngày sự phát triển của bào thai hoàn thiện và bắt đầu tiết ra Cortiroids Những hormone này sẽ tác động lên màng nhau của lợn mẹ làm tiết Oestrogen, hormone này kích thích tử cung
phá hủy thể vàng, kết quả là Progesterone trong máu giảm nhanh, tử cung co bóp mạnh và lợn mẹ đẻ sau 20 đến 30 giờ
Tiết sữa Sản sinh sữa Trong thời kỳ chửa các hormone prolactin tăng tiết và tác động tăng sinh tuyết vú, kết quả tuyết vú phát triển và tăng thể tích theo thời gian phát triển của bào thai Sau 3 tuần chửa vú bắt đầu căng lên, các tuyến vú phát triển mạnh cho đến trước lúc đẻ 3 tuần, hormone prolactin tăng tiết cùng với
sự tác động của nhau thai thông qua Progesterone Sữa bắt đầu được sản sinh trong các tuyến vú Quá trình sinh tổng hợp protein sữa, đường sữa, mỡ sữa
Trang 22và các thành phần dinh dưỡng khác từ máu Sự hình thành sữa được ưu tiên trong cơ thể lợn mẹ Quá trình hình thành này tùy thuộc hoàn toàn vào lượng máu đi qua bầu vú chính vì vậy ở những tuyến vú có động mạch lớn thì núm
vú đó có sản lượng sữa cao
Tiết sữa Sau khi hình thành và tích trữ ở các túi sữa Sau khi đẻ lợn con tìm vú
mẹ và thúc bú kích thích lợn mẹ tiết sữa, sự tiết sữa này làm ngăn cản việc tiết hormone GnHR, vì vậy ức chế sự phát triển của bao não Tuy nhiên sự ức chế này cũng dần dần được giải phóng, ngay sau khi cai sữa và ngừng bú, hoạt
động của GnHR gia tăng và các bao não bắt đầu phát triển Điều này tương tự
như giai đoạn bắt đầu của bao não trong chu kỳ sinh sản của lợn nái Vì vậy, phần lớn sự động dục và rụng trứng của lợn nái xảy ra từ 5 – 7 ngày sau khi cai sữa lợn con
Năng suất sữa Năng suất sữa phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh và nột tiết Sản lượng sữa cũng phụ thuộc vào các yếu tố khác như: số lợn con để lại nuôi, dinh dưỡng cho lợn mẹ, chu kỳ tiết sữa, tuổi và lứa đẻ, giống, thời tiết và khí hậu
* Những biện pháp nâng cao sức sinh sản của lợn nái
Sử dụng đực thí tình Cho lợn đực thí tình tiếp xúc với lợn nái lâu không động dục và lợn nái hậu bị Nước bọt của lợn đực chứa chất Pheromon sẽ kích thích lợn nái động dục Lợn đực thí tình sử dụng phải trên 10 tháng tuổi
Lợn cái hậu bị ngoại 90kg khối lượng cơ thể, ở 165 ngày tuổi khi cho lợn đực tiếp xúc 2 lần/ngày, mỗi lần 15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái động dục lần đầu
Ghép ổ
Trang 23Là biện pháp nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái trong chăn nuôi Chúng ta chỉ thực hiện ghép ổ khi có 2 hay nhiều lợn nái đẻ ít con trong khoảng thời gian gần nhau Phải thực hiên nguyên tắc khi ghép ổ là: ghép ổ vào ban đêm, ghép trước khi thả chung, sử dụng dầu thơn để đánh lừa con mẹ mùi của con con…
Cai sữa sớm cho lợn con
Đây là biện pháp có hiệu quả nhất để nâng cao năng suất số lứa đẻ/năm
của lợn nái, có tác dụng nâng cao số lứa đẻ, sinh trưởng của lợn con, hiệu quả chăn nuôi cao… Thời gian cai sữa thì tùy thuộc vào điều kiện của mỗi cơ sở chăn nuôi, thông thường thì cai sữa vào khoảng từ 21 - 28 ngày tuổi
Sử dụng kích tố kích thích lợn nái động dục
Là biện pháp kích thích lợn nái không động dục hoặc lợn nái động dục nhưng phối giống không đạt Nguyên nhân là rối loạn tuyến sinh dục do quá thừa hoặc quá thiếu dinh dưỡng, khí hậu thay đổi đột ngột
Thường sử dụng 2 loại kích tố là huyết thanh ngựa chửa (PMSG) hoặc kích tố nhau thai (HCG)
Xoa luyện bầu vú Việc này có tác dụng thúc đẩy sự phát dục của bầu vú và cơ quan sinh dục, kích thích lợn nái động dục Khi xoa bóp các kích thích được truyền đến dây thần kinh giao cảm, kích thích tuyến yên tiết hormone sinh dục
2.1.5 Quá trình sinh trưởng và phát dục của lợn ở giai đoạn bú sữa
* Đặc điểm về sinh trưởng và phát dục
Lợn con khi mới sinh ra chưa thành thục về sinh lý và thể vóc, có rất nhiều sự thay đổi diễn ra trong thời kỳ đầu tiên sau khi sinh để phù hợp cho cuộc sống của nó sau này Có một số thay đổi và các yếu tố ảnh hưởng đến
sự thay đổi đó như khối lượng sơ sinh và số con đẻ ra trên ổ, lượng đường glucoza trong máu, vấn đề điều tiết thân nhiệt, khả năng tiêu hóa và hấp thụ
Trang 24thức ăn, sự thay đổi về thành phần hóa học của cơ thể theo tuổi… Đây là những sự thay đổi quan trọng trong những ngày đầu tiên của lợn sau khi sinh cần phải nghiên cứu đầy đủ và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng của lợn con Lợn con sinh trưởng và phát triển và phát dục nhanh, nên khả năng tích lũy dinh dưỡng rất mạnh
* Đặc điểm của cơ quan tiêu hóa Tiêu hóa ở miệng
Ở lợn mới sinh, những ngày đầu hoạt tính amylase của nước bọt
cao Nước bọt ở tuyến mang tai chứa 0,6 – 2,6% vật chất khô Tùy lượng thức
ăn, lượng tiết khác nhau, thức ăn có phản ứng acid yếu và khô thì nước bọt
tiết ra mạnh, thức ăn lỏng thì giảm hoặc ngừng
Tiêu hóa ở dạ dày
Dạ dày lợn gồm 5 vùng: vùng thực quản nhỏ, vùng mang nang, vùng thương vị, vùng thân vị, vùng hạ vị Trong 5 vùng dạ dày thì vùng hạ vị và thân vị là nơi tiết dịch tiêu hóa chủ yếu của dạ dày Thành phần dịch tiêu hóa
ở dạ dày bao gồm: 99,5% là nước, pepsinogen, các muối vô cơ, chất nhầy,
acid lactic, creatinin, ATP và đặc biệt là sự hiện diện của HCl HCl làm cân bằng pH trong dạ dày, làm trương nở protein để làm tăng bề mặt tiếp xúc với enzyme pepsin (Lê Hồng Mận, 2002) [8]
Tiêu hóa ở ruột Lợn sơ sinh có dung tích ruột non khoảng 100 ml, 20 ngày tuổi tăng 7 lần Ruột già của lợn sơ sinh có dung tích 40 - 50 ml, 20 ngày là 100 ml Lợn tiêu hoá ở ruột nhờ tuyến tụy, enzyme trypsine trong dịch tụy thủy phân protein thành acid amin Các enzyme tiêu hoá trong dịch ruột lợn con gồm: amino peptidase, dipeptidase, lipase và amylase
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Ở lợn sơ sinh quá trình hấp thụ Immunoglobulin và những tiểu phần protein
Trang 25khác của sữa mẹ bằng con đường chủ động chọn lọc hoặc bằng ẩm bào Nhờ đó Immunoglobulin ngay những giờ đầu sau khi đẻ đã tăng trong máu lợn con (từ 3,5 – 7%) Những tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu không gây nguy hiểm với lợn con vì trong thời gian này lợn con không hình thành kháng thể bản thân và protein đối với chúng không phải là kháng nguyên Sự thành thục
về miễn dịch học của lợn con xuất hiện sau một tháng tuổi, ở độ tuổi này khả năng các hợp chất đại phân tử thấm qua màng ruột lợn con hầu như bị ngừng hoàn toàn Tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng được tiến hành chủ yếu ở dạ dày và ruột non Trương Lăng (2003) [7] Trần Thị Dân (2004) [4] cho rằng sự hấp thu sữa đầu của lợn con đạt hiệu quả cao nhất trong 12 giờ đầu, thoạt đầu lợn con hấp thu loại kháng thể IgG từ huyết thanh lợn mẹ, đây là loại kháng thể hữu hiệu giúp lợn con tăng sức đề kháng, kháng thể này được phát hiện trong máu lợn con vào 3 giờ sau khi sinh Nếu lợn con được bú đầy đủ và hấp thụ tốt kháng thể từ sữa đầu thì rong 24 giờ, hiệu giá kháng thể trong máu lợn con gần bằng hiệu giá kháng thể lợn mẹ Sau thời gian 48 giờ, lợn con không còn hấp thụ tốt được kháng thể IgG thì IgA được thay thế và là kháng thể chính của sữa, loại kháng thể này sẽ bảo vệ niêm mạc ruột lợn con khỏi bị tấn công bởi vi sinh vật có hại
2.1.6 Đặc điểm của giống lợn nái lai hai máu nuôi tại trại lợn ngoại xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên
Giống nái lai hai máu nuôi tại lợn ngoại Hùng – Chi xã Lương Sơn, thành phố Thái nguyên do tập đoàn CP tại Việt Nam và công ty thức ăn chăn nuôi Green Feed cung cấp Lợn được lai giữa Landrace và Yorkshire
Lợn có ngoại hình tương đối giống lợn Landrace và Yorkshire thuần chủng: toàn thân toàn màu trắng, đầu nhỏ dài, tai to hướng về trước (có con tai cúp), thân dài, chân cao to vững chắc vận động tốt, tầm vóc lớn (hậu bị có khối lượng từ 120 - 150kg, lợn nái rạ có khối lượng từ 180 - 350kg)
Trang 26Khả năng sinh sản của lợn tốt, trung bình 9 - 13 con/lứa, có lứa đỉnh
điểm đạt từ 20 – 24 con, lợn con cai sữa 21 ngày trọng lượng đạt từ 6 – 8
kg/con
Lợn có khả năng thích nghi tốt với điều kiện của Việt Nam, yêu cầu về chăm sóc không quá cao so với lợn ngoại thuần
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Từ năm 1994 nước ta có chủ trương “nạc hoá đàn lợn” ở các tỉnh phía Bắc, từ đó bắt đầu phát triển chăn nuôi lợn ngoại rộng khắp cả nước Hai giống lợn Landrace và York shire có khả năng sinh sản tốt, vì vậy được nghiên cứu chọn lọc theo định hướng năng suất sinh sản cao tạo ra con lai (Landrace x York shire) và (York shire x Landrace) Hiện nay việc lai tạo giống đã sử dụng nhiều ở các trang trại chăn nuôi lợn
Nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs (1995) [2] cho biết năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm Giống gia súc Hà Tây, khối lượng phối giống lần đầu của hai giống này là 99,3 và 100,2 kg, tuổi phối giống lứa đầu của hai giống này là 254,1 và 282,0 ngày, tuổi đẻ lứa đầu 367,0 và 396,3 ngày Số con đẻ ra còn sống là 8,2 và 8,3 con/ổ; khối lượng sơ sinh/ổ là 9,12 và 10,89 kg; khối lượng 21 ngày tuổi/ổ là 40,7 và 42,1 kg
Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản thể hiện ở thông báo của Đặng
Vũ Bình (1999) [1] Ở lợn Yorkshire tuổi đẻ lứa đầu 418 ngày tuổi; số con đẻ ra còn sống 9,77 con/ổ; số con 21 ngày tuổi là 8,61 con/ổ Số con 35 ngày tuổi là 8,15 con/ổ và khối lượng lúc 35 ngày tuổi là 8,09 con Ở lợn Landrace các chỉ tiêu tương ứng là 9,86 con/ổ, 8,68 con/ổ; 8,22 con/ổ và 6,2 kg
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) [10] tại Xí nghiệp Giống vật nuôi Mỹ Văn - Hưng Yên thuộc Công ty giống lợn miền Bắc cho biết một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái lai
Trang 27(Landrace x Yorkkshire) tuổi động dục lần đầu là 226,68 ngày, khối lượng
động dục lần đầu 109,31 kg, tuổi phối giống lần đầu 247,79 ngày, khối lượng
phối giống lần đầu 123,76 kg, tuổi đẻ lứa đầu 362,10 ngày, khoảng cách lứa
đẻ 171,07 ngày
Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) [10] thì năng suất sinh sản của lợn nái lai (Landrace x Yorkshire) phối giống với lợn đực Pietrain và Duroc có số con đẻ ra/ổ lần lượt là 10,6 và 10,34 con, số con đẻ ra còn sống/ổ tương ứng là 10,34 và 10,02 con, số con để nuôi/ổ tương
ứng là 10,05 và 9,63 con, số con 21 ngày tuổi/ổ 9,70 và 9,23 con, khối lượng
sơ sinh/ổ 15,46 và 14,91 kg, khối lượng cai sữa/ổ 69,94 và 67,65 kg
Tại Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương - Viện chăn nuôi Quốc gia, Phùng Thị Vân và cs (2001) [12] nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng và khả năng sinh sản của lợn nái lai (Yorkshire x Landrace) và (Landrace x Yorkshire) cho biết tuổi phối giống lần đấu 259,00 và 243,80 ngày; tuổi đẻ lứa đầu 376,20
và 363,00 ngày; số con đẻ ra/ổ lần lượt là 9,44 và 10,42 con; khối lượng 21 ngày tuổi/ổ 50,70 và 49,85 kg
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong vài thập niên trở lại đây nhiều nghiên cứu trên thế giới đã áp dụng thành công các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào lĩnh vực chăn nuôi lợn và đã đưa năng suất sinh sản của đàn lợn nái lên rất cao Giống lợn Landrace và Yorkshire, (Landrace x Yorkshire), (Yorkshire x Landrace) được nuôi phổ biến trên thế giới Đó là nguyên liệu để sản xuất con lai và là nguồn cung cấp giống lợn thương phẩm cho tiêu dùng
Theo Jan Gordon (1997) [17], lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ 50 năm trước, việc sử dụng lai 2,3 hay 4 giống để sản xuất lợn thịt thương phẩm
đã trở nên phổ biến
Trang 28So sánh các công thức lai hai, ba, bốn giống, Ostrowski và cộng sự (1997) [19] cho thấy con lai có 25% và 50% máu Pietrain có tỷ lệ nạc cao và chất lượng tốt Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997) [16] cho biết lai hai, ba, giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: Số con đẻ
ra trên lứa, tỷ lệ nuôi sống, khối lượng 60 ngày/con Lai hai giống làm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần, tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa Vì vậy việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và năng suất thịt thương phẩm (Dzhunelbaev và cs, 1998) [15] Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy lợn lai có mức tăng trọng tốt
và tỷ lệ nạc cao hơn so với lợn thuần Gerasimov và cs (1997) [16] cho công thức lai giống (Duroc x Large Black), công thức lai ba giống (Duroc x Poltava Meat x Russian Large White) có khả năng tăng trọng cao và tiêu tốn thức ăn thấp so với các giống khác
Theo tài liệu tập huấn của tập đoàn CP năng suất sinh sản của lợn nái lai (Landrace x Yorkshire) và (Landrace x Yorkshire) tại Thái Lan như sau:
+Thời gian từ cai sữa đến phối giống 6,02 ngày + Tỷ lệ đẻ 81,6 %
+ Số lứa đẻ/nái/năm là 2,23 lứa + Tổng số con sơ sinh/lứa là 9,36 con + Số con sơ sinh sống/nái/năm là 20,06 con Theo Kalash Nicova (2000) [18] đã nghiên cứu về năng suất sinh sản của công thức lai và lợn Yorkshire Số ra đẻ ra/ổ của các công thức lai (Landrace x Yorkshire) x Duroc, (Landrace x Yorkshire) x Landrace, (Landrace x Yorlshire) x Yorkshire tương ứng là 10,2; 9,8 và 10,3 con Khối lượng trung bình/con của các công thức lai (Landrace x Yorkshire) x Duroc, (Landrace x Yorkshire) x Landrace, (Landrace x Yorkshire) x Yorkshire tương ứng là 1,64; 1,36 và 1,13 kg Số ra đẻ ra/ổ lợn Yorkshire là 9,8 con, khối lượng trung bình/con lợn Yorshire là 1,48 con
Trang 29PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Lợn nái ngoại lai 2 máu : Landrace x Yorkshire
- Lợn con từ sơ sinh - 21 ngày tuổi:
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Trại chăn nuôi lợn ngoại xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01/07/2014 đến ngày 16/12/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra về số lượng, cơ cấu đàn lợn nái lai 2 máu (Landrace x Yorkshire) nuôi tại trại lợn xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên
- Nghiên cứu các đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái lai 2 máu (Landrace x Yorkshire)
- Nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn nái lai 2 máu (Landrace x Yorkshire)
3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp gián tiếp: Điều tra số liệu cơ bản về lợn nái lai 2 máu
nuôi tại trại lợn xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên
- Phương pháp trực tiếp: Tiến hành chọn một số lượng lợn nái nhất
định để trực tiếp theo dõi, đánh giá chúng theo các chỉ tiêu đã đề ra
3.5 Chỉ tiêu theo dõi
* Các chỉ tiêu về sinh lý sinh dục
- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
- Thời gian mang thai (ngày)
- Thời gian động dục lại sau cai sữa (ngày)