1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Những biện pháp kinh tế chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội

80 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 742 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra cho sản xuất nông nghiệp của huyện cho những năm tới lànghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên nguyên tắc đáp ứng nhu cầu lương thực cho tiêu dùng, chú trọng phát triể

Trang 1

LUẬN VĂN:

Những biện pháp kinh tế chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn

huyện Thanh Trì - Hà Nội

Trang 2

Đặt vấn đề

Trong những năm qua nền nông nghiệp nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng

kể Tuy nhiên, một đất nước với gần 70% dân số sống trong khu vực nông thôn và thu nhập từ nông nghiệp chiếm khoảng 50% tổng thu nhập của các hộ nông dân,trong khi đó

sự chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị ngày càng gia tăng Điều đó chứng

tỏ nông nghiệp, nông thôn nước ta còn nhiều khó khăn Để giải quyết được vấn đề đóthì một trong những biện pháp mang tính cấp thiết và thực tiễn nhất là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và chuyển dịch cơ cấu cây trồng nói riêng

vùng đồng bằng trũng do phù sa của sông Hồng bồi đắp, hàng năm diện tích gieo trồng của huyện đạt gàan 8000 ha cho nhiều loại cây trồng như lương thực, rau quả… Hơn nữa Huyện có vị trí địa lí rất thuận lợi cho việc trao đổi hành hoá Tuy vậy sản xuất nông nghiệp còn những hạn chế, chưa phát huy tốt các tiềm năng vốn có của Huyện, do chưa xác định được một hệ thống cây trồng hợp lí , có hiệu quả kinh tế coa Vấn đề đặt ra cho sản xuất nông nghiệp của huyện cho những năm tới lànghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên nguyên tắc đáp ứng nhu cầu lương thực cho tiêu dùng, chú trọng phát triển những loại cây trồng có giá trị hàng hoá cao như cây ăn quả, rau có chất lượng cao phục vụ cho tiêu dùng đô thị … nhằm nâng cao thu nhập, góp phần ổn định và cải thiện đời sống nông thôn

Xuất phát từ yêu cầu đó em chọn nghiên cứu đề tài: “ Những biện pháp kinh tế

chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội”

Trang 3

của nông dân trên địa bàn huyện Thanh Trì, đồng thời xác định và áp dụng cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm tăng thu nhập cho người nông dân trên cơ sở tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích

Kết cấu của đề tài bao gồm:

Chương I: Cơ sở lí luận chung về cơ cấu cây Thanh Trìồng và chuyển dịch cơ cấu cây

trồng

Chương II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà

Nội Chương III: Phương hướng và những giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu

cây trồng trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội

Kết luận và kiến nghị

Trang 4

Chương I: cơ sở lí luận chung về cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng

I khái niệm, đặc trung của cơ cấu cây trồng

1 Khái niệm cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng

1.1 Cơ cấu cây trồng

Cơ cấu của một tổng thểlà cấu trúc bên trong của tổng thể đó với các bộ phận hợp thành và mối quan hệ tương đối ổn định giữa chúng

Mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành đó thể hiện vai trò, vị trí của từng bộ phận Mỗi một cơ cấu cụ thể của sự vật hiện tượng chỉ phù hợp trong một giai đoạn nhất định, khi những yêu cầu khách quan thay đổithì cơ cấu cũng thay đổi cho phù hợp với những yêu cầu khachs quan đó

Cơ cấu cây trồng là một phạm trù khoa học biểu hiện trình độ tổ chức và quản lí sản xuất nông nghiệp đồng thời cơ cấu cây trồng cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng của chiến lược nông sản phẩm hàng hoá Cũng có thể quan niệm cơ cấu cây trồng trên cơ sở của khái niệm cơ cấu kinh tế: là tổng thể các mối quan hệgắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định, chúng tác động qua lại lẫn nhau trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định, tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông thôn,một bộ phận hộp thành không thể thiếu được của nền kinh tế Cơ cấu cây trồng còn là một bộ phận chủ yếu của cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn ở nước ta

Tuỳ theo điều kiện tự nhiên của vùng phù hợp với những loại cây trồng gì mà do

đó cơ cấu cây trồng hình thành từ những loại cây trồng đó, cơ cấu cây trồng có thể được hình thành từ nhiều nhóm, chẳng hạn nhóm cây lương thực gồm có lúa, ngô, khoai, sắn; nhóm cây công nghiệp gồm cây gắn ngày như lạc, mía, đậu tương… và cây dài ngày như chè, cà fê, cao su…

Như vậy có thể khái niệm cơ cấu cây trồng một cách cụ thể hơn là thành phần và các loại cây trồng bố trí theo không gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất nông nghiệp cơ cấu cây trồng là một nội dung trong hệ thống các biện pháp kĩ thuật gọi là chế độ canh tác Ngoài cơ cấu cây trồng, chế độ canh tác bao gồm chế độ luân canh,

Trang 5

làm đất, bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh Cơ cấu cây trồng là yếu tố cơ bản của chế độ canh tác vì chính nó quyết định nội dung của các biện pháp kĩ thuật khác

1.2 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Chuyển dịch cơ cấu khi xem xét trong một tổng thể nhất định là sự phát triển về cơ cấu các bộ phận hợp thành tổng thể đó trong một khoảng thời gian nhất định ; quá trình phát triển về cơ cấu đó bao gồn sự thay đổi những mối quan hệ giữa các bộ phận với nhau trong quá trình phát triển của tổng thể Như vậy chuyển dịch cơ cấu cây trồng là qúa trình phát triển hay qúa trình thay đổi về thành phần và các loại cây trồng trong một cơ sở hay một vùng nhất định

Sự phát triển của cơ cấu cây trồng tuỳ thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất và

sự phân công lao động xã hội Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất nói chung và cơ cấu cây trồng nói riêng tự nó đã xác lập những tỷ lệ theo mối quan hệ nhất định

Nói cách khác chuyển dịch cơ cấu cây trồng mang tính khách quan thông qua nhận thức chủ quan của con người; đó là sự chuyển dịch phù hợp với sự thay đổi nhu cầu thị trường trên cơ sở khai thác những tiềm năng, thế mạnh của vùng

Một số khái niệm hình thành trong quá trình chuyển dịch cơ cấu là: Điều chỉnh cơ cấu là quá trình chuyển dịch cơ cấu trên cơ sở thay đổi một số mặt, một số yếu tố của cơ cấu làm cho nó thích ứng với điều kiện khách quan từng thời kì, không toạ ra sự thay đổi đột biến, tức thời Cải tổ cơ cấu là qúa trình chuyển dịchmang tính thay đổi về mặt chất so với thực trạng cơ cấu ban đầu, nhanh chóng tạo ra sự đột biến

Cuộc cách mạng xanh diễn ra ở một số nướcnhiệt đới trong những năm gần đây, khi đưa những giống lúa ngắn ngày, năng suet cao vào cơ cấu cây trồng đã làm cho sản lượng lương thực tăng lên và tăng vụ đối với cây thức ăn gia súc, rau và cây công nghiệp ngắn ngày Như vậy cơ cấu cây trồng là một vấn đề quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nước ta đang phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trong qúa trình công nghiệp hoá - hiện đại hoáđất nước, vì vậy cần có sự chuyển dịch của cơ cấu cây trồng

ở nhiều vùng để đáp ứng yêu cầu của phương hướng sản xuất mới cũng như của cơ chế thị trường

Trang 6

2 Đặc trưng của cơ cấu cây trồng

- cơ cấu cây trồng mang tính hợp lí khách quan, hình thành do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Cơ cấu cây trồng và xu hướng biến đổi của nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên , kinh tế, xã hội nhất định chứ không tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Tuy nhiên cùng với qúa trình phát triển kinh tế,

xã hội; và qúa trình nhận thức của con người mà con người có thể tác động vào cơ cấu cây trồng làm cho nó chuyển dịch phù hợp với những điều kiện khách quan và nhu cầu phát triển của chính bản thân con người

- cơ cấu cây trồng mang tính lịch sử và xã hội nhất định Qúa trình sản xuất cụ thể

sẽ khác nhau giữa các vùng do chúng có điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử và xã hội khác nhau Vì vậy không có một cơ cấu cây trồng mẫu mã nào chung cho mọi vùng sản xuất mà nó chỉ có ý nghĩa kế thừa và chọn lọc để phù hợp với các điều kiện nhất định trong mọi giai đoạn nhất định Cơ cấu cây trồng luân biến đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện Nó luân vận động và phát triển thông qua sự chuyển hoá từ cũ sang mới, từ đơn điệu đến đa dạng, từ hiệu quả thấp đến hiệu quả cao do yêu cầu của sự tăng trưởng và phát triển của xã hội

- qúa trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng diễn ra nhanh hay chậm Tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố: trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, nhận thức của người lãnh đạo và quản lí sản xuất

- cơ cấu cây trồng sẽ đạt được hiệu quả kinh tế cao khi nó gắn liền với với một ngành công nghiệp, thương nghiệp phát triển Thương nghiệp phát triển giúp cho cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng luôn thông suốt Nghĩa là quá trình tiêu thụ sản phẩm nhanh và thuận lợi Còn một ngành công nghiệp chế biến sẽ góp phần tăng giá trị sản phẩn nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân , đồng thời đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao càng đa dạngcủa xã hội Điều đó đặt ra yêu câu Nhà nước cần có chính sách

hỗ trợ hợp lí đối với mỗi cơ cấu cây trồng hay mỗi vùng sản xuất nông nghiệp nhất định

3 ý nghĩa của việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lí

Cơ cấu cây trồng hợp lí là cơ cấu cây trồng mà trước hết phải phù hợp với điều kiện

tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng; hơn nữa,nó phải đáp ứng đúng nhu cầu về lương thực,

Trang 7

thực phẩmcủa thị trường ; đồng thời nó phù hợp với quan điển tiên tiến về phát triển một nền nông nghiệp toàn diện trong bối cảnh phát triển kinh tế chung của cả đất nước

Nông nghiệp Việt Nam đã phát triển đến giai đoạn mà nó không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phục vụ xuất khẩu Chuyển dịch cơ cấu cây trồng hướng tới một hệ thống sản xuất đa dạng Tuy nhiên sự đa dạng hoá đó không thuồn tuý là tăng chủng loại sản phẩm nông nghiệp ở cấp nông trại mà nó phải hướng tới thị trường , tăng thu nhập

Xác định cơ cấu cây trồng hợp lí có ý nghĩa cơ bản và quan trọng trong quá trình chuyển đổi nền nông nghiệp từ độc canh cây lương thực sang nền nông nghiệp đa dạng có nhiều nông sản hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng và cho xuất khẩu, làm cơ sở vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn cơ cấu cây trồng còn là căn cứ để xây dung các kế hoạch đầu tư vốn , sử dụng lao động và các loại tư liệu sản xuất trong nông nghiệp cũng như áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật một cách có hiệu quả và chủ động

Xác định cơ cấu cây trồng hợp lí góp phần giải quyết vấn đề dư thừa lao động trong nông thôn, llld dồi dào ở nông thôn và không thể thu hút hết vào những hoạt động sản xuất trong một thời gian ngắn Do đó, đây là một qúa trình rất khó khăn đối với dân cư nông thôn và có thể dẫn đến những xáo trộn về xã hội nếu như không tạo ra nhiều công ăn việc làm hoặc những loại hình công việc khác ngoài sản xuất lúa Tạo ra khả năng luân canh, tăng vụ và hướng tới thị trường nên chuyển dịch cơ cấu cây trồng có khả năng tạo ra nhiều việc làm hơn cho dân cư nông thôn, giảm thời gian nhàn rỗi trong qúa trình sản xuất nông nghiệp Từ đó nó tạo ra khả năng giảm sức ép về dân số và lao động đối với thành thị

Xác định cơ cấu cây trồng hợp lí theo hướng đa dạng hoácơ cấu cây trồng sẽ tạo điều kiện cho người sản xuất giảm được rủi ro xuáat phát từ nền kinh tế mở với cơn sốc về giá

cả sự thay đổi quá nhanh về cầu

Ngoài ra, xác định cây trồng hợp lí với việc luân canh cây trồng , trồng xen hay gối

vụ tạo khả năng giảm phân đạm cần thiết; nông dân có thế sử dụng những nguồn phân hữu

cơ, phân xanh từ những phụ phẩm từ nông nghiệp để cải thiện độ phì và chất hữu cơ trong đất

Trang 8

Với quan điểm phát triển kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp thì việc xác định một cơ cấu cây trồng hợp lí đạt hiệu quả cao là một đòi hỏi tất yếu đối với mỗi thành phần kinh tế sủ dụng đất nông nghiệp ở nước ta Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở nước

ta hiện nay vừa là nội dung trọng tâm của chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vừa là biện pháp để phát triển nông nghiệp toàn diện và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên đất đai Từ việc nghiên cứu cơ cấu cây trồng đặt ra cho các nhà lí luận cũng như các nhà quản lý những nhiệm vụ mới có ý nghĩa chiến lược trong bố trí sản xuất trồng trọt, đó là xác định cơ cấu cây trồng trước mắt và trong tương lai phục vụ cho chiến lược phát triển nông nghiệp của nước ta trong qúa trình xây dựng nền kinh tế đất nước theo con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá

II những nhân tố ảnh hưởng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá

1 Những nhân tố ảnh hưởng

1.1 nhóm nhân tố thuộc về điếu kiện tự nhiên

Nhóm nhân tố này bao gồm các yếu tố như: vị trí địa lí của các vùng lãnh thổ, điều kiện đất đai các vùng, điều kiện khí hậu các vùng, các nguồn tài nguyên khác của vùng, các nguồn tài nguyên khác của các vùng như nước, rừng, biển, khoáng sản…

Các nhân tố tác động trực tiếp tới sự hình thành, vận động và biến đổi cơ cấu cây trồng; sự tác động và ảnh hưởng của acá điều kiện tự nhiên tới mỗi loại cây trồng không giống nhau Chính từ sự không giống nhau đó làm cho số lượng và quy mô của các loại cây trồng khác nhau Điều này thể hiện rõ nẻttong sự phân biệt về cơ cấu cây trồng giữa các vùng trong cả nước đặc biệt là giữa đồng bằng và miền núi hay là ngay bản thân cùng mmột lãnh thổ Do đó phải dựa vào cơ sở của các phương án phân vùng quy hoạch nông nghiệp, nhất là việc hình thành các vùng chuyên canh cây trồng, hình thành các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá có hiệu quảkinh tế cao Cần phải nhận thức rằng không thể dựa vào quan niệm sản xuất hàng hoá nhỏ, phân tán, manh mún dể bố trí cây trồng một cách dàn trải, bất hợp lí mà phải dựa vào khai thác lợi thế từng vùng, từng địa phươngđể bố trí

cơ cấucay trồng hợp lí, lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm thước đo

- Vị trí địa lí của vùng lãnh thổ và cơ cấu cây trồng

Trang 9

Vị trí địa lí của vùng lãnh thổ là nơi chốn của vùng lãnh thổ đó trong mối quan hệ với các vùng lãnh thổ khác Mỗi vùng lãnh thổ thích hợp với một số loại cây trồng nhất định và vị trí địa lí của vùng lãnh thổ cùng với một số yếu tố thuộc về kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng qua qúa trình xác định và chuyển dịch cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp với mối quan hệ giữa vùng lãnh thổ đóvới các vùng lãnh thổ khác đặc biệt là giữa các vùng lãnh thổ lân cận

Xác định cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng của một vùng lãnh thổ phải dựa trên những thế mạnh của vùng đồng thời phù hợp với quan điểm về chuyên môn hoá và đa dạng hoasx nông nghiệp của cả nước Vị trí địa lí là một trong những nhân tố quan trọng quyết định thế mạnh của vùng thông qua mối quan hệ giữa các vùng lãnh thổ

về cơ sở hạ tầng, thị trường…

- Khí hậu và cơ cấu cây trồng

Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của việc xác định cơ cấu cây trồng Đối với việc bố trí cơ cấu cây trồng hàng năm thì việc quan trọng phải xem xét

là có thể trồng được mấy vụ trong một năm Điều này phụ thuộc vào nhu cầu nhiệt lượng của cây trồng và tổng nhiệt lượng hàng năm của vùng đó Các cây trồng hàng năm ở sứ nóng có thời gian sinh trưởng khoảng từ 90 đến 150 ngày, tuỳ thuộc nhiệt độ trung bình ngày để cây có trể tích luỹ được một tổng nhiệt lượng cần thiết- được gọi là tổng tích ôn,

có thể gieo trồng được 3 vụ/năm

- Đất đai và cơ cấu cây trồng

Đất là nguồn cung cấp nước và dinh dưỡng chủ yếu cho cây.Đất và khí hậu tạo thành một hệ thống tác động vào cây trồng Do đó cần phải lắm được mồi quan hệ giữa cây trồng và các đặc điểm của đất thì mới xác định được cơ cấu cây trồng

Tuỳ thuộc vào địa hình, chế độ nước của đất, thành phần cơ giới đất, độ chua, phèn, mặn của đất cũng như một số đặc điểm lý, hoá tính khác của đất để bố trí các loại cây trồng phù hợp

Hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất chủ yếu quyết định đến năng suất cây trồng hơn là quyết định tính thích ứng của cây trồng Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất

có thể khắc phục bằng cách bón phân thêm thông thường các loại đất tốt sẽ trồng loại cây

Trang 10

mà có độ phản ứng mạnh với độ phì của đất và có giá trị kinh tế cao Do nắm được đặc điểm lí, hoá tình của đất, nên con người có thể tác động cải toạ đất dần dần phù hợp với cây trồng hơn

- Cây trồng và cơ cấu cây trồng

Cây trồng là thành phần chủ yếu của hệ sinh tái nông nghiệp, cụ thể hơn là của hệ sinh thái đồng ruộng.nội dung của việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lí là chọn những loại cây trồng nào để`lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu đất đai cũng như các nguồn tài lực, vật lực khác của vùng Khác với khí hậu và đất đai là các yếu tố mà con người ít có khả năng thay đổi, thì đối với cây trồng thì con người có thể thay đổi, lựa chọn, di chuyển chúng từ nơi này đến nơi khác Với trình độ phát triển của nền sinh học hiện đại con người còn có khả năng thay đổi bản chất bên trong của chúng theo hướng mà mình mong muốn bằng các biện pháp như: lai tạo, chọn lọc, gây đột biến gen…

- Các nhân tố sinh vật và cơ cấu cây trồng

Xây dung cơ cấu cây trồng là xây dung một hệ thống sinh thái trong nông nghiệp Như vậy ngoài thành phần chính là các cây trồng, hệ sinh thái này còn có các thành phần sống khác như cỏ dại, động vật, vi sinh vật… các thành phần sống này cùng với cây trồng tạo nên quần thể sinh vật, chúng chi phối lẫn nhau tạo nên các mối tác động qua lại rất phức tạp Vấn đề là phải tạo dựng và duy trì mối cân bằng sinh học trong hệ sinh thái theo hướng hạn chế mặt có hại, phát huy các mặt có lợi đối với lợi ích của con người Khi bố trí

cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ giữa các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái nông nghiệp dựa trên các nguyên tắc sau: lợi dụng tốt nhất mối quan hệ giữa các sinh vật khác với cây trồng mà có lợi cho con người nhưng không nên lợi dụng thái quá

Khắc phục, phòng tránh, hạn chế các mối quan hệ gây tác hại đối với cây trồng cũng như đối với các lợi ích của con người Các mối quan hệ giữa cây trồng và vi sinh vật trong hệ sinh thái được biểu hiện qua các mối quan hệ như: Cạnh tranh cộng sinh, kí sinh

và ăn nhau, theo nguyen tắc hình tháp số lượng trong mạng lưới thức ăn Vì vậy khi xác địnhccct cần chú ý đến các mặt sau:

+ Xác định thành phần, tỷ lệ và giống cây trồng thích hợp với điều kiệncụ thể của đôn vị sản xuất

Trang 11

+ Bố trí cây trồng theo thời vụ tốt, tránh độc canh, tỷ lệ các giống và giống chống chịu sâu bệnh hợp lí sẽ đảm bảo được năng suất, sản lượng cây trồng, dồng thời hạn chế được tác hại của cỏ dại, sâu bệnh, thời tiết khắc nghiệt

+ Trồng xen nhiều loại cây trồng trong cùng một ruộng một cách hợp lí có thể làm giảm được sự gây tác hại của cỏ dại, sâu bệnh, đồng thời làm tăng được năng suất đất đai

ví dụ như trồng cây họ đậu, cây phân xanh xen với cây mầu lương thực

Tóm lại các nhân tố thuộn về điều kiện tự nhiên của một vùng lãnh thổ tác động một cách đồng thời tới tất cả các loại cây trồng đã đặt ra yêu cầukhách quan cho việc lựa chọn các loại cây trồng và việc bố trí cơ cấu cây trồng một cách hợp lí theo mùa vụ, chế độ luân canh, xen canh, gối vụ

Trong đó đất đai là nhân tố quan trọng trong qúa trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng như đa dạng hoánông nghiệp Địa hình đất đai( thể hiện ở độ cao thấp của từng vùng, từng chân ruộng) gắn liền với những điều kiện tưới tiê luôn là điều kiện quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng Độ phì của đất là chỉ tiêu quan trọng trong việc bố trí cây trồng cũng như công thức luân canh cụ thể để sử dụng đầy đủ và hợp lí hàm lương dinh dưỡng của từng loại đất, tránh tình trạng huỷ hoại đất đai và môi trường nhằm tăng hiệu quả chung của toàn bộ hệ thống Các nhân tố khác như khí hậu, thời tiết, nhiệt độ, độ

ẩm, ánh sáng, hạn hán, lũ lụt… thường chi phối đến năng suất cây trồng và hiệu quả kinh

tế của hệ thống canh tác

1.2 Nhóm nhân tố kinh tế – xã hội

thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, cơ sở hạ tầng, kinh nghiêm, tập quán, truyền thống sản xuất của dân cư, dân số và lao động … Nhóm nhân tố này luôn có tác động mạnh mẽ tới sụ hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói chung và cơ cấu cây trồng nói riên

Nhân tố thị trường có ảnh hưởng tới quyết định tới sự phát triển kinh tế nói chung

và sự hình thành biến đổi cơ cấu kinh tế, bởi vì nó chỉ tồn tại và vận động thông qua hoạt động của con người Những người sản xuất hàng hoá chỉ sản xuất và đem bảna thị trường, trao đổi những sản phẩm mà họ cảm they chúng đem lại lợi ích thoả đáng, như vậy thị trường thông qua quan hệ cung cầu mà tín hiệu là giá cả, hàng hoá, thúc đẩy hay ngăn cản

Trang 12

người sản xuất tham gia hay không tham gia vào thị trường, do đó chính từ thị trường mà người sản xuất tự xác định khả năng tham gia cụ thể của mình vào thị trường những loại sản phẩm hay hàng hoá, dịch vụ gì? với quy mô như thế nào? thông qua đó phản ánh cơ cấu kinh tế từng vùng, từng địa phương Tuy nhiên do mức độ tiếp cận thông tin khác nhau

và khả năng xử lí cũng khác nhau, điề kiện sản xuất lại chi phối dẫn đến lượng người tham gia vào việc tạo ra và tiêu thụ sản phẩm cũng không giống nhau

Cơ cấu cây trồng về cơ bản phản ánh yeu cầu của sản xuất hàng hoá và thị trường, tuân theo sự phân công lao động xã hội, tính chất chuyên môn hoá và tập trung hoá sản xuất Nhu cầu sản xuất hàng hoá và thị trường là diều kiện quyết định sự biến đổi về chất của cơ cấu cây trồng Suy cho cùng thì nhu cầu về nông sản và môi sinh của xã hội cành cao thì càng thúc đẩy cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng tiến bộ

Từ các đặc điểm đó đòi hỏi khi xác định cơ cấu cây trồng thì cần dựa vào nhu cầu thị trường nông sản, điều kiện tự nhiên, kinh tế –xã hội của mỗi vùng, mỗi địa phương, sự phân công quy hoạch nông nghiệp và phương hướng phát triển nông nghiệp trong từng thời kì Vốn cho sản xuất giữ vai trò quyết định cho chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nhất là đối vowis những hệ thống sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao và mang tính thay đổi về chất như nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây lâu năm

Chính sách kinh tế cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy hay kìm hãm qúa trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng Nhờ chính sách đổi mới trong những năm 90 của Nhà nước thông qua việc giao đất lâu dài cho hộ nông dân nên ngưới sản xuất ở một số vùng đã mạnh dạn chuyển đổi hệ thống cây trồng, thay đổi phương thức canh tác đã thu được lợi ích lớn Tuy nhiên có những chính sách nhiều khi chưa tạo môi trường thuận lợi cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng như chính sách an toàn lương thực, chính sách đất đai( ruộng đất chia manh mún)

Trang 13

Trong lĩnh vực trồng trọt việc xác định cơ cấu cây trồng trước hết phải tìm hiểu nhu cầu của thị trường cả trong và ngoài nước về số lương, chất lương, chủng loại, giá cả Trên

cơ sở đó mà có sự bố trí, sắp xếp hợp lí đáp ứng nhu cầu thị trường thúc đẩy nhanh tái sản xuất mở rộng

1.4 Nhân tố về tổ chức quản lí

Mặc dù người sản xuất có tính độc lập và tự chutrong việ sản xuất nông nghiệp của mình nhưng để đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao hơn thì người sản xuất phải có sự hợp tác trong qúa trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Từng hộ riêng lẻ không thể chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiẹu quả vì sản xuất nông nghiệp có đặc điểm riêng gắn lion với ddất đai, sinh vật, hệ thống tưới tiêu, bảo vệ thực vật và ruộng đồng… Điều này đòi hỏi việc chuyển đổi cây trồng và đa dạng hoá sản phẩm phải gắn lion với qúa trình mở rộng các mối quan

hệ hợp tác liên kết, liên doanh, đồn đồng đổi thửa…

2 Những yêu cầu đặt ra và xu hướng có tính quy luật của chuyển dịch cơ cấu cây trồng

2.2 Xu hướng

- Xu hướng phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá Đây là xu hướng vận động, phát triển tất yếu của nền nông nghiệp nói chung và cơ cấu cây trồng nói riêng Nền nông nghiệp phát triển có quan hệ chặt chẽ với công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá Nhờ

có công nghiệp hoá cho phép sản xuất nông nghiệp được thực hiện theo phương pháp sản

Trang 14

xuất và quản lí kiểu công nghiệp, nhờ có hiện đại hoá nông nghiệp mà vùng nông thôn có thể tiến kịp thành thị, sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao

Phát triển sản xuất hàng hoá tạo nên sự năng động trong sản xuất kinh doanh, đặt ra yêu cầu cải tiến nhanh về kĩ thuật, công nghệ sản xuất, nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Phát triển sản xuất hàng hoá làm cho sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển sâu sắc, chuyên môn hoá, hợp tác hoá, mối quan hệ giữa các vùng, các ngành ngày càng chặt chẽ hơn và kết quả là đẩy mạnh được qúa trình xã hội hoá sản xuất và lao động Sản xuất hàng hoá có quy mô lớn, có ưu thế về trình độ kĩ thuật và khả năng thoả mãn sức mua của xã hội Xu hướng phát triển cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá phản ánh quy luật cung cầu trong xã hội, có thể they rõ trên các khía cạnh:

+ Nhu cầu ngày càng tăng về số lượng, chất lượng của sản phẩm từ cây lương thực, cây thực phẩm và nhiều loại cây trồng khác

+ Thị trường cung cầu của sản xuất trồng trọt ngày càng mang tính xã hội hoá và quốc

+ Một nền nông nghiệp sạch, biết hạn chế một cách tối đa việc sử dụng các hoá chất độc hạicho môi sinh, môi trường và sức khoẻ công nghiệp Kết hợp hài hoà giữa việc phát triển sản xuất với bảo vệ và tôn tạo môi trường

Trang 15

+ Một nền nông nghiệp có cơ cấu cây trồng và vật nuôi hợp lí, phù hợp với đặc điểm và điều kiện tự nhiên của mỗi vùng

- Xu hướng phát triển sản xuất gắn với công nghiệp chế biến

Xã hội càng phát triển thì nhu cầu đối với các sản phẩm nông nghiệp ngày càng đòi hỏi những sản phẩm có chất lượng cao Hơn nữa để tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp trong thị trường nói chung và trong xuất khẩu nói riêng thì càng đặt ra yêu cầu các sản phẩm nông nghiệp phải qua chế biến Công nghiệp chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp cũng là một khâu then chốt trong qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vì nó là một trong những nhân tố quyết định tăng thu nhập cho người nông dân, thúc đẩy nhanh qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, và trang bị công nghệ, vật

tư thiết bị tiên tiến cho sản xuất nông nghiệp để phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, năng suất cao, sản xuất nông sản hàng hoá

Như vậy xác định và chuyển dịch cơ cấu cây trồng phải hướng tới một nền sản xuất nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến như là một mục tiêu chiến lược trong sản xuất nông nghiệp nói chung

III các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng

1 Các vấn đề kinh tế của cơ cấu cây trồng

- Cơ cấu cây trồng mới phải đạt giá trị kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ do yêu cầu của sự phát triển Tuy nhiên giá trị sản xuất có thể tăng lên nwus tăng vụ, vấn đề tăng

vụ lại chỉ có thể giải quyết được trong một phạm vi nhất định và chịu sự chi phối khá lớn của điều kiện đất đai, thồi tiết, khí hậu… về mặt kinh tế cơ cấu cây trồng cần thoả mãn yêu cầu sau:

+ Đảm bảo yêu cầu chuyên canh, thâm canh và tỷ trọng hàng hoá cao

+ Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng tốt các nguồn lợi tự nhiên và xã hội

+ Đảm bảo giá trị sử dụng và gí trị cao hơn cơ cấu cây trồng cũ

Trang 16

2 Khái niệm hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ và khả năng đảm bảo thực hiện có kết quả cao nhất những nhiệm vụ kinh tế xã hội nhất định với chi phí nhỏ nhất

Về mặt lượng hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Kết quả thu được càng cao, chi phí bỏ ra càng nhỏ, hiệu quả thu được càng lớn

Về mặt chất, việc đạt được hiệu quả cao phản ánh năng lực và trình độ quản lí, đồng thời cũng đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được mục tiêu xã hội

3 Khái niệm hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Hiệu quả cơ cấu cây trồng là kết quả so sánh giữa các chỉ tiêu kết quả và chi tiêu hao phí, hoặc là thước đo trình độ tổ chức sản xuất và mức độ thực hiện các nhiện vụ cụ thể của hoạt độnh sản xuất trồng trọt

Khi đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một số chỉ tiêu như: năng suất, tổng sản lượng, tổng giá trị, giá thành, thu nhập và mức lãi của các sản phẩm sản xuất ra Tuy nhiên việc đánh giá này là rất phức tạp và cần có nhiều thời gian

Đồng thời khi đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng cũng cần chú ý đến các điều kiện ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như khí hậu, thời tiết, vị trí địa lí và các điều kiện xã hội khác như giá nhân công lao động, giá các loại dịch vụ, nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng

Đối với qúa trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, hiệu quả kinh tế phải được tính toán một cách thích hợp Vì nói đến cơ cấu cây trồng là nói đến việc bố trí các loại cây trồng trên từng laọi đất cụ thể Mỗi loại cây trồng đều ứng với một diện tích gieo trồng nhất định, quy mô và cơ cấu diện tích gieo trồng nhiều khi quyết định quy mô, số lượng và

cơ cấu sản phẩm của ngành trồng trọt Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cây trồng là phải đảm bảo được giá trị mục tiêu quan trọng là thu nhập và lợi nhuận của cơ cấu cây trồng mới tất yếu phải lớn hơn thu nhập và lợi nhuận của cơ cấu cây trồng cũ

Trang 17

4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng với mức chi phí đã bỏ ra

Năng suất đất đai là số lần gieo trồng được trên một đơn vị diện tích đất trong một năm, hệ sốgieo trồng càng lớn biểu hiện năng suất đất đai đạt cao

Năng suất cây trồng chính là sản lượng mà loại cây trồng đem lại tính trên một đơn

vị diện tích gieo trông

Năng suất lao động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Năng suất lao động phản ánh lượng sản phẩm mà mỗi người lao động tạo ra trong một đơn vị thời gian

Giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ

do lao động nông nghiệp s áng tạo ra trong một thời kì nhất định thường là một năm

IV – kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng

3.1 kinh nghiệm ngoài nước

-kinh nghiệm của nước nga

ở nga các nhà sinh thái học học nghiên cứu nhiều mô hình cơ cấu cây trồng áp dụng cho nhiều vùng như vùng bông TASKEN với mô hình có chu kỳ 5:1( 5 năm trồng bông ,một năm trồng cây khác )

Việc nghiên cứu hệ thống canh tác được tiến hành theo nhiều hướng với nhiều nội dung khác nhau một trong những nội dung đó là vấn đề tăng vụ tăng vụ là chiến lược trung tâm để tăng sản xuất lương thực tạo thêm công ăn việc làm tăng thu nhập ở một số nước phải đối phó với tình trạng thiếu đất thừa lao động đặc là các nước Châu á trong đó

có việt nam

-kinh nghiệm của indonexia

kinh nghiệm của nước này áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp như kết hợp trồng trọt ,chăn nuôi gia súc và cá ,đưa các giống cây trồng có năng xuất cao khả năng trống chịu tốt với sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh không thuận đồng thời đa dạng hoá cây trồng thích hợp trên các loại đất điều này đã mang lại những kết quả trước năm

Trang 18

1975có 64%đất bỏ hoang hoá sau một vụ lúa và chỉ có 32% diện tích là hai vụ đến năm

1984 chỉ còn 27% diện tích là một vụ lúa 69%diện tích đã làm hai vụ hoặc ba vụ

-Kinh nghiệm của trung quốc

Trung quốc là nước có nhiều điểm tương đồng với nước ta trên bước đường chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước

Kinh nghiệm thực tiễn của trung quốc trong quá trình tổ chức chỉ đạo phát triển nông nghiệp , trước hết phải coi trọng sản xuất lương thực

Quan điểm xuyên suốt của trung quốclà coi nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tế quốc dân trong đó coi sản xuất lương thực là cơ sở của nông nghiệp trong suốt quá trình

cơ cấu sản suất nông nghiệp ,trung quốc luôn đặt lương thực lên vị trí hàng đầu và tập trung mọi mặt để đảm bảo cho sản suất lương thực được mở mang phát triển nông nghiệp nhiều ngành nghề.đây là điểm cơ bản trong chính sách đối với sản xuất nông nghiệp mà trung quốc đã kiên trì trong thời gian dài.trung quốc chủ trương thi hành những biện pháp chủ yếu sau :

-ổn định diện tích gieo trồng cây lương thực

-Nâng cao sản lượng trên đơn vị diện tích bằng con đường thâm canh, xây dựng các vùng lương thực hàng hoá trọng điểm ,Nhà nước thi hành chính sách nângđỡ các vùng trọng điểm sản suất lương thực trọng điểm hàng hoá ,đặt ra các chính sách ưu đãi để giải quyết tốt các vấn đề cơ chế đầu tư thực hiện các giải pháp gán đầu tư với khối lượng thực hiện hàng hoá

-Điều chỉnh hợp lí lợi ích giữa các khu vực sản xuất chủ yếu và khu vực nhận được lương thực từ nơi khác đến Đối với các vùng sản suất lương thực chủ yếu ,trung quốc chủ trương thi hành các biện pháp bảo đảm lợi ích cho họ Mọi vùng ,mọi địa phương căn cứ vào điều kiện của mình sau khi bảo đảm lương thực mà có sự điều chỉnh cơ câú hợp lí

Tóm lại nhờ có chiến lược cũng như chính sách đúng trong việc tiếp tục điều chỉnh

cơ cấu mà ngày nay trung quốc đã có nhiều thành tựu về phát triển nong nghiệp toàn diện

đã trở thành hiện thực

Trang 19

Nét nổi bật nhất của nông nghiệp thái lan trong những năm gần đây là tốc đọ tăng trưởng nhanh găns liền với đa dạng hoá đó là nhân tố quan trọng nhất

Để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

Đa dạng hoá nông nghiệp được tiến hành theo hai hướng chủ yếu sau :

-Tăng diện tích trồng trọt và các loại cây trồng mới ,ngoài lúa gạo Lúc đầu quá trình này diễn ra tự phát ,từ những năm 1980 nhà nước có chính sách điều tiết

-Phát triển các hoạt động sản suất ngoài trồng trọt như chăn nuôi ,đánh bắt cá

Khắc phục tình trạng giảm thu nhập do sự giảm giá của một số mặt hàng truyền thống về lâm sản trên thị trường quốc tế

Bài học kinh nghiệm :

-Thực hiện các chính sách kích thích kinh tế đối vơéi người sản suất để thực hiện đa dạng hoá -Chính phủtài trợ cacvs nguồn đồu vào ,các chính sách khác để khuyến khích nông dân

-Đa dạng hoá gán liền với phát triển thị trường trong nước và thị trường xuất khẩucho các nông sản mới

3.2 Kinh nghiệm trong nước

đối với nước ta việc cải thiện để hình thành một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý nên hướng vào đa dạng hoá trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất phù hợp với thế mạnh thật sự cuả từng vùng sinh thái từng địa phương từng cơ sở xản suất kinh doanh nông nghiệp trước hết là những lợi thế về điều kiện tự nhiên (đất đai ,thời tiết ,khí hậu…)và lao động so với các vùng của đất nước cũng như so với quốc tế

Như ở vùng đồng bằng sông cửu long có ý nghĩa quốc gia và quốc tế trong việc phát triển lương thực chủ yếu là lúa gạo để xuất khẩu trong khi đó vùng đồng bằng sông hồng lại có ý nghĩa quốc gia và quốc tế trong việc phát triển cây trồng xuất khẩu vụ đông đặc biệt là các loại rau đậu cao cấp còn việc nuôi tôm để xuất khẩu có thể có thể tìm thấy khả năng to lớn này ở các tỉnh duyên hải miền trung ý nghĩa quốc gia và quốc tế đối với vùng trung du và miền núi của cả hai miền đất nước lại hướng vào phát triển xuất khẩu một số cây công nghiệp dài ngày, ngắn ngày, cây ăn quả, rừng và những đặc sản của rừng

Trang 20

như : cà phê,cao su, hồ tiêu ,chè lạc đậu tương ,cam ,dứa chuối , trầm hương ,mật ong ,một số cây ,dược liệu quý v.v

- Chuyển dịch cơ cấu trong bản thân nghành nông nghiệp như ta biết thì nông nghiệp có hai nghành chính trồng trọt và chăn nuôi

+ Trong ngành trồng trọt có các tiểu ngành sản xuất lương thực ,cây công nghiệp cây ăn quả cây rau và hoa ,cây dược liệu cơ cấu của ngành trồng trọt nước ta mấy năm nay gần đây đã có những biến đổi tốt theo hướng tiến bộ : cây công nghiệp ,cây ăn quả cây rau và hoa cây dược liệu đã có sự phát triển khá tuy nhiên so với sản xuất lương thực các ngành này vẫn còn phần hết sức nhỏ bé ngành trồng trọt nước ta về cơ bản vẫn là ngành trồng lương thực các mà trong đó chủ yếu là sản xuất lúa gạo hướng đổi mới là tăng năng xuất cây trồng hoặc tăng vụ trong một năm chúng ta đã đưa vào sản xuất một số giống lúa mới ngắn ngày năng xuất cao đã mở ra một khả năng mới tăng vụ đông làm cho diện tích trồng trọt sản lượng tăng lên đáng kể chính điều này cho phép giải phóng đất đai cho các loại cây trồng khác

Theo giáo sư viện Sỹ Đào Thế Tuấn thì muốn tận dụng lợi thế khí hậu mùa đông ở đồng bằngvà các tỉnh phía bắc nên trồng các cây có nguồn gốc xứ lạnh như khoai tây, cải bắp , xu hào …hoặc chọn các cây xứ nóng ngắn ngày như ngô đậu tương …chịu lạnh để trồng vụ đông Điều này làm tăng hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng mà nó còn có tác dụng bảo vệ và bồi dưỡng đất

Theo tác giả Phạm Chí Thanh, Trần Đức Viên ,Đào Thế Tuấn cho rằng trong nghiên cứu chuyển đổi hệ thống canh tác phải được bắt đầu bằng công tác kiểm kê điều kiện tự nhiên và đánh giá được hệ thống canh tác truyền thống từ đó xây dựng được cơ cấu cây trồng hợp lý cho mỗi vùng sinh thái và tiểu vùng

+ Với chăn nuôi có các loại :chăn nuôi đại gia súc ,tiểu ra súc, gia cầm ,nuôi ong ,nuôi các loài đặc sản ,và nuôi thuỷ hải sản Lâu nay chăn nuôi nước ta mới quan tâm chủ yếu đến : trâu ,bò ,lợn và nuôi theo lối tận dụng Kinh nghiệm là để đổi mới cơ câú một cách thành công là đổi mới đúng và hợp với xu thế phát triển của nhu cầu với thị trường trong ngành chăn nuôi thì phát triển nhanh đàn bò theo hướng lấy thịt và sữa phát triển mạnh đàn lợn theo hướng lợn nạc và mở rộng chăn nuôi gia cầm theo hướng công nghiệp Đặc biệt quan tâm thoả đáng đến việc nuôi trồng các loài thuỷ hải sản vì đây là thế mạnh

Trang 21

của nước ta Chỉ có theo hướng ấy chúng ta mới thành công trong quá trình chuyển dịch ngành chăn nuôi

từ những kinh nghiệm trên có một số nhận xét:

Một là: Trong mọi điều kiện cơ cấu ngành nông nghiệp đều vận động theo xu

hướng chung Đó là tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu ngành kinh tế quốc dân đều giảm tương đối

Hai là :sự áp dụng thành tựu khoa học công nghệ mới trong sản xuất năng xuất

cây trồng lương thực tăng lên tới một giới hạn nhất định (tức là đảm bảo được vấn đề lương thực) thì khi đó cơ cấu kinh tế sẽ có bước nhẩy đột biến trong nội bộ cơ cấu ngành

Đó là tỷ trọng màu cây công nghiệp tăng sản xuất lâm nghiệp chăn nuôi tăng cơ cấu chăn nuôi các con đặc sản có giá trị kinh tế cao và từ đó mở ra khả năng xuất khẩu

Ba là: sự biến đổi cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp dẫn đến kết quả hình thành các

vùng chuyên canh mang đặc trưng của sản xuất hàng hoá hướng tới thị trường là chủ yếu làm cho tỷ trọng nông sản phẩm hàng hoá tăng lên

Bốn là :sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông nghiệp gắn liền với sự chuyển

dịch cơ cấu lao động cơ cấu vốn và cơ cấu vùng lãnh thổ ,cũng như cơ cấu thành phần kinh tế Đồng thời tác động tới cơ cấu tiểu vùng công nghiệp hình thành nghề phụ nghề thủ công chế biến ,dịch vụ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp làm cho cơ cấu kinh

tế nông nghiệp có sự chuyển biến theo hướng tiến bộ

Trang 22

Chương II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Thanh Trì -

Hà Nội

I Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện

1 Điều kiện tự nhiên

Về mặt địa hình địa mạo Thanh Trì là vùng đất trũng ven đê ở phía nam thành phố với độ cao trung bình từ 4-4,5m, thấp hơn so với khu vực khác của thành phố Địa hình dốc nghiêng từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang tây Toàn bộ lãnh thổ huyện được phân định thành hai vùng chính, vùng bãi ven sông và cùng nằm giữa đê sông Hồng với diện tích khoảng 2000 ha, độ cao trung bình của vùng là từ 8 - 9m, trong đó các khu dân cư cao hơn từ 8 - 9,5m Các vùng bãi canh tác thấp hơn từ 7 -7,5 m chạy ven đê còn có nhiều đầm

hồ trũng là nơi giữ nước khi sông cạn Do nằm ngoái đê nên vùng này thường bị ngập nước vào mùa lũ

- Vùng nội đồng gồm toàn bộ phần còn lại của huyện với diện tích khoảng 7830 ha

Độ cao trung bình của vùng 4 - 5m, phía Đông quốc lộ 1A thấp hơn từ 3,5 - 4,5m, còn phía Tây quốc lộ 1A cao hơn từ 5- 5,5m, toàn vùng bị chia cắt bởi các trục giao thông quốc lộ 1A, đường Pháp Vân – Yên Sở, đường 70A và các con sông tiêu nước thải của thành phố như sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Lừ, sông Tô Lịch… do đó đã hình thành các ô nhỏ

Trang 23

khó thoát nước với nhiều đầm, ruộng trũng hay bị ngập úng hàng năm khi có mưa lớn và nước của các con sông lên cao Do địa hình thấp, trũng nhất thành phố, nên nước thải của nội thành hầu hết dồn về đây, nếu không được xử lý tốt sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường của huyện nói chung và môi trường đất nói riêng

Toàn bộ lãnh thổ huyện Thanh Trì nằm trên vùng có nền địa chất công trình thuộc loại trung bình (kém thuận lợi) và xấu (không thuận lợi), vì vậy khi xây dựng cần phải có các biện pháp kỹ thuật cần thiết để loại trừ những ảnh hưởng xấu trong thi công và để tăng tuổi thọ của công trình

1.2 Khí hậu

Huyện Thanh Trì nằm trongkhí hậu nhiệtđới gió mùa voí 2 mùa chủ yếu trong năm: Mùa nóng vàmùa lạnh Các tháng 4,10 được coi như những tháng chuyển tiếp tạo cho Thanh Trì có 4 mùa Xuần, hạ, thu, đông

938 mm Độ ẩm không khí trung bình năm 83% Trong năm có hai mùa giá chính: Gió mùa Đông nam và gió mùa Đông Bắc Hàng năm chịu ảnh hưởng trực tiếp của khoảng 5-7 cơn bão Bão mạnh nhất lên tới cấp 9, cấp 10 làm đổ cây cối và gây thiệt hại lớn cho mùa màng Bão thường trùng với thời kỳ nước sông Hồng lên cao đe doạ không chỉ sản xuất nông nghiệp và cả đời sống của người dân

Do chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa nen khí hậu ở đây biến động thất thường, ảnh hưởng sâu sắc tới mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp và cả quá trình sinh trưởng của các loại cây trồng Thanh Trì có mùa đông lạnh và khô nhưng chỉ trong thời gian ngắn đầu mùa đồng, đầumùa xuân nhiệt độ không khí đã ẩm lên, có mưa phùn nên độ ẩm cao phù hợp với các loại cay rau, quả ôn đới phát triển Nếu đảm bảo được các điều kiện vật tư, kỹ thuật có thể phát triển cây vụ đông rải rộng trên diện tích đất canh tác của huyện

1.3 Thuỷ văn

Trên địa bàn huyện có các sông lớn chảy qua như sông Hồng, sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Ngừ, sông Sét, sông Kim Ngưu… Bên cạnh đó còn có một diện tích lớn hồ đầm với các hồ đầm như Yên Sở, Linh Đàm, Định Công, Pháp Vân

Trang 24

- Chế độ thuỷ văn

Chế độ thuỷ văn của các sông trong huyện chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của chế độ thuỷ văn sông Hồng và được phân thành 2 mùa khá rõ rệt: Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, và mùa cạn từ tháng 5 năm sau

- Đặc điểm thuỷ chế của các sông

lưu lượng nước chiếm tới 72,5%, vào tháng 7 mực nước trung bình là 9,2m, lưu lượng là

5990 m3/s (lúclớn nhất lên tới 22200 m3/s) trong khi đó mực nước trung bình của năm là

đối với các công trình xây dựng và đặc biệt là đối vớisản xuất nông nghiệp ở không chỉ cãcã ngoài bãi mà cả các xã trong đồng Trong mùa lũ, nước sông Hồng lên to, có nơi mặt sông rộng đến 2-3km, mực nước sông cao hơn mặt ruộng đến 6-7m Vào mùa cạn, mực nước trung bình là 3,06m với lưu lượng 927m3/s

Đông từ 4,5 – 5,2m

+ Sông Tô lịch, sông Lừ, sông Sét, sông KimNgưu đều là những sông nội thành phố, làm nhiệmvụ tiêu thoát nước chotoàn thành phố hiện đang bị ô nhiễm nặng do nước thải

+ Các hồ, đầm: phần lớn các hồ đầm của huyện Thanh Trì hiện đang bị ô nhiễm do lượng mưa và nước thải sinh hoạt không được làm sạch từ khu vực nội thành chảy vào

1.4 đất đai:

Toàn huyện có 6 loại đất chính sau:

- Đất phù sa không được bồi hoặc giây yếu: có diện tích khoảng 2422 ha phân bố ở những nơi có địa hình cao và trung bình, tập trung ở các xã Định Công, Đại Kim, Thanh Liệt, Hoàn Liệt, Tam Hiệp, Tứ Hiệp, Ngũ Hiệp, Ngọc Hồi, Vĩnh Tuy, Lĩnh nam, Liên Ninh, Đông Mỹ, và thị trấn Văn Điển Đất cómàu nâu tươi hay nâu xám, PH từ trung tính đếnít chua thànhphần cơ giới từ cát pha đến thịt nặng, các chất dinh dưỡng tổng số từ khá đến giàu các chất dễ tiêu khá Đây là loại đất thuận lợi cho phát triển cây thực phẩm, cây lương thực và các loại hoa màu

Trang 25

- Đất phù sakhông được bồi có giây: có diện tích 1715 ha, phân bố tập trung ở các

xã tả Thanh oai, Đại áng và Tân Triều, nằm ở nơi có địa hình thấp Đất có giây màu xám xanh, dẻo, thành phần cơ giới trung bình đến nặng, độ phì nhiêu tiềm tàng khá, nghèo lân

dễ tiêu

- Đất phù sa ít được bồi, trung tính,kiềm yếu: có diện tích 739 ha phân bố ở dải đất ngoài đê sông Hồng thuộc các xã Lĩnh nam, Trần Phú, Yên Mĩ, Duyên hà và Vạn Phúc Phần lớn loại đất này có thành phần cơ giới cát pha,khả năng giữ màu, giữ nước kém và không bị chua

- Đất phù sa không đượcbồi, giâymạnh: có diện tích 60 ha nằm rải rác ở những nơi trũng, lòng chảo thuộc các xã Đại Kim, Thanh Liệp, Tứ Hiệp, và Ngũ Hiệp, hàng năm bị ngập nước liên tục vào mùa hè, nên đất thường ở trong tình trạng yếm khí, tỷ lệmùn khá độ chua PH từ 4,5 - 6 do ảnh hưởng của chất hữu cơ chưa phân giải

- Đất phù sa được bồi hàng năm trung tính kiềm yếu: có diệntích 197 haphân bố thành dải đất dọc theo bờ sông Hồng ở các xã Thanh Trì, Lĩnh Nam, Vạn Phúc và yên Sở

và Duyên hà Nơi địa hình cao đất có thành phần cơ giới nhẹ; nơi đất thấp có thành phần

cơ giới trung bình đến nặng Nhìn chung loại đất này là một trong những loại đất tốt, chủ yếu trồng màu và những cây công nghiệp ngắn ngày, có năng suất cao

- Đất cồn cát, bãi cát ven sông: có diện tích 99 ha nằm ở ngoài bãi sông Hổng thuộc

xã Vạn Phúc, Thanh Trì, Lĩnh Nam Hàng năm,nước ngập bãi cát được bồi thêm hoặc bị cuốn đi, do đó địa hình địa mạo luôn bị thay đổi Cát có phản ứng trung tính, độ phì kém Hiện tại một phần nhỏ diện tích được sử dụng khai thác cát phục vụ xây dựng, còn lại bỏ hoang

- Khu vực đất còn lại gồm: đất có mặt nước, sông suối, đất khu dân cư có tổng diện tích 4160 ha

Biểu 2: Tình hình thổ nhưỡng huyện Thanh Trì

ST

T

1 Đất phù sa không được bồi, không giây hoặc

giây yếu

Trang 26

2 Đất phù sa không được bồi có giây P 17,5

4 Đất phù sa không được bồi, giây mạnh, úng

Nguồn: Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp

2 Điều kiện kinh tế xã hội

2.1 Dân số và lao động

Trong những năm gần đây dân số huyện Thanh Trì đã có những chuyển biến tích cực, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên không ngừng giảm qua các năm 1998, 1999, 2000, 2001 (theo biểu)

Biểu 3: Dân số và lao động qua các năm

ST

1

Trang 27

Qua bảng trên ta thấy dân số Thanh Trì qua các năm gần đây khá cao, đó là nguồn nhân lực khá dồi dào trong ngành nông nghiệp, thuỷ sản Năm 1999 dân số huyện Thanh Trì có 226800 người, năm 2000 tăng lên 227305 người, năm 2001 tăng lên 230870 người trong đó dân số nông nghiệp, thuỷ sản chiếm 60% dân số toàn huyện

Thanh Trì có nguồn lao động trong độ tuổi tương đối lớn Năm 2000 tổng số lao động huyện là 112400, chiếm 48% dân số toàn huyện; tốc độ tăng lao động đến năm 2000

so với năm 1998 khoảng 10% tương ứng với số tuyệt đối là 10000 người Dân số và lao động tập trung chủ yếu trong ngành nông nghiệp, thuỷ sản với 60% dân số nông nghiệp và 44% lao động nông nghiệp Thanh Trì là huyện tập trung nhiều ngành truyền thống trong các lĩnh vực: tiểu thủ công nghiệp, nuôi cá, chế biến nông sản thực phẩm làm bún bánh Với nguồn lao động dồi dào và chất lượng lao động có mặt bằng khá cao, hơn các vùng khác nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2.2 Tình hình kinh tế

Kinh tế nông thôn bao gồm: nông nghiệp (nông - lâm - ngư nghiệp), công nghiệp nông thôn (công nghiệp khai thác, chế biến, tiể thủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống), dịch vụ nông thôn (dịch vụ sản xuất kinh doanh và dịch vụ đời sống) Kinh tế nông thôn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh

tế của đất nước Kinh tế nông thôn của cả nước nói chung, Thanh Trì nói riêng trong những năm qua đã có những chuyển biến đáng kể, đặc biệt làcơ cấu kinh tế đã có chuyển biến theo hướng nền kinh tế hàng hoá có cơ cấu đa dạng: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Kinh tế huyện Thanh Trì trong thời gian qua đã có những bước phát triển khá Ngành nông nghiệp vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng trong kinh tế huyện với hơn 50% trong tổng giá trị sản xuất hàng năm của huyện

Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện được thể hiện trong biểu:

Biểu 4: Biến động sản lượng lương thực và giá trị sản xuất

Trang 28

Nguồn: Phòng kinh tế – UBND huyện Thanh Trì

Qua biểu trên, có thể thấy rằng giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị sản xuất của huyện với hơn 53%/năm trong giai đoạn 1997 - 2001 Trong ba năm trở lại đây, tỷ trọng đó có xu hướng giảm xuống: năm 1999 là 55,89%, năm

2000 giảm xuống còn 52,7%, năm 2001 còn 48,5% Tuy nhiên con số này vẫn còn rất cao

so với tỷ trọng nông nghiệp cả nước là 23,4% Điều này nói lên rằng sự phát triển của các ngành kinh tế khác trong huyện còn nhiều hạn chế

Giá trị sản xuất của ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và xây dựng chiếmkhoảng 33% bình quân năm trong cả giai đoạn 1997 - 2001 Trong ba năm trở lại đây ngành này đã có bước phát triển khá với mức tăng trưởng trên 10%/năm

Với mức bình quân lương thực trên đầu người thấp, chỉ đáp ứng được phần nào cho nhu cầu sinh hoạt và cung cấp cho chăn nuôi; sản xuất lương thực hàng hoá của huyện chỉ chiếm một phần rất nhỏ và không là mục tiêu sản xuất hàng hoá của huyện Với điều kiện đất chật người đông, sản phẩm nông nghiệp hàng hoá của huyện phải theo hướng sản xuất các loại rau, hoa màu,lúa đặc sản… có giá trị kinh tế cao kết hợp với phát triển chăn nuôi

để tận dụng nguồn lực lao động dồi dào và khả năng tăng vụ trên đất trồng lúa, trồng màu

Xét cơ cấu các ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp ta có biểu sau:

Trang 29

Biểu 5: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp các năm

Nguồn: phòng kế hoạch huyện thanh trì

Như vậy trong cơ cấu nộibộ ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt vẫn chiếm một tỷ trọng lớn và có xu hướng giảm dần qua các năm và đặc biệt giảm nhanh từ năm 1998 đến nay Do đó đã tạo ra sự cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi Đặc biệt ngành chăn nuôi đã

có bước phát triển khá với mô hình nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi bò sữa, nông nghiệp Thanh Trì đang phát triển theo hướng đưa ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất chính với giá trị hàng hoá cao

2.3 Cơ sở hạ tầng

Cơ sở vật chất của huyện được xây dựng trong một quá trình lâu dài và hàng năm huyện đã củng cố, tu bổ và xây dựng từng bước cơ sở vật chất kỹ thuật

- Về thuỷ lợi: toàn huyện có 101 trạm bơm (vào năm 2000) với từ 1-3 máy/trạm,

công suất mỗi máy từ 500-2500m3/giờ Nguồn nước tưới trong vùng khá dồi dào đủ để đảm bảo cung cấp cho cây trồng

Trên địa bàn huyện, hệ thống kênh mương có chiều dài 3207,8 km Hàng năm huyện chỉ đạo cãcã tu bổ, nạo vét các công trình thuỷ nông đảm bảo đủ nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp đồng thời chống úng vào mùa mưa

- Về hệ thống điện:

Một trămphần trăm số xã đều có điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt toàn huyện

có trên 100 trạm biến áp lớn nhỏ với công suất từ 100 đến 2800 KVA, phân bố đều ở hầu hết các xã, có nhiều xã có từ 3 trạm trở lên

Số hộ dùng điện trên địa bàn huyện là 100%

Trang 30

- Về hệ thống giao thông:

Hệ thống giao thông đường bộ của huyện khá thuận tiện, các đường trục của xã huyện đảm bảo giao lưu hànghoá khá thuận lợi Tổng số đường của huyện, xã quản lý là 63,5 km; trong đó đường nhặ, bê tông: 33,5 km; đường cấp phối: 24,1 km; đường gạch 5,9

km Tỷ lệ đường nhựa, bê tổng, cấp phối, gạch trong tổng số là 100%

Trên địa bàn huyện Thanh Trì, về dường bộ có tuyến dường của quốc gia và thành phố, tổng chiều dài là 49,75 km chiếm diện tích đất là 20,59 ha Trong đó gồm quốc lộ 1A, đường 70A, 70B Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có tuyến đường sắt dài 17 km và tuyến đường thuỷ 15 km (sông Hồng) có thể khai thác vận tải đường thuỷ

Tóm lại, Thanh Trì là huyện ngoại thành Hà Nội có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên,

kinh tế xã hội khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong huyện theo hướng nâng cao tỷ trọng hàng hoá Có thể kể ra một số thuận lợi sau:

- Là huyện có nguồn nước khá dồi dào, đất đai đa dạng và tương đối màu mỡ cho phép đa dạng hoá cây trồng trên địa bàn; vấn đề là xem xét nhu cầu thị trường mà lựa chọn sản phẩm sản xuất đó là cây gì, chất lượng và số lượng ra sao Địa hình đất canh tác trên địa bàn huyện cũng cho phép chuyển đổi công thức luân canh trên đồng ruộng một cách linh hoạt như trồng hai vụ lúa hay một lúa, một cá hoặc chuyển đất lúa sang nuôi tôm

- Với lực lượng lao động dồi dào, cơ sở hạ tầng khá phát triển và đặc biệt là gần một thị trường lớn là thủ đô Hà Nội nên có khả năng trao đổi, giao lưu thuận lợi, sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm có giá trị kinh tế cao

Tuy nhiên cũng có thể kể ra một số khó khăn nhất định đối với ngành trồng trọt của huyện như tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp từ đô thị và cả nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý gây ra tình trạng nhiễm bẩn đối với nhiều sản phẩm trồng trọt ảnh hưởng tới khả năng tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra, điều kiện thời tiết khí hậu của huyện

là vùng nhiệt đới vào mùa mưa có thể gây úng ngập nhiều diện tích trồng trọt làm giảm năng suất cây trồng; vào mùa rét có thể gây ảnh hưởng xấu tới sự tồn tại và phát triển của một số loại cây trồng

Trang 31

II Tình hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện Thanh Trì

1 Cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Thanh Trì

1.1 Cơ cấu giá trị sản lượng cây trồng

Để tiện cho việc tính toán, so sánh giá trị,thu nhập, lợi nhuận hay chi phí của các loại cây trồng, ta tính toán các chỉ tiêu này theo giá cố định 1994

Biểu 6: Cơ cấu giá trị sản lượng cây trồng

3 Cây công nghiệp

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Thanh Trì

Nhìn chung trong ba năm qua, giá trị sản lượng cây lương thực và giá trị sản lượng cây rau đậu các loại chiếm phần lớn trong tổng giá trị sản xuất năm Tỷ trọng giá trị sản lượng cây lượng thực giảm xuống nhanh qua các năm Năm 1999 chiếm 50,9% tổng giá trị sản lượng, năm 2000 còn 48,5%, năm 2001 xuống còn 44% Thanh Trì là huyện có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản xuất lương thực (hàng năm mưa lớn thường ngập úng khá lớn diện tích trồng lúa) cho nên năng suất, sản lượng cây trồng lương thực không

Trang 32

cao, dẫn đến giá trị sản lượng cũng không cao Trong cơ cấu cây lương thực thì lúa chiếm

tỷ trọng gần như tuyệt đối với trên 90% tổng giá trị sản lượng lươgn thực Giá trị sản lượng cây rau đậu các loại chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh qua các năm Năm 1999 chiếm 43,2%, năm 200 tăng lên 46,67%, năm 2001 tăng lên 49,2% Cây công nghiệp có giá trị sản lượng thấp chiếm 0,8% năm 1999 và tăng lên 1,2% năm 2001, trong đó giá trị sản lượng cây lạc tăng lên đặc biệt là vào năm 2001 với 851,2 triệu Ngược lại cây đậu năm 2000 là 403 triệu Cây hàng năm khác bao gồm: hoa cây cảnh, cây làm thuôc, cây thức ăn gia súc cho giá trị sản lượng khá với tỷ trọng bình quân trên 5% mỗi năm nhìn chung giá trị sản lượng có tăng lên do áp dụng giống mới và kỹ thuật mới vào sản xuất

1.2 Cơ cấu diện tích cây trồng chính

Biểu 7: Cơ cấu diện tích gieo trồng các loại cây chính hàng năm

Trang 33

Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Trì

ở huyện Thanh Trì ngành trồng trọt với các loại cây trồng chủ yếu là lúa, ngô đối với cây lương thực và một số loại rau đậu đối với cây thực phẩm

Diện tích trồng cây lương thực chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng diện tích gieo trồng của huyện.Năm 1999 chiếm 78,50 %, năm 2000 chiếm 77,52% và năm 2001 chiếm 77,26% Như vậy tỷ trọng diện tích gieo trồng cây lương thực giảm dần qua ba năm, sự tăng giảm tỷ trọng đó là kết quả của quá trình chuyển đổi một phần diện tích trồng màu sang trồng rau có giá trị kinh tế cao hơn

Trong cơ cấu cây lương thực thì lúa chiếm phần lớn với tổng diện tích gieo trồng năm 1999 là 5532 ha chiếm 87,87%, năm 2000 là 5511 ha chiếm 88,68% và năm 2001 là

4955 ha chiếm 87,28% diện tích gieo trồng cây lương thực Trong tổng diện tích trồng lúa, diện tích lúa đặc sản chiếm tỷ trọng nhỏ với giá trị tuyệt đối năm 1999 và năm 2000 là 208

ha, năm 2001 là 170 ha; sự sụt giảm diện tích trồng lúa đặc sản trên là do trong những năm

đó giá lúa xuống thấp trong khi sản xuất lúa đặc sản là để cung cấp ra thị trường và chi phí sản xuất cao

Xét tổng thể, diện tích trồng cây lương thực màu gồm ngô, khoai lang và khoai sọ trong ba năm qua đã giảm xuống Năm 1999 là 763,5 ha đến năm 2001 là 722 ha Sự lên xuống bấp bênh của diện tích cây lương thực màu ở từng năm là do áp dụng giống ngô lai

Trang 34

có năng suất cao vào sản xuất và do nhu cầu ngành chăn nuôi của huyện vì sản lượng lương thực màu chủ yếu là để cung cấp cho ngành chăn nuôi

Trong những nămqua, do tác động của thị trường nên diện tích gieo trồng rau các loại, đậu, cây công nghiệp và cây hàng năm khác có nhiều biến động phức tạp Đối với diện tích gieo trồng rau, diện tích rau sạch trong ba năm qua có chiều hướng tăng lên từ

110 ha năm 1999 lên 145 ha năm 2001 chiếm tỷ trọng 1,97% Diện tích rau muống, bầu bí, mướp cũng tăng lên và ổn định; diện tích trồng rau muống là lớn nhất trong tất cả các loại rau với 676, 4 ha năm 1999 chiếm 8,43% diện tích gieo trồng năm, tăng lên 436 ha năm

2001 chiếm 10,02% diện tích Xu hào và khoai tây là hai loại rau có diện tích giảm rõ rệt trong đó khoai tây, diện tích năm 1999 là 46 ha giãmuống còn 17 ha năm 2001 vì trong những năm gần đây sản xuất khoai tây kém hiệu quả, để giống khó và giống đắt

Còn lại đa số các loại rau có biến động phức tạp

1.3 Cơ cấu thu nhập và chi phí

Biểu 8: Cơ cấu chi phí cây trồng chính trong năm

3 Cây công nghiệp

Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Trì

Biểu 9: Cơ cấu thu nhập cây trồng chính trong năm

Trang 35

3 Cây công nghiệp

Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Trì

Qua bảng trên ta thấy chi phí cho cac loại cây trồng thì chi phí cho cây lương thực chiếm tỷ trọng lớn với khoảng 80% tổng chi phí mỗi năm Trong đó chủ yếu là chi phí cho lúa Tuy nhiên thu nhập từ lúa chiếm tỷ trọng thấp so với chi phí bỏ ra: năm 1999 là 28,9%, năm 2000 là 30,8%, năm 2001 là 24,1% Cây ngô cũng có chi phí khá lớn với gần 5% mỗi năm nhưng thu nhập từ cây ngô chiếm tỷ trọng thấp trong tổng thu nhập từ các loại cây Rau đậu các loại có chi phí lớn thứ hai sau cây lúa với tỷ trọng trên 14% mỗi năm nhưng thu nhập từ rau đậu cácloại chiếm phần lớn trong tổng thu nhập với hơn 60% mỗi năm và gia tăng qua các năm

Cây công nghiệp có chi phí và thu nhập chiếm tỷ trọng thấp và ít biến đổi Cây hàng năm khác đạt giá trị kinh tế khá, thu nhập chiếm tỷ trọng trên 6% mỗi năm so với chi phí

bỏ ra hơn 3% mỗi năm

2 Cơ cấu ngành trồng trọt của huyện theo vùng

2.1 Tình hình phân vùng

Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của huyện uỷ, UBND huyện Thanh Trì, nền kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp của huyện nói riêng đã có những chuyển biến đáng kể Cơ cấu sản xuất nông nghiệp ngày càng được xây dựng và quy hoạch hợp lý trên

cơ sở phát huy lợi thế của từng vùng trong huyện Trong việc bố trí cơ cấu cây trồng,

Trang 36

huyện đã định ra hướng tập trung phân vùng sản xuất thành hai vùng nhỏ là vùng bãi và vùng trong đồng

Vùng bãi là vùng ngoài đê sông Hồng có diện tích khoảng 2000 ha nằm trên các xã Yên sở, Yên Mĩ, Duyên Hà, Vạn Phúc, Lĩnh Nam, Thanh Trì, Trần Phú Trong đó diện tích đất canh tác chiếm khoảng 50%,phần lớn diện tích đất canh tác này là đất phù sa ít được bồi hoặc được bồi hàng năm Đây là vùng đất khá mầu mỡ, phần lớn được sử dụng

dể trồng mau, cây công nghiệp hàng năm và chuyên trồng rau có giá trị kinh tế cao Một số

hồ đầm ven dể giữ nước sau mùa lũ còn được dùng cho nuôi trồng thuỷ sản

Vùng nội đồng là phần còn lại của huyện với diện tích khoảng 7830 ha trong đó diện tích đất canh tác chiếm 54% Trong đó khoảng 3650 ha đất trồng cây hàng năm gồm

2760 ha đất lúa, hoa màu và lúa – cáđược đầu tư theo chiều sâu với việc thay đổi giống lúa mới Hình thành vùng lúa có chất lượng cao tập trung chủ yếu ở các xã Ngũ Hiệp, Tả Thanh Oai, Hữu Hoà, Vĩnh Quỳnh, Tam Hiệp, Đại áng, Ngọc Hồi Phần còn lại được dùng cho trồng rau, màu, đậu tương…

Có thể nói, từ khi có nghị quyết 10,Luật đất đai ra đời (1993) cùng với sự tác động của cơ chế thị trường, sản xuất nông nghiệp của huyện đã có những chuyển biến đáng kể Phát triển nông nghiệp đang đứng trước bước ngoặt là sự đa dạng hoá và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, nâng cao tỷ trọng sản phẩm hàng hoấ, từ doa nâng cao thu nhập cho người nông dân

Vai trò của các cấp lãnh đạo là tìm ra cho sản phẩm nông nghiệp, đảy mạnh công tác khuyến nông, xây dựng các chính sách để thúc đẩy sản xuất phát triển

2.2 Cơ cấu cây trồng và sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo vùng

- Cơ cấu diện tích theo vùng

Cùng với sự phân chia thành hai vùng sản xuất trong huyện do điều kiện khác nhau

về địa hình, chất đất mà ở mỗi vùng đều có cơ cấu cây trồng riêng

+ Vùng bãi: là phần diện tích nằm ngoài đê trên dịa bàn các xã Vạn Phúc, Yên Sở, Duyên hà, Lĩnh nam, Trần Phú, Thanh Trì, Yên Mĩ, Vĩnh Tuy

Cơ cấu diện tích đất trồng vùng bãi như biểu sau:

Biểu 10: Cơ cấu diện tích đất trồng vùng bãi

Trang 37

Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Trì

Qua biểu trên ta có thể thấy rằng vùng bãi của huyện trong những năm qua cơ cấu cây trồng có những biến động khá phức tạp Diện tích gieo trồng cây lương thực chiếm tỷ trọng lớn nhất với 64,1% năm 1999 và giảm xuống còn 61,9% năm 2001 Trong đó phần lớn là diện tích gieo trồng ngô (chiếm 70% diện tích cây lương thực) Diện tích gieo trồng cây lương thực noi chung, ngô nói riêng có chiều hướng giảm xuống Ngượclại diện tích gieo trồng rau cac loại tăng lên trong đó có rau sạch giá trị kinh tế cao Năm 1999 tỷ trọng

là 22,2%; năm 2000 tăng lên 25,1%; năm 2001 tăng lên 27,1% Diện tích rau sạch cũng tăng lên ổn định Diện tích gieo trồng cây công nghiệp bao gồm lạc, mía, đậu tương giảm xuống từ 180 ha năm 1999 còn 150 ha năm 2001

+ Vùng nội đồng: Phần diện tích còn lại của huyện nằm trong đê

Biểu 11: Cơ cấu diện tích các loại cây trồng vùng nội đồng

Trang 38

Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Trì

Qua bảng trên có thể thấy diện tích cây lương thực chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vùng nội đồng Năm 1999 diện tích gieo trồng là 5366,3

ha chiếm tỷ lệ 81,7%, năm 2000 là 5359 ha tỷ lệ 81,2%,năm 2001 là 4807 ha chiếm 80,9% như vậy diện tích gieo trồng cây lương thực có xu hướng giảm xuống song tốc độ giảm còn chậm Trong cơ cấu các loại cây lương thực thì lúa chiếm phần lớn với diện tích 5336,3 ha năm 1999 và giảm xuống còn 4760 ha năm 2001, trong đó diện tích lúa đặc sản

là 208 ha năm 1999 (chiếm tỉ trọng 3,2% tổng diện tích lúa) và giảm xuống còn 170 ha năm 2001(chiếm tỷ trọng 2,9% diện tích lúa cả năm) Diện tích gieo trồng rau các loại, cây công nghiệp và cây hàng năm khác biến động ít, chỉ có rau sạch là biến động với xu hướng tăng lên Năm 1999 diện tích rau sạch là 24,5 ha, năm 2001 tăng lên 40 ha.Một số loại rau

có biến động phức tạp trong đó phải kể đến diện tích gieo trồng đậu xanh trên địa bàn huyện năm 1999 diện tích đậu xanh là 20,5 ha, năm 2000 là 105 ha, năm 2001 là 11,4 ha Nhìn chung vùng trong đồng chiếmhầu hết diện tích lúa toàn huyện Ngược lại cây lương thực màu mà chủ yếu là ngô được trồng chủ yếu ở vùng bãi và chủ yếu gieo vào vụ xuân,

vụ đông Tỷ lệ diện tích rau sạch vùng bãi chiếm phần lớn trong tổng diện tích rau sạch nhưng vẫn chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng diện tích trồng rau của cả huyện nhưng có xu hương tăng lên

Trang 39

Sự biến động phức tạp của một số loại rau mầu trong thời gian qua là do sự đa dạng nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong khi đó huyện lại chưa có sự bố trí quy hoạch hợp lý đối với từng vùng sản xuất đồng thời do sự thiế thông tin về thị trường

- Năng suất, sản lượng cây trồng theo vùng

Để thấy rõ tình hình sản xuất trồng trọt đối với từng loại cây trồng của huyện theo vùng, từ đó đề ra phương hướng lựa chọn và quy hoạch sản xuất từng loại cây trồng tạo ra một cơ cấu cây trồng hợp lý đối ới mỗi vùng, ta có bảng năng suất, sản lượng của cây trồng theo hai vùng đó như sau:

SL(tấn )

Trang 40

Biểu 13: Năng suất sản lượng vùng trong đồng

SL(tấn )

Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Trì

Nhìn chung, trong ba năm qua, do điều kiện thời tiết không thuận lợi, hàng năm mưa lớn vào tháng 6, tháng 7 thường làm ngập úng diện tích gieo trồng trong đó thiệt hại lớn nhất là lúa đạt không cao, chỉ trên 40 tạ/ha Năng suất các loại lương thực màu gồm ngô, khoai cũng không cao (thấp hơn các vùng khác trong nước)

Vùng trong đồng phù hợp với trồng lúa và một số loại rau, vùng bãi phù hợp với trồng màu, rau đậu Trên cả hai vùng của huyện năng suất các loại rau khá cao; vùng bãi, năng suất rau nói chung cao hơn vùng trong đồng hơn nữa do có nhiều điều kiện thuận lợi

để sản xuất rau sạch trong những năm tới vùng bãi sẽ trở thành vùng trọng điểm sản xuất rau sạch cung cấp cho thị trường địa bàn Hà Nội

3 Cơ cấu theo mùa vụ

3.1 Cơ cấu diện tích

- Vụ mùa:

Biểu 14: Cơ cấu diện tích cây vụ mùa

Ngày đăng: 19/05/2017, 09:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. giáo trình kinh tế nông nghiệp (nhà xuất bản nông nghiệp năm 1996) Khác
2. giáo trình quản trị doanh nghiệp nông nghiệp ( nhà xuất bản thống kê (hà nội năm 2001)) Khác
3. giáo trình kinh tế nông thôn ( nhà xuất bản nông nghiệp năm 1995) Khác
4. kinh tế các ngành sản xuất vật chất ( nhà xuất bản giáo dục năm 1996 ) Khác
5. báo cáo quy hoặch sử dụng đất huyện thanh trì thời kỳ 2001-2010 Khác
6. quy hoặch tổng hợp kinh tế huyện thanh trì thời kỳ 2001-2010 Khác
7. niên giám thống kê huyện thanh trì năm 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 23: Cơ cấu thu nhập cây vụ mùa - Những biện pháp kinh tế chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội
Bảng 23 Cơ cấu thu nhập cây vụ mùa (Trang 48)
Bảng 29: Dự kiến cơ cấu sản lượng cây trồng - Những biện pháp kinh tế chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội
Bảng 29 Dự kiến cơ cấu sản lượng cây trồng (Trang 62)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w