1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tỷ lệ mắc THA trên bệnh nhân đến khám tại khoa khám chữa bệnh theo yêu cầu của bệnh viện Bạch Mai từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2013 và một số yếu tố liên quan

43 348 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 707,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THA gây nhiều biến chứng nguy hiểm như: suy tim, suy vành, suy thận, tai biến mạch máu não…đòi hỏi phải điều trị lâu dài, tốn kém về kinh tế và ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe người bện

Trang 1

THA gây nhiều biến chứng nguy hiểm như: suy tim, suy vành, suy thận, tai biến mạch máu não…đòi hỏi phải điều trị lâu dài, tốn kém về kinh tế và ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe người bệnh Chính vì thế THA không những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bản thân người bệnh mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội Tại Hoa Kỳ chi phí hàng năm cho phòng chống bệnh THA trên 259

tỷ đô la [2]

Tỷ lệ bệnh THA có xu hướng tăng rất nhanh không chỉ ở các nước có nền kinh tế phát triển mà ở cả các nước đang phát triển Theo WHO năm 2003 tỷ lệ tăng huyế áp ở khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ đã khá cao chiếm 15% - 20% trong khi đó ở Ấn Độ (2000) là 31% [3]

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi dịch tễ học với gánh nặng bệnh tật kép: bệnh lây nhiễm vẫn cao trong khi bệnh không lây nhiễm đang tăng nhanh (và là gánh nặng tử vong chính), trong đó có sự gia tăng gánh nặng của THA , nhất

là ở khu vực thành thị

Các yếu tố nguy cơ của bệnh THA: rối loạn lipid máu, thói quen ăn mặn, hút thuốc, uống rượu, ít vận động, béo phì Khống chế những yếu tố nguy cơ này có thể làm giảm 80% bệnh THA [4] và có thể dự phòng được thông qua các biện pháp can thiệp có hiệu quả

Trang 2

Nhiều bằng chứng cho thấy THA đang gia tăng nhanh cùng với sự thay đổi nhanh chóng về kinh tế xã hội, dịch tễ học, đặc biệt là trong khu vực đô thị Theo nghiên cứu của bộ môn Tim mạch và Viện Tim mạch tại thành phố Hà Nội năm

2001 - 2002, tỷ lệ THA ở trưởng thành là 23,2%, cao gần ngang hàng với nhiều nước phát triển trên thế giới [5], [6] Một nghiên cứu mới gần đây cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp người lớn (trên 25 tuổi) đã lên đến 33,3% [7] Dự báo trong những năm tới số người mắc bệnh THA sẽ còn tăng do các yếu tố nguy cơ như: hút thuốc

lá, lạm dụng bia rượu, dinh dưỡng không hợp lý, ít vận động vẫn còn khá phổ biến Giám sát các yếu tố nguy cơ theo phương pháp bậc thang của WHO (STEPwise) là một trong những chiến lược hiệu quả để phát hiện sớm bệnh THA cũng như các bệnh không lây nhiễm khác

Trong thực tế đã có nhiều đề tài nghiên cứu về bệnh THA và các yếu tố nguy cơ của bệnh trong cộng đồng, tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu nào về vấn

đề này tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu - Bệnh viện Bạch Mai Vì vậy

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tỷ lệ mắc THA trên BN đến khám tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu của Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2013 và một số yếu tố liên quan” với hai mục tiêu chính sau đây:

1 Xác định tỷ lệ mắc THA trên BN đến khám tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu của Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2013

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến THA ở những BN trên

Trang 3

3

CHƯƠNG I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa, phân loại và triệu chứng tăng huyết áp

1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp

Theo Tổ chức Y tế thế giới, một người trưởng thành được gọi là THA khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và hoặc huyết áp tâm trương (HATT) ≥ 90mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác

sĩ chẩn đoán là THA [4], [8], [9]

THA không phải là một tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau

1.1.2 Phân độ tăng huyết áp

Có nhiều cách phân loại THA khác nhau Ở Việt Nam, có 2 cách phân loại được áp dụng phổ biến là phân độ THA theo WHO/ISH (năm 2003) [4], [8], [9] và phân loại huyết theo JNC VII

Bảng 1.1 Phân độ THA theo WHO và theo JNC VII

− Nếu trị số HATT và HATTr ở hai độ khác nhau thì lấy giá trị cao hơn đánh giá

Trang 4

1.1.3 Triệu chứng của bệnh THA

Bệnh nhân bị THA đa số đều không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện

ra bệnh Biểu hiện hay gặp nhất là đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài

ra có thể có hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt, tê đầu chi một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào nguyên nhân hoặc biến chứng của THA [10]

Đo huyết áp (HA) là phương pháp có ý nghĩa chẩn đoán xác định bệnh

Thường dùng huyết áp kế thủy ngân hoặc một số loại dụng cụ đo HA khác và áp

dụng theo tiéu chuẩn của Hội Tim mạch Việt Nam

− Tại phòng khám: Khi bệnh nhân có trị số HA ≥ 140/90 mmHg sau khám lại lâm sàng ít nhất hai hoặc ba lần khác nhau, mỗi lần khám đuợc đo ít nhất 2 lần

thận, phồng động mạch chủ hoặc phát hiện thận to, thận đa nang là một trong

những bệnh nguyên nhân gây THA

Cận lâm sàng để đánh giá các yếu tố nguy cơ THA, tìm các dấu hiệu của THA, nghi ngờ THA thứ phát cũng như xác định THA đã có tổn thương cơ quan đích hay chưa Một số xét nghiệm thường được chỉ định như: công thức máu, hóa sinh máu (đường máu lúc đói, ure, creatinin, cholesterol, điện giải đồ), tổng phần tích nước tiểu, điện tâm đồ, siêu âm tim Chỉ định cận lâm sảng cần được đặt ra trên từng bệnh nhân cụ thể nhất là khi điều trị gặp khó khăn, nghi ngờ THA có nguyên nhân, bệnh nhân trẻ tuổi có chỉ số HA cao

Trang 5

5

Nguyên nhân THA: đa phần là THA vô căn, chỉ có 5% trường hợp tìm thấy nguyên nhân THA, hay gặp ở người trẻ như: hẹp động mạch thận, u tuyến thượng thận…

1.1.4 Tổn thương cơ quan đích trong tăng huyết áp

Tim: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân

tử vong cao nhất của THA [6]

Não: các tai biến do THA thường gặp như: nhồi máu não, xuất huyết não có thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề Có thể chỉ gặp THA thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do THA với các triệu chứng lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội [6]

Thận: có thể gặp các tổn thương: xơ vữa động mạch thận, suy thận

Mạch máu: THA là yếu tố gây xơ vữa động mạch, xơ vữa hệ thống mạch ngoại biên, phồng động mạch chủ [12]

Mắt: Soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt [8] Theo Keith- WagenerBarker có 4 giai đoạn có tổn thương đáy mắt:

− Giai đoạn I: Tiểu động mạch cứng và bong

− Giai đoạn II: Tiểu động mạch hẹp có dấu hiệu bắt chéo tĩnh mạch

− Giai đoạn III: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc, chưa có phù gai thị

− Giai đoạn IV: Phù lan tỏa gai thị

Trang 6

THA ước tính gây ra 7,5 triệu ca tử vong, chiếm khoảng 12,8% tất cả các trường hợp tử vong, và là một yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim mạch Tỷ lệ THA không có sự khác biệt nhiều trong tất cả các nhóm nước tuy vậy nó thường thấp nhất ở các nước có thu nhập cao [13] Hiện nay nước ta đang phải gánh chịu gánh nặng bệnh tật kép với sự gia tăng nhanh chóng của bệnh không lây nhiễm trongỊkhỉ các bệnh nhiễm trùng vẫn đang có tỷ lệ mắc cao THA là một loại bệnh

lý tim mạch xảy ra khá phổ biến tại cộng đồng

Bệnh THA với những biến chứng nặng nề của nó như tai biến mạch máu não, các tổn hại trên một số cơ quan đích như tim, thận, mắt có thể làm cho người bệnh bị tàn phế, bị mất khả năng hoặc suy giảm khả năng lao động, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, làm gia tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và

xã hội

THA nói riêng và các bệnh không lây nhiễm nói chung có chung nhiều yếu

tố nguy cơ có liên quan đến lối sống Người ta cũng đã chứng minh rằng có thể phòng ngừa được một tỷ lệ lớn bệnh THA thông qua giảm các hành vi nguy cơ như rượu, thuốc lá, chế độ ăn uống, ít vận động Đây là những chiến lược có hiệu quả cao trong việc kiểm soát và phòng ngừa sự gia tăng gánh nặng bệnh tật và từ vong

do THA

Trang 7

7

1.3 Một số yếu tố liên quan tới tăng huyết áp

1.3.1 Các yếu tố không thay đổi được

− Tuổi: thông thường ở người trưởng thành tuổi càng cáo, trị số HA càng cao THA xuất hiện thuờng xuyên hơn ở nhóm nam ≥ 55 và nữ ≥ 65 tuổi

− Giới: nam thường có tỷ lệ mắc THA cao hơn nữ Riêng với nữ trong độ tuổi

đã mãn kinh cũng có tỷ lệ mắc THA cao

− Chủng tộc: người châu Mỹ gốc Phi hoặc người Phi gốc châu Mỹ có nguy cơ mắc THA cao hơn so với người gốc châu Âu

− Tiền sử gia đình: những người có người cùng huyết thống trong gia đình bị THA thì cũng có nguy cơ mắc THA cao hơn [14]

1.3.2 Các yếu tố có thể thay đổi được

Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được gồm: hút thuốc lá, uống rượu bia, chế

độ ăn nhiều muối, ít rau quả, sử dụng dầu mỡ không hợp lý, ít vận động thể lực, béo phì (BMI ≥ 23), rối loạn lipid máu, đái tháo đường…[14]

Hút thuốc lá: theo một số kết quả nghiên cứu, hút thuốc lá có liên quan tới mức độ THA Thuốc lá làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim lên 4 lần, đột tử lên 5 lần, nguy cơ mắc bệnh THA cao gấp 1,45 lần so với người không hút thuốc lá Trong thuốc lá có chứa tới hơn 4000 chất với 200 chất độc hại trong đó quan trọng nhất là nicotin có tác dụng co mạch ngoại biên, tăng nồng độ serotonin não với tuyến thượng thận gây THA [4] Hút thuốc lá có thể gây ra cơn THA kịch phát Ngoài ra khí CO trong quá trình hút thuốc lá lâu dài sẽ gây lên màng xơ vữa động mạch là nguy cơ gây THA Hút thuốc lá cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành lên 50 - 60% so với người không hút [15]

Uống rượu bia nhiều: theo kết quả nghiên cứu trước đây đã cho thấy có sự liên quan giữa việc sử dụng rượu bia nhiều và THA [4], [16] Rượu có thể gây rối loạn nhịp tim, rối loạn điều hòa Lipoprotein và Triglycerid, làm tăng nguy cơ THA, nhồi máu cơ tim và các bệnh lý về mạch máu Rượu còn làm giảm tác dụng

Trang 8

của thuốc điều trị THA Khoảng 10% trường hợp THA liên quan đến uống rượu [4]

Ít hoạt động thể lực: hoạt động thể lực thường xuyên giúp tim mạch khỏe, hạn chế nguy cơ THA Việc luyện tập thường xuyên ở người THA không những làm tăng Lipoprotein, HDL mà còn tác dụng giảm THA Ngày nay tính chất công việc đang dần thay đổi, công việc văn phòng và sử dụng máy móc thay thế con người khiến lối sống ít vận động càng tăng và kéo theo hệ lụy của nó dẫn tới tăng nguy cơ THA, xơ vữa động mạch…

Tình trạng thừa cân, béo phì: cùng với sự phát triển kinh tế, tình trạng dinh dưỡng được cải thiện và công việc ít vận động chiếm ưu thế thì tỷ lệ béo phì ngày càng gia tăng Chỉ số cơ thể (BMI), được tính bằng cân nặng (kg)/chiều cao (m)2thường được sử dụng để phân loại tình trạng dinh dưỡng Theo quy ước của Hiệp hội đái tháo đường châu Á (IDI/WPRO), ngưỡng chẩn đoán béo phì ở người châu

Á là BMI từ 23 trở lên [17]

Bảng 1.2 Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo IDI/WPRO

Một số nghiên cứu nhận thấy béo phì có mối liên quan với các mức HA Nguy cơ THA ở người thừa cân, béo phì cao gấp hai lần so với người bình thường

và cao gấp ba lần so với người nhẹ cân[18], [19] Chỉ số BMI càng lớn mức độ THA càng cao [20] Ngoài ra, trên các đối tượng béo phì có sự thay đổi bất lợi về các chỉ số sinh hóa như tăng lipid máu toàn phần, tăng cholesterol đều có ảnh

Trang 9

9

hưởng xấu đến sức khỏe và trị số HA

Chế độ ăn nhiều rau quả, trái cây, sử dụng dầu mỡ thực vật mang lại sức khỏe cho tim mạch qua đó làm giảm nguy cơ THA Chế độ ăn sử dụng ít sử dụng các đồ uống có ga, đường nhanh, hạn chế và kiểm soát đường huyết tốt cũng làm giảm nguy cơ THA vì THA và đái tháo đường có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau

1.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Trên thế giới

Bệnh THA trong cộng đồng ngày càng có xu hướng gia tăng đặc biệt là ở các nước phát triển Ngày nay vấn đề không dừng lại ờ đó, THA hiện đang có xu hướng gia tăng ở cả các nước đang phát triển, cả khu vực châu Phi

Tại các nước phát triển, tỷ lệ mắc THA cũng rất thay đổi Tại châu Âu, tỷ lệ này ở Cộng hòa dân chủ Đức (cũ) là 28%, Cộng hòa liên bang Đức là 17% [21], Pháp (1994) là 41% [22], Tây Ban Nha (1996) là 30% Tại châu Mỹ, tỷ lệ mắc THA ở Canada (1995) là 22% [23] Tại một số nước thuộc khu vực thuộc Châu Á như Ấn Độ (2000) tỷ lệ THA là 31%, tại Philipin (2000) tỷ lệ này là 23%, Trung Quốc (2002) 27,2% [3]

Một cuộc điều tra tại Hoa Kỳ năm 1999 - 2000 trên đối tượng người trưởng thành cho thấy tỷ lệ HA bình thường là 39%; 31% thuộc nhóm tiền THA va 29% là THA Tỷ lệ hiện mắc hiệu chỉnh theo tuổi ở nam là 39% so với nữ 23,1% Tỷ lệ THA ở nam chỉ cao hơn ở nữ lứa tuổi trước tuổi 45 Ở độ tuổi 45-54, tỷ lệ THA ở

nữ bắt đầu nhỉnh hơn ở nam giới và sau đó tỷ lệ THA ở nữ cao hơn nam [24] THA được coi là nguyên nhân chủ yếu hoặc góp phần chính trong 11,4% các ca tử vong

ờ Mỹ năm 2003 Ước tính chi phí trực tiếp và gián tiếp cho THA năm 2003 đã lên tới 65,3 tỷ USD [1]

Về nguy cơ của THA theo nghiên cứu gần đây tại Nigeria cho thấy THA có liên quan tới một số yếu tố như: tuổi, giới, BMI, đường huyết Hay một nghiên cứu khác trên 2802 bệnh nhân tại Brazil (1996) về các yếu tổ nguy cơ của THA

Trang 10

như: tuổi, yếu tố gia đình, béo phì, thu nhập, hút thuốc, uống rượu cũng cho thấy liên quan [25]

1.4.2 Ở Việt Nam

Năm 1960, theo điều tra của G.S.Đặng Văn Chung, tỷ lệ THA tại Việt Nam

là 2% - 3% [5] Năm 1975, theo điều tra của Bộ Y tế, tỷ lệ THA là 2,4% [26] Năm

1984, theo điều tra của khoa Tim mạch bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ THA là 4,5% [26] Năm 1992, theo điều tra của G.S.Trần Đồ Trinh và cộng sự, tỷ lệ THA là 11,7% [26] Năm 1999, theo điều tra của G.S.Phạm Gia Khải và cộng sự, tỷ lệ

THA là 16,05% [19]

Một nghiên cứu năm 2002 thấy trong số 1716 người bị THA thì 67,5% không hề biết về bệnh của mình, 15% biết mà không điều trị đúng, 13,5% điều trị thất thường, chỉ có 4% đối tượng điều trị đúng [27] Theo Nguyễn Minh Tâm và Nguyễn Thị Trúc điều tra 1582 người trên 18 tuổi năm 2001 tại Tiền Giang, 16,1% đối tượng chưa từng được đo HA, 58,7% có đo nhưng không nhớ trị số HA của mình, 10,3% nhớ con số HA nhưng không kiểm tra thường xuyên, 14,3% có ý thức kiểm tra định kỳ [28] Theo số liệu điều tra dịch tễ quốc gia năm 2001-2002, tỷ lệ

THA ở nam giới là 15,1% và nữ giới là 13,5% [27] Điều tra của Viện Tim mạch

Việt Nam về tần suất THA và các yếu tố nguy cơ tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 2001 - 2002 (trên 5012 người) cho thấy tần suất THA ở nguời trưởng thành là 16,5%, có 23% đối tượng biểt đúng nguy cơ của bệnh Trong 818 người được phát hiện THA, tỷ lệ THA độ I, độ II, độ III lần lượt là 10,2%; 4,2% và 1,9% trong đó chỉ có 84 người dùng thuốc chiếm tỷ lệ 11,5%; tỷ lệ kiểm soát HA tốt (đưa HA về bình thường) chỉ đạt 19,% [29]

Tỷ lệ người dân hiểu biết đúng tất cả các yếu tố nguy cơ bao gồm: hút thuốc, uống rượu, chế độ ăn không hợp lý, vấn đề lười hoạt động thễ lực, tiền sử gia đình

và các chỉ số nhân trắc học .chỉ chiếm 23% (18,8% nông thôn, 29,5% ở thành thị), trong khi hiểu biết sai về các yếu tố nguy cơ chiếm hơn 1/3 dân số (44,1% ở

Trang 11

11

nông thôn, 27,1% ờ thành thị) [29]

Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Gia Khải và cộng sự tại Hà Nội về THA năm 1998 - 1999 thấy chỉ số BMI trung bình của quần thể nghiên cứu là 20,09 Nhóm BMI từ 22 trở lên có nguy cơ THA [19] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lân Việt (2007) cũng cho thấy những người có BMI từ 23 trở lên có nguy cơ THA cao hơn so với người có BMI <18,5 (chuẩn) là 1,61 lần; nguời có BMI > 30 có nguy cơ THA hơn chuẩn là 5,2 lần [20]

1.5 Điều trị bệnh tăng huyết áp

Trước hết phải xác định THA là một bệnh nguyên phát (không có nguyên nhân) hay chỉ là triệu chứng của một bệnh khác Muốn thế, phải khám bệnh nhân toàn diện, tìm hiểu các tiền sử bệnh tật, các thuốc đang dùng, làm các xét nghiệm

và thăm dò X-quang, siêu âm…cần thiết liên quan đến chức năng thận…để tìm được nguyên nhân gây THA

Khi đã được phát hiện có bệnh, bệnh nhân phải hết sức quan tâm việc điều trị bệnh cho bản thân mình

Mục tiêu của việc điều trị bệnh THA cho đến nay là đưa HA trở lại mức bình thường hoặc ít nhất là đến mức cho phép, đồng thời phải làm giảm được tai biến và tử vong Vì vậy, bên cạnh việc dùng thuốc phải chú ý cả đến các biện pháp khác như chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, chế độ sinh hoạt và làm việc, giải quyết tốt các yếu tố đe dọa làm bệnh dễ tiến triển xấu

Trong điều trị, người ta chú ý nhiều đến HATTr, nhưng Tổ chức Y tế Thế giới (WTO) cho rằng “Huyết áp tâm thu cũng là yếu tố đe dọa mạnh mẽ tương đương với huyết áp tâm trương”, do vậy phải bằng mọi cách không được để các con số HA tăng quá cao Mức HA đưa xuống mong muốn là trong giới hạn được quy định nghĩa là < 140/90 mmHg, tuy nhiên ở người đã bị bệnh từ lâu không được chữa hoặc chữa không đầy đủ, HA thường xuyên ở mức cao 150 - 160/95 -

100 mmHg, họ đã quen với mức huyết áp đó, nếu cố đưa áp xuống thấp hơn thì có

Trang 12

khi nguy hiểm, làm cho bệnh nhân rất khó chịu vì việc tưới máu não dễ bị giảm với những hậu quả không tốt, chưa kể đến việc phải dùng nhiều thuốc phối hợp có thể gây nên những tác dụng phụ không tốt cho họ Tất nhiên ở mức HA đó thì các tai biến vẫn cứ nặng hơn, tuổi thọ giảm hơn so với những bệnh nhân có mức của HA

ở trong giới hạn bình thường

Trang 13

13

CHƯƠNG II - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân đến khám tại khoa KCBTYC từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2013, có đủ tiêu chuẩn để điều trị bệnh THA

2.1.2 Chọn mẫu nghiên cứu

Các đối tượng được lựa chọn ngẫu nhiên dựa trên danh sách khám chữa bệnh được quản lý tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu tại Bệnh viện Bạch Mai Trong 3 tháng từ tháng 5 đến tháng 8/2013 có 5490 BN đến khám tại Khoa KCBTYC - Bệnh viện Bạch Mai có đủ yêu cầu tham gia điều tra nghiên cứu (những người đủ điều kiện sức khỏe tham gia nghiên cứu, phiếu thăm dò hợp lệ…), bao gồm 2497 nam và 2993 nữ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả, cắt ngang

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

Với những đối tượng đủ điều kiện tham gia, việc điều tra thu thập thông tin được thực hiện qua 3 bước:

− Phỏng vấn các yếu tố nguy cơ THA bộ câu hỏi Việc phỏng vấn do các điều dưỡng viên đang công tác tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu - Bệnh viện Bạch Mai thực hiện

− Đo các chỉ số nhân trắc (chiều cao, cân nặng, vòng bụng, vòng mông…) do các điều dưỡng viên thực hiện sử dụng các dụng cụ cân đo chuẩn và theo hướng dẫn thường quy của Viện Dinh dưỡng quốc gia

− Huyết áp được đo bởi các điều dưỡng viên hai lần bằng máy HA điện tử OMRON ở cánh tay theo hướng dẫn của nhà sử dụng và theo thường quy

Trang 14

của Viện Tim mạch Trung ương Nếu số đocủa hai lần đo chênh nhau qua 10 mmHg thì sẽ được đo lại lần ba Giá trị HA được tính là giá trị trung bình của các lần đo.

2.2.3 Biến số nghiên cứu

2.2.3.1 Các thông tin cơ bản về các đối tượng

− Thông tin cá nhân: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn của đối tượng

− Điều kiện kinh tế của hộ gia đình

2.2.3.2 Thông tin về tăng huyết áp

− Tỷ lệ THA, phân độ THA

− Các yếu tố nguy cơ THA và bệnh không lây nhiễm nói chung được đề cập trong nghiên cứu này bao gồm: hút thuốc, uống rượu, béo phì

2.2.4 Xử lý số liệu

Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS Thống kê mô tả (giá trị trung bình, phương sai, tỷ lệ phần trăm) được sử dụng để mô tả đặc điểm nhóm nghiên cứu và các biến số Hệ số tương quan (Spearman’s Rho) được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa các biến số Mức ý nghĩa thống kê sử dụng là 0,05

2.2.5 Sai số và khống chế sai số

2.2.5.1 Sai số

− Sai số do dụng cụ, kỹ thuật đo

− Sai số do thu nhập thông tin trong phỏng vấn, ghi chép thông tin

− Sai số do nhớ lại với các thông tin như: hút thuốc, uống rượu, chẩn đoán và điều trị THA

2.2.5.2 Khống chế sai số

− Sử dụng các dụng cụ đo đạt chuẩn và được kiểm tra kỹ thường xuyên

− Người đo HA và các chỉ số nhân trắc được tập huấn lại và thống nhất kỹ thuật đo đạc theo thường quy

− Các điều dưỡng viên được tập huấn kỹ càng để thống nhất về quy trình thu

Trang 15

15

thập số liệu và kỹ năng phỏng vấn

2.2.6 Đạo đức nghiên cứu

Việc nghiên cứu đƣợc thực hiện với sự đồng ý của BN và gia đình, đảm bảo giữ kín thông tin cá nhân và tiến hành chân thật cùng với sự đồng ý của Ban Lãnh đạo Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu - Bệnh viện Bạch Mai

Trang 16

CHƯƠNG III - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Công chức, nhân viên văn phòng 779 29,4 715 32,7

Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Cơ cấu tuổi tương đối đồng đều giữa hai giới, tỷ lệ tham gia ở nhóm tuổi trẻ thấp hơn các nhóm khác Nghề nghiệp chủ yếu ở nam giới là cán bộ, công chức, nhân viên văn phòng (29,4%) và ở nữ giới là người về hưu, nội trợ (40,69%) Kinh doanh buôn bán là nhóm nghề đứng hàng thứ hai ở cả nam và nữ (lần lượt là 24,7% và 21,4%) Tỷ lệ có học vấn từ trung học chuyên nghiệp trở lên

ở nam cao hơn nữ (50,6% so với 38,5%)

Trang 17

Nhận xét: Tổng số BN được phát hiện THA là 1.048 người, trong đó nam có

589 BN, chiếm tỷ lệ là 56,2% cao hơn so với nữ là 43,8%

3.2.2 Tỷ lệ tăng huyết áp theo nhóm tuổi

Bảng 3.2: Tỷ lệ mắc tăng huyết áp theo nhóm tuổi và giới

Nhận xét: Tỷ lệ THA tăng dần theo nhóm tuổi và ở nam cao hơn ở nữ, trừ nhóm tuổi ≥ 65, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

56,2%

43,8%

Trang 18

3.2.3 Phân độ tăng huyết áp

Biểu đồ 3.2: Phân độ tăng huyết áp

Nhận xét: THA độ I chiếm phần lớn (43,8%) trong số những người hiện mắc THA, THA độ II và III chiếm lần lượt là 40,8% và 15,4%

Đã được điều trị THA

Đã được chẩn đoán, chưa được điều trị

Chưa được chẩn đoán

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ đối tượng mắc THA đã được chẩn đoán, điều trị

Nhận xét: Phần lớn đối tượng THA đều đã biết được tình trạng bệnh của mình, 82,6% đối tượng THA đã được chẩn đoán, trong đó 20,3% đối tượng đã được tiến hành điều trị Chỉ có 17,4% đối tượng THA chưa biết về tình trạng bệnh của mình

Trang 19

Bảng 3.3: Tỷ lệ hút thuốc hiện tại theo tuổi)

Nhận xét: tỷ lệ hút thuốc hiện tại ở nam cao hơn nhiều lần so với nữ Tỷ lệ hút thuốc tăng lên ở nhóm tuổi 35 - 54 sau đó giảm xuống ở nhóm tuổi 55 - 64 tuổi

Bảng 3.4: Tỷ lệ có uống rượu theo tuổi, giới (%)

Nhận xét: tỷ lệ uống rượu tính chung là 63,7%, ở nam cao hơn so với nữ ở tất cả các nhóm tuổi Tỷ lệ uống rượu nhìn chung có xu hướng giảm dần theo tuổi

từ 55 - 64 tuổi và ≥ 65 tuổi

Trang 20

Bảng 3.5 Tỷ lệ béo phì (BMI ≥ 25) theo tuổi, giới (%)

Nhận xét: tỷ lệ béo phì tính chung là 13,8%, ở nam và nữ lần lượt là 14,6%

và 12,4% Tỷ lệ béo phì có xu hướng tăng theo nhóm tuổi ở cả hai giới, tăng nhanh hơn ở nữ so với nam, từ 9,3% ở nhóm tuổi 25 - 34 tuổi lên 18,0% ở nhóm tuổi 55 -

64 Từ nhóm tuổi 45 trở lên, tỷ lệ béo phì ở nữ cao hơn so với nam

3.4 Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp

3.4.1 Liên quan giữa tăng huyết áp và một số yếu tố kinh tế xã hội

Trung học chuyên nghiệp trở lên 1088 168 15,5

Bảng 3.6: Tăng huyết áp theo trình độ học vấn

Nhận xét: tỷ lệ mắc THA giảm dần theo trình độ học vấn từ 29,6% ở nhóm

có trình độ học vấn tiểu học trở xuống còn 15,5% ở nhóm tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp

Trang 21

Bảng 3.7: Tăng huyết áp theo nghề nghiệp

Nhận xét: số người mắc THA cao nhất ở nhóm nội trợ, hưu trí (29,7%), thấp nhất là nhóm công chức, nhân viên văn phòng (11,2%) và nhóm kinh doanh buôn bán (26,1%)

3.3.2 Liên quan giữa tăng huyết áp và một số yếu tố nguy cơ

Bảng 3.8: Tăng huyết áp và uống rượu

Nhận xét: Tỷ lệ mắc THA ở những người có uống rượu là 19,8%, cao hơn so với những người không uống rượu (17,8%)

Ngày đăng: 18/05/2017, 15:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w