1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu

170 345 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tràn dầu là một trong những sự cố môi trƣờng nghiêm trọng đối với vùng ven biển. Dầu tràn có thể gây ô nhiễm tại những khu vực rộng lớn, gây thiệt hại lớn cả về kinh tế, xã hội và môi trường. This guidebook is aimed clearly at the needs of the student, with a thorough understanding of, and provision for, the potential conceptual difficulties he or she is likely to encounter.

Trang 1

LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG CÁC HỆ SINH THÁI BIỂN

DO SỰ CỐ DẦU TRÀN, ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP TRƯỚC MẮT VÀ LÂU DÀI ĐỂ PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG CÁC KHU VỰC BỊ Ô NHIỄM DẦU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐHQGHN

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ MÔI TRƯỜNG 7 1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ VÀ HỆ SINH THÁI BIỂN DO SỰ CỐ DẦU TRÀN 12

1.2.1 Tác động dầu tràn đến các hệ sinh thái biển 13

1.2.2 Phương pháp luận đánh giá giá trị của hệ sinh thái biển 18

1.2.3 Lượng hóa thiệt hại kinh tế môi trường & hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn 22

CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ CÁC GIÁ TRỊ SINH THÁI - MÔI TRƯỜNG DO ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM DẦU TRÀN 25

2.1 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRỰC TIẾP CỦA TÀI NGUYÊN/MÔI TRƯỜNG 27

2.1.1 Phương pháp giá thị trường (Makert Price Method) 27

2.1.2 Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method – TCM) 29

2.1.3 Phương pháp thay đổi năng suất (Productivity Change Method) 37

2.1.4 Phương pháp chi phí sức khoẻ (Cost of Illness) 40

2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỬ DỤNG GIÁN TIẾP CỦA TÀI NGUYÊN/MÔI TRƯỜNG 43

2.2.1 Phương pháp chi phí thay thế (Replacement Cost Method) 43

2.2.2 Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được (Damage Cost Avoided Method) 45

2.2.3 Phương pháp phân tích nơi cư trú tương đương (Habitat Equivalency Analysis) 47

2.2.4 Phương pháp giá theo hưởng thụ (Hedonic Pricing Method) 52

2.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ PHI SỬ DỤNG CỦA TÀI NGUYÊN/MÔI TRƯỜNG 56

2.3.1 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contigent Valuation Method - CVM) 56

2.3.2 Phương pháp mô hình chọn lựa (Choice Modelling Method) 61

2.3.3 Phương pháp chuyển giao lợi ích (Benefits Transfer) 65

CHƯƠNG 3: LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG BIỂN DO SỰ CỐ DẦU TRÀN TẠI CỬA ĐẠI VÀ CÙ LAO CHÀM 73

Trang 3

3.1 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI 73

3.2 CÁCH TIẾP CẬN LƯỢNG GIÁ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC ĐỊA 78

3.2.1 Cách tiếp cận lượng giá 78

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa 81

3.3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 86

3.3.1 Các thông tin chung về kinh tế - xã hội của mẫu 86

3.3.2 Phân tích kết quả lượng giá 95

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ DO TÁC ĐỘNG TRÀN DẦU Ở VIỆT NAM 130

4.1 LƯỢNG GIÁ NHANH THIỆT HẠI GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRỰC TIẾP 130

4.1.1 Xác định các giá trị sử dụng trực tiếp bị thiệt hại do sự cố dầu tràn 130

4.1.2 Đề xuất các phương pháp lượng giá nhanh 130

4.2 LƯỢNG GIÁ NHANH THIỆT HẠI ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỬ DỤNG GIÁN TIẾP 136

4.2.1 Xác định các giá trị sử dụng gián tiếp bị thiệt hại do sự cố dầu tràn 136

4.2.2 Đề xuất các phương pháp lượng giá nhanh 137

4.3 LƯỢNG GIÁ NHANH THIỆT HẠI ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ PHI SỬ DỤNG 141

4.3.1 Xác định các giá trị phi sử dụng bị thiệt hại do sự cố dầu tràn 141

4.3.2 Đề xuất các phương pháp lượng giá nhanh 141

CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP TRƯỚC MẮT VÀ LÂU DÀI ĐỂ PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG CÁC KHU VỰC BỊ Ô NHIỄM DẦU 144

5.1 ỨNG PHÓ KHI CÓ SỰ CỐ TRÀN DẦU 144

5.1.1 Ứng phó khẩn cấp ngay sau khi có sự cố tràn dầu 144

5.1.2 Các biện pháp trong ngắn hạn 145

5.1.3 Các biện pháp trong dài hạn để phục hồi môi trường 145

5.2 CÁC BIỆN PHÁP CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ SỰ CỐ TRÀN DẦU 146

5.2.1 Các biện pháp trước mắt 146

5.2.2 Các biện pháp lâu dài 147

Trang 4

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1 Các giá trị của HST biển 19

Bảng 2: Các kỹ thuật để định lượng giá trị gián tiếp của HST biển và cách áp dụng 21

Bảng 3: Các kỹ thuật định lượng chi phí của hệ sinh thái biển và cách áp dụng Error! Bookmark not defined Bảng 4: Các phương pháp lượng giá giá trị tài nguyên/môi trường 26

Bảng 5: Các phương pháp lượng giá giá trị tài nguyên/môi trường theo World Bank 26

Bảng 6 Phân bổ số mẫu điều tra theo xã/phường 83

Bảng 7: Diện tích, mật độ dân số các phường được điều tra (số liệu năm 2006) 85

Bảng 8: Tỷ lệ, số hộ cụ thể được điều tra trong từng phường, xã: 85

Bảng 9: Nghề nghiệp của người được phỏng vấn 88

Bảng 10: Số nhân khẩu của các hộ được điều tra 88

Bảng 11: Tổng thu nhập của gia đình 89

Bảng 12: Thu nhập của người trả lời 90

Bảng 13: Thay đổi của các loài hải sản dựa vào phiếu điều tra thu được 91

Bảng 14: Các nguyên nhân dẫn đến việc suy giảm các loài thuỷ hải sản 92

Bảng 15: Các hình thức dầu loang và số % người trả lời 92

Bảng 16: Các loại và giá phòng của khách sạn 93

Bảng 17: Thiệt hại của các khách sạn do khách hủy đặt phòng và trả phòng sớm 97

Bảng 18 Các thông số về khu vực bị tác động 100

Bảng 19: Bảng tính toán phần dịch vụ-hecta-năm bị mất của san hô cứng (L) 101

Bảng 20 Các thông số của dự án đền bù 102

Bảng 21 Tính toán lượng gia tăng dịch vụ trên một ha của dự án đền bù (G) 103

Bảng 22 Xác định diện tích san hô cần khôi phục bù lại phần mất đi L 106

Bảng 23 Chi phí của toàn bộ dự án phục hồi san hô cứng 107

Bảng 24 Các thông số về khu vực bị tác động 108

Trang 5

Bảng 25: Bảng tính toán phần dịch vụ-hecta-năm bị mất của san hô cứng (L) 109

Bảng 26 Các thông số của dự án đền bù 110

Bảng 27 Bảng tính toán lượng dịch vụ gia tăng trên một hecta của dự án đền bù 111

Bảng 28 Xác định diện tích san hô cần khôi phục bù lại phần mất đi L 114

Bảng 29 Chi phí toàn bộ dự án khôi phục san hô mềm 115

Bảng 30 Các thông số về khu vực bị tác động 116

Bảng 31 Bảng tính toán phần dịch vụ-hecta-năm bị mất của cỏ biển (L) 117

Bảng 32 Các thông số của dự án đền bù 118

Bảng 33 Bảng tính toán lượng dịch vụ gia tăng trên một hecta của dự án đền bù 119

Bảng 34 Xác định diện tích cỏ biển cần khôi phục bù lại phần mất đi L 121

Bảng 35 Chi phí toàn bộ dự án phục hồi cỏ biển 122

Bảng 36 Tổng thiệt hại của sự cố tràn dầu lên san hô cứng, san hô mềm & cỏ biển 123

Bảng 37: Các yếu tố có thể ảnh hưởng đên mức sẵn lòng chi trả (WTP) 125

Bảng 38: Tổng hợp thiệt hại kinh tế về tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do ô nhiễm dầu tại khu vực Cù Lao Chàm, Cửa Đại 129

DANH SÁCH CÁC HÌNH Hình 1 Sơ đồ Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái biển 19

Hình 2 Lượng giá giá trị hệ sinh thái sử dụng phương pháp giá thị trường 28

Hình 3 Đồ thị hàm cầu về giải trí trong TCM 35

Hình 4 Ước lượng các dịch vụ bị mất đi (A) và các dịch vụ được khôi phục (B) 48

Hình 5 Bản đồ khu vực Cửa Đại và Cù Lao Chàm 74

Hình 6 Số người trả lời theo tuổi 87

Hình 7 Số người trả lời theo trình độ học vấn 87

Hình 8 Thiệt hại kinh tế sử dụng phương pháp giá thị trường 131

Trang 6

- Giá trị sử dụng trực tiếp: Phương pháp giá thị trường, Phương pháp chi phí du

lịch, Phương pháp chi phí năng suất, Phương pháp chi phí sức khỏe/y tế;

- Giá trị sử dụng gián tiếp: Phương pháp chi phí thay thế, Phương pháp chi phí

phòng ngừa/giảm nhẹ, Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được, Phương pháp hàm sản xuất, Phương pháp cư trú sinh thái tương đương (HEA);

- Giá trị phi sử dụng: Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, Phương pháp mô hình lựa

chọn, Phương pháp chuyển giao lợi ích

Các phương pháp trên cũng được áp dụng cho việc lượng giá thiệt hại kinh tế của môi trường và các hệ sinh thái biển khi xảy ra sự cố tràn dầu

Vào đầu tháng 2/2007 đã xảy ra một sự cố tràn dầu không rõ nguồn gốc tại khu vực biển

Cù Lao Chàm và Cửa Đại (tỉnh Quảng Nam) Nhóm nghiên cứu đã áp dụng một số phương pháp kể trên để lượng giá những thiệt hại kinh tế môi trường và các hệ sinh thái biển ở khu vực này Kết quả lượng giá cho thấy tổng thiệt hại kinh tế do ô nhiễm tràn dầu gây ra là 118 tỉ đồng, trong đó thiệt hại giá trị sử dụng trực tiếp là 21 tỉ đồng, chủ yếu là

do giảm lượng khách du lịch, thiệt hại giá trị sử dụng gián tiếp là 97 tỉ đồng, xảy ra đối với các hệ sinh thái san hô và cỏ biển, và thiệt hại giá trị phi sử dụng là 66 triệu đồng

Trang 7

Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ của các đơn vị, cá nhân sau trong quá trình thực hiện báo cáo này

- Viện Tài nguyên và Môi trường Biển

- Ông Đỗ Công Thung,

Hà Nội, tháng 5 năm 2008

Nhóm nghiên cứu

1 PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn – Phó Hiệu trưởng – Trường ĐH Kinh tế-ĐHQGHN

2 TS Bùi Đại Dũng – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu kinh tế phát triển – Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

3 TS Đinh Đức Trường – Phó giám đốc Viện sinh thái và môi trường

4 ThS Nguyễn Thị Vĩnh Hà – Giảng viên Khoa Kinh tế phát triển - Trường ĐH Kinh tế

7 CN Vũ Thị Hoàng Vân – Chuyên viên – Viện sinh thái và môi trường

8 CN Đào Minh Khuê – Chuyên viên – Viện sinh thái và môi trường

Trang 8

1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ MÔI TRƯỜNG

Dưới quan điểm kinh tế, môi trường là một loại tài sản vì nó cung cấp cho con người nhiều loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau Môi trường có thể cung cấp những hàng hoá trực tiếp như tôm, cá gỗ củi, các nguồn nguyên vật liệu đầu vào của quá trình sản xuất, các dịch vụ sinh thái như hạn chế bão lũ, chống xói mòn bờ biển, điều hoà khí hậu, nạp

và điều tiết nước ngầm, cũng như các giá trị đa dạng sinh học, các giá trị văn hoá lịch sử khác Nói các khác, môi trường cung cấp cho con người và hệ thống kinh tế các loại giá trị (values) và khi sử dụng chúng, bằng cách này hay cách khác thì con người sẽ thu về

những lợi ích nhất định (benefits)

Giá trị của các hàng hoá môi trường: Tổng giá trị kinh tế

Giá trị, xét về góc độ kinh tế, là một khái niệm nhân tâm, nghĩa là giá trị được xác định bởi con người trong xã hội chứ không phải do chính quyền hay quy luật của tự nhiên quy định Các nhà kinh tế đã phát triển một nguyên tắc phân loại các giá trị kinh tế khi liên hệ với môi trường tự nhiên Có 3 phương pháp khác nhau để đánh giá giá trị: giá trị sử dụng, giá trị lựa chọn và giá trị tồn tại

(i) Giá trị sử dụng: Các nhà kinh tế phải tính giá trị sử dụng, là loại giá trị được rút ra từ

hiệu quả sử dụng thực của môi trường Người câu cá, thợ săn, người đi dạo… tất cả đều

sử dụng môi trường và thu được lợi ích mà không phải trả tiền thực tiếp

(ii) Giá trị lựa chọn: Mỗi cá nhân có thể tự đánh giá cách lựa chọn để sử dụng môi

trường hay tài nguyên môi trường trong tương lai Giá trị lựa chọn là giá trị của môi trường như là lợi ích tiềm tàng trong tương lai khi nó trở thành giá trị thực sử dụng trong hiện tại Mỗi cá nhân có thể biểu lộ sự sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường để chống lại những khả năng sử dụng của một người nào đó trong tương lai

Giá trị lựa chọn còn có thể bao gồm cả giá trị sử dụng của những người khác (nghĩa là lợi ích gián tiếp mà bạn thu được từ giá trị sử dụng của những người khác Bạn cảm thấy hài lòng khi thấy những người khác cũng thu được những lợi ích nên bạn sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường để đem lại lợi ích cho người khác) và giá trị sử dụng bởi các

Trang 9

thế hệ tương lai (giá trị truyền lại là sự sẵn lòng chi trả để bảo vệ môi trường để đem lại lợi ích cho con cháu của chúng ta)

Giá trị lựa chọn = giá trị sử dụng cá nhân + giá trị sử dụng bởi những người khác + giá trị

sử dụng bởi các thế hệ tương lai

Tổng giá trị người sử dụng thu được = giá trị thực sử dụng + giá trị lựa chọn

(iii) Giá trị tồn tại: Các tài nguyên môi trường đều có giá trị thực nội tại của chính bản

thân chúng Giá trị này không liên quan đến việc sử dụng nên được gọi là giá trị phi sử dụng Giá trị sử dụng là những vấn đề đạo đức như sự xuống cấp của môi trường, sự cảm thông đối với các loài sinh vật Ví dụ như mỗi cá nhân đều cảm thấy hài lòng với việc bảo vệ các cá thể còn lại của một số loài như loài cú đốm hay loài cá voi xanh lưng gù Hầu như tất cả mọi người đều coi trọng sự tồn tại của các loài này hơn là chỉ đơn giản thích thú ngắm nhìn chúng Họ đánh giá cao sự tồn tại của chính các loài vật này

Tổng giá trị của các tài nguyên môi trường được tính bằng tổng của cả 3 thành phần nói trên:

Tổng giá trị kinh tế = giá trị thực sử dụng + giá trị lựa chọn + giá trị tồn tại

= giá trị sử dụng + giá trị không sử dụng

Các phương pháp đánh giá giá trị

Để đánh giá giá trị của hàng hoá môi trường, người ta xem xét các mặt sau:

(i) Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường Lý tưởng nhất là chúng ta có thể sử dụng một phương pháp mà đánh giá được cả giá trị sử dụng lẫn giá trị không sử dụng

(ii) Lợi ích thu được từ sự thay đổi (tăng lên hay giảm đi) của chất lượng môi trường

Người ta thường sử dụng 2 phương pháp sau để đánh giá những lợi ích thu được từ việc cải tạo chất lượng môi trường:

(1) Đánh giá trực tiếp thông qua sự giảm xuống của những thiệt hại về môi trường (2) Đánh giá các loại lợi ích gián tiếp (giá trị của sức khoẻ con người được đánh giá thông qua các chi phí bỏ qua; giá trị cuộc sống của con người được tính bằng tỷ lệ dương; giá trị của chất lượng môi trường được tính bằng giá nhà hay còn gọi là định giá

Trang 10

khả quan; sự trong lành của môi trường được đánh giá thông qua chi phí đi lại) hoặc trực tiếp (định giá ngẫu nhiên)

Phương pháp đánh giá gián tiếp, còn gọi là phương pháp tính dựa trên sự lựa chọn của

cá nhân, xem xét quyết định của cá nhân dựa trên tính hữu dụng hay độ trong lành của môi trường bởi vì quyết định này cho ta thấy giá trị của độ trong lành Nhược điểm chính của phương pháp tính gián tiếp này là chỉ đánh giá được giá trị sử dụng chứ không đánh giá được giá trị không sử dụng

Phương pháp đánh giá trực tiếp cho ta biết các giá trị bằng cách phỏng vấn trực tiếp các

cá nhân Ưu điểm lớn của phương pháp này là người ta có thể đo được cả giá trị sử dụng lẫn giá trị không sử dụng

Những vấn đề gặp phải khi lượng giá thực tế

Để đánh giá được chính xác “những thiệt hại” hay “những lợi ích” chúng ta phải tính được những giá trị thị trường và phi thị trường Nhìn chung, đánh giá những thiệt hại phi thị trường khó hơn đánh giá những lợi ích phi thị trường

Ví dụ: những đánh giá những lợi ích thu được từ việc giảm lượng chì trong nước uống Khi lượng chì trong nước uống được giảm đi thì sẽ tốt cho sức khoẻ con người Ví dụ như tỉ lệ mắc phải bệnh huyết áp cao và bệnh tim ở người lớn cũng như giảm trí thông minh ở trẻ em sẽ được giảm xuống Để xác định được những lợi ích đó chúng ta cần phải:

(i) Đánh giá những thiệt hại về sức khoẻ trực tiếp thông qua việc tính toán sự tương tác giữa lượng chì có trong nước và tỷ lệ mắc bệnh

(ii) Áp dụng các phương pháp gián tiếp để xác định số lượng tiền các cá nhân đã thực sự chi trả để tránh hay ngăn ngừa lượng chì đó

(iii) Sử dụng phương pháp trực tiếp để suy ra nhu cầu, hay mức sẵn lòng chấp nhận - WTP và mức sẵn lòng chi trả - WTA của mỗi cá nhân để làm giảm những nguy hại cho sức khoẻ do lượng chì trong nước gây ra

(i) Đánh giá thiệt hại

Để tính được hàm số thiệt hại môi trường chúng ta cần:

Trang 11

1 Đo lường phát thải

2 Xác định kết quả chất lượng môi trường

3 Ước tính tình trạng của con người

(yêu cầu các nhà vật lý học hoặc tự nhiên thực hiện)

4 Đánh giá những tác động đến sức khoẻ, thẩm mỹ, giải trí (yêu cầu các nhà sinh vật học, các nhà dịch tế học có thể thực hiện)

5 Ước lượng giá trị của những tác động này (yêu cầu các nhà kinh tế )

Ví dụ: Đánh giá những thiệt hại về sức khoẻ

Chúng ta có thể đánh giá được những thiệt hại về sức khoẻ do ô nhiễm không khí gây ra (ví dụ như các bệnh viêm phế quản, tràn khí, ung thư phổi có nguồn gốc một phần do sự lưu cữu các chất thải là tác nhân gây ô nhiễm môi trường như khí SO

2 và các chất khí khác) bằng cách ước tính mối quan hệ tương tác giữa sức khoẻ con người với các chất thải là tác nhân gây ô nhiễm môi trường

Đáng tiếc là sức khoẻ con người còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khác như lối sống, chế độ ăn uống, những yếu tố di truyền Chúng ta cần những số liệu chuẩn về nhân tố sức khoẻ để phân loại những tác động của môi trường Nghiên cứu vấn đề này cho thấy các kết quả mà ta thu được là tương đối khớp với các số liệu ta đã sử dụng nhưng lại chưa đủ tính thuyết phục Chúng ta cần phải tìm ra các phương pháp đánh giá khác thuyết phục hơn và hoàn chỉnh hơn Chúng ta cũng có thể kiểm tra chi phí trả cho dược phẩm và số liệu hiệu suất mất đi để đo những thiệt hại sức khoẻ Vấn đề ở chỗ đây là những tiêu chuẩn đánh giá mà qua đó chúng ta đo được giá trị hàng hoá trên thị trường và những dịch vụ chứ không đánh giá được những giá trị phi thị trường của sức khoẻ

Vấn đề nổi lên trong việc đánh giá những thiệt hại trực tiếp là chúng ta chỉ có thể ước lượng những giá trị thị trường hoặc giá trị sử dụng, điều này sẽ cho chúng ta một tiêu chuẩn đánh giá hoàn chỉnh Tuy nhiên chúng ta cũng sẽ mất đi những giá trị phi thị trường như giá trị lựa chọn và những giá trị tồn tại Điều khó khăn khi đánh giá những thiệt hại thực mà lại không đúng như khái niệm của chính nó

Trang 12

(ii) Đánh giá nhu cầu hay WTP

Để ước lượng chính xác được giá trị, chúng ta phải đánh giá được cả những giá trị lợi ích thị trường hoặc phi thị trường Nhìn chung, việc đánh giá lợi ích phi thị trường bằng việc xác định số tiền cá nhân sẽ chi ra cho việc cải thiện môi trường là khá dễ dàng

(iii) Phương pháp đánh giá giá trị lợi ích trực tiếp và gián tiếp

a Phương pháp gián tiếp:

Phương pháp đánh giá giá trị gián tiếp được dựa trên sự lựa chọn của cá nhân Số liệu sẵn

có chứa đựng những thông tin về sự lựa chọn của các cá nhân dựa vào tầm quan trọng của môi trường

Phương pháp đánh giá gián tiếp đối với giá trị của hàng hoá môi trường được tìm ra từ những giá trị của các thị trường liên quan như thị trường bất động sản, chi phí cho hoạt động giải trí hay mức đền bù thoả đáng để các cá nhân sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm Sự

ưu đãi hay WTP của một cá nhân đối với hàng hoá môi trường được thể hiện qua WTP của họ đối với các loại hàng hoá liên quan gián tiếp đến môi trường Phương pháp đánh giá gián tiếp áp dụng cho từng cá nhân và ước lượng tổng số WTP và WTA sử dụng giá trị gián tiếp

Một số giá trị thông thường sử dụng những phương pháp đánh giá gián tiếp là:

- Giá nhà ở gần nhà máy, khu công nghiệp thấp hơn giá nhà ở xa các khu đó vì ô nhiễm không khí, nguồn nước

- Những người sống gần các khu công nghiệp thường có chi phí vệ sinh, y tế cao hơn các vùng khác, đó là giá môi trường mà họ mua

- Chênh lệch giá giữa giá nước được cung cấp và giá nước phải tự kiếm thay thế cho nguồn nước bị ô nhiễm là một chi phí do môi trường ô nhiễm

- Xây dựng hệ thống thoát nước hoặc xây dựng đê điều để giảm lũ lụt bảo vệ đất tạo ra cảm giác an toàn trong cuộc sống, đó là những lợi ích mang lại rất to lớn Vậy đánh giá những lợi ích đó bằng cách nào? Những lợi ích này có thể được xem xét thông qua những khía cạnh cơ bản như: Giảm chi phí cứu trợ, chi phí từ thiện khi có lũ lụt Giảm chi phí chống lụt, di dân, ngừng sản xuất ở ngoài vùng lũ lụt gây thiệt hại kinh tế cho cộng đồng dân cư lớn hơn Cộng đồng dân cư nông nghiệp có nghề phụ thì thu nhập từ nghề phụ của người sống trong vùng có lũ lụt thấp hơn ở ngoài vùng đó vì họ phải chi phí thời gian và tiền bạc cho chống lũ lụt

Trang 13

- Khi có việc bảo vệ đất qua chống lũ lụt thì năng suất tăng lên do phù sa ở hạ lưu sông hoặc lượng điện được phát tăng lên do đất không lắng đọng ở hồ chứa nước, tăng tuổi thọ của các máy phát điện, đó là phần đánh giá lợi ích của việc chống lũ bảo vệ đất

b Phương pháp trực tiếp:

Các phương pháp trực tiếp được đề ra nhằm tính giá trị các nguồn tài nguyên môi trường bằng cách nghiên cứu thái độ của người dân sẽ như thế nào khi chất lượng môi trường thay đổi (lựa chọn thành phố, nhà trong thành phố, nghề nghiệp, hoạt động giải trí) Các phương pháp đánh giá giá trị bằng cách sử dụng phương pháp trực tiếp nên dựa trên việc đặt ra các câu hỏi mang tính giả thiết cho từng cá nhân hơn là xem xét sự lựa chọn thực sự của bản thân họ

Đánh giá trực tiếp còn có thể dựa trên cơ sở những chi phí bỏ ra cho khắc phục môi trường có thể nhìn thấy được

Ví dụ: Các thống kê cho thấy để khôi phục một khu rừng do bị phá để khai thác khoáng sản bao gồm các chi phí

Trả lại tầng địa giao (chất liệu đất trên bề mặt) 3,1%

cả về kinh tế, xã hội và môi trường Vì vậy, vấn đề nghiên cứu tính toán thiệt hại kinh tế

và hệ sinh thái biển khi xảy ra các sự cố tràn dầu để đề ra các phương án phòng ngừa và bồi thường thích hợp là rất cần thiết

Trang 14

1.2.1 Tác động dầu tràn đến các hệ sinh thái biển

Tổng quan về các hệ sinh thái biển Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia biển với một đường bờ biển dài 3260km hướng mặt ra Thái Bình Dương Biển Đông là biển rìa lớn nhất của Thái Bình Dương và bao gồm 9 nước: Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Bruney, Indonesia, Thái Lan, Campuchia,

và Singapore Diện tích Biển Đông là 3,4 triệu km2, dài 3520km, nối liền với vịnh Bắc

Bộ, vịnh Thái Lan, vịnh Tonini và một loạt các biển khác như Andaman, Araphura, Bali, Banda Biển Đông là con đường huyết mạch nối liền Châu Âu, Châu Phi và Trung Cận Đông với Đông Nam Á và Thái Bình Dương và có đến 5 trong số 10 tuyến đường hàng hải lớn nhất trên thế giới có liên quan đến Biển Đông

Nằm ở Tây Bắc Biển Đông là vịnh Bắc Bộ, do bờ biển của Việt Nam và Trung Quốc bao bọc Diện tích vịnh Bắc Bộ là 124.500km2, chu vi khoảng 1950km, chiều dài Bắc - Nam khoảng 496km, nơi rộng nhất 314km Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ, nổi bật nhất là quần đảo Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Bà Vịnh Bắc

Bộ có 2 cửa thông ra bên ngoài, cửa phía nam rộng khoảng 211km và cửa phía đông bắc qua eo biển Quỳnh Châu rộng khoảng 18km Vị trí vịnh Bắc Bộ cho phép vận chuyển một lượng lớn du khách vào phía Bắc Việt Nam, sau một tour du lịch vòng qua nhiều nước bên bờ Thái Bình Dương

Vịnh Thái Lan nằm phía Tây Nam Biển Đông do bờ biển của Việt Nam, Campuchia và Malaysia bao bọc Vịnh có diện tích khoảng 293.000km2, chu vi 2300km, chiều dài khoảng 628km

Đến nay đã phát hiện khoảng 12000 loài động thực vật phân bố ở các hệ sinh thái biển Việt Nam Trong số này có trên 2038 loài cá, 6000 loài động vật đáy, 635 loài rong biển,

43 loài chim, trên 40 loài thú và bò sát biển và hàng ngàn loài động thực vật phù du khác, đã tạo ra các quần xã sinh vật đặc biệt phong phú ở các bãi triều, rừng ngập mặn, rạn san hô v.v Theo tính toán của các nhà hải dương học, biển Việt Nam có trữ lượng khoảng 3.000.000 - 4.000.000 tấn cá, khả năng khai thác là 1,5 - 2,0 triệu tấn, mực 30.000 - 40.000 tấn, tôm biển 50 - 60.000 tấn, thân mềm phải đạt đến hàng triệu tấn Với khả năng nguồn lợi này, giúp cho ngành hải sản Việt Nam ngày càng phát triển

Các kết quả nghiên cứu đã xác định được 8 dạng hệ sinh thái (HST) biển Việt Nam, gồm: HST rừng ngập mặn, HST cỏ biển, HST bãi cát, HST vùng triều, HST san hô và HST đầm phá và các tùng, áng, hệ sinh thái đảo

Trang 15

- Hệ sinh thái rạn san hô: Phân bố ven các đảo chạy dọc ven biển Việt Nam Rạn san

hô là nơi sống lí tưởng cho các loài sinh vật cùng sinh sống Vịnh Hạ Long - Cát Bà là nơi phân bố tập trung nhất của rạn san hô vịnh Bắc Bộ Cho đến nay đã xác định được 23 điểm có rạn san hô phân bố ở Hạ Long - Cát Bà Đảo Bạch Long Vĩ là nơi có rạn san hô phát triển và đẹp vào bậc nhất vịnh Bắc Bộ, có độ phủ cao tới 94% (năm 1994) Các đảo khác như đảo Cô Tô, Long Châu cũng có những rạn san hô đẹp phát triển

Đặc biệt vùng biển miền Trung và miền Nam có các rạn san hô phát triển tốt và đa dạng Các rạn san hô phân bố ở ven các đảo ven bờ từ Cù Lao Chàm tới Côn Đảo, kích thước của rạn san hô biến đổi, có thể rộng từ vài chục đến 200m Ở Văn Phong - Đại Lãnh đã phát hiện 9 khu vực có rạn san hô phân bố Rộng nhất là rạn ở Bãi Tre (119m), hẹp nhất

là Khải Lương (32m) Độ phủ cao nhất 71,9% (Khải Lương) và thấp nhất 4,7% (Bãi Cỏ) (Viện Hải dương học, 1999)

Kết quả nghiên cứu của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển về san hô ở vùng biển Vũng Tàu - Côn Đảo cho thấy ở hầu hết xung quanh các đảo ở đây đều có san hô phân

bố Trong số 27 rạn san hô khảo sát ở Côn Đảo có độ phủ trung bình 37,1%, thấp nhất 8,6% và cao nhất 62% (Lăng Văn Kẻn, 1997)

Vùng đảo Trường Sa và Hoàng Sa là hai trong những trung tâm có nhiều rạn san hô lớn của nước ta San hô ở đây có thể phân bố đến độ sâu 40 - 50m nước, độ phủ cao, có nhiều vùng đạt đến 100% Các rạn san hô ở khu vực này hầu như vẫn còn nguyên vẹn, không bị sự tàn phá như các rạn ven bờ

- Rừng ngập mặn: Phân bố ở dọc theo các vùng cửa sông ven biển Việt Nam Trước

chiến tranh nước ta có khoảng 400.000ha (P Maurand, 1943) và hiện nay còn lại trên 200.000 ha (D N Lưu, 1990) Các Trung tâm rừng ngập mặn lớn của nước ta tập trung ở các khu vực Móng Cái, Cửa Ông, Quảng Yên, Cát Hải, Tiên Lãng, Thái Thụy, Xuân Thuỷ Đặc biệt từ Vũng Tàu đến Hà Tiên là khu vực có rừng ngập mặn phát triển vào bậc nhất của Việt Nam, nổi tiếng với rừng Đước Mũi Cà Mau, rừng bần ở cửa sông Tiền, sông Hậu.v.v Các kết quả nghiên cứu gần đây nhất ở một số khu vực cho thấy hiện trạng các rừng ngập mặn còn lại tương đối ít, khu vực Hạ Long - Cát Bà chỉ có khoảng 130ha rừng ngập mặn, Văn Phong - Đại Lãnh - 60ha v.v

- Đầm phá và tùng, áng:

Hệ sinh thái đầm phá tập trung chủ yếu ở ven biển miền Trung Việt Nam (giới hạn từ Quảng Bình đến Thuận Hải) Do đặc điểm địa hình đã tạo ra nhiều đầm phá thuộc vùng

Trang 16

nước Trầm tích đáy có thể chia thành 3 loại: cát hạt thô, hạt trung và bùn hạt mịn Do thông với biển bằng các cửa nhỏ, nên chế độ thuỷ hoá bị chi phối rất mạnh theo hai mùa khô và mưa, độ muối dao động từ 1 – 32%

Chế độ nhiệt tương đối ổn định, mùa hè trung bình 27 – 310C, mùa đông 22 – 26o

C, tùng, áng là các dạng sinh cảnh rất đặc thù cho quần đảo đá vôi - castes Cát Bà - Hạ Long mà các nơi khác không thể có được Tùng, áng chính thức được coi là một dạng tiểu hệ sinh thái đặc thù của khu vực Hạ Long - Cát Bà do Phân viện Hải dương học đề xuất năm

1999 (Nguyễn Chu Hồi, Đỗ Công Thung và cộng sự, 1999) Theo các thống kê đến nay

có 62 áng, 57 tùng phân bố ở vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và Cát Bà Các tùng, áng có cảnh quan sinh vật rất đẹp và còn có thể sử dụng làm các dạng Aquarium nuôi các loài sinh vật cảnh ngoài tự nhiên phục vụ bảo tồn nguồn gen và các mục đích khác

- Hệ sinh thái vùng triều: Do sự biến thiên thuỷ triều vùng biển vịnh Bắc Bộ và biển

Đông Nam Bộ rất lớn, đến hơn 4m, nên các bãi triều ở các khu vực này thường dài và rộng, đây là hai khu vực có hệ sinh thái vùng triều rất đặc thù và tiêu biểu Các bãi triều rộng lớn khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình v.v là nơi có nhiều các bãi đặc hải sản của Việt Nam Căn cứ vào mức độ biến đổi của thuỷ triều, vùng triều được chia thành 3 khu vực: khu triều cao, khu triều giữa và khu triều thấp Mỗi vùng thường có những quần thể sinh vật điển hình khác nhau

- Hệ sinh thái đảo: Các đảo ven bờ Việt Nam thường là những đảo núi thấp Đường

chia nước trên các đảo khá bằng phẳng, tuy nhiên vẫn có một số đảo do bị mài mòn mạnh đường chia nước khá dốc Các nghiên cứu trên 7 cụm đảo đại diện cho 3 vùng biển Bắc, Trung, Nam của Việt Nam cho thấy đảo cao nhất 603m (Phú Quốc), thấp nhất 233m (đảo Phượng Hoàng), dài nhất 50km, rộng nhất 28km (đảo Phú Quốc) Đảo nhỏ nhất thuộc về đảo Phượng Hoàng dài 4,6km và rộng 2,2km, diện tích 5,5km2 Nhiệt độ trung bình trên các đảo thường cao, biến đổi từ 21 – 350C (thuộc các đảo phía nam) và 21 - 310C (các đảo phía bắc) Lượng mưa trung bình trên các đảo phía bắc thấp hơn các đảo phía nam, biến đổi từ 1711mm – 3067mm/năm Đặc thù của khu hệ sinh vật đảo là có rừng khá tươi tốt phát triển, phần xung quanh đảo là hệ sinh vật vùng triều và có nhiều loài sinh vật quý hiếm, có giá trị kinh tế

- Hệ sinh thái cỏ biển: Việt Nam có khá nhiều thảm cỏ biển phát triển mạnh trên các bãi

triều, đặc biệt các bãi triều từ miền Trung đến Côn Đảo, Phú Quốc Thảm cỏ biển là nơi

ở khá tốt cho các loài sinh vật Theo các kết quả nghiên cứu gần đây nhất thì trong thảm

cỏ biển số lượng loài và mật độ, khối lượng động vật đáy cao gấp nhiều lần ngoài thảm

cỏ biển (Đỗ Công Thung, 2000)

Trang 17

- Hệ sinh thái cảng: Ngoài 7 HST tự nhiên trên, có một hệ sinh thái đặc thù do hoạt

động kinh tế cảng tạo ra Chúng ta tạm thời gọi là hệ sinh thái cảng Thuỷ vực trong hệ sinh thái này thường bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt là ô nhiễm dầu thải do tàu thuyền thải ra

Hệ sinh vật ở đây thường là các loài sinh vật bám tàu thuyền, các quần xã vi sinh vật có khả năng phân huỷ dầu v.v

- Bãi cát: Các kết quả nghiên cứu gần đây đã xác định được hàng trăm bãi cát phân bố từ

Bắc đến Nam Riêng khu vực vùng biển Hạ Long - Cát Bà - Đồ Sơn có hơn 100 bãi cát lớn nhỏ Bờ biển miền Trung thường tạo thành các bãi cát trắng, mịn nổi tiếng như các bãi Sầm Sơn, Cửa Lò, Đá Nhảy, Lăng Cô v.v Đặc biệt khu vực Văn Phong - Đại Lãnh

có đến 16 bãi cát trắng thuộc hệ đất ngập nước có chất lượng môi trường tốt Năm 1997 nhóm nghiên cứu của Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên

và Môi trường biển) đã xác định 24 bãi cát phân bố tại 14 đảo thuộc Côn Đảo, các bãi ở đây tương đối thoải và rộng, có bãi rộng đến 1,5km

Tác động của dầu tràn lên các hệ sinh thái

Dầu mỏ là một hỗn hợp các chất ở dạng lỏng, sánh không tan trong nước và nhẹ hơn nước Thành phần của dầu mỏ bao gồm các hydrocacbon (RH) có cấu trúc khác nhau và

có thể phân thành 3 loại: các hydrocacbon mạch thẳng; hydrocacbon mạch vòng; hydrocacbon thơm; ngoài ra trong dầu mỏ còn có các hợp chất chứa oxy (các axit, xeton, rượu), các hợp chất chứa nitơ (indol, carbazol ), hợp chất chứa lưu huỳnh (nhựa đường, Bitum)

Ô nhiễm dầu và dầu tràn tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên các hệ sinh thái biển và ven biển ở các khía cạnh sau:

- Làm biến đổi cân bằng ôxy của hệ sinh thái: Dầu có tỷ trọng nhỏ hơn nước, khi chảy loang trên mặt nước, dầu tạo thành váng và bị biến đổi về thành phần và tính chất Khi dầu tràn, hàm lượng dầu trong nước tăng cao, các màng dầu làm giảm khả năng trao đổi oxy giữa không khí với nước, làm giảm hàm lượng oxy của hệ, như vậy cán cân điều hoà oxy trong hệ bị đảo lộn

- Làm nhiễu loạn các hoạt động sống trong hệ: Đầu tiên phải kể đến các nhiễu loạn áp suất thẩm thấu giữa màng tế bào sinh vật với môi trường: các loài sinh vật bậc thấp như sinh vật phù du, nguyên sinh động vật luôn luôn phải điều tiết áp xuất thẩm thấu giữa môi trường và cơ thể thông qua màng tế bào Dầu bao phủ màng tế bào, sẽ làm mất khả

Trang 18

năng điều tiết áp suất trong cơ thể sinh vật, sẽ là nguyên nhân làm chết hàng loạt sinh vật bậc thấp, các con non, ấu trùng Dầu bám vào cơ thể sinh vật, sẽ ngăn cản quá trình hô hấp, trao đổi chất và sự di chuyển của sinh vật trong môi trường nước

Theo đánh giá của các chuyên gia, nồng độ dầu trong nước đạt 0.1 mg/l có thể gây chết các loài sinh vật phù du, mắt xích đầu tiên trong lưới thức ăn ở biển Đối với các sinh vật đáy, ô nhiễm dầu có thể ảnh hưởng rất lớn đến con non và ấu trùng Đối với các cá thể trưởng thành, dầu có thể bám vào cơ thể hoặc được sinh vật hấp thụ qua quá trình lọc nước, dẫn đến làm giảm giá trị sử dụng do có mùi dầu Ảnh hưởng của dầu đối với chim biển chủ yếu là thấm ướt lông chim, làm giảm khả năng cách nhiệt của bộ lông, làm mất tác dụng bảo vệ thân nhiệt của chim và chức năng phao bơi, giúp chim nổi trên mặt nước Khi bị nhiễm dầu, chim thường di chuyển khó khăn, ở mức độ nhẹ chúng tỏ ra khó chịu,

có khi phải di chuyển chỗ ở, ở mức độ nặng có thể bị chết Dầu còn ảnh hưởng đến khả năng nở của trứng chim

Cá là nguồn lợi lớn nhất của biển và cũng là đối tượng chịu tác động tiêu cực mạnh mẽ của sự cố dầu tràn, ảnh hưởng này phụ thuộc vào mức độ tan của các hợp chất độc hại có trong dầu vào trong nước Dầu bám vào cá, làm giảm giá trị sử dụng do gây mùi khó chịu Đối với trứng cá, dầu có thể làm trứng mất khả năng phát triển, trứng có thể bị

“ung, thối” Dầu gây ô nhiễm môi trường làm cá chết hàng loạt do thiếu oxy hoà tan trong nước

- Gây ra độc tính tiềm tàng trong hệ sinh thái: Ảnh hưởng gián tiếp của dầu loang đến sinh vật thông qua quá trình ngăn cản trao đổi oxy giữa nước với khí quyển tạo điều kiện tích tụ các khí độc hại như H2S, và CH4 làm tăng pH trong môi trường sinh thái Dưới ảnh hưởng của các hoạt động sinh - địa hoá, dầu dần dần bị phân huỷ, lắng đọng và tích luỹ trong các lớp trầm tích của hệ sinh thái làm tăng cao hàm lượng dầu trong trầm tích gây độc cho các loài sinh vật sống trong nền đáy và sát đáy biển

- Cản trở các hoạt động kinh tế ở vùng ven biển biển: Dầu tràn trôi nổi trên mặt nước theo dòng chảy mặt, sóng, gió, dòng triều trôi dạt vào vùng biển ven bờ, bám vào đất đá, trên bãi triều, bám lên các kè đá, các bờ đảo làm mất mỹ quan, gây ra mùi khó chịu đối với du khách khi tham quan du lịch, tắm mát trên các khu vực danh lam thắng cảnh các bãi tắm Do vậy làm giảm doanh thu của ngành du lịch ở ven biển Mặt khác, dầu tràn làm cho nguồn giống tôm cá bị ảnh hưởng thậm chí bị chết, dẫn đến làm giảm năng suất nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản ven biển Dầu còn làm ảnh hưởng đến nghề khai thác muối từ nước biển do gây ra mùi vị khó chịu v.v

Trang 19

1.2.2 Phương pháp luận đánh giá giá trị của hệ sinh thái biển

Giá trị thực – Tổng giá trị kinh tế (TEV) của hệ sinh thái biển

Qua những phân tích trên đây, ta thấy rằng hệ sinh thái biển là một loại hàng hóa môi trường đặc thù, chịu nhiều tác động và ảnh hưởng của nhiều các yếu tố khác nhau trong cùng hệ môi trường tự nhiên

Với những cơ sở lý luận nêu ra trong phần 1.1 thì giá trị kinh tế của hệ sinh thái biển được tính theo phương pháp tổng giá trị kinh tế, bao gồm các giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng

Khó có thể trong một phương thức sử dụng lại thu được hết tổng giá trị kinh tế tài nguyên thiên nhiên, do đo, chúng ta phải lựa chọn cách thức sử dụng sao cho các giá trị

hy sinh là thấp nhất

Từ các phân tích và đánh giá của các chuyên gia về hệ sinh thái biển và các nhà kinh tế

môi trường, cho ta sơ đồ Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái biển như sau:

Trang 20

Hình 1 Sơ đồ Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái biển

Các giá trị lựa chọn

Các giá trị tồn tại

Bảo vệ bờ biển Ngăn chặn sự xâm nhập của nước mặn Kiểm soát bão và lũ lụt

Hấp thụ cácbon Môi trường sống cho sinh vật hoang

Đa dạng sinh học

v.v…

Các giá trị sử dụng trong tương lai như:

Khoáng chất Giải trí Dược phẩm Công nghiệp v.v…

Các giá trị thực

sự có ý nghĩa:

Văn hoá Thẩmmỹ

Di sản v.v…

Trang 21

Ý nghĩa của định giá giá trị của hệ sinh thái biển:

 Định giá giúp ta đo được tốc độ sử dụng hết các nguồn tài nguyên nuôi dưỡng

và báo hiệu cho những đối tượng sử dụng các nguồn tài nguyên đó rằng mức độ khan hiếm ngày càng tăng

 Định giá góp phần khôi phục lại thế cân bằng giữa kết quả có thể lượng hóa và không lượng hóa được trong phân tích chi phí – lợi ích, hoặc giữa các giá trị tiền

tệ và phi tiền tệ, để giúp người ra quyết định ra những quyết định công bằng hơn, đầy đủ hơn

 Để sử dụng môi trường tốt hơn và thực hiện nguyên tắc “ai gây ô nhiễm phải trả tiền” qua việc định giá để đưa ra quyết định đánh thuế, tính phí hay trợ cấp

Những hạn chế của định giá về mặt kinh tế trong thẩm định môi trường:

 Một số không thể lượng hóa được như chính cuộc sống, sự đa dạng của các loài, sức khoẻ, chất lượng nước, không khí…

 Một số còn hoài nghi về kết quả

 Quá trình định giá yêu cầu phải có rất nhiều dữ liệu về kinh tế, kỹ thuật, song các nước đang phát triển thường không đủ Những dự án cần gấp không thể chờ đến lúc có dữ liệu

 Những kỹ thuật định giá, có trong các tài liệu tiêu chuẩn là giải quyết vấn đề môi trường ở các nước phát triển, nó ít phù hợp vơí các nước đang phát triển

Định lượng giá trị trực tiếp của hệ sinh thái biển

Sử dụng giá cả thị trường để xác định giá trị mua bán sản phẩm biển

Ở biển nhiều loại sản phẩm ngoài cá được mua bán và xuất khẩu bao gồm: thịt rùa, hải sâm, vây cá mập, tôm cua sò và cá nuôi Dựa trên lượng sản phẩm khai thác và bán được, cùng giá thị trường của chúng, người ta ước tính tổng giá trị mua bán các sản phẩm từ biển

Sử dụng giá cả của sản phẩm thay thế để xác định giá trị sử dụng của san hô

Trong nhiều trường hợp san hô hoàn toàn dùng để làm vật liệu xây dựng trên đảo Giá trị của san hô được xác định dựa trên giá cả của vật liệu xây dựng thay thế – xi măng nhập

Trang 22

Sử dụng kỹ thuật định giá ngẫu nhiên để định giá sự sẵn sàng chi trả cho việc bảo tồn biển

Có thể tiến hành một cuộc nghiên cứu đánh giá ngẫu nhiên để định giá nhận thức bảo tồn biển của người dân Giá trị này gồm số tiền mà người dân ở đây sẵn sàng trả tăng thêm cho việc thu gom rác và xử lý nước thải để làm sạch môi trường biển, đóng góp cho việc bảo tồn nguồn cá và rạn san hô Kết quả của cuộc điều tra cho thấy sự sẵn lòng của người dân trong việc bảo vệ môi trường biển

Bảng 2: Các kỹ thuật để định lượng giá trị sử dụng của HST biển và cách áp dụng

- Giá trị thiệt hại tránh được

- Các nguồn lợi từ biển có thể mua và bán trực tiếp, có sản phẩm thay thế được mua bán trên thị trường hay có một giá trị kinh tế được xác định rõ

- Các lợi ích từ biển mà con người có thể tạo

Sử dụng chi phí thay thế để định giá chức năng bảo vệ hệ sinh thái biển và bờ biển

Rạn san hô, các đầm lầy ven biển và rừng ngập mặn giữ một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ đường bờ biển, kiểm soát sự xói mòn, ngăn lũ lụt và bão trên đảo Giá trị của chức năng này được tính toán bằng cách áp dụng phương pháp chi phí thay thế Nếu như không có hệ sinh thái biển và bờ biển, người ta phải xây dựng các con đê và kè ngăn lũ

để ngăn chặn xói mòn bờ biển và sự phá huỷ cơ sở hạ tầng, và tổng chi phí thực hiện các hoạt động này chính là ước tính giá trị bảo vệ sinh thái biển và bờ biển

Trang 23

Sử dụng giá cả thị trường để xác định chi phí quản lý vùng bảo tồn biển

Chi phí trực tiếp để bảo tồn cho vùng biển được tính bằng cách phân tích ngân sách hàng năm của tổ chức Bảo tồn thiên nhiên hoang dã, các cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm về quản lý các khu bảo tồn Tổng chi phí nhân viên, thiết bị, cơ sở hạ tầng và bảo trì cho khu bảo tồn biển này luôn tính được theo giá hiện tại

Sử dụng năng suất sản xuất để xác định chi phí cơ hội lớn nhất của vùng biển

Chi phí cơ hội phát sinh do giảm bớt các hoạt động khai thác nguồn lợi từ biển ở địa phương được đánh giá bằng kỹ thuật dùng năng suất sản xuất Các nguồn lợi từ vùng biển đóng góp cho thu nhập và sản phẩm tiêu dùng từ các hoạt động đánh cá, câu mực, khai thác tôm cua sò ốc, hải sâm, sử dụng san hô làm vật liệu xây dựng Như vậy, chi phí

cơ hội trong việc thành lập vùng bảo tồn biển nơi đây bao gồm cả giá trị không thu được

do hạn chế khai thác tài nguyên biển

1.2.3 Lượng hóa thiệt hại kinh tế môi trường & hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn

+ Xác định các đối tượng, hợp phần của HST biển chịu tác động:

- Cảnh quan, sinh thái

- Chất lượng nước và trầm tích của HST

- Nơi sinh cư của các loài sinh vật trong các HST

- Bảo tồn và đa dạng sinh học

- Nguồn lợi thuỷ hải sản

- Các giá trị cho văn hoá, giáo dục, nghiên cứu khoa học

- Các lợi ích kinh tế khác (du lịch, dân sinh )

+ Đánh giá mức độ tổn thương của các HST biển

- Suy giảm diện tích phân bố HST và biến dạng cảnh quan sinh thái

- Suy giảm và mất nơi cư trú của các loài sinh vật

- Giảm khả năng quang hợp và hô hấp của hệ

- Gây chết và làm suy giảm đa dạng sinh học

Trang 24

- Thay đổi cấu trúc quần xã và tương quan giữa các nhóm: vi sinh vật, thực vật (thực vật ngập mặn, rong tảo, cỏ biển), sinh vật phù du (động vật phù du, thực vật phù du), động vật đáy (thân mềm, giáp xác, da gai, giun v.v.), cá, lưỡng cư, bò sát, chim và thú biển

- Xuất hiện các loài gây hại (địch hại, ký sinh v.v.)

- Mất hoặc suy giảm các chức năng tự nhiên duy trì sinh thái của hệ

- Thay đổi hướng diễn thế tự nhiên và mất cân bằng sinh thái

Lượng giá các thiệt hại về tài nguyên và nguồn lợi các HST biển

- Tổn thất trực tiếp: Giảm giá trị của các bãi tắm trong các hoạt động phát triển du lịch

Các thiệt hại kinh tế do đầu tư ứng phó, xử lý hậu quả tràn dầu, Gây ô nhiễm môi trường

và ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng sống dựa vào HST biển Thiệt hại kinh tế trực tiếp

và giảm khả năng nuôi trồng các loài thuỷ sản ven bờ Suy giảm đa dạng sinh học và các giá trị đi kèm Suy giảm nguồn lợi sinh vật sống trong các HST được khai thác thường ngày

- Tổn thất gián tiếp: Ngăn cản các hoạt động dân sinh Làm giảm khả năng định cư, di cư

của các nguồn giống sinh vật từ biển vào Giảm các nơi sinh cư của các loài sinh vật sống trong các HST Giảm giá trị cảnh quan, sinh thái Các ảnh hưởng do dầu thấm trong đất, cát, nước ngầm, ảnh hưởng đến các ngư trường đánh bắt liền kề do tác động từ nguồn giống, dinh dưỡng liên quan

- Thiệt hại đến các giá trị để dành, lưu tồn: Ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên, thắng cảnh

v.v Mất dần các giá trị bảo tồn như các nguồn gen quý hiếm, nơi sinh cư của một số sinh vật biển, tài nguyên thiên nhiên để lại cho thế hệ mai sau (rạn san hô, cỏ biển ) Mất

dần các giá trị lưu tồn của các hệ sinh thái có được từ ý thức lưu tồn tài nguyên dựa trên

đức tin và các giá trị phi vật thể liên quan đến đời sống văn hóa, tâm linh v.v , các nguồn tài liệu cho nghiên cứu khoa học, giáo dục, thẩm mỹ, văn hoá

Lượng giá các thiệt hại về kinh tế

- Thiệt hại đối với ngành du lịch: ô nhiễm do sự cố tràn dầu ảnh hưởng đến các hoạt động

tham quan du lịch, tiêu tốn chi phí để làm sạch các vùng nước nhiễm dầu…

- Thiệt hại đối với ngành thủy sản: giảm năng suất nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản…

Trang 25

- Thiệt hại đối với ngành nông nghiệp: sự cố tràn dầu gây ra những tác động đến sự lưu

thông của dòng chảy, nước ô nhiễm dầu xâm nhập vào các vùng nước ngọt làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây nông nghiệp…

- Thiệt hại đối với sức khỏe con người: các sự cố tràn dầu gây ra những tác hại nguy

hiếm đối với sức khỏe của con người như ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm đến chất lượng không khí khu vực…

- Thiệt hại vật chất cho việc thu gom và xử lý dầu tràn: đây là thiệt hại dễ tính toán được

thông qua các hoạt động vận chuyển, và xử lý dầu tràn của các cơ quan chức năng

Ví dụ: Theo thống kê chưa đầy đủ của Cục Bảo vệ môi trường trong đợt sự cố tràn dầu tính đến tháng 6/2007, tổng thiệt hại do ô nhiễm dầu ở Việt Nam là 76.897,201 triệu đồng, trong đó chi phí thu gom vận chuyển là 1.210,714 triệu đồng; chi phí xử lý là

73 830 triệu đồng Đặc biệt ngành du lịch đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng do ô nhiễm dầu với tổng thiệt hại lên tới 44.958,387 triệu đồng, tiếp đến là ngành thủy sản là 28.436,450 triệu đồng và nông nghiệp là 1.612,000 triệu đồng… Chưa có thống kê thiệt hại về môi trường và sức khỏe

Sự cố dầu tràn thường gây ra hậu quả nghiêm trọng về môi trường, do vậy khoản đền bù rất lớn Ngày nay, sự hoàn trả các thiệt hại về môi trường đã trở thành thông lệ quốc tế

Số tiền hoàn trả sẽ chỉ được tính cho những khoản như sau:

 Chi phí đã bỏ ra để ứng cứu sự cố, như ngăn dầu, gom dầu, xử lý dầu cặn

 Bồi thường thiệt hại về kinh tế cho các tổ chức, cá nhân bị hại trực tiếp do sự cố xảy ra (thí dụ đối với việc nuôi trồng, đánh bắt hải sản, làm muối hay các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác )

 Bồi thường cho việc suy giảm môi trường sinh thái tự nhiên

 Hỗ trợ chi phí cho công tác khảo sát, làm căn cứ để đánh giá thiệt hại về môi trường

Trang 26

2 CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG

GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ CÁC GIÁ TRỊ SINH THÁI - MÔI TRƯỜNG DO ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM DẦU TRÀN

Giống như những hàng hoá và dịch vụ thông thường, tài sản môi trường cũng có thể bị khấu hao do những tác động từ tự nhiên hoặc con người, ví dụ ô nhiễm hay suy thoái môi trường Khi xảy ra ô nhiễm/suy thoái môi trường những nhóm giá trị của môi trường bị suy giảm so với thời điểm trước khi xảy ra ô nhiễm suy thoái và lợi ích thu về từ việc tiêu dùng hàng hoá môi trường của xã hội cũng sẽ suy giảm Các nhà kinh tế đã xây dựng các

mô hình lý thuyết và những kỹ thuật thực nghiệm để lượng giá sự suy giảm của các lợi ích này (chi phí do ô nhiễm/suy thoái gây ra) để từ đó đề xuất các nhóm công cụ, chính sách, các cách tiếp cận quản lý, sử dụng tài nguyên hiệu quả, bền vững hơn nhằm mang lại lợi ích lâu dài cho cộng đồng Cho đến nay, các quốc gia trên thế giới đã áp dụng rất nhiều các kỹ thuật khác nhau nhằm xác định mức độ thiệt hại kinh tế của môi trường khi xảy ra suy thoái, sự cố, tuy nhiên, việc lựa chọn các kỹ thuật, qui trình tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể của từng nước và từng trường hợp, đồng thời bị giới hạn bởi các yếu tố khác như cơ sở dữ liệu về các hệ sinh thái, điều kiện tự nhiên, các nhóm đối tượng, phạm

vi và thời gian tính toán

Nghiên cứu này sẽ tổng quát hóa các phương pháp lượng giá thiệt hại kinh tế các thiệt hại

do ô nhiễm/suy thoái môi trường gây ra Cho đến nay không có một phương pháp nào được xác định là áp dụng cụ thể để lượng giá thiệt hại của sự cố tràn dầu Sự cố tràn dầu được coi là một dạng cụ thể của ô nhiễm, suy thoái môi trường và vì vậy khung các phương pháp chung sẽ vấn được áp dụng để lượng giá thiệt hại này

Chương này sẽ nêu các phương pháp lượng giá các nhóm giá trị sử dụng trực tiếp, gián tiếp và phi sử dụng cùng với các bước tiến hành và ưu nhược điểm của từng phương pháp tương ứng

Dixon (1996) đưa ra bảng các phương pháp lượng giá tương ứng với các giá trị của tài nguyên/môi trường như sau:

Trang 27

Bảng 4: Các phương pháp lượng giá giá trị tài nguyên/môi trường

Giá trị sử dụng trực tiếp (hàng hóa từ hệ

sinh thái)

- Phương pháp giá thị trường

- Phương pháp chi phí du lịch

- Phương pháp chi phí năng suất

- Phương pháp chi phí sức khỏe/y tế Giá trị sử dụng gián tiếp (dịch vụ của hệ

sinh thái)

- Phương pháp chi phí thay thế

- Phương pháp chi phí phòng ngừa/giảm nhẹ

- Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được

- Phương pháp hàm sản xuất

- Phương pháp cư trú sinh thái tương đương (HEA)

Giá trị phi sử dụng - Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

- Phương pháp mô hình lựa chọn

- Phương pháp chuyển giao lợi ích

Nguồn: Dixon, A.J (1996)

Bên cạnh cách tiếp cận tổng giá trị kinh tế, WB (World Bank) lại chia các loại phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường thành hai loại: phương pháp dựa trên hàm sản xuất và phương pháp dựa trên hành vi của con người

Bảng 5: Các phương pháp lượng giá giá trị tài nguyên/môi trường theo World Bank

Thay đổi trong

Ưa thích tuyên bố (Stated) Phương pháp thay

đổi trong năng suất

Phương pháp vốn con người

Phương pháp giá hưởng thụ

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên Phương pháp chi

phí cơ hội

Phương pháp chi phí y tế

Phương pháp chi phí phòng ngừa/giảm nhẹ

Trang 28

Trong nghiên cứu này, một số phương pháp được kể trên theo cả hai cách tiếp cận sẽ được phân tích để lượng giá thiệt hại ô nhiễm do tràn dầu gây ra

2.1 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRỰC TIẾP CỦA TÀI NGUYÊN/MÔI TRƯỜNG

2.1.1 Phương pháp giá thị trường (Makert Price Method)

Khái niệm

Phương pháp giá thị trường là phương pháp ước lượng giá trị kinh tế của các sản phẩm

và dịch vụ hệ sinh thái được trao đổi, buôn bán trên thị trường, cụ thể là lượng giá sự thay đổi trong số lượng hoặc chất lượng của hàng hoá, dịch vụ đó Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật kinh tế để đo lường các lợi ích kinh tế từ hàng hoá trên thị trường, dựa vào số lượng mà mọi người mua ở các mức giá khác nhau, cũng như số lượng được cung cấp trên thị trường ở các mức giá khác nhau

Áp dụng phương pháp này đòi hỏi các dữ liệu để đánh giá thặng dư sản xuất và thặng dư tiêu dùng Để đánh giá được thặng dư tiêu dùng cần phải ước lượng hàm cầu, muốn vậy cần có một dãy số liệu về lượng cầu ở các mức giá khác nhau theo thời gian Ngoài ra cần phải thu thập dữ liệu về các yếu tố ngoại sinh tác động lên cầu như thu nhập hay các

dữ liệu về nhân khẩu học khác Còn thặng dư sản xuất được ước lượng thông qua chi phí sản xuất và doanh thu nhận được từ hàng hoá đáp ứng lượng cầu trên thị trường

Trang 29

Một mức giá hiệu quả trên thị trường Pm, được xác định khi cung và cầu bằng nhau tại mức sản lượng Qm Tại điểm cân bằng này, lợi ích mà xã hội thu được từ nguồn tài nguyên đạt tối đa (Hình 2)

Hình 2 Lượng giá giá trị hệ sinh thái sử dụng phương pháp giá thị trường

Nguồn: Mitsch, W J and Gosselink, J.G., 2004

Đường cầu phản ánh người tiêu dùng sẵn lòng mua một sản phẩm ở các mức giá khác nhau còn đường cung phản ánh người sản xuất sẵn lòng cung cấp một sản phẩm ở các mức giá khác nhau (Taylor và Frost 2002) Thặng dư tiêu dùng là A, phần diện tích nằm dưới đường cầu và trên mức giá thị trường còn thặng dư sản xuất là B, là phần diện tích nằm dưới mức giá thị trường và trên đường cung Khi đó, tổng lợi ích kinh tế hay tổng thặng dư kinh tế là tổng thặng dư sản xuất và thặng dư tiêu dùng và tổng chi phí sản xuất với lượng sản phẩm Qm (diện tích C) (Turner et al.)

Pm

Thặng dư

sản xuất

Thặng dư tiêu dùng

Cân bằng giữa cung và cầu Đường cung

Trang 30

 Phương pháp này sử dụng các số liệu quan sát được về sự ưa thích của người tiêu dùng

 Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật kinh tế có thể chấp nhận được

 Cần phải xem xét các biến ngoại sinh tác động đến lên mức giá

 Phương pháp này thường không khấu trừ đi giá thị trường của các nguồn tài nguyên khác được sử dụng để đưa các sản phẩm, dịch vụ hệ sinh thái tới thị trường

2.1.2 Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method – TCM)

Khái niệm

Phương pháp chi phí du lịch là phương pháp về sự lựa chọn ngầm có thể dùng để ước lượng đường cầu đối với các nơi vui chơi giải trí và từ đó đánh giá giá trị cho các cảnh quan này Giả thiết cơ bản của TCM rất đơn giản, đó là chi phí phải tốn để tham quan một nơi nào đó phần nào phản ánh được giá trị giải trí của nơi đó

Mục đích

Phương pháp này có thể dùng để đánh giá lợi ích hay chi phí kinh tế mà có nguyên nhân từ:

 Những thay đổi trong chi phí tham quan địa điểm giải trí

 Phá bỏ một địa điểm giải trí hiện hành

 Có thêm một địa điểm giải trí mới

 Những thay đổi trong chất lượng môi trường ở địa điểm giải trí

Phương pháp này dựa trên cơ sở thực tiễn là những nơi, địa điểm có chất lượng môi trường tốt thường là những nơi thu hút khách du lịch Thực chất những nơi có chất lượng môi trường tốt là những nơi người ta phát triển du lịch và có nhiều khách tham quan nghỉ ngơi Do đó, nếu căn cứ vào chi tiêu của khách đến nghỉ ngơi ở vị trí du lịch thì có nghĩa

là chất lượng môi trường tỷ lệ thuận với chi phí của du khách Nếu xét về cầu thì:

Trang 31

Nhu cầu về giải trí = Nhu cầu về khu vực tự nhiên Bản chất của phương pháp chi phí du lịch là sử dụng các chi phí của khách du lịch làm đại diện cho giá Mặc dù chúng ta không quan sát được con người mua chất lượng hàng hoá môi trường nhưng chúng ta lại quan sát được cách họ đi du lịch để hưởng thụ tài nguyên môi trường Đi du lịch là tốn tiền và cũng tốn thời gian Các chi phí du lịch này

có thể làm đại diện cho cái giá mà con người phải trả để hưởng thụ được cảnh quan môi trường Có thể sử dụng phương pháp chi phí du lịch để xây dựng đường cầu cho các cảnh quan môi trường này Bằng cách thu thập số lượng lớn số liệu chi phí du lịch và một số yếu tố khác có liên quan (thu nhập, số lần đến thăm…), chúng ta có thể ước lượng giá sẵn lòng trả tổng cộng cho những cảnh quan môi trường cụ thể

Các cách tiếp cận của phương pháp chi phí du lịch

Trong số các mô hình chi phí du lịch thì chi phí du lịch theo vùng (ZTCM) và chi phí du lịch theo cá nhân (ITCM) là 2 cách tiếp cận phổ biến và đơn giản nhất của phương pháp chi phí du lịch Ngoài ra còn có cách tiếp cận lợi ích ngẫu nhiên

a Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân ( Individual Travel Cost Method – ITCM)

Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịch hàng năm của một

cá nhân với chi phí du lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra

Vi = f (TCi, Si) Trong đó : Vi là số lần đến điểm du lịch của cá nhân i trong 1 năm

TCi là chi phí du lịch của cá nhân i

Si là các nhân tố khác có ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá nhân, ví dụ như: thu nhập, chi phí thay thế, tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, và trình độ học vấn

Đơn vị quan sát của ITCM là các cá nhân đến thăm điểm du lịch, giá trị giải trí của mỗi

cá nhân là diện tích phía dưới đường cầu của họ Vì vậy, tổng giá trị giải trí của khu du lịch sẽ được tính bằng cách tổng hợp các đường cầu cá nhân

Cách tiếp cận ITCM sẽ gặp phải khó khăn khi sự dao động trong số lần đến địa điểm du lịch là quá nhỏ hoặc khi các cá nhân không đến điểm du lịch một vài lần trong năm

Trang 32

(Georgiou et al 1997) Do đó, nếu mọi khách du lịch chỉ đến địa điểm du lịch một lần trong năm thì khó có thể chạy hàm hồi quy Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân chỉ phù hợp cho các khu du lịch mà du khách đến nhiều lần trong năm như công viên hay vườn bách thảo

b Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo vùng (Zonal Travel Cost Method – ITCM)

Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát tới vị trí nghiên cứu với tổng chi phí du lịch của vùng xuất phát

Vi = V(TCi, POPi, Si) Trong đó: Vi là số lần viếng thăm từ vùng i tới điểm du lịch

POPi là dân số của vùng i

Si là các biến kinh tế xã hội ví dụ như thu nhập trung bình của mỗi vùng

Thông thường biến phụ thuộc được biểu hiện dưới dạng (Vi/POPi) hay tỉ lệ số lần tham quan trên 1000 dân, ký hiệu là VR

Áp dụng ZTCM thì diện tích xung quanh điểm du lịch sẽ được chia thành các vùng với khoảng cách khác nhau tới điểm du lịch, vì vậy đơn vị quan sát của ZTCM là các vùng Những hạn chế nói trên của ITCM lại được khắc phục khi sử dụng ZTCM ZTCM sử dụng tỷ lệ số lần viếng thăm của mỗi vùng tới điểm du lịch (VR) là hàm của chi phí du lịch, bởi vậy số lần một cá nhân đến điểm du lịch không ảnh hưởng đến hàm

Tuy nhiên, ZTCM cũng có những hạn chế riêng của nó Mô hình này không hiệu quả do

nó tổng hợp dữ liệu từ số lượng lớn các cá nhân thành một vài vùng quan sát (Georgiou

et al 1997) Thêm vào đó, mô hình chi phí du lịch theo vùng coi tất cả các cá nhân đến từ một vùng có các chi phí du lịch như nhau trong khi điều này không phải lúc nào cũng đúng

c Cách tiếp cận phương pháp lợi ích ngẫu nhiên (Random Utility Approach)

Là phương pháp phức tạp và tốn chi phí nhất Nó cũng là một phương pháp tiên tiến vì cho phép tính toán lợi ích một cách khá linh hoạt Đây là cách tiếp cận tốt nhất để đánh

Trang 33

giá lợi ích của những địa điểm đặc trưng hoặc là sự thay đổi chất lượng địa điểm hơn là

cả địa điểm nói chung Nó cũng là cách tiếp cận phù hợp khi có nhiều địa điểm thay thế Chẳng hạn, một cơ quan muốn đánh giá mất mát về kinh tế do suy giảm số lượng cá chứ không phải là mất mát toàn bộ số cá Phương pháp lợi ích ngẫu nhiên là cách tốt nhất vì

nó tập trung vào những lựa chọn giữa các địa điểm có thể thay thế cho nhau mà có chất lượng khác nhau

Giả định các cá nhân sẽ đến địa điểm họ ưa thích chứ không phải là tất cả các địa điểm

có thể câu cá Các cá nhân sẽ đánh đổi giữa chất lượng nơi họ đến với chi phí du lịch đến tham quan nơi đó Do vậy, mô hình này đòi hỏi thông tin về tất cả những nơi mà một khách du lịch có thể chọn như chất lượng, chi phí du lịch tới từng nơi

Người nghiên cứu có thể điều tra qua điện thoại lựa chọn ngẫu nhiên người dân trong một nước Người phỏng vấn hỏi họ nếu họ có đi câu hay không Nếu có, thì hỏi họ những câu hỏi về số lần đi câu trong năm qua, nơi họ đi, khoảng cách đến từng nơi và thông tin khác tương tự như thông tin thu thập trong điều tra chi phí du lịch cá nhân Người điều tra phỏng vấn cũng có thể hỏi những câu hỏi về số loài cá là mục tiêu của mỗi chuyến đi

và bao nhiêu cá mà họ đánh bắt được

Sử dụng thông tin này, người nghiên cứu có thể ước lượng một mô hình thống kê mà có thể dự đoán được cả lựa chọn đi câu hay không và những nhân tố xác định nơi nào được chọn Nếu có đặc điểm về chất lượng của những nơi đó thì mô hình cũng có thể dễ dàng đánh giá giá trị cho những thay đổi về chất lượng địa điểm chẳng hạn mất mát kinh tế do suy giảm tỷ lệ đánh bắt ở nơi đó

Mô tả

Các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch

Trong phần này sẽ nêu các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch theo vùng

Bước 1: Xác định vị trí mà chúng ta cần đánh giá, sau đó chọn một số người thường

xuyên lui tới đó

Bước 2: Sử dụng hệ thống phiếu điều tra, đánh giá, bảng hỏi đã thiết kế sẵn để phỏng vấn

từng khách du lịch Chúng ta hỏi khách du lịch về:

 Họ tới từ đâu (thành phố nào, nước nào)

 Số khách trên một phương tiện chuyên chở tới

Trang 34

 Phương tiện chuyên chở (ô tô, máy bay, xe máy…)

 Thời gian đi đến và ở tại địa điểm

 Tần suất du lịch, thời gian của chuyến đi

Bước 3: Phân nhóm các đối tượng được phỏng vấn dựa trên cơ sở khoảng cách mà họ đi

tới địa điểm du lịch Điều này có nghĩa là những người có khoảng cách tương tự nhau chúng ta gộp vào một nhóm

Bước 4: Ước tính chi phí và số lần đi tới vị trí đánh giá của từng nhóm Đây là bước

quan trọng nhất, là cơ sở để xây dựng hàm cầu cho các cảnh quan môi trường

- Chi phí của chuyến đi:

P = e + f + ac + OC + ct

Trong đó:

e (entrance fee): vé vào cổng

f (food and drink): chi phí ăn uống

ac (accomodation): chi phí nghỉ ngơi

OC: chi phí thời gian – thời gian đi lại và thời gian ở địa điểm – chi phí cơ hội

Thời gian đi du lịch có thể dành cho những hoạt động khác có thể đem lại lợi ích Tiền lương phản ánh chi phí cơ hội của thời gian, nó sẽ được sử dụng như là một giá ẩn của thời gian Tuy nhiên, mức tiền lương có thể bị bóp méo bởi sức ép của cơ quan Cách thích hợp là ước lượng giá trị thời gian sẽ được xây dựng

Trang 35

OC = (D1 + D2) x TNBQ

OC : chi phí cơ hội của du khách

D1 : số ngày du khách đi đến và rời khỏi địa điểm

D2 : số ngày du khách lưu lại địa điểm du lịch

TNBQ : Thu nhập bình quân mỗi du khách

ct (cost of transport): chi phí đi lại bao gồm chi phí vé tàu, xe hay máy bay hoặc

là chi phí xăng dầu và bảo quản phương tiện Do đó, chi phí đi lại của khách du lịch phụ thuộc vào khoảng cách và phương tiện đi lại

Như vậy, chi phí của toàn bộ chuyến đi bao gồm: vé vào cổng, chi phí nghỉ ngơi, chi phí

ăn uống, chi phí cơ hội trên đường đi và trong thời gian lưu lại khu giải trí, chi phí phương tiện giao thông

- Tỷ lệ thăm quan trên 1000 dân ở mỗi vùng Nó đơn giản chỉ là tổng lượt thăm quan mỗi

năm từ mỗi vùng chia cho dân số của vùng với đơn vị nghìn người

VRi =  1000

POPi Vi

VRi: Tỷ lệ số lần tham quan vùng i

Vi: Số lượt khách đến trong 1năm của vùng xuất phát POPi: Tổng số dân mỗi vùng xuất phát

Bước 5: Đánh giá quan hệ giữa chi phí của chuyến đi và số lần đi tới vị trí đánh giá của

các nhóm thông qua các số liệu điều tra, tính toán ở trên Phân tích hồi quy để ước lượng công thức có liên quan đến số lần đi theo đầu người với chi phí của chuyến đi

Vi = V(TCi, POPi, Si)

Hay: VRi = V(TCi, Si) Toàn bộ vùng sẽ có nhu cầu là:

niVRi = niV(TCi, Si)

Trong đó: ni là số người ở vùng i đến thăm quan

Trang 36

Mối quan hệ giữa chi phí đi lại và số lần đi lại được coi là thể hiện nhu cầu giải trí Tức

là giả định rằng chi phí đi lại thể hiện giá trị giải trí và số lần đi lại thể hiện lượng giải trí Xây dựng hàm cầu số lần đi tới địa điểm bằng sử dụng các kết quả phân tích hồi quy Tổng lợi ích kinh tế của địa điểm đối với khách du lịch được tính bằng thằng dư tiêu dùng hay chính là phần diện tích dưới đường cầu

Hình 3 Đồ thị hàm cầu về giải trí trong TCM

Tuy nhiên, để phương pháp chi phí du lịch có thể áp dụng được, một số giả thiết sau phải được thoả mãn:

 Chi phí đi lại và giá vé vào cổng có ảnh hưởng như nhau tới hành vi, nghĩa là các

cá nhân nhận thức và phản ứng về sự thay đổi trong chi phí đi lại theo cùng một kiểu đối với những thay đổi trong giá vé vào cổng Điều này có ý nghĩa quan trọng

để xác định tổng chi phí một cách chính xác

 Từng chuyến đi tới điểm giải trí chỉ nhằm mục đích thăm riêng điểm đó Nếu giả thiết này bị vi phạm, tức là chi phí đi lại sẽ bị tính chung giữa nhiều nơi tham quan, thì rất khó có thể phân bổ chi phí một cách chính xác giữa các mục đích khác nhau

 Toàn bộ các lần viếng thăm đều có thời gian lưu lại giống nhau, có như vậy thì ta mới đánh giá được lợi ích của điểm giải trí thông qua số lần viếng thăm

 Không có tiện ích hoặc bất tiện nào khác trong thời gian di chuyển tới điểm giải trí để đảm bảo chi phí đi lại không bị tính vượt quá mức

Vùng dưới đường cầu = lợi ích của giải trí

= lợi ích của khu vực tự nhiên (theo giả định)

Số lần đến Chi phí đi lại

Đường cầu về giải trí

Trang 37

Ưu điểm

 Đây là phương pháp dễ được chấp nhận về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn Về lý luận, dựa trên mô hình kinh tế truyền thống đã có để xây dựng dù nó chưa hoàn hảo nhưng cũng đảm bảo được sự đồng thuận của các nhà kinh tế Về thực tiễn, nó hoàn toàn phù hợp ở chỗ mối quan hệ giữa chất lượng hàng hoá môi trường với chấp nhận chi phí để hưởng thụ giá trị hàng hoá của khách du lịch

 Phương pháp dựa trên hành vi thực tế (mọi người làm trên thực tế) chứ không phải là bộc lộ sự sẵn lòng chi trả - WTP (mọi người nói họ sẽ làm trong một tình huống giả thuyết)

 Xem xét trên góc độ kinh tế, phương pháp chi phí du lịch cho chúng ta một cách nhìn nhận tương đối dễ hiểu, dễ tiếp cận

 Những cuộc điều tra phỏng vấn ở địa điểm thường cho quy mô mẫu lớn vì khách

du lịch thường hứng thú khi được phỏng vấn Các kết quả thu được cũng tương đối dễ dàng để giải thích và chứng minh

 Nếu công việc điều tra, phỏng vấn khách quan và đúng quy trình thì kết quả mang lại phục vụ tốt cho công tác chính sách

Hạn chế

 Trong thực tế có thể xảy ra trường hợp có những du khách cho rằng vị trí đánh giá rất có ý nghĩa với họ Do vậy, thay vì thường xuyên đến họ mua luôn nhà gần vị trí đó để ở Trong trường hợp đó việc xác lập cự ly phải được xem xét và tính toán lại

 Cũng có trường hợp khi chúng ta điều tra gặp phải những đối tượng không phải bỏ chi phí (thường xảy ra ở những vị trí gần với địa bàn cư trú) nhưng lại đánh giá rất cao chất lượng môi trường ở đó Như vậy, không thể định giá môi trường bằng phương pháp chi phí du lịch mà phải sử dụng phương pháp khác

 Phương pháp này chỉ sử dụng ở những nơi có khách du lịch, những nơi không có khách du lịch thì chúng ta phải sử dụng phương pháp khác

 Ngoài ra, khi sử dụng phương pháp này chúng ta còn gặp phải một số trở ngại khác như: sự trả lời không chính xác theo mẫu hoặc những vấn đề liên quan đến

Trang 38

người đánh giá phải có những cách xử lý về mặt kỹ thuật phù hợp: xây dựng bảng điều tra mẫu, thống kê, mô hình kinh tế lượng Hơn nữa, những người thực hiện cần phải hiểu biết không chỉ về lĩnh vực kinh tế, môi trường mà cả du lịch thì mới xác định được một giá trị chất lượng môi trường phản ánh đúng với thực tiễn

2.1.3 Phương pháp thay đổi năng suất (Productivity Change Method)

Khái niệm

Phương pháp này được phát triển dựa trên phương pháp phân tích chi phí - lợi ích truyền thống, coi sự thay đổi trong năng suất là cơ sở đo lường giá trị Phương pháp này sử dụng giá thị trường (không bị bóp méo) cho đầu vào và đầu ra trong sản xuất để lượng giá những thay đổi vật lý trong quá trình này Các giá trị tiền tệ sau đó được đưa vào các phân tích kinh tế của dự án Phương pháp này dựa vào kinh tế học phúc lợi tân cổ điển và việc xác định phúc lợi xã hội

 Ô nhiễm không khí: Đo lường thiệt hại đến sức khoẻ con người do ô nhiễm không khí và tác động của nó tới ngày làm việc

 Mưa axit: Đo lường sự mất giá sản xuất qua đó thấy được thiệt hại đối với cây trồng

 Ô nhiễm đối với các loài cá: nước bị ô nhiễm là giảm khả năng duy trì trữ lượng

cá, điều này tác động lên thu nhập của các ngư dân

 Đất trồng nhiễm mặn: làm giảm sản lượng, làm đất mất khả năng duy trì mùa vụ

Mô tả

Sử dụng phương pháp thay đổi năng suất cần tiến hành theo hai bước cơ bản và các vấn

đề cần lưu ý trong mỗi bước như sau:

Trang 39

Bước 1: Xác định các tác động vật lý

Vấn đề quan trọng nhất trong phương pháp này là phải xác định được các tác động vật lý

do các dự án gây ra Khi đó, cần phải lưu ý:

 Sự thay đổi năng suất do dự án gây ra phải được xác định bên trong và bên ngoài Những thay đổi bên trong là các đầu ra từ dự án và được đưa vào các phân tích dự

án Những thay đổi bên ngoài (gồm cả tích cực và tiêu cực) là những ngoại ứng về kinh tế và môi trường của dự án mà trước đây thường bị bỏ qua Các ngoại ứng này cần phải được đưa vào phân tích để xác định đầy đủ các tác động của dự án

 Các tác động lên năng suất cả trong và sau tiến trình dự án đều phải được đánh giá Thậm chí phải xem xét các trường hợp có nhiều dự án thay thế và trường hợp không có dự án để xác định những thay đổi do các dự án mang lại so với khi tiến hành dự án Ví dụ, một dự án phát triển nông nghiệp vùng cao được đề xuất có thể gây xói mòn đất và gây thiệt hại đối với sản lượng gạo vùng hạ nguồn Chi phí môi trường của dự án không chỉ là tổng thiệt hại đối với sản lượng gạo mà sự bồi lắng mà dự án tạo ra Một phân tích có cả kịch bản có và không có dự án sẽ giúp xác định được mức độ thiệt hại hoặc thiệt hại tránh được từ dự án

Cũng cần phải lưu ý xem điều gì có thể xảy ra khi không có dự án vì trong nhiều trường hợp không phải lúc nào đầu ra cũng có cùng một sản lượng như ở hiện tại Nếu nguồn tài nguyên được dự đoán là sẽ suy giảm trong tương lai thì phân tích cũng cần phải tính đến

sự giảm đi theo thời gian này Nếu chúng ta muốn so sánh sự khác biệt giữa các lựa chọn

có và không có dự án qua thời gian thì không thể so sánh với thời điểm hiện tại được

Bước 2: Gán giá thị trường cho những tổn thất

Phương pháp này sử dụng giá thị trường để đo lường những tổn thất trong sản xuất hoặc chi phí đầu vào gia tăng

Cần phải giả thiết về thời gian để đo lường những thay đổi, về giá “chuẩn” được sử dụng

và về những thay đổi ở tương lai với mức giá tương đối

Một vấn đề nảy sinh trong phương pháp này là không tồn tại thị trường cho hàng hoá hệ sinh thái hoặc thị trường bị bóp méo Khi đó cần phải có các phương pháp thay thế, các phương pháp này sẽ lượng giá:

Trang 40

 Lợi ích của sản phẩm Ví dụ, các loài cây thuốc có thể được lượng giá thông qua lợi ích do tránh được những hậu quả của bệnh tật

 Giá của hàng hoá thay thế Ví dụ, tổn thất do mất tính sẵn có của củi đốt có thể được lượng giá thông qua giá của dầu hoả, hay đi lại bằng đường bộ là phương án thay thế cho đi lại trên sông, hồ…

 Chi phí thời gian lao động gia tăng Thời gian bỏ ra để thu lượm các sản phẩm từ

hệ sinh thái có thể được sử dụng để đo lường giá trị của các sản phẩm đó Hoặc là trong trường hợp giảm lượng củi đốt, tổn thất được đo bằng chi phí của thời gian gia tăng để thu lượm cùng một lượng củi như trước

Ưu điểm

 Đây là phương pháp lượng giá các tác động ít gây tranh cãi nhất so với các phương pháp khác Cơ sở áp dụng phương pháp này khá đơn giản, có thể dễ dàng giải thích và chứng minh được

 Phương pháp này khá đơn giản vì sử dụng giá thị trường để đo lường tổn thất trong sản xuất hoặc chi phí đầu vào gia tăng

 Do dữ liệu không khó thu thập nên phương pháp này không tốn chi phí

để phản ánh giá dự đoán khi không có sự thay đổi môi trường

 Phương pháp này sử dụng giá thị trường nên thường chỉ phản ánh được giá trị sử dụng mà không tính được các giá trị phi sử dụng như giá trị tuỳ thuộc, giá trị tồn tại hay giá trị lựa chọn

Ngày đăng: 18/05/2017, 15:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái biển - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Hình 1. Sơ đồ Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái biển (Trang 20)
Hình 2.  Lượng giá giá trị hệ sinh thái sử dụng phương pháp giá thị trường. - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Hình 2. Lượng giá giá trị hệ sinh thái sử dụng phương pháp giá thị trường (Trang 29)
Hình 5.  Bản đồ khu vực Cửa Đại và Cù Lao Chàm - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Hình 5. Bản đồ khu vực Cửa Đại và Cù Lao Chàm (Trang 75)
Hình 6.  Số người trả lời theo tuổi - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Hình 6. Số người trả lời theo tuổi (Trang 88)
Hình 7.  Số người trả lời theo trình độ học vấn - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Hình 7. Số người trả lời theo trình độ học vấn (Trang 88)
Bảng 15: Các hình thức dầu loang và số % người trả lời - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Bảng 15 Các hình thức dầu loang và số % người trả lời (Trang 93)
Bảng 17: Thiệt hại của các khách sạn do khách hủy đặt phòng và trả phòng sớm. - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Bảng 17 Thiệt hại của các khách sạn do khách hủy đặt phòng và trả phòng sớm (Trang 98)
Bảng 19: Bảng tính toán phần dịch vụ-hecta-năm bị mất của san hô cứng (L) - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Bảng 19 Bảng tính toán phần dịch vụ-hecta-năm bị mất của san hô cứng (L) (Trang 102)
Bảng 21. Tính toán lƣợng gia tăng dịch vụ trên một ha của dự án đền bù (G) - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Bảng 21. Tính toán lƣợng gia tăng dịch vụ trên một ha của dự án đền bù (G) (Trang 104)
Bảng 23. Chi phí của toàn bộ dự án phục hồi san hô cứng - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Bảng 23. Chi phí của toàn bộ dự án phục hồi san hô cứng (Trang 108)
Bảng 24. Các thông số về khu vực bị tác động. - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Bảng 24. Các thông số về khu vực bị tác động (Trang 109)
Bảng 25: Bảng tính toán phần dịch vụ-hecta-năm bị mất của san hô cứng (L) - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Bảng 25 Bảng tính toán phần dịch vụ-hecta-năm bị mất của san hô cứng (L) (Trang 110)
Bảng 29. Chi phí toàn bộ dự án khôi phục san hô mềm - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Bảng 29. Chi phí toàn bộ dự án khôi phục san hô mềm (Trang 116)
Bảng 35. Chi phí toàn bộ dự án phục hồi cỏ biển - Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu
Bảng 35. Chi phí toàn bộ dự án phục hồi cỏ biển (Trang 123)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w