1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Luận văn So Sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

58 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 734,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vĩnh Long là một trong những tỉnh có nền sản xuất nông nghiêp lâu đời ở ĐBSCL, cây lúa vẫn là cây trồng chiếm diện tích lớn nhất của tỉnh; kế đến là một số loại cây màu phổ biến như khoa

Trang 1

Chương 1

MỞ ĐẦU1.1 Đặt vấn đề

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn nhất đồng thời cũng được xem là “vựa lúa” chính của cả nước Trong khoảng 4 triệu ha đất nông nghiệp thì đất trồng lúa chiếm diện tích lớn nhất, đạt khoảng 2,5 triệu ha Hằng năm, vùng đồng bằng này có thể sản xuất ra hơn 18 triệu tấn lúa (tương đương hơn 12 triệu tấn gạo), chiếm 53% sản lượng của lúa gạo của cả nước (năm 2009) Nhờ đó, sản lượng lúa gạo của vùng ĐBSCL này đóng góp đến 90% giá trị xuất khẩu của Việt Nam ra thị trường thế giới và đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu nhất lớn trên thế giới về mặt số lượng Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây (từ năm 2000) dưới áp lực của thị trường và đặc biệt là tình hình sâu bệnh (bệnh rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá, ) việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng và đa dạng hóa sản xuất trên đất lúa đã được nông dân vùng ĐBSCL bắt đầu quan tâm (Đệ, 2008) Bên cạnh đó, tình trạng biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn của nước biển vào sâu trong đất liền đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cây trồng đặc biệt là cây lúa - cây trồng quan trọng của vùng cũng như các hệ thống canh tác ở ĐBSCL Chính vì vậy mà việc thâm canh lúa 3 vụ đã không còn chiếm ưu thế, thay vào đó là các mô hình canh tác mới (kết hợp giữa cây lúa và cây trồng hay vật nuôi khác) nhằm phá thế độc canh cây lúa

và thích ứng với điều kiện hiện tại Các mô hình thay thế đó có thể là lúa - tôm, lúa

- màu, lúa - cá,…

Một nghiên cứu về chất hữu cơ trong đất cho thấy, việc canh tác đất đai bất hợp lý dẫn đến chất lượng chất hữu cơ trong đất ngày càng suy giảm, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của cây trồng; dù có bón phân hóa học, cây trồng vẫn lấy đi khoảng 50-80% đạm từ đất Do đó, cần phải tăng cường khả năng cung cấp đạm từ đất bằng các biện pháp: luân canh lúa với cây trồng cạn, bón phân hữu cơ cho đất,… Ngoài ra, việc luân canh lúa với cây trồng cạn, phơi đất giữa 2 vụ canh tác sẽ làm chất hữu cơ trong đất chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác theo hướng có lợi cho cây trồng sử dụng, làm tăng lượng đạm trong đất (Nguyễn Mỹ Hoa, 2007)

Trang 2

Vĩnh Long là một trong những tỉnh có nền sản xuất nông nghiêp lâu đời ở ĐBSCL, cây lúa vẫn là cây trồng chiếm diện tích lớn nhất của tỉnh; kế đến là một

số loại cây màu phổ biến như khoai lang, dưa hấu, bắp,… Nhưng trong giai đoạn hiện nay và tương lai khi mà nguồn tài nguyên đất đai ngày càng bị giới hạn, độ phì của đất ngày một giảm do canh tác cây trồng chưa hiệu quả Đặc biệt là việc trồng thâm canh 3 vụ lúa/năm và liên tục qua nhiều năm dẫn đến việc đất đai bị bạc màu, cần phải có các biện pháp cải tạo độ màu mỡ của đất nhưng vẫn đảm bảo sản xuất và thu nhập trên diện tích đó Vì vậy, tỉnh Vĩnh Long đã chủ động hướng đến một nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất và

chuyển đổi cây trồng - vật nuôi theo hướng nâng cao giá trị và hiệu quả

Nói về việc luân canh cây màu trên đất lúa thì huyện Bình Tân của tỉnh Vĩnh Long là huyện dẫn đầu về diện tích cũng như sản lượng trong toàn tỉnh với các loại cây màu chủ lực như khoai lang, bắp, dưa hấu, hẹ,…Mặc dù huyện Bình Tân vừa được tách ra từ huyện Bình Minh (năm 2007) nhưng địa phương này đã khá quen thuộc với các chuyên gia, nhà nghiên cứu về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cũng như các Viện, Trường trong khu vực Hiện nay, huyện Bình Tân phổ biến nhiều mô hình canh tác như: lúa 3 vụ, chuyên canh màu trên đất lúa, luân canh hoặc kết hợp giữa cây màu và cây lúa Các mô hình trên có những đặc điểm

và hiệu quả riêng theo từng mô hình canh tác nên việc so sánh và đánh giá hiệu quả sản xuất giữa các mô hình canh tác là cần thiết nhằm tìm ra những mô hình trồng màu trên đất lúa có hiệu quả đồng thời có được những cơ sở khoa học đáp

ứng những nhu cầu nghiên cứu về sau Với lý do đó, nghiên cứu: “So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long” được lựa chọn để

thực hiện

Trang 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến mô hình luân canh lúa - khoai và

mô hình luân canh lúa - bắp tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Hiện trạng sản xuất mô hình luân canh lúa - khoai và luân canh lúa - bắp tại huyện Bình Tân như thế nào? Có những thay đổi gì về diện tích và năng suất của 2 mô hình?

- Hiệu quả sản xuất của 2 mô hình này như thế nào? Việc sản xuất của mô hình nào sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn?

- Những yếu tố nào tác động đến hiệu quả kinh tế của 2 mô hình sản xuất?

1.4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Các nông hộ đang canh tác mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp tại xã Thành Đông, Tân Quới của huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long năm 2010

Trang 4

Giới hạn nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu của đề tài tập trung vào việc đánh giá, phân tích thực trạng sản xuất của mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp Nghiên cứu còn phân tích hiệu quả kinh tế của hai mô hình

Đề tài không nghiên cứu hiệu quả kĩ thuật cũng như hiệu quả xã hội của mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp

Giới hạn vùng nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung ở xã Thành Đông, Tân Quới của huyện Bình Tân, Vĩnh Long

Thời gian nghiên cứu: tháng 8 đến tháng 12 năm 2010 1.5 Đối tượng thụ hưởng

Những nông hộ canh tác theo phương thức trồng khoai, bắp trên nền đất lúa tại huyện Bình Tân nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung

Kết quả nghiên cứu là cơ sở số liệu thứ cấp cho các nghiên cứu liên quan đến việc so sánh cây màu trên nền đất lúa

Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để các phòng nông nghiệp & phát triển nông thôn, trạm khuyến nông và chính quyền địa phương có những khuyến cáo, chính sách thích hợp, kịp thời hỗ trợ nông dân trong khâu sản xuất

1.6 Kết quả mong đợi

Đánh giá được mô hình hiệu quả về mặt kinh tế cũng như việc canh tác loại cây màu thích hợp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Đồng thời, thông qua nghiên cứu này sẽ làm cơ sở cho chính quyền địa phương có cách nhìn tổng quát hơn về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở địa phương mình đặt biệt là các

mô hình canh tác cây màu trên nền đất lúa

Trang 5

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Lược khảo tài liệu

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phương Trang (2008) cho thấy “Đối với

mô hình trồng 3 vụ lúa trong năm có tổng chi phí thấp hơn mô hình trồng 2 vụ lúa

- màu là 31.554.000 đồng/ha Nguyên nhân là do trồng màu tốn nhiều chi phí hơn trồng lúa Tuy nhiên, xét về thu nhập thì mô hình lúa - màu mang lại thu nhập cao hơn là 22.414.000 đồng/ha Cứ bình quân 1 vụ trồng màu mang lại thu nhập là 25.950.000 đồng/ha, cao hơn trồng lúa vụ 3 Ngoài ra, việc áp dụng mô hình 2 lúa

- 1 màu còn làm tăng độ phì nhiêu cho đất, hạn chế tình trạng suy thoái và bạc màu đất”

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoàng (2010) cho thấy “Mô hình luân canh lúa - khoai lang có chi phí đầu tư cao hơn mô hình độc canh lúa khoảng 11,36 triệu đồng/ha Tuy nhiên, lợi nhuận cao hơn độc canh lúa khoảng 21,83 triệu đồng/ha Hiệu quả đồng vốn của mô hình lúa - khoai cao hơn mô hình độc canh lúa khoảng 0,82 đồng và hiệu quả sử dụng lao động cao hơn khoảng 42.000 đồng/ngày công”

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Nga (2009) cho thấy “Nông

hộ sản xuất theo mô hình độc canh lúa thì lợi nhuận của họ không thay đổi từ mô hình này, ngược lại nhiều hộ canh tác theo mô hình lúa - bắp - lúa cho rằng khi ứng dụng mô hình này thì lợi nhuận của họ đã tăng lên so với trước đây Đối với

mô hình độc canh lúa, chi phí đầu tư trên ha khoảng 14,55 triệu đồng/ha, tổng thu khoảng 21,9 triệu đồng/ha, lợi nhuận trên 10 triệu đồng, hiệu quả sử dụng đồng vốn là 2,07, hiệu quả sử dụng lao động là 392.000 đồng/ngày công Mô hình lúa - bắp - lúa chi phí đầu tư trên ha khoảng 15,68 triệu đồng/ha, tổng thu là khoảng 22,8 triệu đồng/ha, lợi nhuận khoảng 10,54 triệu đồng/ha, hiệu quả sử dụng đồng vốn là 2,66, hiệu quả sử dụng lao động là 385.000 đồng/ngày công Như vậy, kết quả trên cho thấy mô hình lúa - bắp - lúa là mô hình có hiệu quả hơn do có mức lợi nhuận và hiệu quả sử dụng đồng vốn cao hơn so với mô hình còn lại”

Trang 6

Kết quả nghiên cứu của Quan Minh Nhựt (2005) cho thấy “Hiệu quả kinh

tế và hiệu quả theo quy mô của nhóm hộ sản xuất theo mô hình luân canh 2 vụ lúa

1 vụ đậu nành cao hơn nhóm hộ sản xuất theo mô hình độc canh 3 vụ lúa”

Kết quả nghiên cứu của Trần Thanh Phương (2010) cho thấy “Trong tổng

số hộ điều tra là 60 thì kết quả cho thấy rằng tổng chi phí đầu tư cho 1 ha lúa vụ Đông - Xuân là 7,43 triệu đồng, Xuân - Hè là 8,22 triệu đồng, Hè Thu là 6,92 triệu đồng Lợi nhuận thu được từ 1 ha lúa vụ Đông - Xuân 18,37 triệu đồng, Xuân - Hè

là 11 triệu đồng, Hè - Thu là 8,2 triệu đồng Hiệu quả đồng vốn sản xuất vụ lúa Đông - Xuân là 2,47 đồng, Xuân - Hè 1,34 đồng, Hè - Thu là 1,19 đồng Hiệu quả lao động của sản xuất lúa vụ Đông - Xuân là 280.770 đồng/ngày công, Xuân - Hè

là 154.740 đồng/ngày công, Hè - Thu là 121 510 đồng/ngày công

2.2 Một số khái niệm

2.2.1 Nông hộ

Nông hộ là những gia đình nông dân là nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp,…hoặc kết hợp làm nhiều nghề, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất, kinh doanh nông nghiệp (Nguồn: wwww.bachkhoatoanthu.gov.vn)

2.2.2 Luân canh

Luân canh là sự luân phiên cây trồng theo không gian và thời gian Luân phiên theo không gian là kiểu luân phiên thay đổi chỗ trồng của một loại cây, từ mảnh đất này sang mảnh đất khác, cho đến khi trở lại chỗ cũ Luân canh theo thời gian là sự luân phiên cây trồng sau một vài vụ hay một vài năm mới trồng lại cây

cũ trên cũng một mảnh đất, một không gian

Luân canh tăng vụ là một phương thức canh tác phá bỏ thế độc canh Một

hệ thống luân canh thích hợp có tác dụng tăng hiệu quả sử dụng đất, tăng tổng sản lượng trên diện tích canh tác, cải thiện độ phì của đất trồng, nhất là khi cây họ đậu được đưa vào cơ cấu cây trồng, hạn chế sâu bệnh và cỏ dại, điều hòa và sử dụng hợp lý nhân lực (Nguồn: wwww.bachkhoatoanthu.gov.vn)

Trang 7

2.2.3 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế (HQKT) là chỉ tiêu biểu hiện kết quả hoạt động sản xuất, rộng hơn của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính HQKT là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất - kinh doanh, nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu Tùy theo mục đích đánh giá, có thể đánh giá HQKT bằng những chỉ tiêu khác nhau như năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu hồi vốn, chỉ tiêu thường được tổng hợp nhiều nhất là doanh thu và lợi nhuận thu được so với tổng số vốn

bỏ ra Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, chỉ tiêu HQKT là tỉ trọng thu nhập quốc dân trong tổng sản phẩm xã hội Trong nhiều trường hợp, để phân tích các vấn đề kinh tế có quan hệ chặt chẽ với các vấn đề xã hội, khi tính HQKT, phải xem trọng về mặt xã hội (như tạo thêm việc làm giảm thất nghiệp, tăng cường an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố sự đại đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, và công bằng xã hội), từ đó có khái niệm hiệu quả kinh tế - xã hội (Nguồn: www.bachkhoatoanthu.gov.vn)

2.3 Tổng quan vùng nghiên cứu

Phía Bắc và Đông Bắc giáp Tỉnh Tiền Giang và Bến Tre

Phía Tây và Tây Nam giáp Tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng

Phía Đông và Đông Nam giáp Tỉnh Trà Vinh

Phía Tây Bắc giáp Tỉnh Đồng Tháp

Trang 8

Hình 2.1: Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 9

Tỉnh Vĩnh Long nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn trọng điểm phía Nam; nằm giữa trung tâm kinh tế quan trọng là Thành phố Cần Thơ và Thành phố

Hồ Chí Minh Chính nơi đây vừa là trung tâm kinh tế - khoa học kỹ thuật - văn hóa - quốc phòng, vừa là thị trường lớn sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trong đó có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý, phân bố sử dụng đất đai Đặc biệt là khả năng chi phối của Trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ của Thành phố Cần Thơ (Trường Đại học Cần Thơ, Viện lúa ĐBSCL, khu Công nghiệp Trà Nóc, ) và Viện cây ăn quả miền Nam (Tiền Giang) là một trong những lợi thế đặc biệt của Vĩnh Long trong sự phát triển kinh tế ở hiện tại và tương lai

Với vị trí địa lý như trên trong tương lai Vĩnh Long là nơi hội tụ và giao lưu giữa giao thông thủy bộ (đường cao tốc, các quốc lộ 1A, 53, 54, 57, 80 được nâng cấp mở rộng, có trục đường thủy nội địa sông Mang Thít nối liền sông Tiền và sông Hậu trong trục đường thủy quan trọng từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống các vùng tây nam sông Hậu), cửa ngõ trong việc tiếp nhận những thành tựu về phát triển kinh tế của TPHCM và các khu công nghiệp miền đông và là trung tâm trung chuyển hàng nông sản từ các tỉnh phía Nam sông Tiền lên TPHCM và hàng công nghiệp tiêu dùng từ TPHCM về các tỉnh miền tây Mặt khác đây là vùng có tiềm năng về phát triển du lịch xanh với sinh cảnh sông nước, nhà vườn Đồng thời với

hệ thống giao thông thủy bộ phát triển ngày càng hoàn thiện, Vĩnh Long với vị trí địa lý có nhiều mặt lợi thế như đã nêu trên sẽ tạo động lực cho sự phát triển kinh tế

- xã hội theo các hướng trục giao thông thủy bộ đã được quy hoạch của tỉnh (Nguồn:www.vinhlong.gov.vn)

2.3.1.2 Điều kiện tự nhiên

Địa hình – địa mạo

Tỉnh Vĩnh Long có dạng địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2 độ,

có cao trình khá thấp so với mực nước biển (cao trình < 1,0 m chiếm 62,85% diện tích) Với dạng địa hình đồng bằng ngập lụt cửa sông, tiểu địa hình của tỉnh có dạng lòng chảo ở giữa trung tâm tỉnh và cao dần về 2 hướng bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Mang Thít và ven các sông rạch lớn Trên từng cánh đồng có những chỗ

gò (cao trình từ 1,2 - 1,8 m) hoặc trũng cục bộ (cao trình < 0,4 m) Phân cấp địa hình của tỉnh có thể chia ra 3 cấp như sau:

Trang 10

- Vùng có cao trình từ 1,2 - 2,0 m: 29.934,21 ha - chiếm 22,74% Phân bố ven sông Hậu, sông Tiền, sông Mang Thít, ven sông rạch lớn cũng như đất cù lao giữa sông và vùng đất giồng gò cao của Huyện Vũng Liêm, Trà Ôn Nơi đây chính là địa bàn phân bố dân cư đô thị, các khu công nghiệp và dân cư nông thôn sống tập trung ven sông rạch lớn và trục giao thông chính, đầu mối giao thông thủy bộ; nông nghiệp chủ yếu cơ cấu lúa - màu và cây ăn quả

- Vùng có cao trình từ 0,8 -1,2m: 60.384,93 ha - chiếm 45,86% Phân bố chủ yếu là đất cây ăn quả, kết hợp khu dân cư và vùng đất cây hàng năm với cơ cấu chủ yếu lúa - màu hoặc 2-3 vụ lúa có tưới động lực, tưới bổ sung trong canh tác, thường xuất hiện ở vùng ven Sông Tiền, Sông Hậu và sông rạch lớn của tỉnh

- Vùng có cao trình từ 0,4 - 0,8 m: 39.875,71 ha - chiếm 30,28% Phân bố chủ yếu là đất 2-3 vụ lúa cao sản (chiếm 80% diện tích đất lúa) với tiềm năng tưới tự chảy khá lớn, năng suất cao; đất trồng cây lâu năm phải lên liếp, lập bờ bao mới đảm bảo sản xuất an toàn, trong đó vùng phía Bắc quốc lộ 1A là vùng chịu ảnh hưởng lũ tháng 8 hàng năm, dân cư phân bố ít trên vùng đất này

- Vùng có cao trình nhỏ hơn 0,4 m: 1.481,15 ha - chiếm 1,12% có địa hình thấp trũng, ngập sâu; cơ cấu sản xuất nông nghiệp chủ yếu lúa 2 vụ (lúa Đông Xuân - Hè Thu, lúa Hè Thu) trong điều kiện quản lý nước khá tốt Tỉnh Vĩnh Long nằm trên trục quốc lộ 1A chạy ngang qua tỉnh và quốc lộ 53, 54, 80 nối liền với tỉnh Trà Vinh, Đồng Tháp và Quốc lộ 57 nối liền với tỉnh Bến Tre Cùng với mạng lưới sông rạch khá dầy, Vĩnh Long có ưu thế về điều kiện nước đối với nông nghiệp và là mạng lưới giao thông thủy, bộ thuận lợi nối liền Vĩnh Long với các tỉnh ĐBSCL và cả nước Với điều kiện tự nhiên ưu đãi, tỉnh Vĩnh Long có nền nông nghiệp phát triển và sản xuất được quanh năm, nông thôn khá trù phú, dân cư quần tụ đông đúc, kinh tế miệt vườn là truyền thống của tỉnh Khu công nghiệp của tỉnh phân bố theo trục lộ giao thông chính như: khu công nghiệp Bắc Cổ Chiên, khu công nghiệp Bình Minh, khu công nghiệp Hòa Phú, khu sản xuất gạch ngói dọc theo đường tỉnh 902, và ven sông Tiền với cảng Vĩnh Thái và khu sản xuất gạch ngói khá phát triển Sông Mang Thít nối liền giữa sông Tiền - sông Hậu

là trục giao thông thủy quan trọng của Tỉnh và ĐBSCL, đồng thời là vùng phát triển khu sản xuất công nghiệp mía đường Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có sân bay quân sự nhưng hiện nay khu vực sân bay này đang xuống cấp và bị lấn chiếm,

Trang 11

tuy nhiên đây cũng là một trong những lợi thế nếu được đầu tư nâng cấp hình thành sân bay dân dụng sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh

Ưu thế về giao thông thủy bộ là nền tảng quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Long trong tương lai

Do trong quá trình phát triển sản xuất với sự ứng dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp như hệ thống đê bao, hệ thống kinh thủy lợi,

hệ thống cống đập, kỹ thuật canh tác của từng đối tượng cây trồng nên hiện nay đang có sự thay đổi cục bộ về cao trình Hiện nay, Chính Phủ đang giao Tổng Cục Địa Chính để khảo sát để xây dựng lại bản đồ địa hình vùng ĐBSCL nói chung và Tỉnh Vĩnh Long nói riêng theo mực nước biển gốc tại mũi Nai (Hà Tiên) Vĩnh Long phân bố trọn trong vùng phù sa nước ngọt, trước đây là nơi được khai phá và phát triển sớm nhất ở ĐBSCL (khoảng trên 259 năm) (Nguồn: www.vinhlong.gov.vn)

Khí hậu

Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế

độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào

* Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình cả năm từ 27 - 28oC, so với thời kỳ trước năm 1996 nhiệt độ trung bình cả năm có cao hơn khoảng 0,5-1oC Nhiệt độ tối cao 36,9oC; nhiệt độ tối thấp 17,7oC Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm bình quân 7-8oC

* Bức xạ: Bức xạ tương đối cao, bình quân số giờ nắng/ngày là 7,5 giờ Bức

xạ quang hợp/năm 795.600 kcal/m2 Thời gian chiếu sáng bình quân năm đạt 2.181 - 2.676 giờ/năm Điều kiện dồi dào về nhiệt và nắng là tiền đề cho sự phát triển nông nghiệp trên cơ sở thâm canh, tăng vụ

* Ẩm độ: ẩm độ không khí bình quân 74 - 83%, trong đó năm 1998 có ẩm độ bình quân thấp nhất 74,7%; ẩm độ không khí cao nhất tập trung vào tháng 9 và tháng 10 giá trị đạt trung bình 86 - 87% và những tháng thấp nhất là tháng 3 ẩm độ trung bình 75-79%

* Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi bình quân hàng năm của tỉnh khá lớn, khoảng 1.400-1.500mm/năm, trong đó lượng bốc hơi/ tháng vào mùa khô là 116-

179 mm/tháng

Trang 12

* Lượng mưa và sự phân bố mưa: Lượng mưa bình quân qua các năm từ

1995 đến 2001 có sự chênh lệch khá lớn Tổng lượng mưa bình quân cao nhất trong năm là 1.893,1 mm/năm (năm 2000) và thấp nhất 1.237,6 mm/năm điều này cho thấy có sự thay đổi thất thường về thời tiết Do đó ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi các đặc trưng của đất đai cũng như điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp Mặt khác, lượng mưa năm của tỉnh phân bố tập trung vào tháng 5-11 (dương lịch), chủ yếu vào tháng 8-10 (âm lịch) (Nguồn: www.vinhlong.gov.vn)

2.3.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất

Tỉnh Vĩnh Long có 147.520 ha đất tự nhiên Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 119.659 ha, chiếm 81,11%; không có diện tích trồng rừng, chiếm 0%; diện tích đất chuyên dùng là 7.492 ha, chiếm 5,07%; diện tích đất ở là 4.421 ha,

chiếm 3%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối là 15.948 ha, chiếm 10,8%

Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 80.401 ha, chiếm 67,19%, trong đó có 89% là diện tích gieo trồng lúa 2 vụ; diện tích đất trồng cây lâu năm là 37.107 ha, chiếm 31%; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 524 ha, chiếm 0,43% (Nguồn: www.cema.gov.vn)

Tài nguyên nước

Phần lớn ranh giới Vĩnh Long với các tỉnh khác được bao bọc bởi sông Hậu Giang và sông Tiền Giang nên có nguồn nước ngọt dồi dào quanh năm (sông Tiền tại Mỹ Thuận: Lưu lượng mùa kiệt từ 563 - 1.900m3/s và mùa lũ từ 10.406 - 16.300m3/s; sông Hậu: Bình quân lưu lượng mùa kiệt từ 1.180 -1.576m3/s và mùa

lũ là 21.500m3/s Mùa lũ nước sông đem theo phù sa (tháng 8 - 10), trung bình từ 0,25 - 0,31kg/m3 có thể kéo sâu vào nội đồng từ 15 - 25km thuận lợi cho nhân dân trồng các loại cây hoa màu và nuôi trồng thuỷ sản (Nguồn: www.cema.gov.vn)

Trang 13

2.3.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

Theo báo cáo số 67/BC-UBND ngày 23 tháng 06 năm 2009 của ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về tình hình kinh tế - xã hội cho thấy:

Về kinh tế:

Ước tính tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GDP) 6 tháng đầu năm (theo giá

so sánh) tăng 6,4 % so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm thủy sẳn tăng 5,6 %; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 2,66%; khu vực dịch vụ tăng 9,73% Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm chuyển dịch rất ít do giá trị sản xuất công nghiệp chỉ tăng 0,51% so với cùng kỳ nên: khu vực I tỷ trọng còn cao, chiếm 53,57%; khu vực II chiếm 15,64%; khu vực III chiếm 30,79%

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng đầu năm tuy thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, nhưng trong tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu và cả nước thì việc đạt được tốc độ trên cũng là một cố gắng của tỉnh

Về văn hóa – xã hội: quy mô dân số tự nhiên: 1.028.365 người Mật độ:

697 người/ km2 (Nông thôn: 85,16%, thành thị: 14,84%)

Giải quyết việc làm mới cho 12.900 lao động, trong đó đưa được 25 người lao động có thời hạn ở nước ngoài

Tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,4%

2.3.2 Tổng quan huyện Bình Tân

Huyện Bình Tân là huyện mới được thành lập vào ngày 31/07/2007 thuộc tỉnh Vĩnh Long Toàn huyện có 15.288,63 ha diện tích tự nhiên và 93.758 nhân khẩu, huyện có 11 đơn vị hành chính cấp xã gồm: Mỹ Thuận, Nguyễn Văn Thảnh, Thành Lợi, Thành Đông, Thành Trung, Tân Quới, Tân Thành, Tân Bình, Tân Hưng, Tân Lược, Tân An Thạnh

Phía Đông của huyện Bình Tân giáp huyện Tam Bình, phía Tây Nam giáp thành phố Cần Thơ, phía Nam giáp huyện Bình Minh, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu mua bán hàng hóa

Theo báo cáo tổng kết ngành Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn năm

2009 và phương hướng năm 2010 của huyện:

Trang 14

Được sự tập trung chỉ đạo chuyển dịch của Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Huyện Ủy, Ủy ban nhân dân huyện, sự tác động tích cực của ban ngành đoàn thể cùng với sự phối hợp chặt chẽ của Ủy ban nhân dân các xã việc chuyển dổi cơ cấu sản xuất đưa cây màu luân canh trên đất lúa được phát triển rộng rãi ở hầu hết các xã trong huyện và được khẳng định là phù hợp với quy hoạch chung của tỉnh, đặc biệt là trong giai đoạn rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá lúa hiện nay, nên trong thời gian tới sẽ được đa số nông dân tham gia thực hiện rộng rãi và tích cực hơn Nếu như trong năm 2008 diện tích trồng màu của huyện là 8.060 ha, thì năm 2009 là 10.071 ha Chủ yếu là các loại màu như: khoai lang, đậu nành, đậu xanh, bắ, mè, rau cải các loại,…

Mô hình nuôi thủy sản theo hướng công nghiệp ở các xã ven sông hậu vẫn được duy trì, đã góp phần không nhỏ làm đa dạng hàng hóa nông sản trên địa bàn huyện Đồng thời, một số hộ chuyển các ao nuôi cá thương phẩm sang nuôi cá giống đã góp phần giải quyết nguồn con giống tại địa phương

Các câu lạc bộ khuyến nông, hợp tác xã nông nghiệp, tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp không ngừng được củng cố Từ đó, đã trở thành những nhân tố quan trọng trong chuyển giao những tiến bộ khoa học kĩ thuật nông nghiệp đến tận nông thôn Đặc biệt là các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện đã bắt bắt ký kết các hợp đồng bao tiêu một số loại nông sản cho xã viên, xã viên đã an tâm sản xuất, hiệu quả từng bước được nâng cao Bên cạnh đó, nông dân đã quen dần cách nhìn nhu cầu thị trường để sản xuất nông sản, từ đó nông sản bớt bị ép giá, sản xuất có hiệu quả hơn

Trang 15

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp thu thập số liệu

3.1.1 Số liệu thứ cấp

Các thông tin thứ cấp thu thập từ các báo cáo hàng năm của phòng Nông nghiệp, niên giám của Cục thống kê, Chi cục thống kê của huyện, tỉnh và các luận văn tốt nghiệp đại học, cao học, các website về kinh tế, nông nghiệp,

Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội của huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long năm 2009, đầu năm 2010

Các kết quả nghiên cứu về các mô hình luân canh cây màu trên đất lúa đã được thực hiện

3.1.2 Số liệu sơ cấp

Nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp từ việc trực tiếp điều tra 40 hộ sản xuất thuộc xã Thành Đông và Tân Quới, huyện Bình Tân (20 hộ canh tác mô hình luân canh lúa - khoai, 20 hộ canh tác mô hình luân canh lúa - bắp) bằng bản câu hỏi soạn sẵn (phụ lục 1)

Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia - PRA (Participatory Rural Appraisal) với sự tham gia của nông dân, cán bộ khuyến nông

cơ sở để đánh giá thực trạng canh tác

3.2 Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm Excel và SPSS làm công cụ nhập và phân tích số liệu

3.2.1 Phương pháp hạch toán kinh tế toàn phần

Khác với phương pháp phân tích kinh tế từng phần chỉ có một thành phần nào đó được đánh giá Phương pháp hạch toán kinh tế toàn phần được sử dụng trong trường hợp nhiều loại cây trồng, vật nuôi hay mô hình nằm trong hoặc kết hợp trong toàn hệ thống

Trang 16

Trường hợp cần so sánh hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình canh tác trong cùng điều kiện sinh thái nông nghiệp thì phân tích kinh tế toàn phần sẽ được áp dụng

Hạch toán kinh tế toàn phần RAVCs (Return Above Variable Costs)

RAVCs còn gọi là Gross Margin (GM) giúp phân tích nguyên nhân nào của chi phí ảnh hưởng đến mức độ thu nhập của mô hình canh tác, để suy xét giải pháp

kĩ thuật làm giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận mô hình Nên cũng được gọi là phân tích chi phí và lợi nhuận

Chi phí biến động: bao gồm các chi phí tiền mặt mà người sản xuất phải chi trả trong quá trình sản xuất như vật tư, thuê mướn lao động, thuế, lãi vay,

Chi phí kinh tế là bao gồm chi phí kế toán và chi phí cơ hội

Chi phí kế toán là chi chí bằng tiền mặt chi ra cho hoạt động nào đó và được ghi chép trong sổ sách kế toán

Chi phí bằng tiền mặt trong nghiên cứu này bao gồm các khoản: chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí công lao động, công thu hoạch

Chi phí cơ hội được hiểu là những lợi ích mất đi khi chọn phương án này

mà không chọn phương án khác

Trong nghiên cứu này, khi phân tích không đề cập đến chi phí cơ hội

Tổng chi phí = Tổng chi phí tiền mặt Tổng thu = Doanh thu * Giá bán + Phụ phẩm (nếu có) Lãi thuần (ròng) = Tổng thu – Tổng chi

Hiệu quả đồng vốn (HQĐV) cho biết khi bỏ ra một đồng đầu tư thì thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận

HQĐV = Lãi thuần/ Tổng chi Tổng ngày công lao động (NCLĐ) là số ngày công (lao động thuê và lao động mướn) cần thiết phục vụ cho tất cả các khâu trong sản xuất

Hiệu quả lao động (HQLĐ): cho biết khi bỏ ra một ngày công lao động thì thu về bao nhiêu tiền

Trang 17

HQLĐ = lãi thuần/ tổng ngày công lao động

3.2.2 Phương pháp thông kê mô tả

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm của nông hộ sản xuất, thực trạng sản xuất của hai mô hình nghiên cứu

Thống kê mô tả là phương pháp đo lượng và trình bày số liệu trong lĩnh vực kinh tế - xã hội bằng những biểu bảng hoặc đồ thị,…

Bảng thống kê là hình thức trình bày số liệu và thông tin sau khi đã được xử

lý và phân tích Nhờ đó, mà người nghiên cứu và người đọc có thể nhận xét tổng quan về vấn đề nghiên cứu

3.2.4 Phương pháp hồi quy tương quan

Phương pháp hồi quy không chỉ mô tả các dữ liệu quan sát được mà còn dùng để phân tích một hay nhiều biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc

Phương trình hồi quy đa biến có dạng

Y = β0 + β1*X1 + β2*X2 +…… + βi*Xi Trong đó: Y là biến phụ thuộc, Xi là biến thứ i, βi là hệ số riêng phần biến thứ i

Hệ số hồi quy riêng (βi) cho biết ảnh hưởng từng biến độc lập lên giá trị trung bình của biến phụ thuộc khi các yếu tố khác không đổi Hệ số này cho biết khi Xi tăng hay giảm 1 đơn vị thì biến Y sẽ tăng hay giảm bao nhiêu đơn vị

Để biết mô hình hồi quy tuyến tính được xây dựng trên cơ sở dữ liệu mẫu phù hợp đến mức độ nào thì chúng ta cần dùng hệ số xác định R2 (coefficient of

Trang 18

determination) R2 càng lớn chứng tỏ biến phụ thuộc Y giải thích hoặc quyết định bởi các biến độc lập Xi càng lớn, nói cách khác là R2 càng gần 1 thì mô hình được xây dựng càng thích hợp

Kiểm định giả thuyết hồi quy Đặt giả thuyết:

H0 : βi = 0, tức là các biến độc lập không ảnh hưởng đến biến phụ thuộc H1 : βi ≠ 0, tức là các biến độc lập có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc

Hệ số tương quan R dùng để lượng hóa mức độ chặt chẽ của mối quan hệ tuyến tính giữa hai biến định lượng, được xác định ở bảng tương quan (corelation) Trị tuyệt đối của R cho biết mức độ chặt chẽ của mối quan hệ tuyến tính Giá trị tuyêt đối của R tiến gần đến 1 khi hai biến có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ (khi các điểm phân tán xếp thành một đường thẳng thì trị tuỵệt đối của R = 1) Kiểm định t được sử dụng để kiệm định sự sai khác các trung bình tổng thể

Trang 19

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

Đối với mô hình lúa - khoai có 5 chủ hộ trên 60 tuổi (chiếm 25%), có 9 chủ

hộ từ 40 – 60 tuổi (chiếm 45%), còn lại là dưới 40 tuổi (chiếm 30%) Ở mô hình lúa - bắp, số chủ hộ ở độ tuổi từ 40 – 60 cao hơn, có 14 chủ hộ (chiếm 70%), còn lại là trên 60 tuổi có 1 chủ hộ (chiếm 5%) và duới 40 tuổi có 5 chủ hộ (chiếm 25%)

Bảng 4.1 Tuổi chủ hộ theo hai mô hình canh tác

Khoảng biến động (tuổi) 27 - 63 28 - 63 27 - 63

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

Trang 20

4.1.1.2 Trình độ học vấn chủ hộ

Về trình độ học vấn của chủ hộ, Bảng 4.2 cho thấy, không có chủ hộ nào có trình độ Đại học - Cao Đẳng, mà phân bố chủ yếu là cấp 1, cấp 2, cấp 3 và không

đi học Trong 40 hộ điều tra có 10 hộ có trình độ cấp 1 (chiếm 25%), có đến 12 hộ

có trình độ là cấp 2 (chiếm 30%) và trình độ cấp 3 có 9 hộ (chiếm 22,5%), còn lại

là 9 hộ không biết chữ (chiếm 22,5%)

Ở cả hai mô hình canh tác, sự phân bố trình độ học vấn tương đối đồng đều nhau Mô hình lúa - khoai có 4 chủ hộ có trình độ học vấn là cấp 3 (chiếm 20%) thì ở mô hình lúa - bắp có 5 chủ hộ trình độ cấp 3 (chiếm 25%) Trình độ học vấn cấp 2, ở mô hình lúa - khoai có 6 chủ hộ (chiếm 30%), mô hình lúa - bắp có 6 chủ

hộ (chiếm 30%) Trình độ cấp 1, mô hình lúa - khoai có 5 chủ hộ (chiếm 25%),

mô hình lúa - bắp có 5 chủ hộ (chiếm 25%) Còn lại không biết chữ, mô hình lúa - khoai có 5 chủ hộ (chiếm 25%), mô hình lúa - bắp có 4 chủ hộ (chiếm 20%)

Bảng 4.2 Trình độ học vấn của chủ hộ theo hai mô hình canh tác

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

4.1.2 Thông tin về nông hộ

4.1.2.1 Số nhân khẩu trong gia đình

Qua Bảng 4.3 cho thấy, số nhân khẩu trong một nông hộ dao động từ 3 - 8 người Phần lớn nông hộ có số nhân khẩu từ từ 4 - 6 người (18 hộ, chiếm 45%), kế đến là các hộ có số nhân khẩu trên 6 người (14 hộ, chiếm 35%), còn lại là các hộ

có số nhân khẩu dưới 4 người (8 hộ, chiếm 20%)

Trang 21

Đối với mô hình lúa - khoai có 9 hộ có số nhân khẩu trên 6 người (chiếm 45%), kế tiếp là có 8 hộ có số nhân khẩu từ 4 - 6 người (chiếm 40%), còn lại là 3

hộ có số nhân khẩu dưới 4 người (chiếm 15%) Mô hình lúa - bắp, sự phân bố số nhân khẩu ở các chủ hộ không có sự khác biệt lớn so với mô hình lúa - khoai; số nhân khẩu từ 4 – 6 có 10 hộ (chiếm 50%), dưới 4 nhân khẩu có 5 hộ (chiếm 25%), còn lại trên 6 nhân khẩu có 5 hộ (chiếm 25%)

Bảng 4.3 Số nhân khẩu trong nông hộ của hai mô hình canh tác

Số nhân khẩu Lúa - khoai Lúa - bắp Tổng

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

4.1.2.2 Trình độ học vấn các thành viên

Tất cả các thành viên trong tổng số hộ điều tra đều được đi học, một số thành viên còn nhỏ chưa đủ tuổi đến trường Bên cạnh đó, có một số thành viên có trình độ Đại Học - Cao Đẳng (ĐH - CĐ) Bảng 4.4 cho thấy, có 19 thành viên trong 40 hộ điều tra có trình độ ĐH - CĐ (chiếm 11,2%), cấp 3 có 60 thành viên (chiếm 35,5%), cấp 2 có 49 thành viên (chiếm 29%), cấp 1 có 28 thành viên (chiếm 16,6%), còn lại các thành viên còn nhỏ (chưa đi học)

Nhìn chung, trình độ học vấn của các thành viên ở cả hai mô hình canh tác tương đối khá vì đời sống nông hộ được cải thiện nhiều hơn so với trước kia và điều kiện học tập cũng tốt hơn nên đa số chủ hộ đều quan tâm đến trình độ học vấn các thành viên trong hộ

Trang 22

Bảng 4.4 Trình độ học vấn các thành viên trong hộ gia đình

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

4.1.2.3 Số người tham gia sản xuất trong nông hộ

Bảng 4.5 cho thấy, số người tham gia sản xuất nông nghiệp bình quân ở nông hộ tương đối thấp, qua 40 hộ được khảo sát có 11 hộ là có số người tham gia sản xuất nông nghiệp trên 4 người (chiếm 27,5%), 18 hộ có số người tham gia sản xuất nông nghiệp từ 2 – 4 người (chiếm 45%), còn lại là dưới 2 người (11 hộ, chiếm 27,5%) Đây là thực trạng chung (thiếu lực lượng lao động tham gia sản xuất nông nghiệp) ở ĐBSCL với nhiều lý do khác nhau như sản xuất nông nghiệp vất vả, mang tính thời vụ, nên nhiều người trong độ tuổi lao động tản cư lên các thành phố lớn tìm kiếm việc làm

Đối với mô hình lúa - khoai có 9 hộ có số người tham gia sản xuất nông nghiệp trên 4 người (chiếm 45%), ở mô hình lúa - bắp số con số này chỉ là 2 hộ (chiếm 10%) Số người tham gia sản xuất từ 2 - 4 người chiếm số lượng nhiều nhất, mô hình lúa - khoai (6 hộ, chiếm 30%), mô hình lúa - bắp (12 hộ, chiếm 60%) Còn lại là dưới 2 người tham gia sản xuất nông nghiệp, mô hình lúa - khoai

có 5 hộ (chiếm 25%), mô hình lúa - bắp có 6 hộ (chiếm 30%)

Trang 23

Bảng 4.5 Số người tham gia sản xuất nông nghiệp trong nông hộ

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

4.1.2.4 Kinh nghiệm sản xuất

Kinh nghiệm trồng lúa

Lúa là cây trồng lâu đời không chỉ ở Vĩnh Long, khu vực ĐBSCL mà của

cả nước, lúa còn là cây lương thực quan trọng Chính vì vậy, nông dân - những người trực tiếp sản xuất có nhiều năm kinh nghiệm trong sản xuất loại cây trồng quan trọng này Qua khảo sát 40 hộ canh tác ở hai mô hình, đa số chủ hộ (cũng là lao động sản xuất chính của hộ) chính đều có nhiều năm kinh nghiệm sản xuất lúa Trung bình mỗi hộ có 25,03 năm kinh nghiệm, cao nhất là 45 năm và thấp nhất là

6 năm

Trang 24

Bảng 4.6 Kinh nghiệm trồng lúa của hai mô hình

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

Kinh nghiệm trồng khoai

So với kinh nghiệm trồng lúa thì số năm kinh nghiệm trồng khoai ít hơn, trung bình khoảng 20,35 năm, cao nhất là 42 năm và thấp nhất là 3 năm

Bảng 4.7 Kinh nghiệm trồng khoai

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

Kinh nghiệm trồng bắp

Bảng 4.8 cho thấy: so với số năm kinh nghiệm trồng lúa và trồng khoai thì

số năm kinh nghiệm trồng bắp ít hơn Trung bình 15 năm, cao nhất là 30 năm và thấp nhất là 3 năm

Trang 25

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

4.2 THÔNG TIN SẢN XUẤT

4.2.1 Diện tích đất canh tác

Qua khảo sát thực tế 40 hộ, có sự khác biệt không lớn về diện tích canh tác của hai mô hình Ở mô hình lúa - khoai, diện tích canh tác cao nhất là 15 công, thấp nhất là 3 công, trung bình là 8 công Mô hình lúa - bắp có diện tích canh tác cao nhất là 8 công và thấp nhất là 2 công, trung bình là 5 công Diện tích đất canh tác trung bình của hai mô hình là 6,7 công

Bảng 4.9 Diện tích đất canh tác của hai mô hình (công)

Mô hình Thấp nhất Cao nhất Trung bình Độ lệch chuẩn

kế đến là vốn vay (11 hộ, chiếm 27,5%), mua vật tư trả chậm (8 hộ, chiếm 20%), còn lại 5 hộ là mua vật tư trả chậm (chiếm 12,5%)

Trang 26

Ở mô hình lúa - khoai có đến 50% số hộ (10 hộ) sử dụng nguồn vốn nhà để phục vụ sản xuất Trong khi đó, mô hình lúa - bắp con số này là 30% (6 hộ) Về nguồn vốn vay, mô hình lúa bắp có 35% số hộ (7 hộ), mô hình lúa - khoai có 20% (4 hộ) Về việc mua vật tư trả chậm và mua vật tư bằng tiền mặt ở cả hai mô hình tương đối như nhau Cụ thể, mua vật tư trả chậm ở mô hình lúa - khoai là 20% (4 hộ) và lúa - bắp cũng là 20% (4 hộ) còn mua vật tư bằng tiền mặt ở mô hình lúa - khoai là 10% (2 hộ), mô hình lúa - bắp là 15% (3 hộ)

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

4.2.3 Lý do lựa chọn mô hình lúa - khoai hoặc lúa - bắp

Qua kết quả khảo sát thực tế, có nhiều lý do để nông hộ đưa ra lựa chọn mô hình sản xuất Bảng 4.12 cho thấy, dễ bán sản phẩm là lý do được lựa chọn nhiều nhất chiếm 85% (số ý kiến), kế đến là có sẵn giống (chiếm 75% số ý kiến đồng ý), điều kiện tự nhiên (chiếm 67,5% số ý kiến), có vốn (chiếm 67,5%), kinh nghiệm sản xuất (chiếm 60%), còn lại là các lý do khác (giá cao, có hợp đồng, có hỗ trợ đầu tư) chiếm thiểu số

Đối với mô hình lúa - khoai, các lý do như điều kiện tự nhiên, có vốn, dễ bán, kinh nghiệm sản xuất, có sẵn giống chiếm đa số Ở mô hình lúa - bắp các lý

do giống như mô hình lúa - khoai cũng chiếm đa số

Trang 27

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

4.2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất

Qua kết quả điều tra thực tế, có 30 hộ (chiếm 75%) cho rằng là thuận lợi về giống và 10 hộ (chiếm 25%) cho rằng khó khăn về yếu tố giống Về kĩ thuật sản xuất có 16 hộ (chiếm 40%) cho rằng thuận lợi và 24 hộ (chiếm 60%) cho rằng là khó khăn

Bảng 4.12 Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất

Yếu tố Tần số Lúa - khoai % Tần số Lúa - bắp % Tần số Tổng %

Trang 28

4.2.5 Sự thay đổi thu nhập khi áp dụng mô hình (năm 2010 so với năm 2009)

Qua khảo sát 40 hộ thì có 22 hộ cho rằng thu nhập tăng khi áp dụng mô hình canh tác (chiếm 55,0%), trong khi đó có 17,5% (chiếm 7 hộ) cho rằng thu nhập giảm khi áp dụng mô hình, còn lại thì cho rằng thu nhập không đổi khi áp dụng mô hình

Ở mô hình lúa - khoai có 60% số hộ cho rằng thu nhập tăng khi áp dụng mô hình (chiếm 12 hộ), ở mô hình lúa - bắp thì có 10 hộ (chiếm 50%) Có 10% (chiếm

2 hộ) ở mô hình lúa - khoai cho rằng thu nhập giảm khi áp dụng mô hình, còn mô hình lúa - bắp thì có 25% (chiếm 5 hộ) cho rằng thu nhập giảm khi áp dụng mô hình Ở mô hình lúa - khoai có 30% (chiếm 6 hộ) cho rằng thu nhập không đổi khi

áp dụng mô hình, còn mô hình lúa - bắp có 5 hộ (chiếm 25%)

Nguyên nhân dẫn đến việc cùng mô hình canh tác nhưng thu nhập tăng, giảm hoặc không đổi khác nhau là do giá bán từng thời điểm khác nhau, giá cả vật

tư lên xuống bất thường, ứng dụng khoa học kĩ thuật ở mức độ khác nhau,… Bảng 4.13 Thay đổi thu nhập khi áp dụng mô hình (năm 2010 so với năm 2009)

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

4.2.6 Định hướng sản xuất của nông hộ

Đa số chủ hộ được khảo sát đồng ý tiếp tục duy trì mô hình đang canh tác (33 hộ, chiếm 82,5%), một số ít muốn thay đổi mô hình canh tác khác (7 hộ, chiếm 17,5%)

Ở cả hai mô hình, tỷ lệ đồng ý tiếp tục duy trì mô hình đang canh tác khá cao, mô hình lúa - khoai có 18 hộ (chiếm 90%), lúa - bắp có 15 hộ (chiếm 75%)

Trang 29

Nguyên nhân dẫn đến sự đồng ý của đa số chủ hộ là điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng các loại cây màu (khoai lang, bắp, dưa hấu, mè,…), lợi nhuận cao, cải thiện độ phì cho đất,

Bảng 4.14 Định hướng sản xuất trong thời gian tới

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

4.2.7 Tình hình áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất

Qua Bảng 4.16 cho thấy, mô hình lúa - khoai có 18 hộ (chiếm 90%) là có

áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, chỉ có 2 hộ (chiếm 10%) không áp dụng kĩ thuật vào sản xuất Mô hình lúa - bắp có 16 hộ (chiếm 80%) áp dụng khoa học kĩ thuật vào xản xuất, còn lại là không áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất

Bảng 4.15 Tình hình áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất

Kĩ thuật sản xuất Lúa - khoai Lúa - bắp Tổng

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2010

4.3 SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA KHOAI VÀ MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA - BẮP

-4.3.1 Hạch toán kinh tế mô hình lúa - khoai trên hộ

Qua Bảng 4.17 cho thấy, tổng chi phí trung bình của lúa là gần 14 triệu đồng (gồm chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí công lao động, công thu hoạch và chi phí khác) So với lúa thì tổng chi phí trung bình của khoai lang cao hơn nhiều (khoảng 36 triệu đồng) Lý do là sản xuất khoai lang tốn nhiều

Ngày đăng: 19/05/2017, 09:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long - Luận văn So Sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Hình 2.1 Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long (Trang 8)
Bảng 4.1 Tuổi chủ hộ theo hai mô hình canh tác - Luận văn So Sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Bảng 4.1 Tuổi chủ hộ theo hai mô hình canh tác (Trang 19)
Bảng 4.2 Trình độ học vấn của chủ hộ theo hai mô hình canh tác - Luận văn So Sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Bảng 4.2 Trình độ học vấn của chủ hộ theo hai mô hình canh tác (Trang 20)
Bảng 4.3 Số nhân khẩu trong nông hộ của hai mô hình canh tác - Luận văn So Sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Bảng 4.3 Số nhân khẩu trong nông hộ của hai mô hình canh tác (Trang 21)
Bảng 4.4 Trình độ học vấn các thành viên trong hộ gia đình - Luận văn So Sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Bảng 4.4 Trình độ học vấn các thành viên trong hộ gia đình (Trang 22)
Bảng 4.8 cho thấy: so với số năm kinh nghiệm trồng lúa và trồng khoai thì - Luận văn So Sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Bảng 4.8 cho thấy: so với số năm kinh nghiệm trồng lúa và trồng khoai thì (Trang 24)
Bảng 4.10 Nguồn vốn phục vụ sản xuất - Luận văn So Sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Bảng 4.10 Nguồn vốn phục vụ sản xuất (Trang 26)
Bảng 4.16: Chi phí và lợi nhuận mô hình lúa - khoai trên hộ năm 2010 - Luận văn So Sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Bảng 4.16 Chi phí và lợi nhuận mô hình lúa - khoai trên hộ năm 2010 (Trang 30)
Bảng 4.22  Các yếu tố ảnh hưởng  đến thu  nhập của  mô hình luân canh lúa -  khoai và mô hình luân canh lúa - bắp - Luận văn So Sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp trên nền đất lúa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Bảng 4.22 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của mô hình luân canh lúa - khoai và mô hình luân canh lúa - bắp (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w