1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN một số vấn đề về sự tồn tại của tôn GIÁO vào sự vận DỤNG của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM HIỆN NAY

19 369 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 139 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôn giáo vốn là một trong những vấn đề tế nhị, nhạy cảm và có liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, luôn biến động cùng với những biến thiên của lịch sử. Vì vậy, không phải mọi vấn đề liên quan đến tôn giáo đều được nhận thức đúng ngay từ đầu. Tôn giáo là một hiện tượng xã hội lịch sử, bao gồm ý thức tôn giáo, hệ thống tổ chức tôn giáo và những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng; trong đó ý thức tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA TÔN GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÔN GIÁO VÀ SỰ TỒN TẠI CỦA TÔN GIÁO DƯỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Tôn giáo vốn là một trong những vấn đề tế nhị, nhạy cảm và có liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, luôn biến động cùng với những biến thiên của lịch sử Vì vậy, không phải mọi vấn đề liên quan đến tôn giáo đều được nhận thức đúng ngay từ đầu

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội lịch sử, bao gồm ý thức tôn giáo, hệ thống tổ chức tôn giáo và những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng; trong đó ý thức tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan Qua hình thức phản ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên, xã hội đều trở thành thần bí và chi phối mạnh mẽ cuộc sống hàng ngày của con người, như Mác-Ăngghen đã khẳng định: “Bất cứ tôn giáo nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc người ta những sức mạnh từ bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức mạnh của thế gian đã mang hình thức sức mạnh siêu thế gian”1 Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, tôn giáo là sản phẩm của chính hoạt động của con người, phản ánh bình diện của đời sống tinh thần của con người và là một giá trị văn hoá Tôn giáo tồn tại phổ biến trong các cộng đồng người trong lịch sử

và sẽ còn tồn tại cùng với xã hội loài người trong một thời gian khó mà dự đoán trước được Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hoá, xã hội, tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia dân tộc Tôn giáo thực sự là nhu cầu tinh thần của con người, của xã hội Một khi những những hình thái ý thức xã hội khác chưa hoàn toàn thoả mãn đầy đủ mọi nhu cầu tinh thần của con

1 C.M¸c-Awngghen, Toµn tËp, tËp 20, Nxb CTQG, H.1994, tr.544.

Trang 2

người, thì đối với một bộ phận tầng lớp xã hội tôn giáo vẫn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, tôn giáo vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý, tinh thần, cho dù đó là sự nâng

đỡ một cách hư ảo, vì thế chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: “ Tôn giáo là thuốc

phiện của nhân dân’’

Xét về bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội, văn hóa lịch sử phản ánh sự bế tắc, bất lực của con người trước các hiện tượng tự nhiên, xã hội và phản ánh sự phản kháng tiêu cực của con người trước các hiện tượng đó; như Mác đã chỉ ra, tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của trật tự không có tinh thần, là thuốc phiện của nhân dân Đặc trưng nổi bật của tôn giáo là ở chỗ nó ra đời, tồn tại

và phát triển chủ yếu dựa vào niềm tin của con người đối với các lực lượng siêu nhiên, từ đó đặt ra những phương thức ứng xử, để trước mắt có được một cuộc sống bình an “tạm thời” nơi trần thế và sẽ được hưởng một hạnh phúc vĩnh hằng nơi thế giới bên kia nhờ vào sự hỗ trợ của những sức mạnh siêu nhiên đó Do đó dù trong hoàn cảnh xã hội nào thì cơ sở của mọi tôn giáo cũng

là niềm tin của con người vào cái thần bí, cái “thiêng”, đối lập với cái tồn tại khách quan, cái “trần tục” hiện hữu Tôn giáo luôn mang dấu ấn lịch sử của thời đại, dân tộc mà nó ra đời và quá trình tồn tại, phát triển, nó luôn biến đổi nhằm thích ứng với sự vận động, biến đổi của xã hội Quá trình xây dựng CNXH, chúng ta cần khẳng định rằng, tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài, bởi những nguyên nhân, những nguồn gốc của sự ra đời và phát triển của tôn giáo vẫn tồn tại; mặt khác bên cạnh sự tác động tiêu cực của nó, nếu nhìn một cách toàn diện tôn giáo cũng có những đóng góp tích cực nhất định cho đời sống con người, đặc biệt là về mặt đạo đức và văn hoá

Thứ nhất: nguồn gốc ra đời tôn giáo còn tồn tại, bao gồm cả nguồn gốc

tự nhiên, nguồn gốc xã hội và nguồn gốc tâm lý

Trang 3

Về nguồn gốc tự nhiờn: chỳng ta biết rằng thế giới tự nhiờn là vụ cựng

tận, cỏc hiện tượng trong tự nhiờn là hết sức phong phỳ, đa dạng; nhận thức của con người tuy khụng cú giới hạn, nhưng nhận thức của một người, một thế

hệ là hữu hạn Do giới hạn về nhận thức, đặc biệt là trong thời kỳ xó hội nguyờn thủy, khi mà trỡnh độ khoa học cũn ở giai đoạn sơ khai, nờn con người khụng thể lý giải được những hiện tượng tự nhiờn, vỡ thế cho rằng tất cả cỏc hiện tượng tự nhiờn đú là do cỏc lực lượng siờu nhiờn nào đú chi phối Vỡ vậy quan niệm cú thần linh, thượng đế, cũng như hỡnh thành nờn biểu tượng về cỏc tụn giỏo khỏc nhau Lờnin viết: “Bất cứ tụn giỏo nào cũng đều cú gốc rễ trong cỏc quan niệm thiển cận và ngu của thời kỳ mụng muội”1 Dưới CNXH mặc dự khoa học đó phỏt triển mạnh mẽ song vẫn cũn rất nhiều vấn đề tự nhiờn chưa thể giải thớch được, như cỏc hiện tượng tự nhiờn kỳ bớ, hay cỏc hiện tượng tõm

linh, ngoại cảm… Bờn cạnh đú chỳng ta cũng nhận thấy, thậm chớ hiện nay

nhiều hiện tượng tự nhiờn đó được khoa học chứng minh, nhưng do trỡnh độ dõn trớ thấp cũng khụng thể hiểu được Do đú tụn giỏo cũn tồn tại

Về nguồn gốc xó hội: Khi xó hội xuất hiện giai cấp, cú đối khỏng giai

cấp, cú ỏp bức, búc lột, cú bất cụng, bất bỡnh đẳng xó hội, mà như Lờnin khẳng định: giai cấp búc lột: “đang hàng ngày, hàng giờ gõy ra cho những người lao động bỡnh thường những nỗi thống khổ cực kỳ ghờ gớm, những sự đau thương thật là khủng khiếp, nhiều gấp nghỡn lần so với những biến cố phi thường như chiến tranh, động đất”(2) Cho dự cỏc hiện tượng đú như là một tất yếu lịch sử, song cũng do giới hạn về nhận thức mà con người trước đõy đó khụng thể giải thớch được tại sao cú cỏc hiện tượng đú, nờn cho rằng cú định mệnh, cú số phận; đồng thời cũng chớnh từ đú, giai cấp bị ỏp bức búc lột mong muốn cú đấng cứu thế và hy vọng vào một cuộc sống tốt đẹp ở thế giới bờn kia… từ đú

mà hỡnh thành nờn biểu tượng về tụn giỏo Lờnin viết: “Sự bất lực của giai cấp

bị búc lột trong cuộc đấu tranh chống búc lột, tất nhiờn đẻ ra lũng tin vào một

1 C.Mác-Ăngghen, Toàn tập Tập 21, Nxb CTQG, H.1995, tr.404.

2 ảnh hởng của các hệ t tởng và tôn giáo đối với con ngời Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, H.1997, tr126.

Trang 4

cuộc đời tốt đẹp ở thế giới bên kia…” (3) Dưới CNXH, giai đoạn đầu của CNCS, là xã hội vẫn còn giai cấp, nhà nước, nên mức độ nào đó vẫn còn hiện tượng bóc lột, bất công, bất bình đẳng, còn sự phân hóa giàu nghèo…Do đó vẫn còn cơ sở xã hội cho sự tồn tại của tôn giáo

Về nguồn gốc tâm lý: do sự sợ hãi trước các hiện tượng tự nhiên, xã hội;

hoặc biết ơn, sự ngưỡng mộ, sự kính trọng trong quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người…mà dẫn đến tín ngưỡng tôn giáo còn tồn tại

Thứ hai: Do sai lầm của một số Đảng, Nhà nước trong xây dựng chủ

nghĩa xã hội

Quá trình xây dựng CNXH, nhiều Đảng cộng sản, nhà nước XHCN, trước đây đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng; đặc biệt sau sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô làm cho nhiều người mất niềm tin vào CNXH; thêm vào đó một bộ phận cán bộ đảng viên trong bộ máy Đảng, Nhà nước, thoái hóa biến chất, xa rời quần chúng hay các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội nảy sinh chậm được khắc phục…là những điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại và phát triển Bên cạnh đó có những thời gian nhiều nước XHCN, trong

đó có cả Việt Nam, việc giải quyết vấn đề tôn giáo còn có những sai lầm, thiếu sót nhất định, như việc cấm đoán hoạt động tôn giáo bằng hành chính, bằng pháp luật và các công cụ bạo lực khác… Chính vì vậy tạo nên sự phản kháng ngấm ngầm của nhiều tín đồ các tôn giáo và góp phần tạo nên sự tồn tại của tôn giáo cũng như nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp

Thứ ba: Tín ngưỡng tôn giáo còn đáp ứng được nhu cầu tinh thần của

một bộ phận nhân dân (Nhu cầu hư ảo).

Cho dù trong bất kỳ xã hội nào, trong thời kỳ lịch sử nào, thì những hiện tượng như thiên tai, chiến tranh loạn lạc hay những rủi ro trong cuộc sống của mỗi con người xảy ra là điều hoàn toàn bình thường và con người khó có thể kiểm soát được Trong những trường hợp này chính niềm tin tôn giáo là một

3 Lª-nin Toµn tËp, TËp 12, Nxb TB M, 1979, tr 170.

Trang 5

liều thuốc “an thần” giúp con người xoa dịu nỗi đau, sự mất mát, những rủi ro

đó, cho dù đó chỉ là sự xoa dịu một cách hư ảo Mặt khác đạo đức tôn giáo còn

nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng CNXH, như khuyên người ta làm điều thiện, tránh điều ác, hoặc đều mơ ước cho sự giải phóng con người… Mác

từng khẳng định: “Cả Đạo Cơ đốc lẫn CNXH đều tuyên truyền sự giải phóng

con người trong tương lai khỏi cảnh nô lệ và nghèo khổ”(1) Dĩ nhiên, CNXH hướng tới giải phóng con người trên trần thế, còn các tôn giáo tuyên truyền về

sự giải phóng ở thế giới bên kia

Thứ tư: Do tính bảo thủ, lạc hậu của ý thức tôn giáo và những biến đổi

thích nghi của tôn giáo

Một trong những thuộc tính của các hình thái ý thức xã hội nói chung là tính lạc hậu so với thực tiễn Trong đó ý thức tôn giáo lại là một hình thái ý thức đặc biệt, có tính bảo thủ hơn hẳn so với các loại hình thái ý thức xã hội

khác, nên nó ăn sâu bám rễ trong quần chúng trở thành tập quán, thói quen qua

nhiều thế hệ, do đó mà rất khó loại bỏ nó ra khỏi cuộc sống xã hội Hơn thế nữa, hiện nay các tôn giáo đều có những biến đổi thích nghi, như lợi dụng những thành tựu của khoa học hiện đại để giải thích những tín điều trong kinh thánh, hoặc điều chỉnh những quy định của giới luật và các quy định về sinh hoạt tôn giáo theo hướng cởi mở hơn, bớt khắt khe hơn, phù hợp với cuộc sống hiện đại hơn; đồng thời các tôn giáo hiện nay đều tìm cách mở rộng phạm vi ảnh hưởng, do đó mà nó còn tồn tại lâu dài

Thứ năm: Do các lực lượng thù địch luôn lợi dụng vấn đề tôn giáo

chống phá cách mạng

Việc lợi dụng vấn đề tôn giáo là một trong những thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, nhằm thực hiện mục tiêu chung là xóa bỏ CNXH trên thế giới Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, luôn tìm mọi cách vu cho CNXH đàn áp các tôn giáo, đối xử phân biệt

1 M¸c - ¡ng ghen toµn tËp, tËp 22 Nxb CTQG, H 1995, tr663.

Trang 6

với đồng bào theo các tôn giáo, hòng gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chúng kích động các phần tử cực đoan trong các tôn giáo, tạo dựng lực lượng đối lập và chống đối Đảng cộng sản, nhà nước XHCN, mà thực tiễn thế giới và Việt Nam đã chứng minh Trên thế giới, điển hình như Ba-lan, sự sụp

đổ của CNXH ở Ba-la do nhiều nguyên nhân, những trong đó một nguyên nhân hết sức quan trọng đó là sự cấu kết của những phần tử phản động theo đạo thiên chúa giáo ở Ba-lan với Công đoàn đoàn kết và tòa thánh Va-ti-căng

đã tạo sự bất ổn, tiến tới lôi kéo, kích động người dân chống lại Đảng cộng sản

và Nhà nước Ba-lan, dẫn đến sự sụp đổ của Ba-lan

Hiện nay hiểm hoạ về chiến tranh hạt nhân, chiến tranh huỷ diệt đã bị đẩy lùi, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột tôn giáo, sắc tộc, khủng bố…hay dịch bệnh, đói nghèo…cùng với những mối đe doạ khác cũng là những điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại

Tóm lại từ những lý do trên: khẳng định trong CNXH tôn giáo còn tồn

tại, tuy nhiên không phải tôn giáo sẽ tồn tại vĩnh hằng, mà nó sẽ mất đi khi nào con người làm chủ được tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình

2 SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

Việt Nam nằm ở vị trí địa chính trị hết sức quan trọng của khu vực Châu

Á, là nơi giao lưu và du nhập của nhiều luồng dân cư, văn hoá, tôn giáo khác nhau Về mặt cư dân, Việt Nam gồm 54 tộc người khác nhau, mỗi tộc người lại lưu giữ những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, vì thế Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, trong đó tín ngưỡng dân gian ra đời khá sớm như tín ngưỡng về sức mạnh của tự nhiên, đó là: thần Núi, thần Sông, thần Sét; hoặc tục thờ tổ tiên, thờ thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, với dân tộc…Những tôn giáo ngoại cũng được du nhập vào nước ta khá sớm như đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão đã có gần 2000 năm, đạo Thiên Chúa từ năm 1553

đã truyền vào nước ta, rồi đạo Tin Lành, đạo Hồi cũng có mặt ở nước ta khá

Trang 7

sớm Tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam rất đa dạng, phức tạp, đan xen, pha trộn giữa nội sinh và ngoại nhập, có cả tôn giáo mới và tín ngưỡng dân gian, trong

đó có những tín ngưỡng tồn tại như một tôn giáo Bức tranh tín ngưỡng tôn giáo rất phong phú, nhiều màu sắc, bên cạnh những cái hay cái đẹp, còn tồn tại những cái chưa tốt, còn nhiều hủ tục lạc hậu cần khắc phục

Nhìn chung các tôn giáo ở Việt Nam cơ bản chung sống hoà bình, không

xảy ra xung đột hay chiến tranh tôn giáo như một số nước khác; tín đồ chủ yếu

là nhân dân lao động, cấp độ ảnh hưởng chỉ ở cấp độ tâm lý, không đến mức cuồng tín như nhiều nước khác Các tôn giáo hiện nay đang có xu hướng phục hồi và mở rộng phạm vi ảnh hưởng Quá trình tồn tại, phát triển các tôn giáo luôn bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ của chúng Đặc biệt từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo cách mạng đến nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo nhằm mục tiêu chống phá cách mạng Việt Nam Cụ thể những năm gần đây, Mỹ thường xuyên liệt Việt Nam vào những nước “cần có sự quan tâm đặc biệt

về vấn đề tôn giáo”, từ đó Mỹ gây sức ép đối với chúng ta trong các quan hệ song phương Mỹ còn tìm cách cấu kết, hỗ trợ về kinh phí, phương tiện cho những kẻ phản động đội nốt tôn giáo trong nước hoạt động chóng phá Đảng Nhà nước Còn trong nước nhiều kẻ phản động đội nốt tôn giáo, liên tục có nhiều hành động công khai chống đối, như vụ Nguyễn Văn Lý ở Thừa thiên Huế, vụ “cứu trợ dân oan” của Thích Quảng Độ ở Thành phố Hồ Chí Minh, hay nhiều vụ các tôn giáo gây sức ép với Đảng, đòi đất, “đòi tự do tôn giáo” nên có thể nói tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay vẫn tiềm ẩn nhiều nhân

tố gây bất ổn

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định công tác tôn giáo, dân tộc là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tôn trọng quyền tự do tín

Trang 8

ngưỡng, tôn giáo, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc là chính sách nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta, được cụ thể hoá bằng pháp luật và bảo đảm trên thực tế Ngay sau khi thành lập nước ViệtNam dân chủ cộng hoà; ngày 03/9/1945 tại phiên họp Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã quan tâm đến vấn đề tôn giáo, người nói “Tôi đề nghị Chính phủ tuyên

bố tín ngưỡng tự do và lương - giáo đoàn kết” Ngày 14/6/1955, người đã ký Sắc lệnh số 234/SL xác định “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo Các tổ chức tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân Việc bảo vệ tự do tín ngưỡng bắt buộc phải trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo gây rối loạn” Người từng kêu gọi các tôn giáo hãy xoá bỏ hiềm khích, đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nước nhà vì “Công giáo hay không Công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo đều phải nỗ lực đấu tranh cho nền độc lập của nước nhà Nhiệm vụ của toàn thể chúng ta là phải giữ vững nền độc lập, toàn thể đồng bào ta không chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến để giữ gìn non sông, Tổ quốc và cũng để giữ gìn tín ngưỡng tự do” Trải suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhất

là qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam, đại đa số đồng bào các tôn giáo ở Việt Nam đều có lòng yêu nước, đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc; nhiều người đã lập công lớn nêu tấm gương sáng cho các thế hệ sau, đồng bào các tôn giáo luôn luôn là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trước những năm 1975 một số giáo hội ở miền Bắc đã tự nguyện hiến đất xây dựng trường học, đây là việc làm tự nguyện vô cùng trân trọng của tín đồ, chức sắc các tôn giáo vì sự nghiệp

Trang 9

chung của đất nước, họ đã tự nguyện hiến đất, giúp chính quyền xây dựng trường học để dạy chữ cho con em nhân dân, trong đó có con em đồng bào theo tôn giáo

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về công tác tôn giáo như Nghị quyết

số 24/ NQ-TW ngày 16/10/1990; Nghị quyết số 25- NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành TW Đảng; Quốc hội khoá 11 đã ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (số 21/2004/ PL- UBTVQH 11) quy định về các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Chính phủ ban hành nghị định số 22/2005/ NĐ- CP ngày 01/3/2005 Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị 1940/ CT- TTg ngày 31/12/2008 “ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo”; Nghị định số

92/2012/NĐ-CP, ngày 8.11.2012 “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành phá lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” và nhiều văn bản hướng dẫn của Nhà nước và các bộ, ban, ngành liên quan, tiếp tục khẳng định rõ “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào” Các chính sách, pháp luật đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt, sâu sắc của Đảng, Nhà nước Việt Nam đến nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, làm cho quần chúng nhân dân, tín đồ và các chức sắc tôn giáo yên tâm phấn khởi tích cực thực hiện tốt cả “việc đạo, việc đời” tin tưởng vào chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, lao động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh ngăn chặn những hoạt động lợi dụng tôn giáo góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Có thể nói chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay, tín đồ ngày càng đông, được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ

Trang 10

tự…Cho đến hôm nay, những quan điểm đường lối công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam đề ra vẫn còn mang tính thời sự sâu sắc Đường lối đã làm chuyển biến và hướng các tôn giáo về mục tiêu cách mạng Việt Nam là xây dựng đất nước “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Quá trình tư tưởng này thể hiện sự đúng đắn của đường lối, quan điểm chỉ đạo công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện nơi này, nơi kia, còn có hiện tượng nhận thức nóng vội, chủ quan làm cho vấn đề trở nên phức tạp Đảng, Nhà nước ta đã kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh để công tác tôn giáo đi vào nề nếp và đúng hướng tạo sự tin tưởng của tín đồ, chức sắc các tôn giáo với sự nghiệp cách mạng của Đảng của dân tộc Việt Nam

Đến thời điểm hiện nay trên phạm vi cả nước đã có 12 tôn giáo với 33

tổ chức tôn giáo được công nhận và đăng ký hoạt động, với số lượng tín đồ trên 20 triệu người, chiếm 26 % dân số, có trên 100 ngàn chức sắc, nhà tu hành, với trên 20 trường đào tạo chức sắc tôn giáo, đáp ứng nhu cầu chính đáng của một bộ phận đồng bào có đạo, quần chúng nhân dân, tín đồ chức sắc tôn giáo thực sự yên tâm “sống tốt đời, đẹp đạo” Việc in ấn xuất bản kinh sách ngày càng tăng Năm 2007, Nhà xuất bản Tôn giáo đã ấn hành

620 đầu sách của các tổ chức tôn giáo với 1,2 triệu bản in và 180 xuất bản phẩm tôn giáo với 975.000 bản Chỉ tính riêng năm 2008 đã có 915 đầu sách Việc mở trường và đào tạo chức sắc tôn giáo luôn được nhà nước tạo điều kiện (Phật giáo đã có 04 học viện và nhiều Trường Cao đẳng, Trung cấp Phật học; Công giáo có 06 Đại chủng viện…); việc giải quyết nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của tín đồ, chức sắc, tổ chức tôn giáo theo cơ chế “một

Ngày đăng: 18/05/2017, 21:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w