VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAOTRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘIKHOA PHÁP LUẬT DÂN SỰ KIỂM SÁT DÂN SỰ BÀI TIỂU LUẬNChủ đề: Điều kiện và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân mất tích, tuyên bố cá nhân là đã chết.Họ và tên: Phan Quốc NghiệpLớp: K1BMã số sinh viên: 1353801010057Hà Nội, 2014 LỜI NÓI ĐẦUChế định “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt, tuyên bố mất tích, tuyên bố chết” trong bộ Luật dân sự có ý nghĩa quan trọng, vì trong quan hệ dân sự, mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các cá nhân gắn bó chặt chẽ với nhau, việc một người vắng mặt ở nơi cư trú trong một thời gian dài mà không có tin tức chứng minh rằng người dó còn sống hay đã chết sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các chủ thể liên quan khác. Các quy định trong chế định này. Các quy định trong chế định này nhằm giúp cho các giao lưu dân sự được diễn ra thông suốt, bảo vệ được quyền, lợi ích của những người liên quan và của chính người vắng mặt.Xuất phát từ ý nghĩa đó, cùng những gì đã được học từ môn luật dân sự (Phần chung) nên tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Điều kiện và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân mất tích, tuyên bố cá nhân là đã chết.” cho bài tập lớn học kì của mình.Ở đây, tôi có nêu lên các điều kiện và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân mất tích, tuyên bố chết. Qua đó, tôi có nêu lên những điều kiện của việc cá nhân muốn tuyên bố một người đã chết hoặc mất tích và hậu quả pháp lí mà cá nhân bị tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết phải gánh chụi.Do phạm vi đề tài khá rộng mà kinh nghiệm chưa tích lũy được nhiều nên trong quá trình làm bài không tránh khỏi những sai sót, rất mong các bạn và thầy cô đóng góp ý kiến để bài làm được hoàn thiện hơn.Tôi xin chân thành cảm ơn A.Tuyên bố cá nhân mất tích và hậu quả pháp lí đối với việc tuyên bố cá nhân mất tích.Điều 78. Tuyên bố một người mất tích 1. Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.I.Điều kiện để tuyên bố cá nhân mất tích.1)Điều kiện về thời gian.Theo quy định trên thì Tòa án chỉ tuyên bố một người là mất tích khi đã biệt tích hai năm liền trở lên mà vẫn không có tin tức nào về người đó còn sống hay đã chết. Các chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà vẫn không có tin tức xác thực là người đó còn sống hay đã chết có thể là sự xác nhận của công an địa phương về việc người đó đã đi khỏi nơi đăng kí thường trú quá hai năm liền mà không hay biết họ ở đâu, công an đã xóa hộ khẩu thường trú (nếu có…).Pháp luật không quy định rõ phạm vi không gian cũng như chủ thể nhận biết tin tức này nhưng căn cứ vào điều 74 bộ luật Dân sự có thể xác định phạm vi không gian là nơi cư trú cuối cùng của người đó (nơi cư trú của cá nhân được xác định tại Điều 52 của Bộ sluật Dân sự 2005)Điều 52. Nơi cư trú 1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống.2)Phải thông qua thủ tục tìm kiếm.Đây là một thủ tục rất cần thiết và không thể thiếu để các Tòa án có thể tuyên bố một người mất tích. Qua thủ tục này, tính chính xác trong quyết định của Tòa án được nâng cao. Tòa án có thể tự thông báo hoặc yêu cầu những người có quyền, lợi ích liên quan thông báo. Hình thức, biện pháp thông báo được quy định trong Luật tố tụng Dân sự, như phạm vi thông báo, điều kiện thông báo... Nghị quyết số 03HĐTP ngày 19101990 của Hội đồng thành phố Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật nêu rõ: “Khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, Tòa án yêu cầu đương sự đến cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của tỉnh, trung ương nhắn tin tìm người vắng mặt và lấy giấy xác nhận của cơ quan đó về việc đã nhắn tin tìm người vắng mặt nộp cho Tòa án để Tòa án thụ lí vụ án. Các chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm như đăng thông báo tìm kiếm trên báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp và phát sóng trên đài phát thanh hoặc đài truyền hình trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp. Như vậy, để thuận lợi cho cho việc xin tuyên bố công dân mất tích cách tốt nhất là phải trình báo ngay với công an địa phương đồng thời đăng kí tìm kiếm trên.3)Phải có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Người có quyền, lợi ích liên quan là những người có mối liên hệ nào đó (hôn nhân gia đình, quan hệ hành chính, quan hệ lao động, quan hệ dân sự,..)với người vắng mặt mà sự vắng mặt của người đó ảnh hưởng tới quyền lợi của họ.Mục đích của việc tuyên bố chết đối với một cá nhân là tạo ra cơ sở pháp lí để những người nói trên có thể thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích của mình. Mặt khác, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì Toà án chỉ thụ lí vụ việc khi có đơn khởi kiện của đương sự. Vì vây, Toà án chỉ có thể ra quyết định tuyên bố môt cá nhân chết khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Bởi vậy, khi xem xét yêu cầu của đương sự, Tòa án phải kiểm tra các điều kiện cần thiết và nếu thấy đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quy định, Tòa án ra quyết định người biệt tích đó là mất tích.II.Hậu quả pháp lí của việc tuyên bố cá nhân mất tích.Việc tuyên bố một người là mất tích kéo theo những hậu quả pháp lí nhất định:1)Tạm thời đình chỉ tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là mất tích, tuy nhiên quyết định này không làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ.2)Tài sản của người bị tuyên bố mất tích được quản lí theo quy định của Tòa án được quy định tại các điều 75, 76, 77, 79 Bộ luật Dân sự 2005 về quản lí tài sản của người vắng mặt, của người bị tuyên bố là mất tích. Điều 75. Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú 1. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho những người sau đây quản lý:a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt uỷ quyền quản lý thì người được uỷ quyền tiếp tục quản lý;b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;c) Tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.2. Trong trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì Toà án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.Điều 76. Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các nghĩa vụ sau đây:1. Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình;2. Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng;3. Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Toà án;4. Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Toà án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.Điều 77. Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các quyền sau đây:1. Quản lý tài sản của người vắng mặt;2. Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt;3. Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản.Điều 79. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tíchNgười đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại khoản 1 Điều 75 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật này.Trong trường hợp Toà án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.Cụ thể: Tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú do người được người vắng mặt ủy quyền quản lí. Trong trường hợp người đó không ủy quyền cho ai quản lí tài sản, nếu là tài sản thuộc sở hữu chung thì sẽ do chủ sở hữu chung còn lại quản lí; nếu tài sản đang do vợ chồng của người đó quản lí thì vợ chồng tiếp tục quản lí, nếu vợ chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con đã thành niên hoặc cha mẹ của người vắng mặt quản lí. Trong trường hợp không có những người quản lí nói trên thì Tòa án chỉ định một trong những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lí tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định cho người khác quản lí tài sản.3)Trong trường hợp vợ chồng của người bị tuyên bố là mất tích xin li hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Sau khi li hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lí; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lí tài sản. B.Tuyên bố cá nhân chết và hậu quả của việc tuyên bố cá nhân chếtĐiều 81. Tuyên bố một người là đã chết 1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:a) Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;b) Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;d) Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 78 của Bộ luật này.2. Tuỳ từng trường hợp, Toà án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
Trang 1VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT DÂN SỰ& KIỂM SÁT DÂN SỰ
BÀI TIỂU LUẬN
Chủ đề: Điều kiện và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cá
nhân mất tích, tuyên bố cá nhân là đã chết.
Họ và tên: Phan Quốc Nghiệp Lớp: K1B
Mã số sinh viên: 1353801010057
Hà Nội, 2014
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Chế định “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt, tuyên bố mất tích, tuyên bố chết” trong bộ Luật dân sự có ý nghĩa quan trọng, vì trong quan hệ dân sự, mối quan
hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các cá nhân gắn bó chặt chẽ với nhau, việc một người vắng mặt ở nơi cư trú trong một thời gian dài mà không có tin tức chứng minh rằng người dó còn sống hay đã chết sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các chủ thể liên quan khác Các quy định trong chế định này Các quy định trong chế định này nhằm giúp cho các giao lưu dân sự được diễn ra thông suốt, bảo vệ được quyền, lợi ích của những người liên quan và của chính người vắng mặt
Xuất phát từ ý nghĩa đó, cùng những gì đã được học từ môn luật dân sự (Phần
chung) nên tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Điều kiện và hậu quả pháp lý của
việc tuyên bố cá nhân mất tích, tuyên bố cá nhân là đã chết.” cho bài tập lớn học
kì của mình
Ở đây, tôi có nêu lên các điều kiện và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân mất tích, tuyên bố chết Qua đó, tôi có nêu lên những điều kiện của việc cá nhân muốn tuyên bố một người đã chết hoặc mất tích và hậu quả pháp lí mà cá nhân bị tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết phải gánh chụi
Do phạm vi đề tài khá rộng mà kinh nghiệm chưa tích lũy được nhiều nên trong quá trình làm bài không tránh khỏi những sai sót, rất mong các bạn và thầy cô đóng góp ý kiến để bài làm được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3A. Tuyên bố cá nhân mất tích và hậu quả pháp lí đối với việc tuyên bố cá nhân mất tích.
Điều 78 Tuyên bố một người mất tích
1 Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án
có thể tuyên bố người đó mất tích Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.
I Điều kiện để tuyên bố cá nhân mất tích.
1) Điều kiện về thời gian.
Theo quy định trên thì Tòa án chỉ tuyên bố một người là mất tích khi đã biệt tích hai năm liền trở lên mà vẫn không có tin tức nào về người đó còn sống hay đã chết Các chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà vẫn không có tin tức xác thực là người đó còn sống hay đã chết có thể là sự xác nhận của công an địa phương về việc người đó đã đi khỏi nơi đăng kí thường trú quá hai năm liền mà không hay biết họ ở đâu, công an đã xóa hộ khẩu thường trú (nếu có…).Pháp luật không quy định rõ phạm vi không gian cũng như chủ thể nhận biết tin tức này nhưng căn cứ vào điều 74 bộ luật Dân sự có thể xác định phạm vi không gian là nơi cư trú cuối cùng của người
đó (nơi cư trú của cá nhân được xác định tại Điều 52 của Bộ sluật Dân sự 2005)
Điều 52 Nơi cư trú
1 Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.
Trang 42 Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống.
2) Phải thông qua thủ tục tìm kiếm.
Đây là một thủ tục rất cần thiết và không thể thiếu để các Tòa án có thể tuyên bố một người mất tích Qua thủ tục này, tính chính xác trong quyết định của Tòa án được nâng cao Tòa án có thể tự thông báo hoặc yêu cầu những người có quyền, lợi ích liên quan thông báo Hình thức, biện pháp thông báo được quy định trong Luật tố tụng Dân sự, như phạm vi thông báo, điều kiện thông báo Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thành phố Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật nêu rõ: “Khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, Tòa án yêu cầu đương sự đến
cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của tỉnh, trung ương nhắn tin tìm người vắng mặt và lấy giấy xác nhận của cơ quan đó về việc đã nhắn tin tìm người vắng mặt nộp cho Tòa án để Tòa án thụ lí vụ án
Các chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm như đăng thông báo tìm kiếm trên báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp và phát sóng trên đài phát thanh hoặc đài truyền hình trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp Như vậy, để thuận lợi cho cho việc xin tuyên bố công dân mất tích cách tốt nhất là phải trình báo ngay với công an địa phương đồng thời đăng kí tìm kiếm trên
3) Phải có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan.
Người có quyền, lợi ích liên quan là những người có mối liên hệ nào đó (hôn nhân gia đình, quan hệ hành chính, quan hệ lao động, quan hệ dân sự, )với người vắng mặt mà sự vắng mặt của người đó ảnh hưởng tới quyền lợi của họ
Mục đích của việc tuyên bố chết đối với một cá nhân là tạo ra cơ sở pháp
lí để những người nói trên có thể thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích của mình
Mặt khác, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì Toà án chỉ thụ lí
vụ việc khi có đơn khởi kiện của đương sự Vì vây, Toà án chỉ có thể ra quyết
Trang 5định tuyên bố môt cá nhân chết khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Bởi vậy, khi xem xét yêu cầu của đương sự, Tòa án phải kiểm tra các điều kiện cần thiết và nếu thấy đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quy định, Tòa án ra quyết định người biệt tích đó là mất tích
II Hậu quả pháp lí của việc tuyên bố cá nhân mất tích.
Việc tuyên bố một người là mất tích kéo theo những hậu quả pháp lí nhất định:
1) Tạm thời đình chỉ tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là mất tích, tuy nhiên quyết định này không làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ
2) Tài sản của người bị tuyên bố mất tích được quản lí theo quy định của Tòa án được quy định tại các điều 75, 76, 77, 79 Bộ luật Dân sự 2005
về quản lí tài sản của người vắng mặt, của người bị tuyên bố là mất tích
Điều 75 Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú
1 Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho những người sau đây quản lý:
a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt uỷ quyền quản lý thì người được uỷ quyền tiếp tục quản lý;
b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;
c) Tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.
2 Trong trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì Toà án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Trang 6Điều 76 Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng
mặt tại nơi cư trú
Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các nghĩa vụ sau đây:
1 Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình;
2 Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị
hư hỏng;
3 Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Toà án;
4 Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Toà án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản
mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều 77 Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt
tại nơi cư trú
Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các quyền sau đây:
1 Quản lý tài sản của người vắng mặt;
2 Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt;
3 Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản.
Điều 79 Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích
Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại khoản 1 Điều 75 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật này.
Trong trường hợp Toà án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của
Trang 7người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Cụ thể: Tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú do người được người vắng mặt ủy quyền quản lí Trong trường hợp người đó không ủy quyền cho ai quản lí tài sản, nếu là tài sản thuộc sở hữu chung thì sẽ do chủ sở hữu chung còn lại quản lí; nếu tài sản đang do vợ/ chồng của người đó quản lí thì vợ/ chồng tiếp tục quản lí, nếu vợ/ chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con đã thành niên hoặc cha mẹ của người vắng mặt quản lí Trong trường hợp không có những người quản lí nói trên thì Tòa án chỉ định một trong những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lí tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định cho người khác quản lí tài sản
3) Trong trường hợp vợ/ chồng của người bị tuyên bố là mất tích xin li hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn Sau khi li hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lí; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lí tài sản
Trang 8B. Tuyên bố cá nhân chết và hậu quả của việc tuyên bố cá nhân chết
Điều 81 Tuyên bố một người là đã chết
1 Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:
a) Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 78 của Bộ luật này.
2 Tuỳ từng trường hợp, Toà án xác định ngày chết của người bị tuyên
bố là đã chết căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
I. Điều kiện để tuyên bố cá nhân chết.
Đây là một chế định đặc biệt của luật dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân cũng như chủ thể khác có liên quan Cái chết của cá nhân là sự kiện pháp lí làm chấm dứt tư cách chủ thể của cá nhân Nhưng cái chết đó phải được xác định một cách đích xác và theo quy định của pháp luật phải được khai tử (Điều 30 BLDS ) Trong thực tế có những trường hợp, vì các lí do khác nhau đã không thể xác định được cá nhân đó còn sống hay đã chết Để tăng cường tính chính xác và nhằm giảm thiểu những sai sót trong các trường hợp người biệt tích vẫn còn sống nhưng đã bị toà án tuyên bố là đã chết, trước khi ra quyết định tuyên bố chết đối với một cá nhân Toà án cần xem xét đầy đủ các điều kiện sau:
1) Điều kiện về thời gian.
Theo điều kiện trên Toà án chỉ tuyên bố một cá nhân đã chết nếu qua thời hạn luật định mà họ vẫn không có tin tức là còn sống Thời hạn đó là khoảng thời gian
Trang 9bao nhiêu sẽ được xác định theo từng trường hợp cụ thể Theo quy định tại khoản 1 điều 81 BLDS thì thời hạn để tuyên bố chết đối với một cá nhân như sau:
Nếu tuyên bố chết đối với một cá nhân đã qua thủ tục tuyên bố mất tích thì phải qua thời hạn là ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật
Nếu tuyên bố chết đối với người chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích thì phải qua thời hạn là năm năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc ( nếu người đó mất tích trong chiến tranh) hoặc là một năm kể từ ngày tai nạn, thiên tai, thảm hoạ kết thúc (nếu người đó mất tích trong đợt thiên tai, thảm hoạ đó)
Nếu là tuyên bố chết đối với người biệt tích lâu ngày mà chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích thì phải qua thời hạn là năm năm kể từ ngày, tháng, năm biết được tin tức cuối cùng về sự sống còn của họ Trong trường hợp này, thời điểm bắt đầu để tính thời hạn năm năm là ngày có tin tức cuối cùng về người đó Nếu không xác định được ngày thì tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng, nếu không xác định được ngày, tháng thì tình từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo có tin tức cuối cùng
Trong bộ luật dân sự không quy định phạm vi không gian về ngày biết tin tức cuối cùng, nên hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Nhiều người căn cứ vào hướng dẫn của Nghị quyết 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Toà
án nhân dân tối cao để xác định không gian của nơi có tin tức cuối cùng là nơi cư trú của người đó
Có quan điểm cho rắng, nơi cư trú của cá nhân đã được BLDS quy định với tinh thần hoàn toàn mới nên việc xác định phạm vi không gian về nơi có tin tức cuối cùng theo hướng dẫn của nghị quyết nói trên không còn phù hợp nữa Mặt khác khi xác định sự sống còn của một người còn phải chú trọng tính thực tế của
nó Chẳng hạn người không có tin tức còn sống tại nơi cư trú cuối cùng của họ đã quá năm năm nhưng nếu có căn cứ chính xác về việc người đó có lần xuất hiện( có
Trang 10mặt) tại địa phương khác thì vẫn phải coi ngày họ có mặt tại địa phương đó( không phải là nơi cư trú cuối cùng) là thời điểm bắt đầu tính thời hạn
2) Phải thông qua thủ tục tìm kiếm.
Việc thông báo tìm kiếm với mục đích xác định lại lần cuối cùng về tin tức sống còn của một người trước khi Toà án quyết định về thân phận pháp lí của họ Vì vậy, nếu thủ tục này là không thể thiếu khi tuyên bố cá nhân mất tích thì cũng không thể thiếu khi tuyên bố cá nhân chết
Mặc dù BLDS không quy định điều này nhưng nhiều ý kiến cho rằng không thể thiếu được điều này khi muốn tuyên bố là môt người đã chết Bởi lẽ, qua thủ tục này
có thể nâng cao tính xác thực trong quyết định của Toà án Mặt khác, về nguyên tắc, Toà án chỉ được phép tuyên bố một người là đã chết khi họ “vẫn không có tin tức là còn sống”
Qua việc phân tích ở trên cho chúng ta thấy rằng, việc thông báo tìm kiếm là thủ tục rất cần thiết để tuyên bố chết đối với một cá nhân khi chưa qua thủ tục tuyên
bố mất tích Vậy đối với người đã bị tuyên bố mất tích, nay muốn tuyên bố họ là đã chết vì đã “sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiêu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức là còn sống” thì có cần thủ tục thông báo tìm kiếm không?
Đối với trường hợp này, có trường hợp cho rằng đã được thực hiện trong thủ tục
tố tụng khi tuyên bố người đó mất tích nên khi tuyên bố là họ đã chết thì không cần thực hiện lại nữa Tuy nhiên em cho rằng mục đích chủ yếu và thiết thực của việc thông báo tìm kiếm là để xác định lần cuối cùng về tin tức sống còn của một người nên trước khi tuyên bố một người là đã chết cần phải thông báo lại việc tìm kiếm( mặc
dù họ là người đã được tuyên bố là đã chết
3) Phải có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan.