A. MỞ ĐẦUTrong xu thế chung hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia trên thế giới đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện đất nước, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế theo nền kinh tế thị trường. Các quan hệ kinh tế cũng như các quan hệ thương mại quốc tế ngày càng phong phú và đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia phát triển, tăng cường sự hợp tác cũng như trợ giúp nước ngoài. Tuy nhiên, quan hệ thương mại quốc tế càng được mở rộng, khả năng phát sinh tranh chấp càng lớn. Tranh chấp trong thương mại quốc tế là lĩnh vực rất rộng, phức tạp. Khi xảy ra tranh chấp các bên rất khó thương lượng giải quyết, đa phần là do cách hiểu không đồng nhất về tập quán và các điều kiện trong thương mại quốc tế, sự khác nhau về văn hóa kinh doanh mỗi quốc gia, sự khác biệt về ngôn ngữ,…. Không chỉ doanh nghiệp, mà cả Nhà nước sẽ phải bước vào những địa hạt pháp lý không quen thuộc. Điều đó cũng có nghĩa là tranh chấp trong thương mại quốc tế tất yếu nảy sinh và cần phải có cơ chế giải quyết các tranh chấp đó một cách phù hợp và có hiệu quả. Hiện có rất nhiều phương pháp giải quyết tranh chấp nhưng phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đang được xem trọng trên trường quốc tế nhanh chóng, thuận tiện và hiệu quả hơn cả.Nắm bắt được những vấn đề nêu trên, cũng như mong muốn làm rõ vấn đề pháp lý của việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài, em xin chọn đề tài: “Phân tích những vấn đề pháp lý đối với giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế của các thương nhân trước trọng tài” cho bài tiểu luận của mình. B. NỘI DUNGI. Khái quát về tranh chấp thương mại quốc tế1. Khái niệmThương mại quốc tế đã ra đời từ rất sớm và trải qua nhiều quá trình phát triển khác nhau. Theo quan điểm chung trên thế giới hiện nay, thì thương mại quốc tế được hiểu là hành vi thương mại của thương nhân vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, cũng có thể gói gọn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia tuy nhiên được thực hiện bởi các chủ thể là thương nhân quốc tế hoặc giữa các chủ thể trong một quốc gia nhưng đối tượng của hợp đồng nằm ở nước ngoài. Theo góc độ pháp lý, thương mại quốc tế được hiểu là hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài. Các yếu tố nước ngoài trong thương mại quốc tế được xác định qua ba dấu hiệu: Chủ thể trong quan hệ thương mại là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở ở các nước khác nhau; Sự kiện làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ thương mại xảy ra ở nước ngoài; và đối tượng của quan hệ thương mại ở nước ngoài.Trong quan hệ thương mại quốc tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau như sự khác biệt về ngôn ngữ, pháp luật, tập quán,… và nhất là sự thay đổi về điều kiện thực hiện hợp đồng nên các tranh chấp phát sinh là điều khó tránh khỏi. Có thể hiểu, tranh chấp thương mại quốc tế là những bất đồng xảy ra trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại quốc tế mà chủ yếu là khi thực hiện các hợp đồng thương mại quốc tế.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Thương lượng Hòa giải Trọng tài thương mại Tòa án II. Khái quát về phương thức trọng tài thương mại1. Khái niệmHiện nay, thuật ngữ trọng tài thương mại quốc tế được sử dụng: Thứ nhất, để biểu thị một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế; Thứ hai, để biểu thị một tổ chức được thành lập nên để giải quyết các tranh chấp nói trên. Trọng tài thương mại quốc tế là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ thương mại quốc tế được các bên thỏa thuận lập ra để giải quyết tranh chấp.2. Đặc điểm Trọng tài thương mại là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh chủ yếu trong lĩnh vực thương mại; Trọng tài thương mại là một loại hình tổ chức phi chính phủ, mang tính chất xã hội – nghề nghiệp, hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài; Tố tụng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán. Cụ thể, thỏa thuận là tiền đề cho phán quyết và không thể có những phán quyết thoát ly những yếu tố đã được thỏa thuận; Tố tụng trọng tài đảm bảo cho đương sự quyền tự định đoạt của mình một cách cao nhất, các đương sự có quyền lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn địa điểm giải quyết tranh chấp, lựa chọn quy tắc tố tụng,… Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm. Về nguyên tắc, trọng tài không xét xử công khai, do đó, ngoài nguyên đơn và bị đơn, trọng tài cần triệu tập các đương sự khác khi cần thiết.3. Phân loạiCó nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại trọng tài:Thứ nhất, căn cứ vào số lượng Trọng tài viên, có Trọng tài cá nhân và Trọng tài tập thể hay còn gọi là Hội đồng Trọng tài (từ 3 thành viên trở lên).Thứ hai, căn cứ thẩm quyền giải quyết, có Trọng tài có thẩm quyền chung như Trọng tài La Haye và Trọng tài có thẩm quyền chuyên môn như Trọng tài về luật biển, Trọng tài của tổ chức thương mại thế giới WTO...Thứ ba, căn cứ vào tính chất hoạt động, có Trọng tài vụ việc (ad hoc) và Trọng tài thường trực (Trọng tài quy chế).4. Ưu điểm, nhược điểm•Ưu điểmThứ nhất, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối với việc giải quyết tranh chấp;Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo. Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết định trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của Toà án. Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện ra Toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án.Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật;Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín nếu các bên không quy định khác. Tính bí mật thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh.Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng, linh hoạt cho các bên;Tòa án, khi xét xử các bên hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Toà án về thủ tục, thời gian, địa điểm, cách thức xét xử… được quy định trước đó. Trong khi đó, với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa chọn thủ tục, thời gian, địa điểm phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp.Thứ tư, tiết kiệm thời gian;Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các bên không thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả năng ách tắc hồ sơ.Thứ năm, duy trì được quan hệ đối tác;Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ nhàng… Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện.Thứ sáu, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các chuyên gia;Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bên đương sự. Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên ngành có tính chuyên sâu.Thứ bảy, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài một tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án.•Nhược điểmBên cạnh những ưu điểm nêu trên, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định. Hạn chế lớn nhất của trọng tài đó là trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước vì vậy có thể gặp khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp như xác minh, thu thập chứng cứ, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời,…III. Vấn đề pháp lý đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc tế1. Nguyên tắc giải quyết1.1. Nguyên tắc thỏa thuậnThỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại. Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đòi hỏi phải có sự thỏa thuận của các bên. Như vậy, thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận thể hiện ý chí của các bên, nếu các bên không muốn tranh chấp được trọng tài giải quyết thì không ai có thể ép buộc họ.1.2. Nguyên tắc trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư khi giải quyết tranh chấpSự độc lập của trọng tài viên thể hiện ở việc trọng tài viên không có lợi ích trực tiếp hoặc liên quan trong vụ tranh chấp, không chịu sự chi phối của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Hơn nữa, thoả thuận trọng tài còn hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Sự khách quan được đảm bảo khi trọng tài viên thực hiện đúng vai trò của người thứ ba phân xử đúng sai dựa trên những chứng cứ, tài liệu, tình tiết của vụ việc. Nếu có căn cứ cho rằng họ không độc lập, khách quan, vô tư khi thực hiện nhiệm vụ thì trọng tài viên đó có thể bị thay thế. Thậm chí, khi quyết định trọng tài có hiệu lực, nếu có căn cứ chứng tỏ trọng tài viên đã vi phạm nguyên tắc này thì quyết định trọng tài sẽ bị tòa án tuyên hủy.1.3. Nguyên tắc giữ bí mật nội dung vụ việc tranh chấpĐây là nghĩa vụ của trọng tài viên khi giải quyết vụ việc vì một trong các lý do để các bên đương sự lựa chọn trọng tài là tính bí mật của tranh chấp. Do vậy. Các trọng tài viên không được phép tiết lộ nội dung của tranh chấp khi không được các bên đồng ý. Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện ở việc sẽ không có người ngoài được tham dự vào phiên xét xử của trọng tài nếu các đương sự không cho phép.1.4. Nguyên tắc chung thẩmKhi Hội đồng trọng tài công bố quyết định, quyết định đó có hiệu lực thi hành ngay, các bên không có quyền kháng cáo, cũng như không có tổ chức nào có quyền kháng nghị. Nguyên tắc này có nguồn gốc từ bản chất của tố tụng trọng tài là nhân danh ý chí và quyền tự định đoạt của các đương sự; hơn nữa, bản chất của tố tụng trọng tài là tố tụng một cấp, nếu một bên không tự nguyện thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.2. Thỏa thuận trọng tài2.1. Khái niệmThỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận của các bên bằng văn bản, trong đó thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên mong muốn đưa tranh chấp của mình ra giải quyết tại một trung tâm trọng tài. Theo quy định của pháp luật các nước cũng như trong các điều ước quốc tế thì thỏa thuận trọng tài có thể được lập vào thời điểm trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thỏa thuận trọng tài được coi là không có giá trị pháp lý khi:Thứ nhất, tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật Trọng tài thương mại.Thứ hai, người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.Thứ ba, người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.Thứ tư, hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật Trọng tài thương mại.Thứ năm, một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.Thứ sáu, thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.Như vậy, giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài không phụ thuộc vào việc nó được lập trước hay sau khi có tranh chấp, cũng như nó là một điều khoản của hợp đồng hay một điều khoản độc lập, mà quan trọng là thỏa thuận đó phải được lập bởi những chủ thể có thẩm quyền, phải là sự thống nhất ý chí của các bên, phải đáp ứng được các yêu cầu về hình thức và nội dung của thỏa thuận. Theo Công ước New York năm 1958 thì thỏa thuận trọng tài bắt buộc phải bằng văn bản. Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, các hiểu đối với thuật ngữ “bằng văn bản” đã được mở rộng, bao gồm các hình thức khác như Telex, Fax, Email,...2.2. Nội dung của thỏa thuận trọng tàiỞ mỗi trung tâm trọng tài khác nhau thường có những mẫu về nội dung thỏa thuận khác nhau, tuy nhiên, các bên có thể tự xác định thỏa thuận và thỏa thuận đó phải có những nội dung cơ bản sau: Phương thức được lựa chọn để giải quyết tranh chấp, tức là các bên lựa chọn phương thức trọng tài để giải quyết tranh chấp giữa họ; Lựa chọn loại trọng tài: Thường trực hay vụ việc. Nếu các bên lựa chọn trọng tài thường trực thì cần phải chỉ rõ tên gọi chính xác của cơ quan trọng tài đó; Địa điểm tiến hành giải quyết tranh chấp: Nếu các bên lựa chọn trọng tài thường trực thì việc xác định địa điểm không bắt buộc, theo đó tranh chấp sẽ được giải quyết ở địa điểm chính thức của cơ quan trọng tài nếu các trọng tài viên không xác định địa điểm khác; còn nếu các bên lựa chọn trọng tài vụ việc thì nên thỏa thuận và chỉ rõ địa điểm giải quyết tranh chấp; Ngôn ngữ để giải quyết tranh chấp: Nếu các bên lựa chọn trọng tài thường trực thì không bắt buộc chỉ rõ ngôn ngữ, trong trường hợp này trọng tài sẽ giải quyết tranh chấp dựa trên ngôn ngữ của mình. Lựa chọn luật áp dụng.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 3
I Khái quát về tranh chấp thương mại quốc tế 3
1 Khái niệm 3
2 Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế 3
II Khái quát về phương thức trọng tài thương mại 4
1 Khái niệm 4
2 Đặc điểm 4
3 Phân loại 4
4 Ưu điểm, nhược điểm 5
III Vấn đề pháp lý đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc tế 6
1 Nguyên tắc giải quyết 6
2 Thỏa thuận trọng tài 8
3 Tố tụng trọng tài 10
IV Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam 17
C KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2A MỞ ĐẦU
Trong xu thế chung hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia trên thế giớiđang tiến hành đổi mới một cách toàn diện đất nước, thừa nhận nhiều thànhphần kinh tế theo nền kinh tế thị trường Các quan hệ kinh tế cũng như cácquan hệ thương mại quốc tế ngày càng phong phú và đa dạng, tạo điều kiệnthuận lợi cho các quốc gia phát triển, tăng cường sự hợp tác cũng như trợgiúp nước ngoài Tuy nhiên, quan hệ thương mại quốc tế càng được mở rộng,khả năng phát sinh tranh chấp càng lớn Tranh chấp trong thương mại quốc
tế là lĩnh vực rất rộng, phức tạp Khi xảy ra tranh chấp các bên rất khó thươnglượng giải quyết, đa phần là do cách hiểu không đồng nhất về tập quán và cácđiều kiện trong thương mại quốc tế, sự khác nhau về văn hóa kinh doanh mỗiquốc gia, sự khác biệt về ngôn ngữ,… Không chỉ doanh nghiệp, mà cả Nhànước sẽ phải bước vào những địa hạt pháp lý không quen thuộc Điều đó cũng
có nghĩa là tranh chấp trong thương mại quốc tế tất yếu nảy sinh và cần phải
có cơ chế giải quyết các tranh chấp đó một cách phù hợp và có hiệu quả Hiện
có rất nhiều phương pháp giải quyết tranh chấp nhưng phương pháp giảiquyết tranh chấp bằng trọng tài đang được xem trọng trên trường quốc tế -nhanh chóng, thuận tiện và hiệu quả hơn cả
Nắm bắt được những vấn đề nêu trên, cũng như mong muốn làm rõ vấn
đề pháp lý của việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài,
em xin chọn đề tài: “Phân tích những vấn đề pháp lý đối với giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế của các thương nhân trước trọng tài” cho bài
tiểu luận của mình
Trang 3ba dấu hiệu: Chủ thể trong quan hệ thương mại là các bên có quốc tịch khácnhau hoặc có trụ sở ở các nước khác nhau; Sự kiện làm phát sinh, thay đổi,chấm dứt quan hệ thương mại xảy ra ở nước ngoài; và đối tượng của quan hệthương mại ở nước ngoài.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, do nhiều nguyên nhân khác nhaunhư sự khác biệt về ngôn ngữ, pháp luật, tập quán,… và nhất là sự thay đổi vềđiều kiện thực hiện hợp đồng nên các tranh chấp phát sinh là điều khó tránhkhỏi Có thể hiểu, tranh chấp thương mại quốc tế là những bất đồng xảy ratrong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại quốc tế mà chủ yếu là khithực hiện các hợp đồng thương mại quốc tế
2 Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
- Thương lượng
- Hòa giải
- Trọng tài thương mại
- Tòa án
Trang 4II Khái quát về phương thức trọng tài thương mại
1 Khái niệm
Hiện nay, thuật ngữ trọng tài thương mại quốc tế được sử dụng: Thứ nhất,
để biểu thị một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế; Thứ hai, đểbiểu thị một tổ chức được thành lập nên để giải quyết các tranh chấp nói trên.Trọng tài thương mại quốc tế là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từquan hệ thương mại quốc tế được các bên thỏa thuận lập ra để giải quyết tranhchấp
2 Đặc điểm
- Trọng tài thương mại là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp
phát sinh chủ yếu trong lĩnh vực thương mại;
- Trọng tài thương mại là một loại hình tổ chức phi chính phủ, mang tính chất
xã hội – nghề nghiệp, hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài;
- Tố tụng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán Cụ
thể, thỏa thuận là tiền đề cho phán quyết và không thể có những phán quyếtthoát ly những yếu tố đã được thỏa thuận;
- Tố tụng trọng tài đảm bảo cho đương sự quyền tự định đoạt của mình một
cách cao nhất, các đương sự có quyền lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn địađiểm giải quyết tranh chấp, lựa chọn quy tắc tố tụng,…
- Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm Về nguyên tắc, trọng tài
không xét xử công khai, do đó, ngoài nguyên đơn và bị đơn, trọng tài cần triệutập các đương sự khác khi cần thiết
3 Phân loại
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại trọng tài:
Thứ nhất, căn cứ vào số lượng Trọng tài viên, có Trọng tài cá nhân và
Trọng tài tập thể hay còn gọi là Hội đồng Trọng tài (từ 3 thành viên trở lên)
Thứ hai, căn cứ thẩm quyền giải quyết, có Trọng tài có thẩm quyền
chung như Trọng tài La Haye và Trọng tài có thẩm quyền chuyên môn nhưTrọng tài về luật biển, Trọng tài của tổ chức thương mại thế giới WTO
Trang 5Thứ ba, căn cứ vào tính chất hoạt động, có Trọng tài vụ việc (ad hoc)
và Trọng tài thường trực (Trọng tài quy chế)
4 Ưu điểm, nhược điểm
Ưu điểm
Thứ nhất, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối với
việc giải quyết tranh chấp;
Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộcđối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án haykháng cáo Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôiphục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại Quyếtđịnh trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án củaToà án Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡngchế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tàithì có thể kiện ra Toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án
Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật;
Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắctrọng tài xử kín nếu các bên không quy định khác Tính bí mật thể hiện rõ ở nộidung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậytrong quan hệ thương mại Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh
Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh
chóng, linh hoạt cho các bên;
Tòa án, khi xét xử các bên hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Toà
án về thủ tục, thời gian, địa điểm, cách thức xét xử… được quy định trước đó.Trong khi đó, với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa chọn thủ tục,thời gian, địa điểm phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiệnlợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật chophép Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quả cho quátrình giải quyết tranh chấp
Trang 6Thứ tư, tiết kiệm thời gian;
Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các bênkhông thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do luônphải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả năng ách tắc hồ sơ
Thứ năm, duy trì được quan hệ đối tác;
Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của nhữngbất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹnhàng… Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mốihoà khí lâu dài giữa các bên tranh chấp Đây là điều kiện không làm mất đi quan
hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện
Thứ sáu, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các
chuyên gia;
Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bênđương sự Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sựhiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vựcchuyên ngành có tính chuyên sâu
Thứ bảy, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ
chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án
Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, việc giải quyết tranh chấp bằng trọngtài cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định Hạn chế lớn nhất của trọng tài đó làtrọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước vì vậy có thể gặpkhó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp như xác minh, thu thập chứng cứ,
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời,…
III Vấn đề pháp lý đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc tế
1 Nguyên tắc giải quyết
1.1 Nguyên tắc thỏa thuận
Trang 7Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằngtrọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt độngthương mại Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đòi hỏi phải có sự thỏathuận của các bên Như vậy, thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận thể hiện ý chícủa các bên, nếu các bên không muốn tranh chấp được trọng tài giải quyết thìkhông ai có thể ép buộc họ.
1.2 Nguyên tắc trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư khi giải quyết tranh chấp
Sự độc lập của trọng tài viên thể hiện ở việc trọng tài viên không có lợiích trực tiếp hoặc liên quan trong vụ tranh chấp, không chịu sự chi phối của bất
kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào Hơn nữa, thoả thuận trọng tài còn hoàn toànđộc lập với hợp đồng Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vôhiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuậntrọng tài
Sự khách quan được đảm bảo khi trọng tài viên thực hiện đúng vai trò củangười thứ ba phân xử đúng sai dựa trên những chứng cứ, tài liệu, tình tiết của vụviệc Nếu có căn cứ cho rằng họ không độc lập, khách quan, vô tư khi thực hiệnnhiệm vụ thì trọng tài viên đó có thể bị thay thế Thậm chí, khi quyết định trọngtài có hiệu lực, nếu có căn cứ chứng tỏ trọng tài viên đã vi phạm nguyên tắc nàythì quyết định trọng tài sẽ bị tòa án tuyên hủy
1.3 Nguyên tắc giữ bí mật nội dung vụ việc tranh chấp
Đây là nghĩa vụ của trọng tài viên khi giải quyết vụ việc vì một trong các
lý do để các bên đương sự lựa chọn trọng tài là tính bí mật của tranh chấp Dovậy Các trọng tài viên không được phép tiết lộ nội dung của tranh chấp khikhông được các bên đồng ý Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện ở việc
sẽ không có người ngoài được tham dự vào phiên xét xử của trọng tài nếu cácđương sự không cho phép
1.4 Nguyên tắc chung thẩm
Trang 8Khi Hội đồng trọng tài công bố quyết định, quyết định đó có hiệu lựcthi hành ngay, các bên không có quyền kháng cáo, cũng như không có tổ chứcnào có quyền kháng nghị Nguyên tắc này có nguồn gốc từ bản chất của tốtụng trọng tài là nhân danh ý chí và quyền tự định đoạt của các đương sự; hơnnữa, bản chất của tố tụng trọng tài là tố tụng một cấp, nếu một bên không tựnguyện thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩmquyền giải quyết.
2 Thỏa thuận trọng tài
2.1 Khái niệm
Thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận của các bên bằng văn bản, trong đóthể hiện sự thống nhất ý chí của các bên mong muốn đưa tranh chấp của mình ragiải quyết tại một trung tâm trọng tài Theo quy định của pháp luật các nướccũng như trong các điều ước quốc tế thì thỏa thuận trọng tài có thể được lập vàothời điểm trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thỏa thuận trọng tài được coi làkhông có giá trị pháp lý khi:
Thứ nhất, tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm
quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật Trọng tài thương mại
Thứ hai, người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật
Thứ ba, người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân
sự theo quy định của Bộ luật dân sự
Thứ tư, hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại
Điều 16 của Luật Trọng tài thương mại
Thứ năm, một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác
lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu
Thứ sáu, thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
Trang 9Như vậy, giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài không phụ thuộc vào việc
nó được lập trước hay sau khi có tranh chấp, cũng như nó là một điều khoản củahợp đồng hay một điều khoản độc lập, mà quan trọng là thỏa thuận đó phải đượclập bởi những chủ thể có thẩm quyền, phải là sự thống nhất ý chí của các bên,phải đáp ứng được các yêu cầu về hình thức và nội dung của thỏa thuận
Theo Công ước New York năm 1958 thì thỏa thuận trọng tài bắt buộcphải bằng văn bản Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, cáchiểu đối với thuật ngữ “bằng văn bản” đã được mở rộng, bao gồm các hình thứckhác như Telex, Fax, Email,
2.2 Nội dung của thỏa thuận trọng tài
Ở mỗi trung tâm trọng tài khác nhau thường có những mẫu về nội dungthỏa thuận khác nhau, tuy nhiên, các bên có thể tự xác định thỏa thuận và thỏathuận đó phải có những nội dung cơ bản sau:
- Phương thức được lựa chọn để giải quyết tranh chấp, tức là các bên lựachọn phương thức trọng tài để giải quyết tranh chấp giữa họ;
- Lựa chọn loại trọng tài: Thường trực hay vụ việc Nếu các bên lựachọn trọng tài thường trực thì cần phải chỉ rõ tên gọi chính xác của cơ quantrọng tài đó;
- Địa điểm tiến hành giải quyết tranh chấp: Nếu các bên lựa chọn trọng tàithường trực thì việc xác định địa điểm không bắt buộc, theo đó tranh chấp sẽđược giải quyết ở địa điểm chính thức của cơ quan trọng tài nếu các trọng tàiviên không xác định địa điểm khác; còn nếu các bên lựa chọn trọng tài vụ việcthì nên thỏa thuận và chỉ rõ địa điểm giải quyết tranh chấp;
- Ngôn ngữ để giải quyết tranh chấp: Nếu các bên lựa chọn trọng tàithường trực thì không bắt buộc chỉ rõ ngôn ngữ, trong trường hợp này trọng tài
sẽ giải quyết tranh chấp dựa trên ngôn ngữ của mình
- Lựa chọn luật áp dụng
Trang 103 Tố tụng trọng tài
3.1 Khởi kiện
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 quy chế Uncitral Quy tắc trọng tài
Uncitral 1976 thì “Tố tụng trọng tài sẽ được coi là bắt đầu từ ngày mà Bị đơn nhận được Thông báo ra Trọng tài này” và theo quy định của pháp luật Việt
Nam thì:
“1 Trường hợp tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài, nếu các bên không có thỏa thuận khác, thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn.
2 Trường hợp tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, nếu các bên không có thoả thuận khác, thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn.”
Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện
Đơn khởi kiện của nguyên đơn phải bao gồm các nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
- Tên và địa chỉ của các bên;
- Tóm tắt nội dung tranh chấp;
- Các yêu cầu cụ thể của nguyên đơn;
- Giá trị vụ tranh chấp;
- Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn
Kèm theo đơn kiện, nguyên đơn phải gửi bản thỏa thuận trọng tài và cáctài liệu chứng cứ khác cho trọng tài
Sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu liên quan, Trung tâmtrọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tàiliệu khác mà nguyên đơn đã cung cấp
Trang 11 Bị đơn nộp bản tự bảo vệ
Bản tự bảo vệ của bị đơn bao gồm các nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm làm bản tự bảo vệ;
- Tên và địa chỉ của bị đơn;
- Cơ sở và chứng cứ tự bảo vệ, nếu có;
- Tên và địa chỉ của người được bị đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đề nghị chỉđịnh Trọng tài viên
Trường hợp bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền củaTrọng tài, không có thoả thuận trọng tài, thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏathuận trọng tài không thể thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó trong bản tựbảo vệ Việc bị đơn không nộp bản tự bảo vệ sẽ không ngăn cản trọng tài tiếptục quá trình tố tụng
Ngoài bản tự bảo vệ, bị đơn có thể nộp đơn kiện lại vền những vấn đềliên quan đến vụ tranh chấp Đơn kiện lại phải được nộp cùng thời điểm nộpbản tự bảo vệ
3.2 Thành lập Hội đồng trọng tài
Trọng tài thường trực
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụngcủa Trung tâm trọng tài không quy định khác, việc thành lập Hội đồng trọng tàiđược quy định như sau:
Khi nhận được đơn khởi kiện và yêu cầu chọn Trọng tài viên do Trungtâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên cho mình và báo choTrung tâm trọng tài biết hoặc đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ địnhTrọng tài viên Nếu bị đơn không chọn Trọng tài viên hoặc không đề nghị Chủtịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên thì Chủ tịch Trung tâm trọngtài chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn