Bản chất của đồng tiền tự do chuyển đổi trong hệ thống tiền tệ thế giới và trong sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế của một quốc g1a.. LOLMO DAU Đề tài KNH 98 - 09 "Vể tiền để “cần”
Trang 1NGAN JIANG NHA NUGC VIET NAM |
ĐỀ TÂI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
KNH 98 - 09
ị
—————=—=~——=
ĐỀTÀI HNH 98 - 09
VE TIEN DE "CAN" VA "DU" VA BUGC DI
DE DUA DONG VIET NAM TRỞ THÀNH ĐỒNG TIỀN
TỰ DO CHUYỂN ĐỔI TRONG BOI CANH HỘI NHẬP KINH TE
VA THỊ TRUGNG TAI CHINH QUOC TE
Chủ nhiệm để tàt : TS LE BINH THU
Các thành tiên =: TS NGUYEN TOAN THANG
TS TRAN CAO NGUYEN ĐẠI HỌC NGÂÀN HÀNG KS HOẢNG TRỌNG TÚ
Trang 2MUC LUC
LỜI MỞ ĐẦU
Chuong Thực chất của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
và bản chất của đồng tiền tự do chuyển đổi trong hệ
thống tiền tệ thế giới
\ Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế khu vực quốc tế
I Tác dòng hai chiều giữa hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế
với phát triển kinh tế trong nước
Hl Kinh nghiệm quốc tế thông qua khai thác một số mô hình,
trình tự tự do hoá kinh tế tài chính một số nước
IV Bản chất của đồng tiền tự do chuyển đổi trong hệ thống tiền
tệ thế giới và trong sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế
của một quốc g1a
V Nội dung và các mức độ tự do chuyển đổi của đồng tiền
Chương Í[ Thực trạng của tiến trình hội nhập kinh tế khu vự:, quỗ-
tế và vai trò chuyển đổi của VND hiện tại
L mức độ hội nhập kinh tế và thị trường tài chính hiện nay ở
việt nam
(1 — Hiện trạng chuyển đổi của đồng Việt Nam
II chuyển đổi tiến tệ và hiện tượng đô la hóa Ở việt nam
IV Khả năng và uiển vọng nâng cao tính chuyển đổi của đồng
Viet Nam (VND)
Chuong UJ 9 Thiic day tién tinh hoi nhap kinh tế khu vực, quốc tế
phù hợp với điều kiện Việt Nam và tiếp tục tạo dựng những tiên để chuyển đổi VNI trở thành đồng tiền tự
do chuyển đổi
1 Thiết kế nội dung và bước đi thích hợp để thực hiện dần hội
nhập kinh tế và thị trường tài chính phù hợp với tình hình
của Việt Nam
I Tiên đề cần và đủ để VND trở thành đồng tiền tự do chuyển
L25 129
Trang 3LOLMO DAU
Đề tài KNH 98 - 09 "Vể tiền để “cần” và "dủ” và bước di dé dua VND
trở thành đồng tiển tự do chuyển đổi trong bốt cát hội nhập kính tử và thị
trường tài chính quốc tế” là để tài chưa được nghiên cứu nhiều, nhất là về
đồng tiền tự do chuyển đối
Đây cũng là vấn để đang được Đảng ta nhận thức và ghí vào các văn kiện Đại hội Tại Đại hội Đảng lần thứ VIIL, Nghị quyết đã phí “từng bước
làm cho đồng Việt Nam có giá trị chuyển đổi đây đí ” và trong Báo cáo chính trị Đại hội 1X: "Tăng khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam:
Trong phương hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 Nghị
quyết Đại hội đã để ra nhiệm vu cu thé hon: "Nang dân và tiên tới thịức liện day du tink chuyển đổi của đồng tiên Việt Nam” vã trong kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội 5 năm 2001 - 2005 đã cụ thể hoá bước đi: “Từng ĐHÓC nàng cao khả năng chuyến đổi của đồng Việt Nam, trước hết là đối với những tài khoản vững lại”
nước công nghiệp hoá cũng chưa thể hoàn thành quá trình đưa VN trở thành
đồng tiền tự do chuyển đổi đầy dú |
Rõ ràng, hội nhập kinh tế quốc tế và nhất là chuyển đổi tự do đồng tiền
là quá trình lâu dài, cần được cụ thể hoá từng bước cho từng thời kỳ từng giai
đoạn để thực hiện phối hợp với các diều kiện khách quan, chủ quan của nên kinh tế nước la
Đề tài được kết cấu thành 3 chương
Chương I: Thực chất của toàn cầu hoá kinh té và hột nhập kinh tế
quốc tế và bản chất của đồng tiền tự do chuyển đổi trong hệ thống tiên tệ thể giới
Trang 4Làm rõ bản chất các thuật ngữ: Toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tê
quốc tế và mỗi quan hệ với thị trường tài chính và tác động niữa hội nhập kinh
tể khu vực quốc ic với phát triển kính tế trong nước
Kinh nghiệm quốc tế thong qua khái quát một số mô hình, trình tự tự
do hoá kinh tế tài chính của Miêhicô Thai Lan va Mataixia
Bản chất và vai trò của đồng tiển tự do chuyển đối trong hệ thống tiền tẻ thể giớt và trong sự phát triển hội nhập kinh tế của một quốc gia
Về các mức độ tự do chuyển đổi của đồng tiền được phân loại theo mức
độ tự do chuyển đổi theo đối tượng (có hạn chế, không hạn chế) và mức dò tự
do chuyển đổi theo loai giao dich (cán cân vãng lại và cán vốn)
Chuong IE: Thue trang và tiến trùnh hội nhập kinh tế khu vực, quac
té va vai (rò tự do chuyén déi cua VND hién tat
Mức độ hội nhập kinh tế và độ mở của thị trường tài chính nước ta được bắt đầu từ Đại hội VI Đến nay, việc mở cửa, hội nhập càng ưở nên bước
thiếu Những đổi mới về cơ chế quản lý ngoại hối và điểu hành tý giá ngoại tc đang biến đổi theo hướng tác động đến việc chuyển dối của đồng tiền Việt Nam, Tuy vậy, hiện tượng đô la hoá đã và đang diễn ra phổ biến ở nước ta và quá trình khắc phục chúng có quan hệ mật thiết với việc chuyển đổi tiên tệ Đến lúc đó đất nước ta chỉ lưu hành duy nhất đồng tiền Việt Nam mọi quan
lệ giữa VND với ngoại tỆ, nhất là đối với USD đều qua quan hệ mua ban theo
tỷ giá thị trường và không còn thực hiện theo quan hệ tín dụng -
Với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc tự do chuyển
đổi VND là xu hướng tất yếu không thể tránh khỏi, cần có sự lựa chọn các
bước đi thích hợp để từng bước thực hiện tự do chuyển đổi của dóng Việt Nam
Chuong TU Thac ddy tiên trình hội nhập kinh tế khu vực, quốc tẾ phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tiếp tục tạo dựng những tiền để chủ
yếu để VND trở thành đồng tiền tự do chuyển dối
Thiết kế nội dung và bước di thích hợp chỉ hoi nhập kinh tế và thị trường tài chính mà trong lộ trình hội nhập chỉ rõ hột nhập thường mai, phai
được tiến hành sớm trước mắt đảm bảo phía Việt Nam phải cam kết với khu
Trang 5vực và các tổ chức kinh tế quốc tế, hội nhập thị trường tài chính song song với
thị trường thương mại nhưng bước đi có chậm hơn
Việc hội nhập thị trường tắt chính đòi hỏi phẩt có một số điều kiện đảm bảo an nình tài chính quốc gia Bên cạnh việc duy trì an toàn của các ngân hàng, thì việc quan lý tại nước ngoài, đặc biệt là nợ thương mạt có tài chính quyet dinh,
Với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế hiện nay, thì nguy cơ vỡ nợ tiềm an trong các khoản HỢ ngắn hạn nước ngoài
Hai thị trường quan trọng nhất trong thị trường tài chính là thị trường ngoại tệ và thị trường chứng khoán đòi hỏi phải có bước đi thích hợp wong quốc tế hội nhập
Tiển để để đưa VND trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi là hết sức tổng hợp, đồng bộ không chỉ đơn thuần ở lĩnh vực tiền tệ mà còn ở nhiều lĩnh vực khác của nên kính tế
Dựa theo định nghĩa về đồng tiền tự do chuyển đối do [ME dưa ra, có thể thiết kế hai mức tự do chuyển đổi để tạo dựng dần những điều kiện “cần”
va "da":
= Tự do chuyển đổi đối với giao dịch vãng lai
- Tự do chuyển đốt đối với giao dịch cán cân vốn
Những điều kiện cần thiết để đưa đồng tiền có thể trở thành tự do chuyển đổi đều phải xem xét đến hai nhóm lớn và chính yếu: nhóm các điều kiện về sức khoẻ kinh tế và nhóm các điều kiện về tài chính tiền tế Từ dó, thiết kế các bước đi cụ thể và định ra các piải pháp về tài chính, tiền tệ để đưa VND trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi
Trang 6CHUONG I THỰC CHẤT CỦA TOÀN CẤU HOÁ VẢ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC
FẾ VÀ BẢN CHẤT CỦA ĐỒNG TIỀN TỰ DO CHUYỂN ĐỐI
TRÔNG HỆ THỐNG TIỀN TẾ THỂ GIỚI
| XU THE TOAN CAU HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC QUOC TE
1 Khái niệm
1.1 Toàn cầu hoá kinh tế có thể hiểu là một xu thế chúng trên thế giới
chuyển các hoạt động kính tế trong phạm ví một quốc pia hoặc trong khu vực sang phạm ví hoạt động toàn thế giới, mà không có giới hạn về biên giới quốc
pia, Từ khía cạnh về sức mạnh kinh tế giữa các nước, toàn cầu hoá có thể được
hiểu là việc các nước công nghiệp mở rộng phạm vi hoạt dong sang thị trường các nước đang phát triển hay ngược lại có sự xârn nhập của hàng hóa các nước
đang phát triển sang thị trường các nước công nghiệp phát triển Thị trường ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm thị trường hàng hóa, thị trường tài chính, thị trường lao động Xét tổng thể có thể thấy toàn cầu hoá pấn liền với
xu hướng các công ty đa quốc gia ổ ạt xâm nhập thị trường thế piới, trong do
có thị trường các nước dang phát triển
Xu hướng toàn cầu hoá pắn liền với cạnh tranh và độc quyền Xu thế
các công ty đa quốc gia khổng 16 cho thấy một mật họ phải hợp nhất dể tồn tại trone khung cảnh toàn cầu hoá, mặt khác họ hợp nhất dể bành trướng phạm vị
hoạt động của họ trên toàn cầu, trước tiên là ngay lai cdc nước công nghiệp,
rồi từ đó bành trướng ra các nước dang phát triển Dù vậy trọng tâm của họ
vẫn là tại các nước công nghiệp, vì các nước dang phát triển chưa đạt đến trình
độ có nhụ cầu cao đối với các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ như ở các nước công nghiệp Như vậy, có thể thấy cạnh tranh đã dẫn đến việc hình thành các
công ty đa quốc gia khổng lồ, và xuất hiện sự cạnh tranh pay gắt giữa các công ty này Nói cách khác, trong thế kỹ 21 này thế giới có nguy cơ bị các công ty đa quốc gia thống trị về mặt kinh tế
Để có được xu thế toàn cầu hoá thì nền kinh tế các nước phải có một tính chất đồng nhất: đó là nền kinh tế thị trường Không có nền kinh tế Ứn
Trang 7trường thì không thể có xu thế toàn cầu hoá hiện nay, đó là điểm khác với xu
thể thống trị của các công ly da qude gia rong thời kỳ chế độ thực dân vũ, Cai
trị các nước khác phái triển bằng chế độ thực dân Nói cách khác, toàn cầu hoá trong những năm 80-90 của thế ký T9 là thời kỳ mở rộng thị trường sang các
nước thuộc địa dưới sự bảo hộ của chế độ thực dân cũ, ngày nay trào lưu toàn cầu hoá là trào lưu không thể cưỡng lại được, dưới hình thức tự nguyện, trên
cơ sở một nền kinh tế thị trường, với luật chơi chúng là tự do hoá kinh le Cac đồng nhất chung là nên kinh tế thị trường, song để thực hiện được việc Wao
đổi buôn bán hàng hóa dịch vụ, xâm nhập thị trường dời hỏi phải có các quy
tắc quan hệ, hoạt động thống nhất, hay gọi là luật chơi thống nhất Điều này
dẫn đến khái niệm tự do hoá kinh tế, tự do hoá tài chính, trên cơ sở các hiệp
định thương mại toàn cầu của tỔ chức WTO và hiệp dịnh thường mal song
phiurong
Việc toàn cầu hoá như vậy phải xét đến vai trò của Hoa Kỳ và các nước công nghiệp, vai trò của WTO, vai trò của các công ty đa qUỐC pia, val WO cua các tổ chức kinh tế khu vực, vai trò của công nghệ thông In Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ - Nhật Bản, các vòng đàm phán thương mại của họ, hiệp định thương mại piữa Hoa Kỳ - Trung Quốc, việc gia nhập tổ chức WTO của Trung Quốc, cho thấy sự đấu tranh đàm phán giữa các nước công nghiệp để xác lập trật tự kinh tế mới, trật tự kinh tế toàn cầu hoá, và quá trình dưa các nước đang phát triển vào quỹ đạo toàn cầu hoá Vai trò của các công ty đa quốc gia như chúng ta đã phân tích ở trên là sáp nhập thành các công ty lớn với quy mô toàn cầu để thống trị nền kinh tế thế giới Vai trò của các tỔ chức
kinh tế khu vực là nhằm tăng cường sức mạnh kinh tế cho các qudc pia trong khu vực để có thể dứng vững được trước làn sóng toàn cầu hoá, và nguy cơ mất độc lập kinh tế Vai trò của công nghệ thông tin như là một công cụ hữu
hiệu nhất để tạo môi trường thuận lợi cho việc toàn cầu hoá, và chuyển đối nền kinh tế thế piới từ nền kinh tế sản xuất hàng, hóa sang nền kinh tế dịch vụ
Về phía quan điểm của các nước công nghiệp thì toàn cầu hoá là việc
các Công ty đa quốc gia, các tổ chức tài chính tham gia hoạt động trên phạm
vị toàn cầu Ví dụ các công ty nước giải khát Coca-Cola, Pepsi mở rộng phạm
vi hoạt động ra hầu hết tất cả các nước trên thế giới Một số ngân hàng đầu tư tham gia vào hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ các nước dang phát triển, bảo lãnh phát hành cổ phiếu các công ty nhà nước dược tư
Trang 8nhân hoá, thực hiện tư vấn tài chính trong các dịch vụ sắp nhập, thâu tóm của
các Công ty tầm cỡ quốc gia của các nước công nghiệp Các tổ chức dầu tư
quốc tế tham giá đầu tư vào thị trường, chứng khoán của các nước dang phái triển, to ra một sự ràng buộc liên kết, phụ thuộc lần nhau piữa các tlị trường chứng khoán là một xu thế toàn cầu hoá Việc tham pla của các nước vào các hiệp định thương mại của WTO, dẩy mạnh thương mại, tiến tới nhất thể hoá
thuế quan trên phạm ví toàn cầu
Các nước lớn công nghiệp phát triển dựa vào sức mạnh kính tế, tài chính, khoa học công nghệ đang khống chế các tổ chức kinh tế toàn cau (WB IME, WTO), áp đặt các quy chế và phương thức hoạt dộng không bình đăng oây thiệt hại cho các nước dang phát triển, tạo nên sự phân hoá giầu nghèo
ngày càng nghiêm trọng, uy hiếp chủ quyền quốc gia các dân tộc kém phái
triển và đang phát triển, Để đối phó lại, các nước dang phat triển thông qua
các tổ chức như UNCTAD, như G&&, Trung tâm Phương Nam và các diễn đàn, đang đoàn kết lại, đấu tranh chống sức ép và khả năng thao túng của các nước công nghiệp phát triển, bảo vệ lợi ích quốc gia của mình Các nguyên tắc WTO không những thể hiện mưu đồ lợi ích của các nước công nghiệp phát
triển, mà còn bao hàm những qui định có lợi cho các nước đang phát triển và kém phát triển Trước lần sóng đấu tranh của nhiều quốc pia, các nước công
nphiệp phát triển buộc phải xoá nợ, giảm nợ cho các nước kém phat triển
Toàn cầu hoá làm cho biên piới quốc gia không còn có ý nghĩa, một biến động kinh tế ở một nước có thể tác động lan truyền đến tình hình kinh tế
các nước khác, lan truyền ra phạm vì toàn thế giới Ví dụ, cuộc khủng hoàng
đồng tiền Baht, xuất phát từ Thái Lan lúc bạn đầu đã lan truyền khủng hoảng
sang cdc nude Dong Nam Á, tiếp đó lan truyền sang các nước Đông Á, tác
động đến thị trường chứng khoán Hoa Kỷ, Châu Âu, các nước khu vực Nam
bán cầu tiếp đó chuyển sang khủng hoảng Hàn Quốc, Nga và Brasil Việc cất giảm lãi suất của Hoa Kỳ bất đầu từ tháng 9/1998 nhằm đối phó lại nguy cơ giảm sút thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, đã kéo theo cất piảm lãi suất của
các nước công nghiệp Châu Âu, Trung Quốc các nước khác trên thế giới, cho
thấy rõ mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế thế giới
Các vấn để suy thoái kinh tế, khủng hoảng thị trường có tính chất tác động lên nền kinh tế thế giới làm nấy nở yêu cầu phối hợp hành động trên
6
Trang 9phạm vì toàn cầu Các cuộc khủng hoảng của một quốc pia, ví dụ khủng
hoảng Thái Lan cho thấy một mình IMF khong đủ khả năng đứng riêng piải
quyết quy mô cuộc khủng hoảng, cần có sự tham pia của các nước công
nghiệp, đặc biệt là Hoa Kỳ, Nhật Bản các nước Châu Âu Sự phối hợp của các nước công nghiệp IME, ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển Châu A
con mang tính chất đường hướng, mà không di đến hành động chúng tập thể Điều này cho thấy các nước kém phát triển trong quá trình toàn cầu hoá phải
tự bản thân rút ra kết luận và có biện pháp riêng tự giải quyết các vấn đẻ
khủng hoảng của mình, mà không quá trông chờ vào các giải pháp từ bèn ngoài
Toàn cầu hoá còn do việc xuất hiện trên hành tinh nay những vấn đề mang tinh toàn cầu mà một quốc gia không thể một mình cáng đáng giải quyết được: đó là sự bùng nổ dân số, nạn thất nghiệp, sự ô nhiễm và huy hoại môi sinh, sự lan truyền các căn bệnh thế kỷ, sự uy hiếp của các loại tỆ nạn xã hội, sự khủng bố ở quy mô lớn Đó là những vấn để mà việc giải quyết thuộc trách nhiệm và nghĩa vụ của các cộng đồng quốc tế, không phân biệt chế: độ
kinh tế xã hội
1.2 Hột nhập kủnh tế
Hội nhập là việc một nước tham pia vào hiệp định thương mại, kinh tế, văn hoá trong khu vực hoặc tổ chức quốc tế, như tổ chức WTO, IMF, BIS, [OSCO Nói cách khác, hội nhập là một nước gia nhập, trở thành thành viên
của các tổ chức quốc tế Hội nhập là việc các thành viên tham gia hội nhận
cam kết hoạt động kinh doanh thương mại thco luật chơi chung, dude gor la thông lệ quốc tế Hội nhập giúp cho các nước thành viên trao đối thông tín, hưởng các đặc quyền của thành viên Xu hướng hội nhập đi theo hai hướng: khu vực hoá và toàn cầu hoá Khu vực hoá dược hình thành để tạo ra một khu vực có lợi ích riêng về thương mại, đầu tư Ví dụ liên mình Châu Âu được thành lập để nhất thể hoá Châu Âu, pồm các nội dung tự do hoá thương mại giữa các nude trong vùng, bảo hộ thương mại trong quan hệ với các nước ngoài khu vực, thành lập Ngân hàng Trung ương Châu Âu với đồng tiền EU thống nhất Hiệp hội các nước Đông Nam Á được thành lập nhằm thúc đấy thương mại, đầu tư giữa các nước trong vùng Đông Nam Á Khu vực hoá được
thực hiện vì lý do muốn vươn lên làm đối trọng kinh tế với các cường qUỐC
Trang 10kinh tế, thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào họ, ví dụ Liên mình Châu Âu, hoặc thành lập một tổ chức có sức mạnh trong đối thoại với các nước công nghiện, mà
một quốc gia riếng lẻ không đủ khả năng, ví dụ Hiệp hội ASEAN
Nhu vay xu thé hot nhap là xu thế nhất thể hoá các nên kinh tế trong
quá trình toàn cầu hoá, trong khi xu thế khu vực hoá cũng nằm trong xu thế
toàn cầu hoá, nhưng có xu thế chống lại xu hướng đơn cực, muốn dựng lên một thế giới đa cực, để tiến tới toàn cầu hoá trên cơ sở bình đẳng piữa các quốc gia Vì vậy, xu thế hội nhập là xu thế nằm trong khuôn khổ của xu thế
toàn cầu hoá, với hai đặc trưng cơ bản đó là xu thế đơn cực và xu thế da cực
đối kháng nhau, và xu thế: các nước công nghiệp ngày càng mở rộng thị
trường, rong khi các nước kém phát triển ngày càng phụ thuộc vào các tước công nghiệp Như vậy, sự hội nhập nằm trong xu thế toàn cầu hoá, trong đó
thế siới được chĩa ra hai tầng lớp: có một hoặc một số cực kinh tế, Liếp đó tầng dưới là các nước công nghiệp khác, và tiếp theo là các nước dang phat trién
của mức thu nhập trung bình, đến các nước có thu nhập thấp và các nước
nghèo Ngày nay người ta vẫn coi Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu là 3 cực kinh
tế, nhưng trên thực tế thì Hoa Kỳ là cực duy nhất chí phối nền kinh tế thế giới,
trong đó Châu Âu đang thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào Hua Kỳ, còn Nhật bản đang củng cố lại nền kinh tế để dành lại vị thế đã mất di wong thap ky 90 do cuộc khủng hoảng Châu Á sây nên
Xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế luôn luôn tiểm ẩn hai mặt: thời cơ và thách thức, hợp tác và đấu tranh, phát dạt và nhá sản, vươn lên
và tụt hậu Các khả năng đó diễn ra như thế nào là tuỳ thuộc vào môi trường
kinh tế thế giới và nỗ lực chủ quan của từng quốc gia Tuy vậy, nguy cơ thất bại, mắc nợ chồng chất, phá sản, khủng hoàng kinh tế là nguy cơ lớn đổi với
các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển
Tổ chức WTO với hệ thống thương mại da nhương được tổ chức thco
các nguyên tắc sau đây:
Không phân biệt đối xử, đảm bảo sự đối xử bình đăng giữa các nước
thành viên với nhau, cũng như trong thị trường mỗi nước Nguyên tác này được cụ thể hoá bằng hai nguyên tắc: quy chế tối hậu quốc và quy chế đối xứ
quốc gia
Trang 11Tiếp cận thị trường, tạo mỏi trường thương mại cho bất cứ thành viên nào Các nước thành viên mở cửa thị trường cho nhau theo hướng tự do hoá bằng cách giảm dần từng bước, di tới xoá bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan và
phi thuế quan, các chính sách, luật lệ thương mại phải công bd cong khai, kip thời, mình bạch
Cạnh tranh công bằng, yêu cầu các nước chỉ được sử dụng thuế làm
công cụ duy nhất để bảo hộ: các biện pháp nhí thuế quan đều được coi là hón méo thương mại, và không được sử dụng Các biểu thuế phải được giảm dan
trong quá trình hội nhập tuỳ theo thời gian thoả thuận của mỗi tổ chức quốc tế,
Ap dung cdc hành dong khan cap trong trường hợp cần thiết, khi thị trường và nền kinh tế của một nước thành viên bị hàng nhập khẩu de doa thai quá hoặc bị những biện pháp phân biệt đối xứ gây phương hại, thì nước đó có
quyền khước từ một nghĩa vụ nào đó hoặc có những hành động khẩn cấp cần thiết được các thành viên khác thừa nhận, để bảo vệ sản xuất và thị trường trong nude
Ưu đãi giành cho các nước đang phát triển và kém phát triển, ưu đãi này thể hiện ở chỗ kéo đài thời gian thực hiện các cam kết so với các nước phát triển; phạm vi cam kết có thể hẹp hơn, mức độ cam kết có thể thấp hơn, như
trong lĩnh vực dịch vụ có thể mở cửa ít lĩnh vực hơn; các nước phát triển hạn chế sử dụng “hàng rào cản (rở) đối với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu từ các nước đang phát triển
Chế độ ngoại lệ cho hàng dệt may, WTO cho phép việc buôn bán hàng đệt may và quần áo được điều tiết bằng “Hiệp dink da sor’, theo đó từ nay đến năm 2005 các nước công nghiệp phát triển được phép đặt ra hạn ngạch và chế
độ quản lý nhằm hạn chế việc nhập khẩu sản phẩm dệt và quần áo từ các nước đang phát triển
Từ sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, Đảng ta để ra đường
lối đối ngoại: “độc lập tự chủ, da dụng hoá, da phường hod’, “Vier Nam san
sàng là bạn của tất cả các HHỚC trong CỘNG đồng quốc té” Đại hội lần thứ
VIII của Đảng xác định: “mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia các
tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị the nude ta trén IFƯỜNG quốc tế" Đại hội lần thứ IX của Đảng đẻ ra chủ trương: “Phái huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài vả chủ động hội nhập kính tế
Ụ
Trang 12quốc tế dể phái triển nhanh, có hiệu quả và bên vững” Nam 1995 ky hiệp định kinh tế với cộng đồng Châu Âu (EU), bình thường hoá quan hệ ngoại piao với Mỹ, gia nhập ASEAN và khu vực Mậu dịch tự do của ASEAN
(AEFTAX năm 1996 tham gia hop tac A - Âu (ASEM) với tư cách là thành viên
sánh lập, pia nhập điển đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) nop đơn gia nhập WTO, năm 1996-1999 triển khát đàm phán Fhi¢p định Thương mại Việt - Mỹ, và cuối năm 2001 đã được hai Chính phủ theng qua, Trong khuôn khổ của AFTA, Việt Nam đã vạch kế hoạch giảm thuế theo
chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung, gol tat la CEPT-AFTA, tham
gia chương trình hợp tác công nghiệp (AICO) và khu vực đầu tư ASEAN (AIA) Trong khuôn khổ APEC, chúng ta thực hiện chương trình hành động quốc pia và tham pia các chương trình hành động tập thể, đặc biệt là chương
trình hợp tác kinh tế kỹ thuật Liệt nhập kinh tế của Việt Nam được thực hiện theo hai phương thức: song phương, và da phương; với nhiều đối tác theo chu trương đa phương hoá; trong nhiều lĩnh vực: trao đổi hàng hóa, đầu tư mở rộng
quan hệ tài chính - tín dụng, hợp tác khoa học kỹ thuật
1.3 Tự do hoá kinh tế
Tự do hoá kinh tế được hiểu là xoá bỏ các qui định hạn chế của nhà nước có tính chất đi ngược lại với các nguyên tắc hoạt động của nền kinh tế thị
trường hoặc các can thiệp trực tiếp của nhà nước lên hoạt động của nền kinh
tế, thiết lập thể chế kinh tế thị trường theo cd chế cung cầu thị trường, mở cửa giao lưu kinh tế hai chiều với các nước khác theo nguyên tắc phá dỡ các hàng rào bảo vệ kinh tế trong nước, thyc hign giao dịch bình đắng với nhau
Thông thường các qui định của Nhà nước phụ thuộc vào các chính sách
ưu tiên kinh tế của một quốc gia Về đối nội, đó là các chính sách hạn chế đối với giá hàng hóa, dịch vụ tài chính Ví dụ, vì phúc lợi chung, có thể qui định
mức trần đối với piá lương thực, theo chính sách đảm bảo đủ ăn cho sở dân cư,
vì quyền lợi của dân chúng mà qui định mức lãi suất cho vay của ngân hàng
thấp, thạm chí qui định mức lãi suất trần cho vay Các chính sách tiêu dùng, ví
dụ qui định mức trần đối với giá điện, giá xăng dầu Các chính sách qui định
hạn chế giá hàng hóa có lựa chọn sẽ không khuyến khích người sản xuất hàng
hóa trên, nếu kéo dài trong một thời gian dài, trong vài chục năm sẽ dẫn tới khan hiếm hàng hóa Loại chính sách thứ hai, thuộc chính sách bảo hộ hàng
10