Việt Nam có 54 dân tộc anh em sống xen kẽ trên khắp các địa bàn lãnh thổ của cả nước. Dân tộc Kinh là dân tộc đa số chiếm khoảng 86% dân số. Còn lại là dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở miền núi giáp biên giới Việt Nam Trung quốc, Việt Nam Lào, Việt Nam Cămpuchia.53 dân tộc thiểu số ở VN có khoảng 12 triệu người Tây Bắc: hơn 7 triệu (Tày 1.5 tr; Thái 1,4; Mường 1,2 tr; Nùng 90 vạn; Mông 80 vạn; Dao 65 vạn). Tây nguyên: hơn 2 triệu (Gia rai 35 vạn; Ê đê 30 vạn; Ba Na 20 vạn; Xơ đăng 15 vạn)
Trang 1CHUYÊN ĐỀ : QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC TÔN GIÁO
I QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC
1 Khái niệm quản lý nhà nước về dân tộc
Trước khi chúng ta đi vào tìm hiểu khái niệm quản lý nhà nước về dân tộc theo đồng chí:
Dân tộc là gì?
Vì sao cần phải quản lý nhà nước về dân tộc?
Việt Nam có 54 dân tộc anh em sống xen kẽ trên khắp các địa bàn lãnh thổcủa cả nước Dân tộc Kinh là dân tộc đa số chiếm khoảng 86% dân số Còn lại làdân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở miền núi giáp biên giới Việt Nam -Trung quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam - Cămpuchia
53 dân tộc thiểu số ở VN có khoảng 12 triệu người
- Tây Bắc: hơn 7 triệu (Tày 1.5 tr; Thái 1,4; Mường 1,2 tr; Nùng 90 vạn;Mông 80 vạn; Dao 65 vạn)
- Tây nguyên: hơn 2 triệu (Gia rai 35 vạn; Ê đê 30 vạn; Ba Na 20 vạn; Xơđăng 15 vạn)
- Tây Nam bộ: hơn 1 triệu (Khơ me 1,2 tr; Chăm 3 vạn)
- Dân tộc ít người nhất: Brâu, Ơ đu, Rơ Măm chỉ có trên 300 người
Các dân tộc Việt Nam có các đặc điểm chủ yếu như: có truyền thống đoànkết; có trình độ phát triển không đều; các dân tộc thiểu số sống trên địa bàn rộnglớn, có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh; số lượng dân
cư các dân tộc không đều và sống xen kẽ là chủ yếu; các dân tộc có sắc thái vănhoá phong phú, đa dạng trong sự thống nhất của văn hoá các dân tộc Việt Nam Với những đặc điểm đó, quản lý nhà nước về dân tộc ở nước ta hiện nay là
vấn đề rất quan trọng Đảng ta đã chỉ ra: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường
lối, chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ
Trang 2yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc”1.
Quản lý nhà nước về dân tộc là hệ thống các biện pháp quản lý của Nhà nước do các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền thực hiện đối với dân tộc ít người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nhằm bảo đảm quyền bình đẳng cùng phát triển theo đúng Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, ngăn ngừa, phát hiện, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để làm việc trái pháp luật, xâm hại tới lợi ích quốc gia dân tộc.
Chủ thể quản lý nhà nước về dân tộc:
Là các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong thực hiệncác quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp về vấn đề dân tộc mà trực tiếp là Uỷ bandân tộc của Chính phủ (Cơ quan quản lý về dân tộc trong phạm vi cả nước)
Khách thể quản lý nhà nước về dân tộc: là việc thực hiện các chính sách,
pháp luật, chương trình, kế hoạch của Nhà nước đối với các dân tộc thiểu số ởViệt Nam Đó là những vấn đề cơ bản như: đoàn kết giữa các dân tộc; phát triểnkinh tế, văn hoá - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng dân tộc thiểu số;vấn đề định canh, định cư ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số;phòng ngừa, ngăn chặn các âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá Nhànước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
2 Yêu cầu quản lý nhà nước về dân tộc
- Phải bảo vệ quyền dân tộc của tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ nước ta, dù có dân số nhiều hay ít
đều có quyền phát triển trong sự thống nhất của cộng đồng các dân tộc ViệtNam Điều 5, Hiến pháp nước ta khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đấtnước Việt Nam
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011,
Trang 3- Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, dân chủ hoá trong đời sống các dân tộc thiểu số Đại đoàn kết các dân tộc là truyền thống và là mục tiêu,
quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Chống kỳ thị hoặc quan tâmkhông đầy đủ đến vấn đề dân tộc Thực hiện dân chủ hoá rộng rãi trên các lĩnhvực của đời sống xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
VD: Danh sách đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam Trong số 34 cán
bộ, chiến sĩ của đội có 29 người là dân tộc thiểu số Cụ thể, dân tộc Tày: 19, dântộc Nùng: 8, dân tộc Mông: 1, dân tộc Dao: 1; còn lại 5 người dân tộc Kinh
- Bảo đảm sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội ở vùng dân tộc, miền núi,
là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế quốc dân Các địa
phương miền núi có trách nhiệm góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tê
- xã hội chung của cả nước Phát triển kinh tế miền núi là sự nghiệp chung củatoàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị Phát triển kinh tếgắn với thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, quan tâm giải quyết các vấn đề
xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân
- Thực hiện các chính sách ưu tiên mọi mặt đối với dân tộc thiểu số, phát
triển giáo dục, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực, chăm sóc sức khoẻcho đồng bào dân tộc; có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, và sử dụngcán bộ là người dân tộc thiểu số
- Chống để kẻ thù lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá Nhà nước và chế độ
ta
Dân tộc là vấn đề nhạy cảm và phức tạp Hiện nay, các thế lực thù địch dang lợidụng vấn đề dân tộc để xuyên tạc, kích động phá hoại đoàn kết dân tộc Quản lý nhànước về dân tộc phải đề cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, pháthiện và xử lý kiên quyết, linh hoạt các tình huống phát sinh về dân tộc
3 Nội dung quản lý nhà nước về dân tộc
a) Nội dung chung quản lý nhà nước về dân tộc
Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14.01.2011:
Trang 41 Ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc
(Theo Nghị định 05, có nhiều chính sách về công tác dân tộc như: chínhsách đầu tư và sử dụng nguồn lực; chính sách đầu tư phát triển bền vững; chínhsách phát triển giáo dục và đào tạo; chính sách cán bộ người dân tộc thiểu số;chính sách đối với người có uy tín ở vùng dân tộc hiểu số; chính sách bảo tồn vàphát triển văn hoá; chính sách phát triển thể dục, thể thao vùng dân tộc thiểu số;chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số; chính sách y tế, dân số; chínhsách thông tin, truyền thông.; chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúppháp lý; chính sách quốc phòng, an ninh)
2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; xây dựng
và thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự
án, đề án phát triển vùng có diều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định
thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số;xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và pháttriển văn hoá các dân tộc thiểu số
Các chính sách dân tộc vừa qua đã được cụ thể hoá bằng một số chươngtrình, giải pháp lớn như: Chương trình xây dựng các trung tâm cụm xã theoQuyết định số 35 (1997) của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trìnhxây dựng các trung tâm cụm xã ở miền núi, vùng cao; Chương trình xoá đói giảmnghèo theo Quyết định số 133 (1998) của Thủ tướng Chính phủ vể việc phê duyệtchương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo; Chương trình 327 về phủ kínđồi trọc với dự án trồng 5 triệu ha rừng theo Quyết định số 661 (1998) của Thủtướng Chính phủ; Chương trình 134, theo Quyết định số 134 (2004) của Thủtướng Chính phủ về việc phê chuẩn chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở,nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó
Trang 5khăn; Chương trình 135, theo Quyết định số 135 (1998) của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê chuẩn chương trình phát triển kinh tế -xã hội các xã đặc biệt khókhăn, miền núi và vùng sâu, vùng xa v.v
Từ các chính sách, chương trình, theo phân cấp, Uỷ ban Dân tộc và chínhquyền địa phương các cấp cụ thể hoá bằng các quy hoạch, kế hoạch, dự án vàtriển khai thực hiện ở các địa phương
3 Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ TƯ đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc
4 Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số
5 Kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật về công
tác dân tộc, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giảiquyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc
6 Tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật NN bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào thiểu số hiểu rõ và chủ động tham
gia vào quá trình thực hiện
Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng vàbảo bệ Tổ quốc Tổ chức các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa cácdân tộc Tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm tương trợ pháttriển KT-XH, xoá đói, giảm nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống
7 Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống CT và cán bộ trong cơ quan làm công tác dân tộc.
8 Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc
9 Thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển KT-XH vùng dân tộc thiểu số.
Trang 610 Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc.
11 Hợp tác quốc tế về công tác dân tộc.
b) Nội dung quản lý nhà nước về dân tộc trên một số vấn đề cụ thể
- Quản lý nhà nước về định canh, định cư, ổn định đời sống đồng bào dân tộc Nhà nước đã có nhiều văn bản quy định về định canh, định cư, ổn định đời
sống các dân tộc Chấm dứt tình trạng du canh, du cư, di dân tự do của dân tộcthiểu số Lấy cấp huyện làm cơ sở để đầu tư và thực hiện kế hoạch, nhiệm vụphát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn
- Quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường ở miền núi Nhà nước thống
nhất quản lý rừng và đất trồng rừng bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch, quyhoạch Thực hiện việc phân cấp trách nhiệm quản lý từ Trung ương đến cơ sở;giao rừng, đất trồng rừng cho các tổ chức, cá nhân, đơn vị thuộc các thành phầnkinh tế để quản lý, bảo vệ và sản xuất, kinh doanh ổn định, lâu dài
- Quản lý nhà nước về văn hoá - xã hội ở miền núi Tập trung giải quyết
những vấn đề cấp bách như: xoá nạn mù chữ và tái mù chữ; đầu tư xây dựng,củng cố cơ sở vật chất về trường lớp, trạm xá, rạp chiếu bóng, trung tâm bưuđiện văn hoá xã Bảo tồn, lưu giữ và phát triển các giá trị văn hoá của các dân tộcthiểu số Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh phongtrào phòng bệnh, xây dựng nếp sống mới, bài trừ mê tín, dị đoan và các phongtục tập quán lạc hậu
- Quản lý nhà nước về an ninh chính trị ở vùng dân tộc thiểu số Thường
xuyên quan tâm giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho nhân dân, làm chomọi người hiểu và thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước.Tuyên truyền, giáo dục cho đồng bào vùng dân tộc nhận rõ âm mưu thủ đoạn củacác thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề về dân tộc, tôn giáo kích động, chia rẽ
Trang 7đoàn kết dân tộc Kịp thời phát hiện và xử lý những vấn đề phát sinh trong quan hệgiữa các dân tộc Thực hiện tốt quản lý an ninh biên giới Bảo đảm thực hiện haichức năng của biên giới quốc gia, đó là hàng rào pháp lý ngăn cách chủ quyền quốcgia và không gian hợp tác phát triển với các nước mà trước hết là với các nước lánggiềng Chống các hoạt động buôn lậu, vận chuyển hàng quốc cấm, xâm nhập tráiphép của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta Ra sức góp phầnxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
4 Cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý nhà
nước về dân tộc Nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực dân tộcđược quy định tại Điều 13 Hiến pháp 1992
Uỷ ban Dân tộc là cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch
vụ công thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban dân tộc theo quy định của pháp luật.Nhiệm vụ của Uỷ ban dân tộc được quy định tại Điều 2 Nghị định số 60năm 2008 của Chính phủ, cụ thể có những nhiệm vụ quyền hạn như:
Để giúp Bộ trưởng - Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc - quản lý về dân tộc có các
cơ quan giúp việc gồm các vụ: Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ Tổ chức cán bộ, VụPháp chế, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Tổng hợp, Vụ Chính sách dân tộc, Vụ Tuyêntruyền, Vụ địa phương 1, Vụ địa phương 2, Vụ địa phương 3
Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương quản lý về
dân tộc trên những địa bàn có nhiều dân tộc thiểu số
II Quản lý nhà nước về tôn giáo
1 Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin
và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ; là hệ thống những quan niệm tín ngưỡng, sùng bái một hay những vị thần linh nào đó
Trang 8và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy Tín ngưỡng ở đây được hiểu
là tin theo một tôn giáo nào đó
Theo góc độ quản lý nhà nước thì khái niệm tôn giáo có nội hàm rộng hơn,bởi ngoài hệ thống những quan niệm tín ngưỡng, các hính thức lễ nghi, các cơ sởvật chất để thực hiện nghi lễ tôn giáo nêu trên thì khái niệm tôn giáo còn baohàm cả tổ chức và hoạt động tôn giáo
ở nước ta hiện nay có 6 tôn giáo lớn: Phật giáo (gần 10 triệu), Công giáo(Thiên chúa - gần 6 triệu)) được tràn vào VN năm 1533, Tin lành có mặt ở VNcuối TK 19 đầu TK 20 do Hội truyền giáo CMA thuộc Tin lành Bắc Mĩ truyềnvào (nay có khoảng nửa triệu), Islam (Hồi giáo - khoảng 7 vạn), Phật giáo Hoàhảo (khoảng 1,3 triệu) và Đại đạo tam kỳ phổ độ (Cao đài hơn 2 triệu) Các tôngiáo này có khoảng 20 triệu tín đồ và số lượng tín đồ của các tôn giáo khác nhau,nhiều nhất là Phật giáo, Công giáo Các tôn giáo ở nước ta đều có nguồn gốc từcác nước khác xâm nhập và ảnh hưởng đến quá trình phát triển của dân tộc việtNam trong những giai đoạn khác nhau
Quản lý nhà nước về tôn giáo là hệ thống các biện pháp quản lý của Nhà nước do các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền thực hiện đối với các tôn giáo, nhằm bảo đảm các tôn giáo hoạt động theo đúng Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, ngăn ngừa các hoạt động lợi dụng tôn giáo để làm việc trái pháp luật, xâm hại tới lợi ích của xã hội Chủ thể quản lý nhà nước về tôn giáo:
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất quyết định chính sách tôngiáo của Nhà nước
Uỷ ban về Các vấn đề Xã hội là cơ quan của Quốc hội có chức năng thẩmđịnh các dự án luật, pháp lệnh liên quan đến tôn giáo; kiến nghị với Chính phủxây dựng các chính sách tôn giáo và giám sát các cơ quan nhà nước trong thựchiện quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
Trang 9Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thống nhất quản lý nhànước về tôn giáo.
Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan thuộc Bộ Nội vụ (từ tháng 8/2007) cóchức năng quản lý về tôn giáo trong phạm vi cả nước
Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi quyền hạn của mình phối hợp vớiBan Tôn giáo Chính phủ và các cơ quan khác để quản lý nhà nước về tôn giáocho phù hợp
ở địa phương, Ban Tôn giáo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơquan giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về tôn giáo; ở các cấphuyện, xã, Uỷ ban nhân dân thực hiện quản lý nhà nước về tôn giáo ở địaphương cấp mình
Khách thể quản lý nhà nước về tôn giáo: là quản lý hoạt động của Công
giáo, Phật giáo, Tin lành, Cao đài, các tôn giáo khác; quản lý hợp tác quốc tế vềtôn giáo; quản lý việc gia nhập các tổ chức tôn giáo, việc tiến hành các nghi lễtôn giáo, các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và tài sản của các tôn giáo, việc phongchức, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, việc đào tạo, bồidưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo
2 Yêu cầu quản lý nhà nước về tôn giáo
- Phải bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân Đảng ta đã chỉ ra, tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu
dài; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đạo đứctôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới Vì vậy,trong quản lý nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôngiáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân, nghiêm cấm sự phân biệtđối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Mọi công dân có quyền tự do theo hoặckhông theo một tôn giáo nào, có quyền từ bỏ hoặc thay đổi tôn giáo
Trang 10- Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hay không có tín ngưỡng tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân.
Trong từng thời kỳ nhất định, Nhà nước có chính sách ưu tiên cho ngườichuyên hoạt động tôn giáo nhằm tạo điềukiện cho họ thựchiện chức trách tôngiáo của mình Nhà nước có các quy định cụ thể nhằm ngăn chặn lợi dụng việctham gia hoạt động tôn giáo để trốn tránh nghĩa vụ công dân Thực hiện đoànkết, bình đẳng giúp đỡ nhau giữa tôn giáo
- Các hoạt động tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước không can thiệp vào công việc nội bộ các
tôn giáo, nhưng Nhà nước cũng không buông lỏng quản lý các hoạt động tôngiáo Thường xuyên kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về tôngiáo cho phù hợp với yêu cầu quản lý trong từnggiai đợn, phù hợp với nhữngtình hình thay đổi trong nước và quốc tế
- Phải bảo đảm tôn giáo đồng hành cùng dân tộc, hoạt động tôn giáo không tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Tôn giáo và đồng bào các tôn giáo
là một bộ phận của đất nước, không tách rời vận mệnh của dân tộc Hoạt độngtôn giáo không chỉ tuân thủ giáo lý của từng tôn giáo, mà trước hết phải trên sơ
sở pháp luật của Nhà nước Hiện nay, đồng bào các tôn giáo cùng nhân dân cảnước phải ra sức thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và xây dựng thành công chủnghĩa xã hội ở Việt Nam
- Kiên quyết đấu tranh với các đối tượng, thế lực lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước, chống chế độ
xẫ hội chủ nghĩa, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đạiđoàn kết toàn dân, làm hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc, và hoạt động
mê tín, dị đoan đều bị xử lý theo pháp luật
3 Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo
Trang 11a)Nội dung tổng quát quản lý nhà n ư ớc về tôn giáo
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, các chính sách, cácchương trình mục tiêu quốc gia, đề án, dự án, kế hoạch về tôn giáo
- Ban hành và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật để thống nhất quản
lý nhà nước về tôn giáo
- Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ công táctôn giáo cho cán đội ngũ cán bộ, công chức làm công táctôn giáo thuộc các cơquan Trung ương và địa phương
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật, chính sách của Đảng và Nhànước về tôn giáo Giải quyết các vấn đề cụ thể về tôn giáo theo quy định củapháp luật
- Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo
- Thực hiện kiểm tra, kiểm soát, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực tôn giáo
b) Một số nội dung cụ thể quản lý nhà n ư ớc về tôn giáo.
- Đối với việc thành lập và gia nhập các tổ chức tôn giáo
Thủ tướng Chính phủ công nhận đối với tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạtđộng ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chủ tịch uỷ ban nhân dâncấp tỉnh công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động chủ yếu ở một tỉnh Những tổ chức được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt động thì đượcpháp luật bảo hộ Tổ chức tôn giáo được thành lập, chia tách, sát nhập, hợp nhấtcác tổ chức trực thuộc theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo Việc thànhlập, chia tách, sát nhập, hợp nhất các tổ chức tôn giáo cơ sở phải được sự chấpthuận của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; các trường hợp khác phải được sự chấpthuận của Thủ tướng Chính phủ
Hội đoàn tôn giáo là hình thức tập hợp tín đồ do tổ chức tôn giáo lập ranhằm phục vụ hoạt động tôn giáo Các hội đoàn tôn giáo được hoạt động sau khi
tổ chức tôn giáo đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 12Các dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác của tôn giáo muốnhoạt động phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Người đướng đầudòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác của tôn giáo chịu tráchnhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của dòng tu, tu viện và các tổ chức tuhành tập thể.
Để bảo đảm an ninh trật tự và bảo đảm sự bình đẳng giữa người theo đạo vàngười không theo đạo, Nhà nước cấm không cho nhập tu những người trốn tránhpháp luật và nghĩa vụ công dân
- Đối với việc tiến hành các nghi lễ tôn giáo và hoạt động tôn giáo khác
Người có tín ngưỡng, tôn giáo được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghithức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễnghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình theo
Hàng năm, người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở phải đăng ký với chínhquyền (Uỷ ban nhân dân cấp xã) chương trình hoạt động tôn giáo diễn ra tại cơ
sở đó, đặc biệt các ngày lễ trong năm
Chức sắc, nhà tu hành chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt độngtôn giáo trong phạm vi phụ trách
Hiện nay chức sắc, nhà tu hành cả nước có khoảng 75.187 người (2005).Đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo cơ sở được tiến hành sau khi có sựchấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra đại hội, hội nghị; việc tổchức đại hội, hội nghị cấp Trung ương hoặc toàn đạo của tổ chức tôn giáo được tiếnhành sau khi có sự chấp thuận của Ban Tôn giáo Chính phủ Đối với các trườnghợp khác phải có sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
Nhà nước cho phép các tổ chức tôn giáo được in, xuất bản các loại sáchkinh, các ấn phẩm tôn giáo; được sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu vănhoá phẩm tôn giáo, đồ dùng việc đạo Nhà nước cấm in, sản xuất, kinh doanh,lưu hành, tàng trữ sách báo, văn hoá phẩm có nội dung chống lại Nhà nước
Trang 13Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây chia rẽ tôn giáo, gây mất đoàn kếttrong nhân dân.
- Đối với hoạt động quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo
Tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc có quyền thực hiện các hoạtđộng quan hệ quốc tế theo quy định của hiến chương, điều lệ hoặc giáo luật của tổchức tôn giáo phù hợp với pháp luật Việt Nam Khi thực hiện các hoạt động quan
hệ quốc tế, tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc phải bình đẳng, tôn trọnglẫn nhau, tôn trọng độc lâp, chủ quyền và công việc nội bộ của các quốc gia
Hoạt động quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo phải tuân thủ pháp luật vàphù hợp với chính sách đối ngoại của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, vì hoà bình, ổn định, hợptác và phát triển
Tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nước mời tổ chức, cá nhân tôn giáo ởnước ngoài vào Việt Nam phải được sự chấp thuận của Ban Tôn giáo Chính phủ
Tổ chức cá nhân ở trong nước tham gia làm thành viên của tổ chức tôn giáo ởnước ngoài, tham gia các hoạt động tôn giáo ở nước ngoài thực hiện theo quyđịnh của Ban Tôn giáo Chính phủ
Các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong nước muốn nhận viện trợ thuần tuý tôngiáo phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ
- Đối với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và tài sản các tôn giáo
Nhà nước bảo hộ tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo vànghiêm cấm việc xâm phạm các tài sản đó Đất có các công trình do cơ sở tôn giáo
sử dụng được Nhà nước cho phép sử dụng lâu dài Nhà, đất và các tài sản khác đãđược tổ chức, cá nhân tôn giáo chuyển giao cho các cơ quan Nhà nước trong cácthời kỳ thì đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và không đặt vấn đề trả lại
Việc quản lý, sử dụng, cải tạo, nâng cấp công trình thuộc cơ sở tín ngưỡng,tôn giáo là di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật về di sản văn hoá và pháp luật có liên quan
Trang 14Theo số liệu 2005, cơ sở thờ tự của tôn giáo cả nước có 24.879 cơ sở (kể cảgiáo xứ và giáo họ của Công giáo); năm 2005 xây mới 242; cải tạo nâng cấp 320.Trường đào tạo các chức sắc tôn giáo cả nước: 41 Trong đó Phật giáo 34(có 3 học viện, 31 trường trung cấp), Công giáo 6 đại chủng viện, Tin lành 1.
- Đối với việc phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, nhà tu hành tôn giáo
Việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tôn giáođược thực hiện theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo; trường hợp cóyếu tố nước ngoài thì phải có sự thoả thuận trước với cơ quan quản lý nhà nước
về tôn giáo ở Trung ương
Người được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử để đượcNhà nước thừa nhận phải là công dân Việt nam, có tư cách đạo đức tốt; có tinhthần đoàn kết, hoà hợp dân tộc; nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật
Tổ chức tôn giáo có trách nhiệm đăng ký về người được phong chức, phongphẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử; thông báo về việc cách chức, bãi nhiệm chứcsắc trong tôn giáo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
Khi thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành, tổchức tôn giáo có trách nhiệm thông báo với Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đến.Theo số liệu của Ban TGCP năm 2005, phong chức, bổ nhiệm, thuyênchuyển chức sắc: 800; đào tạo, bồi dưỡng chức sắc: 4563; đơn thư khiếu nại, tốcáo 409 (chủ yếu về đất đai)
4 Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất có nhiệm vụ thực hiệnchính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chống mọi hành
vi xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo đểlàm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước
Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan trực thuộc Bộ Nội vụ, là cơ quan tươngđương Tổng cục, có chức năng tham mưu gúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà