Mô hình Trung Quốc: Tự trị dưới quyền lãnh đạo của người Hán;Các sắc tộc thiểu số ở Thái Lan: Mọi công dân đều phải biết tiếng Thái; Chính sách đối với cư dân bản địa của Nhật Bản: Đồn
Trang 1QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ
VIỆT NAM
Mai Thanh Sơn
Trang 2Những nhận định được đưa ra trong bài trình bày chỉ phản ánh quan điểm cá
nhân, không đại diện cho các tổ chức mà tác giả là thành viên
Trang 31 Quyền của người dân các DTTS: Nhìn từ một vài mô hình
và kinh nghiệm quốc tế
Trang 4Mô hình Trung Quốc: Tự trị dưới quyền lãnh đạo của người Hán;
Các sắc tộc thiểu số ở Thái Lan: Mọi
công dân đều phải biết tiếng Thái;
Chính sách đối với cư dân bản địa của
Nhật Bản: Đồng hóa xong thì trao
quyền;
Người Indian ở Hoa Kỳ: Tự quyết trong khuôn khổ Hiến pháp liên bang và bang
Trang 5Một vài nhận xét
Quyền của tộc người thiểu số luôn là chủ đề nóng;
“Tư tưởng dân tộc lớn/chủng tộc thượng đẳng có sứ mệnh lãnh đạo” vẫn có ảnh hưởng lớn;
Quan điểm, cách thức và mô hình trao quyền cho
người dân TNTSở mỗi quốc gia có những đặc điểm khác nhau;
Vấn đề mấu chốt trong việc trao quyền cho các tộc người thiểu số ở tất cả các quốc gia đều liên quan đến yếu tố “đất đai” và phương thức tự quản
Trang 62 Quyền của người dân các tộc
người thiểu số ở Việt Nam
Trang 72.1 Chính sách đối với các tộc người
thiểu số của các vương triều phong kiến
Chính sách “nhu viễn” (mềm dẻo từ xa);
Chính sách “tiền binh hậu lễ” (sử dụng sức
mạnh trước, khoan dung lôi kéo sau);
Chính sách “Hán Di hữu hạn” (tôn trọng bản sắc văn hóa của các tộc người thiểu số) của vua Gia Long;
Chính sách “nhất thị đồng nhơn” (đồng hóa
văn hóa) của vua Minh Mạng
Trang 82.2 Quan điểm hiện nay của VN về nhân quyền trong bối cảnh toàn cầu
Phủ nhận việc vấn đề nhân
quyền bị lợi dụng và chính trị hoá;
Chống áp đặt và can thiệp của
phương Tây vào vấn đề nội bộ
quốc gia.
Trang 92.3 Quan điểm của Việt Nam về quyền của
người dân ở các dân tộc thiểu số
Tại Việt Nam không có người bản địa;
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, người dân các TNTS đều có quyền ngang với người Kinh; Các tộc người thiểu số không phải là pháp nhân,
không phải là một thực thể đối thoại với nhà nước và không có thủ lĩnh;
Các TNTS có quyền giữ gìn bản sắc văn hóa riêng nhưng quyền của họ không được phép vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia, không được xâm phạm tính
thống nhất/toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia
Trang 102.4 Khung pháp lý của Nhà nước
về quyền của người dân các TNTS
Các TNTS là đồng chủ thể quốc gia; Người dân các TNTS được hưởng đầy
đủ các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội.
Trang 112.5 Tình hình thực hiện quyền
cơ bản của người dân các TNTS
Trong việc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân;
Trong việc bảo đảm quyền bất khả xâm
phạm về tính mạng;
Trong việc bảo đảm quyền dân sự, chính trị (ngôn luận, lập hội, tín ngưỡng…);
Trong việc đảm bảo các quyền cơ bản về
kinh tế, xã hội và văn hoá (quyền làm việc;
quyền được tiếp cận với giáo dục; quyền
được chăm sóc y tế; quyền được bảo hộ các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể…)
Trang 123 Một số vấn đề trong việc đảm bảo quyền của người dân các TNTS
Trang 133.1 Sự lạc hậu và nhầm lẫn trong khái niệm tộc người
Khái niệm tộc người được ghi nhận
trong các từ điển tiếng Việt hiện nay đã lạc hậu, không phản ánh đúng diễn
biến thực tiễn;
Các tiêu chí luôn có ý nghĩa và sức sống mãnh liệt chính là ý thức tự giác tộc
người thể hiện qua tên tự gọi cũng như
ý niệm về một tổ tiên chung
Trang 143.2 Sự ngộ nhận của các
nhà khoa học
Việt Nam hiện có hơn 170 nhóm tộc
người có tên tự gọi/tên gọi khác nhau Các nhà khoa học cho rằng có thể gộp các nhóm tộc người vào với nhau trong một nhóm có tên gọi là “thành phần tộc người”;
Thông qua đó, các nhà khoa học đã đề xuất để Chính phủ phủ nhận tên tự gọi của hơn 100 nhóm tộc người Điều này trái với tinh thần của Hiến pháp
Trang 153.3 Chưa đảm bảo cơ sở cho việc thực
hiện quyền giữ gìn bản sắc văn hóa
Phủ nhận quyền sở hữu truyền thống về tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng
Trang 16Thay lời kết luận:
Một số suy nghĩ về tính đồng
bộ của khung pháp lý
Trang 17Theo văn bản Hiến pháp, “dân tộc” - với tư
cách là một cộng đồng người - là một bộ
phận hợp thành của quốc gia, là “chủ sở hữu” của nhiều “tài sản” Tuy nhiên, trong các bộ luật cụ thể, “dân tộc/tộc người” - với tư cách
là một cộng đồng người/chủ thể văn hóa chứ không phải các cá nhân/công dân đơn lẻ - lại không được coi là một đối tượng điều chỉnh
Vì vậy, việc bảo vệ các quyền của dân tộc/tộc người theo quy định của Hiến pháp gặp rất
nhiều khó khăn
Trang 18Các tộc người luôn “giữ gìn bản sắc dân tộc
và phát huy những phong tục, tập quán,
truyền thống và văn hoá” thông qua các đơn
vị xã hội cơ sở/môi trường văn hóa tự sinh/tự tồn là thôn làng Nhưng các chính sách quản
lý nhà nước đã khiến cho các đơn vị xã hội cơ
sở đó bị phá vỡ hoặc biến dạng: Các dân tộc chỉ có quyền giữ phần ngọn, còn phần gốc
chưa hề được bảo vệ bởi các công cụ pháp lý
Trang 19Thôn làng không còn là một đơn vị
tự quản thuần khiết, cũng không phải là một cấp nhà nước/không
phải là pháp nhân và do vậy, việc quản lý hay huy động sự tham gia gặp nhiều khó khăn.
Trang 20Thiếu sự bảo hộ đối với các tri thức bản địa của cộng đồng;
Tính chất chung chung trong một số khái niệm được ghi trong các văn bản luật;
Trang 21Xin cảm ơn
sự chú ý lắng nghe