1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN GIỮ gìn và PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG dân tộc để PHÁT TRIỂN bền VỮNG đất nước TRONG bối CẢNH TOÀN cầu hóa

19 482 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 105,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, để phát triển bền vững thì nhất thiết phải giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc. Bởi lẽ, đó là những giá trị tinh thần cốt lõi, đặc sắc, mang tính trường tồn trong lịch sử của dân tộc mà dựa vào đó các thế hệ mới ra đời có thể phát huy được giá trị quá khứ, tiếp thu được giá trị hiện đại và định hướng cho tương lai để tự tồn tại và phát triển. Giá trị truyền thống dân tộc ta cần được giữ gìn và phát huy, bao gồm: chủ nghĩa yêu nước; ý chí tự lập tự cường; tinh thần đoàn kết, tình thương yêu con người và nhân ái, khoan dung; đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo và tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống.

Trang 1

GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC

ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC TRONG

BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, để phát triển bền vững thì nhất thiết phải giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc Bởi lẽ, đó là những giá trị tinh thần cốt lõi, đặc sắc, mang tính trường tồn trong lịch sử của dân tộc mà dựa vào đó các thế hệ mới ra đời có thể phát huy được giá trị quá khứ, tiếp thu được giá trị hiện đại và định hướng cho tương lai để tự tồn tại và phát triển Giá trị truyền thống dân tộc ta cần được giữ gìn và phát huy, bao gồm: chủ nghĩa yêu nước; ý chí tự lập tự cường; tinh thần đoàn kết, tình thương yêu con người và nhân ái, khoan dung; đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo và tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống

Phát triển bền vững là quá trình phát triển ổn định đi lên, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội, phát triển văn hóa, phát triển con người và bảo vệ môi trường sinh thái

Hiện nay, dưới tác động mang tính hai mặt (tích cực và tiêu cực) của toàn cầu hóa và “áp lực” biến đổi khí hậu, để phát triển bền vững, chúng ta cần phải (và nhất thiết phải) giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại Giá trị truyền thống dân tộc là những giá trị tinh thần cốt lõi, đặc sắc, mang tính trường tồn trong lịch sử dân tộc, mà dựa vào đó, các thế hệ mới ra đời có thể phát huy được giá trị quá khứ, tiếp thu được giá trị hiện đại và định hướng được tương lai để tự tồn tại, phát triển mà không tự đánh mất mình Nó thể hiện cô đọng, sâu sắc và khái quát ở: chủ nghĩa yêu nước; ý chí tự lập tự cường; tinh thần đoàn kết, tình thương yêu con người và nhân ái, khoan dung; đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo; tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

1

Trang 2

Chủ nghĩa yêu nước trước hết bắt nguồn từ tình cảm yêu quê hương đất nước, yêu con người và cộng đồng cùng sinh sống trên quê hương đất nước Tình cảm đó phát triển dần và trở thành ý thức yêu nước (ý thức về đất nước, về cộng đồng quốc gia dân tộc và về trách nhiệm của công dân đối với đất nước)

Và, từ ý thức yêu nước đó phát triển thành triết lý xã hội và nhân sinh về yêu

nước và bảo vệ đất nước Chủ nghĩa yêu nước là hệ thống quan niệm, quan

điểm và học thuyết về đất nước, về cộng đồng quốc gia dân tộc, về lòng tự hào

và trách nhiệm công dân đổi với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Đối với Việt Nam, “Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy

đủ và tập trung nhất, hơn bất cứ chỗ nào khác Yêu nước trở thành một triết lý

xã hội và nhân sinh của người Việt Nam và nếu dùng từ “đạo” với nguyên nghĩa của nó là “đường”, là hướng đi thì chủ nghĩa yêu nước đích thực là đạo Việt Nam”1 Có thể nói, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là học thuyết triết học - chính trị về đất nước và quốc gia dân tộc, về lòng tự hào và trách nhiệm của công dân đối với tổ quốc, thể hiện bản lĩnh và sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước

Với tư cách là giá trị cơ bản và cao nhất trong hệ thống giá trị truyền thống Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là hệ thống lý luận chính trị phản ánh tư tưởng, tình cảm, thái độ của con người và dân tộc Việt Nam đối với quê hương, đất nước.

Đối với mỗi người Việt Nam, ý thức về đất nước trước hết là ý thức về quê hương (làng xóm), là nơi “chôn nhau cắt rốn”, mà ở đó có gia đình, dòng tộc, cộng đồng người cùng sinh sống Từ quê hương (nhà, làng), ý thức tiếp cận đến vấn đề rộng lớn hơn là đất nước (dân tộc) Vì rằng, “Nhà - Làng - Nước” là

ba yếu tố trụ cột tạo ra sự gắn bó bền chặt giữa con người với con người trong

1 Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí

Minh, 1993, tr 115-116.

2

Trang 3

gia đình, làng xã và đất nước Từ hiện thực này đã hình thành nên ý thức xã hội

về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa nước với dân Và, cũng từ đó hình thành nên tư tưởng: nền tảng của đất nước chính là dân, và do đó “Dân là gốc nước” Vì vậy, trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lăng, thì người dân tự nguyện đứng lên đánh giặc, bảo vệ đất nước – đó là lẽ tự nhiên, lẽ sống, là niềm

tự hào công dân Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Dân tộc ta có một lòng yêu nước nồng nàn Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại trỗi dậy, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”1

Đối với các giai cấp, tầng lớp lãnh đạo đất nước trong mỗi thời kỳ lịch sử cần thấu hiểu tư tưởng “dân là gốc nước” Từ tư tưởng “dân là gốc nước”, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đi đến quan điểm “yêu nước là thương dân”, và “cứu nước là cứu dân” Và, để cứu nước, cứu dân có hiệu quả thì trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, các triều đại phong kiến Việt Nam đã “cố gắng” coi dân như “con” nhằm tạo ra quan hệ “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước ra sức” đánh giặc Khi đánh tan giặc thì dùng chính sách “khoan thư sức dân”, nuôi dưỡng và giáo hóa dân,… Đó là kế sách lâu bền cho công cuộc dựng nước và giữ nước

Trong thời đại mới, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã phát triển lên trình độ mới với những giá trị nhân văn sâu sắc phù hợp với xu thế của thời đại và thực tiễn cách mạng Việt Nam Cụ thể là, vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX, khi chủ nghĩa đế quốc đã thống trị đa số các nước trên thế giới, Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, ngọn cờ Cách mạng Tháng Mười Nga đã soi rọi toàn cầu thì “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản”2 Bởi lẽ, “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.171.

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 314.

3

Trang 4

gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc,…”1

Thực tiễn cách mạng Việt Nam với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làm phá sản chủ nghĩa thực dân cũ và mới của chủ nghĩa đế quốc, dẫn đến đất nước Việt Nam thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội đã chứng minh cho giá trị cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với nguyên lý bất hủ: “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; và “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”

là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới vì một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Thứ hai, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thể hiện sự thống nhất giữa tri

thức, lý tưởng, niềm tin và ý chí của cả dân tộc đối với công cuộc dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước.

Trong lịch sử, Đại Việt là quốc gia nhỏ (đất hẹp, người thưa) dựa trên nền kinh tế tiểu nông (nghèo nàn, lạc hậu) lại luôn phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt và chống lại kẻ thù đông hơn, lớn hơn và mạnh hơn mình gấp bội phần Trong điều kiện đó, để tồn tại và chống được giặc ngoại xâm, con người Việt Nam phải có ý thức tự lập tự cường, học hỏi nắm bắt tri thức về tự nhiên,

xã hội, nhất là hiểu biết quy luật chiến tranh – “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng” Tri thức được hòa quyện với tư tưởng, niềm tin và khát vọng của dân tộc về một quốc gia độc lập, cường thịnh đã tạo nên lý tưởng độc lập dân tộc và niềm tin tất thắng Trên cơ sở niềm tin tất thắng hun đúc nên ý chí tự lập tự cường của cả dân tộc Có thể nói, chính niềm tin tất thắng dựa trên tri thức khoa học và ý chí tự lập tự cường đã tạo ra sức mạnh vô song giúp cho dân tộc

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 461.

4

Trang 5

vượt qua mọi khó khăn gian khổ “nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh)

Nói đến trí tuệ Việt Nam là nói đến tầm hiểu biết, tri thức khoa học và tư duy sáng tạo của con người và dân tộc Việt Nam; còn nói đến bản lĩnh Việt Nam là nói đến bản tính độc lập, tự chủ, tự giác và tự quyết của con người và dân tộc Việt Nam trong việc lựa chọn và quyết định con đường phát triển của mình và không bị lệ thuộc bởi bất kỳ thế lực nào

Suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo ra cả kho tàng tri thức kinh nghiệm Và từ đó, đúc kết, khái quát thành tri thức luận lý, soi đường cho dân tộc đi lên Trong đó, chủ nghĩa yêu nước đã trải qua hành trình phát triển, lúc đầu từ tình cảm tự nhiên, tự phát tiến đến ý thức tự giác Và từ ý thức tự giác phát triển cả về tầm cao, chiều sâu thành triết lý yêu nước và đến đỉnh cao là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Trong lịch sử, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã thấm sâu vào tâm hồn của mỗi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính,… làm cho mọi người thấu hiểu được cảnh “nước mất, nhà tan” Vì vậy, “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Để đánh được kẻ thù đông hơn, mạnh hơn mình gấp bội phần, không chỉ cần có tri thức “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”, mà còn phải phát triển tri thức lên trình độ nghệ thuật “lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh” (người xưa gọi là “lấy nhu thắng cương”) và “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”,…

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tri thức và nghệ thuật đánh giặc giữ nước của Việt Nam đã phát triển thành khoa học về chiến tranh nhân dân, bảo vệ đất nước Điều này đã được thể hiện sinh động, sâu sắc và có hiệu quả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Để đánh Mỹ và thắng Mỹ, chúng ta đã phát động cuộc chiến tranh nhân dân (toàn dân đánh giặc); đánh giặc cả trên mặt trận kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao và cả trên mặt trận giáo dục, tư tưởng, văn hóa; đồng thời đánh giặc bằng cả ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương,

5

Trang 6

dân quân du kích) trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, đồng bằng, đô thị) với phương châm là đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận để đi tới đánh đổ hoàn toàn kẻ thù

Có thể nói, tri thức và nghệ thuật đánh giặc giữ nước nói trên được đúc kết thành khoa học dựng nước và giữ nước của Việt Nam Đó là một trong những cơ sở quan trọng hình thành và phát triển bản lĩnh Việt Nam

Như vậy, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là sự tổng hợp những giá trị tinh

thần cao quý nhất của dân tộc Trong đó có sự thống nhất và hòa quyện giữa tri thức lý luận với tình cảm chân thực, giữa trí tuệ với niềm tin, ý chí dựng nước

và giữ nước của cả dân tộc, thể hiện chuẩn mực giá trị và đạo lý sống, tồn tại

và phát triển của Việt Nam.

Qua các thời kỳ lịch sử, chủ nghĩa yêu nước được tăng cường, được “bồi đắp” thêm các giá trị mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đặc điểm mới của thời đại Nếu ở thời kỳ Hùng Vương, chủ nghĩa yêu nước xuất hiện với những tình cảm yêu nước mang tính chất anh hùng ca mộc mạc thông qua thần thoại và truyền thuyết; ở thời kỳ Bắc thuộc, nó thể hiện ý thức và tinh thần yêu nước quật khởi chống lại ách đô hộ và sự đồng hóa của kẻ thù; thì trong thời kỳ phong kiến độc lập, chủ nghĩa yêu nước đã phát triển thành hệ thống tri thức lý luận, bao gồm các tư tưởng và quan điểm về: “Dân” và “Nước”, “độc lập dân tộc” và “chủ quyền quốc gia”, quyền lợi và trách nhiệm công dân đối với đất nước,… cùng với ý chí tự lập, tự cường dân tộc Đến thời kỳ chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc phương Tây, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có bước phát triển mới với nội dung và chất lượng mới được kết tinh cô đọng trong tư tưởng

Hồ Chí Minh Ở đây, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bao hàm sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống với tinh hoa của chủ nghĩa Mác -Lênin, giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam

Ý chí tự lập, tự cường dân tộc

6

Trang 7

Ý chí tự lập, tự cường dân tộc thể hiện trước hết ở việc khẳng định nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Đó là điều thiêng liêng, bất khả xâm phạm Từ thời cổ đại, người Việt đã thể hiện ý chí tự lập, tự cường dân tộc, thông qua hành động kiên quyết không khuất phục trước bất kỳ kẻ thù nào dù chúng có hùng mạnh và tàn bạo đến đâu đi nữa Trong hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mặc dù bị đô hộ song chúng ta không để mất đất, mất dân, không chịu khuất phục, không bị đồng hóa Và, cuối cùng chúng

ta đã thắng giặc ngoại xâm, hiên ngang khẳng định quyền sống và nền độc lập dân tộc

Trong thời kỳ phong kiến độc lập, ý chí tự lập tự cường dân tộc được tôi rèn, được phát triển lên trình độ mới thể hiện thông qua việc khẳng định quốc gia độc lập có quốc hiệu riêng và có vua ngang hàng với phương Bắc, quyền độc lập, tự chủ, bình đẳng của dân tộc Việt Nam được khẳng định trong bài thơ

“Thần” (Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất) của Lý Thường Kiệt:

“ Nam quốc sơn hà nam đế cư, Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư, Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.” 1

Nguyễn Trãi với “Bình Ngô đại cáo” (Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai) không chỉ khẳng định nền độc lập dân tộc, mà còn khẳng định truyền thống văn hiến Việt nam đã hun đúc ý chí tự lập tự cường dân tộc và bản lĩnh Việt Nam:

“ Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc - Nam cũng khác…” 2

Nhận xét về giá trị truyền thống dân tộc trong “Bình Ngô đại cáo”, Giáo

sư Trần Văn Giàu viết: “Bình Ngô đại cáo” cũng là lời khẳng định quyền độc

1 Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Tài liệu giáo dục chủ nghĩa yêu nước, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 2000, tr 65.

2 Ban Tư tưởng Văn hóa trung ương, Tài liệu giáo dục chủ nghĩa yêu nước, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 2000, tr 77.

7

Trang 8

lập của dân tộc ta; lần này, quyền ấy không phải được ghi ở sách trời mà được cấu tạo bởi các điều kiện địa lý, lịch sử, phong tục, văn hóa tổng hợp lại, đặc biệt là được biểu hiện ở ý thức dân tộc, ở khả năng tự chủ tự cường 1

Trong thời kỳ chống chủ nghĩa thực dân đế quốc phương Tây, ý chí tự lực tự cường dân tộc được nâng lên tầm cao mới, phù hợp với yêu cầu mới của thời đại và được thể hiện một cách đanh thép, nhất quán trong bản “Tuyên ngôn độc lập”: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…” Suy rộng ra, câu ấy

có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do,… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được… Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự

do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”2

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu của chủ nghĩa yêu nước và

ý chí tự lập, tự cường của dân tộc Việt Nam Đó là ý chí “quyết đem sức ta để giải phóng cho ta”, là tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” và “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Việc lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa của dân tộc Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử và xu thế của thời đại, đáp ứng được nhu cầu, lợi ích và khát vọng của nhân dân ta

Ngày nay, ý chí tự lực tự cường được phát huy cao độ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Trong 25 năm đổi mới, bằng chủ nghĩa yêu nước với ý chí tự lực tự cường dân tộc, Việt Nam đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh

1 Trần Văn Giàu, Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam, tư tưởng yêu nước, Nxb Văn

nghệ, TP Hồ Chí Minh, 1983, tr 141.

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 3-4.

8

Trang 9

tế - xã hội để vươn lên trở thành “cường quốc” xuất khẩu gạo, đã phá tan vòng vây cấm vận của các thế lực thù địch để hội nhập bình đẳng trong cộng đồng thế giới Với những thành tựu to lớn và quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong 30 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã trở thành quốc gia có vị thế và

uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế

Tinh thần đoàn kết, tình yêu thương con người và lòng nhân ái, khoan dung

Tinh thần đoàn kết: xét từ nguồn gốc, mọi con dân đất Việt dù ở đâu và

làm gì đều có chung nguồn cội, đều là con Hồng cháu Lạc được sinh ra từ “bọc trăm trứng” của mẹ Âu Cơ Vì vậy, tiếng gọi “đồng bào” là tiếng gọi thân thiết

và linh thiêng, đánh thức cội nguồn nòi giống dân tộc Đoàn kết bắt nguồn tự cội nguồn (“bọc trăm trứng”) đi đến “đồng bào”, tỏa rộng ra cộng đồng “Nhà -Làng - Nước”, hình thành nên ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết Đoàn kết

từ trong mỗi gia đình dòng họ, lan ra làng - xã và phát triển đến đoàn kết dân tộc Đó chính là sức mạnh, là điểm tựa tinh thần vững chắc của con người và cả dân tộc Việt Nam trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp, bất tử của tinh thần đoàn kết dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế thủy chung trong sáng Người chỉ rõ:

“Trong bầu trời, không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới, không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”1

Phát triển tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam lên trình độ mới, đồng thời tổng kết những bài học quý báu của cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”2 Và, trước lúc đi xa, Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta Các đồng chí từ Trung ương

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 276.

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 350.

9

Trang 10

đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”1

Tổng kết giá trị, sức mạnh và ý nghĩa của đại đoàn kết dân tộc trong điều kiện mới, Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”2

Tình yêu thương con người: Thương người là phẩm chất đạo đức cao đẹp,

trở thành giá trị truyền thống của con người và dân tộc Việt Nam Tình yêu thương con người bắt nguồn từ chính cuộc sống lao động, chiến đấu của con người Việt Nam từ thời cổ đại, được phát triển qua các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược với phương châm “chị ngã em nâng”, “lá lành đùm lá rách” đi đến “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” và

“nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” Chính tình yêu thương con người đó đã được nhân dân ta chắt chiu, giữ gìn, phát triển và trao truyền qua nhiều thế hệ và trở thành lối sống, lẽ sống ở đời Tình yêu thương con người ở dân tộc Việt Nam thể hiện tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc Đó không phải là kiểu thương người một cách tiêu cực, bị động, ngồi trông chờ vào “ảo ảnh” giải thoát của đấng siêu nhiên, mà là hành động vì nghĩa cứu người, cứu dân và cứu nước để giải phóng con người, giải phóng nhân dân ra khỏi ách đô hộ, áp bức bóc lột Vì vậy, thương người gắn liền với tinh thần vì nghĩa Nghĩa là lẽ phải, vì nghĩa là đứng về lẽ phải, đấu tranh cho lẽ phải và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng Giáo sư Trần Văn Giàu nhận xét: “Nghĩa là điều phải, đối chọi với điều trái Vì nghĩa là làm điều phải một cách có ý thức, chống điều trái Nghĩa cũng là tình cảm chính đáng gắn bó người với người trong sinh hoạt gia đình, xã hội, dân tộc, cho đến quốc

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 510.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 116

10

Ngày đăng: 18/05/2017, 21:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w