Bất kỳ một khoa học nào ra đời đều dựa trên những tiền đề nhất định, trong đó tiền đề lý luận cho sự ra đời của khoa học đó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tâm lý học Mác xít lấy triết học Mác Lênin làm tiền đề cho sự ra đời và phát triển của mình, những quan điểm lý luận triết học mà tâm lý học Mác xít lấy làm cơ sở có ý nghĩa quyết định đến tính đúng đắn, khoa học, khách quan của các luận điểm tâm lý học mà họ đưa ra. Bởi vì triết học là khoa học nghiên cứu những quy luật phổ biến nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Chức năng cơ bản nhất của nó là chức năng thế giới quan và phương pháp luận cho các khoa học khác.
Trang 1PHẠM TRÙ HOẠT ĐỘNG TRONG TÂM LÝ HỌC MÁC XÍT
Bất kỳ một khoa học nào ra đời đều dựa trên những tiền đề nhất định, trong đó tiền đề lý luận cho sự ra đời của khoa học đó có ý nghĩa hết sức quan trọng Tâm lý học Mác xít lấy triết học Mác- Lênin làm tiền đề cho sự ra đời
và phát triển của mình, những quan điểm lý luận triết học mà tâm lý học Mác xít lấy làm cơ sở có ý nghĩa quyết định đến tính đúng đắn, khoa học, khách quan của các luận điểm tâm lý học mà họ đưa ra Bởi vì triết học là khoa học nghiên cứu những quy luật phổ biến nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Chức năng cơ bản nhất của nó là chức năng thế giới quan và phương pháp luận cho các khoa học khác Quá trình phát triển của khoa học triết học và tâm lý học
đã chứng minh rằng: sự phát triển hoặc khủng hoảng, bế tắc của triết học đều tác động trực tiếp đến sự phát triển hay bế tắc của tâm lý học Điều đó cho thấy cơ sở lý luận triết học của mỗi một trường phái tâm lý học là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển, tiến bộ, hay thoái bộ của các trường phái tâm lý học đó Vì vậy, việc tâm lý học Mác xít dựa trên các quan điểm lý luận khoa học của triết học Mác – Lênin, thành tựu nổi bật của triết học thế giới để nghiên cứu, đã khẳng định sự phát triển tiến bộ của mình Khi lấy triết học Mác - Lênin làm cơ sở lý luận các nhà tâm lý học Mác xít đã
dựa vào ba tiền đề cơ bản sau: Học thuyết Mác xít về con người; Học thuyết Mác xít về hoạt động của con người; và học thuyết Mác xít về ý thức Trong
đó học thuyết Mác xít về hoạt động của con người có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc xác định đối tượng nghiên cứu của tâm lý học Mác xít Xuất phát từ học thuyết này các nhà tâm lý học Mác xít đã coi phạm trù hoạt động
là phạm trù trong tâm của tâm lý học
Trang 2Vậy phạm trù hoạt động xuất hiện từ khi nào? các trường phái tâm lý học quan niệm như thế nào về phạm trù này? Phạm trù hoạt động lần đầu tiên xuất hiện không phải trong tâm lý học mà là trong triết học cổ điển Đức Chính Hêghen nhà triết học duy tâm người Đức là người đầu tiên xây dựng nên cả một học thuyết về phạm trù hoạt động Ông cũng là người kế thừa triết học cổ điển Đức khi cả châu Âu đang tôn vinh nền triết học duy lý Hêghen rất say xưa với những học thuyết về cá nhân, con người về tính tích cực của chủ thể, từ đó lần đầu tiên Ông đã phát hiện ra phạm trù hoạt động và xem phạm trù hoạt động là cái xuyên suốt của tinh thần tuyệt đối, hoạt động chính
là cái được sinh ra từ nhu cầu nội tại của cái tinh thần tuyệt đối Tinh thần hay tâm hồn hay ý thức với tính năng động của nó đã sinh ra các hoạt động tiềm
ẩn của chính mình Như vậy, mặc dù Hêghen là người đầu tiên xây dựng nên phạm trù hoạt động, nhưng quan niệm của Ông về phạm trù này chưa đúng đắn Hoạt động theo quan niệm của Ông không phải là hoạt động của con người thực mà là hoạt động của cái tinh thần tuyệt đối, đó là quan niệm hoàn toàn duy tâm về hoạt động của con người
Vậy các nhà tâm lý học trong lịch sử quan niệm thế nào về hoạt động của con người? Lịch sử phát triển của khoa học tâm lý từ trước tới nay luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa các trường phái tâm lý học, thực chất của cuộc đấu tranh này là cuộc đấu tranh xác định đối tượng nghiên cứu của các trường phái tâm lý học Việc xác định đúng đối tượng sẽ giúp cho tâm lý học phát triển và mang lại hiệu quả cao trong hoạt động thực tiễn Cho đến nay đã xuất hiện ba khuynh hướng cơ bản trong việc xác định đối tượng nghiên cứu của tâm lý học:
Khuynh hướng thứ nhất , xác định đối tượng nghiên cứu của tâm lý học
là “cái tâm lý” thuần nhất Đại biểu cho khuynh hướng này là các trường phái
tâm lý học duy tâm nội quan, tâm lý học ý thức, tâm lý học liên tưởng, tâm lý học Gestalt, Phân tâm học…Các trường phái này đã đồng nhất tâm lý với hiện
Trang 3tượng ý thức, các trạng thái tâm lý như những quá trình ý thức tự nảy sinh; coi tâm lý là những quá trình chỉ xuất hiện trong “cái tôi”; tâm lý là những quá trình do niềm tin sinh ra trong bản thân “dòng ý thức” thường trực; thậm chí phân tâm học lại lấy các trạng thái tâm lý xuất phát từ cái “vô thức” sâu thẳm trong cơ thể, toàn bộ cuộc sống của con người cũng như các trạng thái tâm lý đều bắt nguồn từ cái vô thức đó Tâm lý học Gestalt chọn “tri giác” làm khái niệm trung tâm và nhấn mạnh tính chất cấu trúc toàn vẹn của các cấu tạo tâm lý và cho rằng các cấu trúc vật lý, sinh lý và tâm lý tương ứng với nhau Sự tương ứng ấy về thực chất chỉ là bề ngoài, cho nên các hiện tượng tâm lý chỉ là nguyên nhân của chính chúng mà thôi,…
Các trường phái tâm lý học trên đây chỉ nghiên cứu tâm lý trong các hiện tượng ý thức cá nhân, họ cho rằng muốn nghiên cứu được tâm lý chỉ có một cách duy nhất là tự mình quan sát, tự mình trải nghiệm để hiểu tâm lý của chính mình Người khác không thể hiểu được tâm lý của mình, có chăng cũng chỉ là thông cảm mà thôi hoặc cùng lắm là “suy bụng ta ra bụng người” Như vậy các trường phái tâm lý này khi nghiên cứu phân tích các hiện tượng tâm
lý vẫn chủ yếu đứng trên lập trường hiện tượng luận thuần tuý, chủ yếu là lấy
các hiện tượng tâm lý để giải thích các hiện tượng tâm lý Tức là đặt chúng trong một hệ thống kín, nội tại trong tâm hồn hay trong cơ thể Nói cách khác các trường phái này nghiên cứu tâm lý theo hướng duy tâm nội quan, kết quả nghiên cứu của họ không nhìn thấy, không đo đếm được nên nó thiếu chính xác và không khách quan
Để khắc phục hạn chế này vào năm 1879 khi làm giáo sư triết học ở Leipzig, Wundt đã tổ chức ra phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới, nhằm nghiên cứu tâm lý người bằng phương pháp thực nghiệm Nhưng phương hướng chỉ đạo trong nghiên cứu tâm lý của Ông là các hiện tượng tâm lý đều ở trong vòng các hiện tượng tinh thần của con người và đều xuất phát từ ý thức Ông không hề xem xét tới các hoạt động của con người, theo
Trang 4Ông hoạt động không liên quan gì đến tâm lý của họ, tất cả mọi thứ là do
“tổng giác” tạo ra tức là do cảm giác, tri giác của con người tạo ra chứ không phải do hoạt động của con người với thế giới xung quanh Do đó tâm lý học của Wundt còn được gọi là tâm lý học duy tâm chủ quan, ý chí luận, lấy phương pháp nội quan làm phương pháp nghiên cứu tâm lý người Vì vậy, trước sự phát triển của khoa học và sự biến đổi của thực tiễn xã hội thời điểm
đó đã làm cho tâm lý học duy tâm nội quan đi vào bế tắc
Nhằm khắc phục tình trạng này các trường phái tâm lý học khách quan chủ nghĩa như tâm lý học Gestalt và phân tâm học ra đời Tâm lý học khách quan ra đời đã mở ra một cách nhìn mới khác với cách nhìn lâu nay trong tâm
lý học truyền thống, về đối tượng và phương pháp nghiên cứu tâm lý học Những nội dung cơ bản trong tâm lý học khách quan đã trở thành phương hướng chỉ đạo cho sự phát triển của khoa học tâm lý và có ảnh hưởng nhất định tới các ngành khoa học khác khi nghiên cứu về con người Bên cạnh đó tâm lý học khách quan cũng còn nhiều hạn chế, thiếu sót như: quá nhấn mạnh cái vô thức mà không thấy được vai trò của hoạt động của con người
Như vậy tất cả các trường phái tâm lý học theo khuynh hướng thứ nhất đều không đề cập đến hoạt động của con người, không coi hoạt động là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học Do đó các trường phái tâm lý học này cũng rơi vào bế tắc và không thể đi xa hơn nữa
Từ sự bế tắc của các dòng phái tâm lý học theo khuynh hướng thứ nhất như đã phân tích trên đây, đã dẫn đến sự xuất hiện của trường phái tâm lý học theo khuynh hướng thứ hai, đó là thuyết hành vi của J.Watson Đây là những
ý tưởng rất tiến bộ của J.Watson thời kỳ đó, Cantor đánh giá: thuyết hành vi
ra đời “rõ ràng là một trong những sự kiện đáng kể nhất trong tâm lý học hiện đại nói chung Tất nhiên, không một sự kiện nào khác trong lịch sử tâm lý học suốt từ thời kỳ Hy Lạp là sự kiện cách mạng tích cực như thuyết hành vi”1
1 Phạm Minh Hạc, H nh vi v ho à à ạt động, Viện khoa học giao dục, H N à ội 1983 tr 53
Trang 5Đây được coi là một bước tiến quan trọng trong lịch sử tâm lý học,
khuynh hướng này đã xác định đối tượng của tâm lý học là “hành vi” Điều
đó thực sự đã đánh dấu thời kỳ phát triển mới của tâm lý học khách quan Trong tâm lý học hành vi cổ điển, thì hành vi của người và hành vi của động vật bị đơn giản hoá thành những cử động cơ thể Hành vi chẳng qua chỉ là một tổ hợp các phản ứng nhằm đáp lại các kích thích từ bên ngoài Quan niệm
ấy được biểu đạt bằng công thức nổi tiếng S R Trong công thức này thì hành vi chỉ được coi là mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể với môi trường Còn tâm lý, ý thức chẳng qua chỉ là những hiện tượng phụ, không có vai trò gì trong việc điều khiển hành vi Theo J.Watson thì Tâm lý học hành vi không phủ nhận tâm lý, ý thức, nhưng họ không quan tâm tới việc mô tả trạng thái ý thức mà chỉ quan tâm tới hành vi của con người; quan tâm tới những biểu hiện bề ngoài Theo các nhà hành vi, tâm lý học phải nghiên cứu hành vi người, nghĩa là đưa cuộc sống hàng ngày vào đối tượng nghiên cứu của tâm
lý học, vì hành vi của con người là biểu hiện tâm lý bên trong của họ, đây là điểm khác biệt cơ bản giữa tâm lý học hành vi của J.Watson với tâm lý học
“duy linh” trước đó Tâm lý học duy linh coi đối tượng nghiên cứu là “hồn”,
“tâm hồn” như là sản phẩm được rút ra từ đầu óc của “người lớn bình thường” tức là từ một con người trìu tượng Như vậy, việc lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu của tâm lý học thực sự là một đóng góp tích cực, là hướng nghiên cứu táo bạo, là cơ sở đầu tiên khuyến khích các nhà khoa học, các nhà tâm lý học đi sâu khám phá thế giới tâm lý con người với những quan điểm phù hợp hơn Phương pháp luận trong nghiên cứu về con người của tâm lý học hành vi
đã phủ nhận phương pháp duy tâm nội quan, coi “thế giới ý thức với tư cách
là một thế giới huyền bí khép kín trong “hồn” Việc các nhà hành vi chỉ quan tâm nghiên cứu hành vi là cái có thể quan sát được đã làm cho tâm lý học hành vi trở thành một khoa học khách quan và chuyển sang lập trường của chủ nghĩa duy vật J.Watson cho rằng: hành vi chính là tổ hợp các phản ứng
Trang 6của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài Lập trường này của J.Watson cho thấy quan điểm của ông đã được tiếp thu quan điểm quyết định luận duy vật về hành vi người từ tâm lý học động vật khách quan và tâm lý học thực nghiệm thế kỷ trước Điều này cũng cho thấy ông đã đồng nhất hành
vi của động vật với hành vi của con người Thực chất sự đồng nhất này đã loại trừ các hiện tượng của ý thức, tư tưởng, tình cảm, các quá trình sinh lý thần kinh,… ra khỏi các quá trình kích thích – phản ứng Nghĩa là tâm lý học hành vi không coi hoạt động có ý thức của con người là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học Nhưng thực tế hành vi của con người có sự khác biệt lớn về chất so với hành vi của động vật, C.Mác đã có nhận xét nổi tiếng về sự khác nhau căn bản giữa hành vi xây tổ của con ong giỏi nhất và hành vi xây nhà của người kiến trúc sư tồi nhất Giáo sư Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nhờ đưa phạm trù hành vi vào tâm lý học, thuyết Watson trong một mức độ nhất định đã giúp tâm lý học thoát được thần bí “ý thức”, “hồn”, “tâm hồn” và khởi đầu trào lưu mang tinh thần duy vật máy móc, nhằm khẳng định phương pháp tiếp cận khách quan dùng vào nghiên cứu các hiện tượng tâm lý Đó chính là ý nghĩa tuyệt vời của lý thuyết tâm lý học hành vi”2 Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của tâm lý học hành vi là quan niệm về con người và đời sống tâm lý con người một cách cơ học, máy móc giống như tâm lý động vật, Watson đã không thấy được tâm lý con người hình thành trong hoạt động, biểu hiện trong hoạt động nên Ông không coi hoạt động là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học
Mặc dù còn có những hạn chế, nhưng nhìn chung sự xuất hiện của thuyết hành vi đã góp phần phát triển và làm phong phú thêm cho việc xác định đối tượng nghiên cứu của khoa học tâm lý Tuy nhiên, việc hiểu nội hàm của khái niệm “hành vi” đang còn là vấn đề tranh cãi phức tạp chưa được giải quyết thoả đáng trong phạm vi công thức S R của thuyết hành vi Kể cả
2 Phạm Minh Hạc, H nh vi v ho à à ạt động, Viện khoa học giao dục, H N à ội 1983 tr 63
Trang 7thuyết hành vi mới của E Tolman và C Hull, hay thuyết hành vi bảo thủ của B.F Skinner, đều quan niệm hành vi là một hệ thống phức tạp các cử động cùng với các mối liên hệ ngược Nghĩa là, họ vẫn không hề thừa nhận có sự tham gia của tâm lý, ý thức vào quá trình điều khiển hành vi Chính sự bế tắc này của thuyết hành vi, đã buộc nhiều nhà tâm lý học phải quay trở về với tâm lý học chủ quan truyền thống Giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc đã khẳng định rằng: Sự phủ nhận các yếu tố như tâm lý, ý thức, bỏ qua các phạm trù cơ bản như động cơ, cảm xúc, tình cảm, ý chí,…cũng như việc phủ nhận tính tích cực của hành vi và ý thức của con người, hạ thấp hành vi của con người xuống ngang hàng với hành vi của động vật Đó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự tan rã của thuyết hành vi.
Trước sự khủng hoảng đó đòi hỏi phải có một trường phái tâm lý học mới thực sự khách quan, khoa học và cách mạng ra đời, đó là tâm lý học Mác xít Trong lịch sử của nền tâm lý học Liên Xô còn ghi lại bản báo cáo của Coócnhilốp (1879 – 1957), đọc tại Đại hội lần thứ nhất tâm lý học thần kinh toàn Nga “Báo cáo đã công khai tuyên bố đoạn tuyệt với triết học nhị nguyên, với tâm lý học kinh nghiệm chủ nghĩa và siêu hình, tuyên bố hướng
về chủ nghĩa Mác để xác định đối tượng tâm lý học và các phương pháp nghiên cứu”3 Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử khoa học, yêu cầu tâm lý học phải trở thành tâm lý học Mác xít cách mạng, khoa học, được phát biểu một cách công khai, rõ ràng và có ý nghĩa thực sự Đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng Coócnhilốp đã viết rất nhiều tác phẩm, trong các tác phẩm của mình, Coócnhilốp đã nói nhiều tới hoạt động lao động của con người và vai trò của hoạt động này trong việc hình thành tâm lý Tuy nhiên, khi phân tích các đề án do Coócnhilốp tiến hành, người ta nhận thấy ông giải thích phạm trù hoạt động đóng khung trong phạm vi thuyết vị sinh lý
là nguyên tắc phản ứng một chiều Do đó, các tư tưởng tâm lý học mà ông
3 Phạm Minh Hạc, Tuyển tập tâm lý học, Nxb Chính trị quốc gia, H N à ội 2005, Tr 256
Trang 8trình bày theo quan điểm duy vật biện chứng ấy lại rơi vào quan điểm của
những người theo trường phái phản ứng học, với bản chất máy móc của nó.
Sau bản báo cáo trên, hàng loạt các nhà tâm lý học Xô viết đi vào nghiên cứu hoạt động của con người, trong đó có M.Ia.Basôv (1872 – 1931) nhà tâm lý học người Nga, Ông là người đầu tiên có công khám phá ra phạm trù hoạt động trong tâm lý học M.Ia.Basôv cho rằng, ý thức con người bao giờ cũng được hình thành trong hoạt động và chỉ trong hoạt động Đây là sự phát triển mới trong nhận thức về phạm trù hoạt động của các nhà tâm lý học Liên Xô ở thời kỳ này Tuy nhiên, M.Ia.Basôv vẫn quan niệm lẫn lộn giữa con người và nhân cách, Ông đồng nhất con người với nhân cách Mặc dù, ông phủ nhận tâm lý học chủ quan, và đưa ra hành vi, tính tích cực của cơ thể hay “hoạt động của con người với đầy đủ tính đa dạng của nó” làm đối tượng của tâm lý học, nhưng Ông lại hiểu hoạt động là từng cử động đơn lẻ tách rời, hay quá trình chỉnh thể của hành vi, tức là Ông muốn nói tới quá trình thích nghi Từ quan niệm đó Basov đã đi tới chỗ chia hoạt động ra thành các thành
tố S, R, và mối liên hệ giữa chúng với nhau, Ông gọi đó là những cử động hành vi Còn về vấn đề vô thức, Ông cho rằng nó là một bộ phận, một thành phần tham gia vào quá trình tích cực và luôn mâu thuẫn với ý thức Ông đã
dùng khái niệm hoạt động để phân biệt với khái niệm hành vi, phản xạ học và
phân biệt được với tâm lý, ý thức của Wundt Ông đưa ra cấu tạo tâm lý của
hoạt động bao gồm hệ thống các cử chỉ, các cơ chế, được điều khiển bởi một nhiệm vụ nào đó Tuy nhiên, quan niệm của ông như vậy vẫn chưa lý giải
thoả đáng về phạm trù hoạt động Ông cho rằng nhân cách chính là sản phẩm của hệ thống các hoạt động, mà mẫu hình cao nhất là hoạt động lao động nghề nghiệp (bao gồm cả lao động chân tay và lao động trí óc) Lao động theo quan niệm của Basôv là hình thức hoạt động đặc biệt của con người, là sự tác động của chủ thể lên đối tượng và giữa các thành viên với nhau Hoạt động lao động được điều chỉnh bởi mục đích ẩn chứa bên trong trí tuệ và tâm hồn,
Trang 9cùng những mong muốn, nguyện vọng của con người Bởi thế hoạt động của con người phải khác về chất so với hành vi của động vật Nhưng cuối cùng các nghiên cứu của ông về “hoạt động” trong tâm lý học vẫn chỉ dừng lại ở một khái niệm chưa đầy đủ, nhất là vấn đề hoạt động có đối tượng của con người Vì vậy nó đòi hỏi các nhà tâm lý học Xô viết phải tiếp tục nghiên cứu và làm rõ phạm trù hoạt động.
Sau khi phân tích các xu hướng tâm lý học chủ yếu đầu thế kỷ XX, L.X Vưgôtxki (1896 – 1934) người có công lao sáng lập, đặt nền móng cho tâm lý học hoạt động, đã đi đến một kết luận cần phải xây dựng một nền tâm
lý học lấy phạm trù hoạt động làm phạm trù then chốt Ông đã quán triệt tư tưởng của Mác - Ăng ghen về phạm trù hoạt động và coi đó như là một phạm trù cơ bản để hiểu về tâm lý, tâm hồn con người Mác - Ăng ghen cho rằng giữa tồn tại và tư duy có mối quan hệ biện chứng với nhau, tư duy không trực tiếp nảy sinh từ tồn tại mà từ hoạt động của con người trong tồn tại Các Ông cũng khẳng định giữa hoạt động và tồn tại luôn chuyển hoá lẫn nhau, mỗi hoạt động chỉ diễn ra trong một tồn tại thuộc về một tồn tại, mọi tồn tại hiện thực đều hoạt động Hoạt động của con người diễn ra cùng lúc với giới tự nhiên và xã hội nên hình thức chủ đạo trong hoạt động thực tiễn của con người là lao động Vì vậy tâm lý học cần phải lấy hoạt động thực tiễn của con người làm cơ sở, làm điểm xuất phát cho nghiên cứu tâm lý con người
Quán triệt quan điểm của Mác - Ăng ghen về phạm trù hoạt động, Tâm
lý học Mác xít đã chỉ ra một cách đúng đắn đối tượng, phương pháp nghiên cứu và những nguyên tắc cơ bản xây dựng một nền tâm lý học thực sự khoa học Theo Lép Xêminôvich Vưgốtxki Tâm lý học Mác xít phải đi vào nghiên cứu tâm lý, ý thức con người, với phương pháp nghiên cứu tâm lý thông qua
hoạt động L.X.Vưgốtxki đã đề xuất cách tháo gỡ tình trạng khủng hoảng
trong tâm lý học hiện thời và khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một nền tâm lý học mới thực sự khách quan, khoa học Nền tâm lý học đó không
Trang 10nghiên cứu phản ứng, phản xạ hay hành vi đơn thuần mà nghiên cứu ý thức, hoạt động có ý thức của con người Nhiệm vụ hàng đầu của tâm lý học hoạt động là đặt con người vào vị trí trung tâm Tâm lý học hoạt động phải khác với tâm lý học mô tả và giải thích, các nhà tâm lý học Xô viết phải đề ra cho bản thân mình nhiệm vụ lý giải bản chất các chức năng tâm lý chuyên biệt của con người, và điều khiển sự vận hành của các chức năng ấy cũng như tìm cơ chế hình thành các chức năng ấy Để giải quyết được nhiệm vụ này, tâm lý học phải thoát khỏi thế giới trạng thái hay quá trình ý thức khép kín, phải hướng tới việc nghiên cứu các quá trình hành vi và ý thức người tham gia vào cuộc sống của họ Nói cách khác, là cần phải nghiên cứu ý thức hay hoạt động có ý thức của con người, hoặc hành vi và tâm lý người trong sự tác
động qua lại với môi trường xung quanh Từ đây phạm trù hoạt động đã trở
thành đối tượng nghiên cứu của tâm lý học và là phạm trù trung tâm trong tâm lý học Mác xít Trên cơ sở đó, vào năm 1925 ông đã công bố bài báo có
tính chất cương lĩnh mở đầu cho nền tâm lý học hoạt động “Ý thức là vấn đề của tâm lý học hành vi” Trong bài báo này Ông chỉ ra rằng: không thể lấy
bất cứ một nền tâm lý học nào trong số các trường phái tâm lý học nêu trên làm điểm xuất phát để xây dựng một nền tâm lý học thực sự khoa học, kể cả tâm lý học hành vi, một trào lưu tâm lý học được phổ biến hầu hết trong thế giới tư bản Bởi vì “nếu loại trừ vấn đề ý thức, thì bản thân tâm lý học tự ngăn mình không nghiên cứu bất cứ một vấn đề phức tạp nào của hành vi con người”4 Trong bài báo có ý nghĩa mở đầu Vưgôtxki đã nêu nên một số luận điểm cơ bản, trong đó Ông đặc biệt nhấn mạnh: Nghiên cứu tâm lý người phải bằng phương pháp hoạt động, phải hoàn toàn đoạn tuyệt với quan điểm sử dụng duy nhất phương pháp nội quan Đây là quan niệm đúng đắn, khoa học của tâm lý học Mác xít trong việc xác định hoạt động là đối tượng nghiên cứu
4 Tâm lý học, Tập 1, Nxb Giáo ducj, 1977, tr 53
Trang 11của tâm lý học, chúng ta cần thấy rõ một số điểm khác biệt giữa bài báo có tính chất cương lĩnh của Watson và bản cương lĩnh mở đầu cho nền tâm lý học hoạt động do L.X Vưgôtxki khởi xướng Thực chất là sự khác biệt cơ bản giữa quan niệm của tâm lý học hành vi và tâm lý học hoạt động xung quanh vấn đề đối tượng nghiên cứu của tâm lý học:
Thứ nhất, trong các công trình nghiên cứu của các nhà hành vi, tâm lý
và ý thức không bị phủ nhận với tư cách là hiện thực khách quan, nhưng họ không quan tâm tới việc mô tả, giảng giải trạng thái ý thức, mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người Cơ sở xuất phát của thuyết này là những hành
vi có thể quan sát được trước các kích thích từ môi trường bên ngoài Còn trong bài báo cương lĩnh mở đầu và các công trình nghiên cứu của Lép
Xêminôvich Vưgốtxki luôn lấy hoạt động làm cơ sở, làm phạm trù trung tâm,
tâm lý và ý thức giữ vai trò định hướng và điều chỉnh hoạt động của chủ thể trong thế giới đồ vật, cũng như trong thế giới tinh thần
Thứ hai, trong thuyết hành vi mọi thứ đều đóng khung trong sơ đồ đơn
giản hoá quy hành vi về dạng vật lý theo nguyên tắc: Khi có một kích thích nào đó vào cơ thể thì cơ thể đáp lại bằng một phản ứng tương ứng Từ nguyên tắc này J.Watson đã xây dựng công thức S R (trong đó: S là kích thích tác động từ bên ngoài vào, R là phả ứng đáp lại của cơ thể khi bị kích thích) Các Ông cho rằng hành vi là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học, nó độc lập với
ý thức và tự khép kín trong nó Quá trình nghiên cứu chỉ cần biết một trong hai yếu tố trong công thức trên thì suy ra được yếu tố còn lại Khác với thuyết hành vi, trong tâm lý học Mác xít phản ánh tâm lý và ý thức là những yếu tố trung gian giữa thế giới đồ vật và hoạt động của con người, tâm lý - ý thức là sản phẩm và là tiền đề của hoạt động
Thứ ba, tâm lý học Hành vi chủ nghĩa không tìm ra con đường đúng
đắn để tìm hiểu hành vi, họ coi hành vi chỉ là một tổ hợp các phản ứng của cơ