Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển, trong việc tạo ra các tài sản cố định, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh dịch vụ cho nền kinh tế.. Do vậy đầu tư xây dựng
Trang 1LUẬN VĂN:
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản tại tỉnh Hưng Yên
trong thời gian tới
Trang 2Lời mở đầu
Đầu tư phát triển là một hoạt động kinh tế có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Nhiều học giả đã nhận định đầu tư là chìa khoá của sự tăng trưởng kinh tế Đầu tư tác động đến mọi mặt của nền kinh tế Để phát triển kinh tế không thể thiếu đầu tư
Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển, trong việc tạo ra các tài sản cố định, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh dịch vụ cho nền kinh tế
Hưng Yên là một tỉnh mới được tái lập ngày (1/1/1997) được sự quan tâm của Nhà nước, sự lỗ lực và cán bộ và nhân dân trong tỉnh trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi thu hút nguồn vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tế Đặc biệt là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Thời gian qua tỉnh Hưng Yên đã đạt được một số thành tựu nhất định trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nhưng bên cạnh đó lĩnh vực này cũng bộc lộ những mặt hạn chế Do vậy để nâng cao hiệu quả đầu tư nói chung và đầu tư xây dựng cơ bản nói
riêng trong những năm tới, em xin chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu
quả đầu tư xây dựng cơ bản tại tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới"
Đề tài này ngoài phần mở đầu và kết luận còn nội dung chia làm ba phần
Chương I: Tổng quan về đầu tư xây dựng cơ bản
Chương II: Thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản Hưng Yên giai đoạn 1997-2000 Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản trong những năm tới
Chương I tổng quan về đầu tư xây dựng cơ bản
I Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản
Trang 3nói riêng, là điều kiện chủ yếu để tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội
Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế dân là một bộ phận của đầu tư phát triển Đây là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoat động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế Do vậy đầu
tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng Đầu tư xây dựng cơ bản
là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế xã hội, nhằm thu được lợi ích dưới nhiều hình thức khác nhau Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức như xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế
Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị) kết quả của các hoạt động xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định
Các hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng cơ bản :
- Khảo sát thiết kế: Đây là hoạt động có chức năng mô tả hình dáng kiến trúc, và nội dung kỹ thuật, nội dung kinh tế của công trình Đây là khâu đầu tiên trong xây dựng cơ bản
- Xây lắp là hoạt động trực tiếp tạo ra các sản phẩm xây dựng cơ bản bao gồm; nhà cửa, vật kiến trúc, công tác lắp đặt máy móc thiết bị, công tác sủa chữa lớn nhà cửa vật kiến trúc, công tác thăm dò, khảo sát phát sinh trong quá trình thi công
- Mua sắm máy móc thiết bị:
Đây là công tác mua sắm máy móc, dụng cụ cho sản xuất nghiên cứu hoặc thí nghiệm
2 Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển do vậy nó cũng mang những đặc điểm của đầu tư phát triển
Thứ nhất: Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi một khối lượng vốn, lao động, vật tư lớn Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư Vì vậy trong
Trang 4quá trình đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn, tránh lãng phí nguồn lực
Thứ hai: Thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư, cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra Cho nên phải
có kế hoạch quản lý tốt các nguồn lực đầu tư và đưa ra được nhữnh giải pháp cần thiết khắc phục được những bất chắc xảy ra
Thứ ba: Các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng nghìn năm thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế giới (Kim tự tháp cổ Ai cập, nhà thờ La mã ở Roma, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, tháp Ăngcovát ở Cămpuchia )
Thứ tư: Các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng, cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy tác dụng của kết quả đầu tư Vì vậy cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng, đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phải phù hợp với kế hoạch, quy hoạch, bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi
để khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng lãnh thổ
Thứ năm: hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Diễn ra không những chỉ trong phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau
Vì vậy khi tiến hành hoạt động này phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải quy định rõ phạm vi, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quá trình đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung, dân chủ trong hoạt đông đầu tư
3 Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân
Đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới Nó tác động đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như khoa học kỹ
Trang 5thuật, chính trị xã hội, an ninh quốc phòng Những tác động chủ yếu của đầu tư xây dựng
cơ bản trên góc độ sau:
3.1 Trên góc độ vĩ mô
3.1.1 Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến tổng cung và tổng cầu
- Về mặt tổng cầu:
Tổng cầu là tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà các tác nhân của nền kinh tế sẽ
sử dụng tương ứng với một mức giá cả đã cho trong một thời kỳ nhất định
Hàm tổng cầu được mô tả dưới dạng sau:
AD = C+I+G+X-IM
Trong đó: AD: là tổng cầu của nền kinh tế
C: là tiêu dùng của dân cư G: là tiêu dùng của chính phủ
X, IM: là giá trị xuất nhập khẩu I: là đầu tư
Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển do vậy sự tăng giảm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản đồng thời cũng kéo theo sự ảnh hưởng tới tổng mức đầu
tư
Trong hàm tổng cầu, đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn, theo số liệu của ngân hàng thế giới (WB) đầu tư thường chiếm tỷ trọng 24% đến 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả nước trên thế giới Đối với tổng cầu sự tác động của đầu tư là ngắn hạn Khi tổng cung chưa kịp thời thay đổi Khi đầu tư tăng sẽ làm đường tổng cầu dịch sang phải AD sang AD’ làm cho giá cả tăng lên từ P0 đến P1, nếu giá cả tăng quá cao sẽ gây ra tình trạng lạm phát, trong trường hợp lạm phát quá cao làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng trì trệ
Về mặt tổng cung: Tổng cung là toàn bộ khối lượng sản phẩm quốc dân mà các đơn
vị doanh nghiệp sẽ sản xuất và bán trong một thời kỳ nhất định tương ứng với một mức giá nhất định
Hàm tổng cung được mô tả dưới dạng sau đây:
Trang 6AS = f(R, L, K, T)
Trong đó: R là yếu tố đất đai
L: Là yếu tố lao động K: Là vốn đầu tư T: Khoa học kỹ thuật
Xét về mặt dài hạn khi vốn đầu tư được chuyển hoá thành hiện vật (K ) tạo ra tài sản
cố định cho nền kinh tế, tăng thêm năng lực sản xuất có nghĩa là tổng cung được tăng lên
AD’ AS
AD E1
E0 AS’
E2
Trên hình vẽ cho thấy khi (K) tăng lên sẽ làm cho AS dịch chuyển sang phải AS’, giá
cả giảm xuống từ P1 đến P2 Giá cả giảm cho phép tiêu dùng tăng, tăng tiêu dùng lại kích thích sản xuất phát triển Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản dể tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội
3.1.2 Đầu tư ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư tác động đến sự mất cân đối của ngành, lãnh thổ, thành phần kinh tế Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu để phát triển nhanh tốc độ mong muốn từ 9%-10%, thì phải tăng cường đầu tư tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch và dịch vụ
Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5%-6% là một điều khó khăn Như vậy chính
P1
P 0
P2
Q0 Q1 Q2
Trang 7sách đầu tư ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Do vậy các ngành, các địa phương trong nền kinh tế cần phải lập kế hoạch đầu
tư dài hạn để phát triển ngành, vùng đảm bảo sự phát triển cân đối tổng thể, đồng thời có kế hoạch ngắn và trung hạn nhằm phát triển từng bước và điều chỉnh sự phù hợp với mục tiêu đặt ra
3.1.3 Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đế sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy muốn giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế
ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15-20% so với GDP tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của mỗi nước
3.1.4 Đầu tư xây dựng cơ bản tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế
Tác động trực tiếp nàyđã làm cho tổng tài sản của nền kinh tế quốc dân không ngừng được gia tăng trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thuỷ lợi, các công trình công cộng khác, nhờ vậy mà năng lực sản xuất của các đơn vị kinh tế không ngừng được nâng cao Sự tác động này có tính dây chuyền của những hoạt động kinh
tế nhờ đầu tư xây dựng cơ bản Chẳng hạn như chúng ta đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thông điện nước của một khu công nghiệp nào đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế sẽ đầu tư mạnh hơn vì thế sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nhanh hơn
Trang 83.1.5 Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước
Có hai con đường để phát triển khoa học công nghệ, đó là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ, hoặc bằng việc chuyển giao công nghệ Muốn làm được điều này chúng ta phải
có một khối lượng vốn đầu tư mới có thể phát triển khoa học công nhệ
Với xu hướng quốc tế hoá đời sống như hiện nay, chúng ta nên tranh thủ hợp tác phát triển khoa học công nghệ với nước ngoài để tăng tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước thông qua nhiều hình thức như hợp tác nghiên cứu, khuyến khích đầu tư chuyển giao công nghệ Đồng thời tăng cường khả năng sáng tạo trong việc cải thiện công nghệ hiện có phù hợp với điều kiện của Việt nam
3.1.6 Tác động đến sự ổn đinh kinh tế tạo công ăn việc làm cho người lao động
Sự tác động không động thời về mặt thời gian của đầu tư do ảnh hưởng của tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư dù là tăng hay giảm cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế Thí dụ như khi đầu tư tăng làm cho cầu các yếu tố liên quan tăng, tăng sản xuất của các ngành, sẽ thu hút thêm lao động nâng cao đời sống Mặt khác đầu tư tăng, cầu của các yếu tố đầu vào tăng, khi tăng đến một chừng mực nhất định sẽ gây ra tình trạng lạm phát, nếu lạm phát mà lớn sẽ gây ra tình trạng sản xuất trì trệ, thu nhập của người lao động thấp đi, thâm hụt ngân sách tăng, kinh tế phát triển chậm lại
Do vậy khi điều hành nền kinh tế, Nhà nước phải đưa ra được những chính sách để khắc phục những nhược điểm trên
Đầu tư xây dựng cơ bản có tác động rất lớn đến việc tạo công ăn việc làm, nâng cao trình độ đội ngũ lao động Như chung ta đã biết trong khâu thực hiện đầu tư thì số lao động phục vụ cần rất nhiều, đối với những dự án sản xuất kinh doanh thì sau khi đầu tư dự án đưa vào vận hành phải cần không ít những công nhân, cán bộ cho vận hành, khi đó tay nghề của người lao động được nâng cao, đồng thời các cán bộ học hỏi được những kinh nghiệm trong quản lý đặc biệt khi có các dự án nước ngoài
3.2 Trên góc độ vi mô
Trang 93.2.1 Đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của các đơn vị sản xuất kinh doanh
Để đạt được mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh của mình thì các Doanh nghiệp cần tạo dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị trên nền bệ và thực hiện chi phí thường xuyên khác gắn liền với sự hoạt động của cơ sở Đối với các cơ sở xây dựng mới, còn đối với đơn vị có cơ sở vật chất
kỹ thuật lạc hậu, hư hỏng, để duy trì được hoạt động bình thường thì cần phải cải tạo sửa chữa, thay mới cho thích ứng với sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội
3.2.2 Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có tác động làm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường quy luật cung cầu, quy luật giá trị, Đây là những quy luật thống trị nền kinh tế Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thì việc tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp để tăng khả năng cạnh tranh với các đơn vị kinh doanh khác thì chủ thể kinh tế phải có chiến lược đầu tư thích đáng vào việc hiện đại hoá công nghệ, máy móc thiết bị và nâng cao tay nghề của người lao động Đây cũng là điều kiện để chuyên môn hoá
và vật liệu Việc điều hành sản xuất trong nhà máy xí nghiệp có sự thay đổi nhiều, các bộ phận điều hành sản xuất luôn làm việc bên máy vi tính điện tử Yêu cầu đặt ra cho bất kỳ cơ
sở nào cũng phải quan tâm đầu tư thích đáng việc nâng cao năng lực quản lý của mình
II Vốn đầu tư xây dựng cơ bản :
1 Khái niệm
Trang 10Trong nền kinh tế thị trường, việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định, là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi chủ thể kinh tế Để thực hiện được điều này các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ tích luỹ các nguồn lực Khi các nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tư
Vậy vốn đầu tư là gì? Đó chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào
sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị,
và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán
2 Nguồn hình thành vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn sau:
Vốn đầu tư được hình thành từ các nguồn trong nước Đây là nguồn vốn có vai trò quyết định tới sự phát triển kinh tế của đất nước Nguồn này chiếm tỉ trọng lớn nó bao gồm
từ các nguồn sau
- Vốn ngân sách Nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, được hình thành từ sự tích luỹ của nền kinh tế, vốn khấu hao cơ bản và một số nguồn khác dành cho đầu tư xây dựng cơ bản
- Vốn tín dụng đầu tư (do ngân hàng đầu tư phát triển và quỹ hỗ trợ phát triển quản
lý bao gồm vốn của nhà nước chuyển sang, vốn huy động từ các đơn vị kinh tế và các tầng lớp dân cư trong nước dưới các hình thức, vốn vay dài hạn của các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế và người Việt nam ở nước ngoài
- Vốn của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế
Vốn nước ngoài: Nguồn này có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Nguồn này bao gồm:
Trang 11-Vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế như WB, ADB các tổ chức chính phủ như JBIC(OECF), các tổ chức phi chính phủ Đây là nguồn (ODA)
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thông qua hình thức 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh,
3 Nội dung của vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Nội dung của vốn đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các khoản chi phí gắn liền với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nội dung này bao gồm:
Vốn cho xây dựng và lắp đặt: Bao gồm:
- Vốn cho hoạt động chuẩn bị xây dựng và chuẩn bị mặt bằng
- Những chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình, nhà xưởng, văn phòng làm việc, nhà kho, bến bãi
- Chi phí cho công tác lắp đặt máy móc, trang thiết bị vào công trình và hạng mục công trình
- Chi phí để hoàn thiện công trình
Vốn mua sắm máy móc thiết bị: Đó là toàn bộ các chi phí cho công tác mua sắm và vận chuyển bốc dỡ máy móc thiết bị được lắp vào công trình Vốn mua sắm máy móc thiết
bị được tính bao gồm giá trị máy móc thiết bị, chi phí vận chuyển bảo quản bốc dỡ, gia công, kiểm tra trước khi giao lắp những công cụ dụng cụ
Vốn kiến thiết cơ bản khác bao gồm:
- Chi phí kiến thiết cơ bản được tính vào giá trị công trình như chi phí cho tư vấn đầu tư, đền bù, chi phí cho quản lý dự án, bảo hiểm, dự phòng, thẩm định
- Các chi phí kiến thiết tính vào tài sản lưu động, bao gồm chi phí cho mua sắm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định hoặc chi phí cho đào tạo
- Những chi phí kiến thiết cơ bản khác được Nhà nước cho phép không tính vào giá trị công trình (do ảnh hưởng của thiên tai, những nguyên nhân bất khả kháng)
4 Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Trang 12Tuỳ theo từng mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản thành các tiêu thức khác nhau Nhưng nhìn chung các cách phân loại này đều phục vụ cho công tác quản lý tốt hơn đối với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
Ta có thể xem xét một số cách phân loại sau đây:
Theo nguồn vốn: Gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư, vốn của các
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ; vốn vay nước ngoài, vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài, vốn của dân
Theo cách này chúng ta thấy được mức độ đã huy động của từng nguồn vốn, vai trò của từng nguồn để từ đó đưa ra các giải pháp huy động và sử dụng nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản có hiệu quả hơn
Theo hình thức đầu tư: gồm vốn đầu tư xây dựng mới, vốn đầu tư khôi phục, vốn đầu tư mở rộng đổi mới trang thiết bị theo cách này cho ta thấy cần phải có kế hoạch bố trí nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản như thế nào cho phù hợp với điều kiện thực tế và tương lai phát triển của các ngành của các cơ sở
Theo nội dung kinh tế :
- Vốn cho xây dựng, lắp đặt
- Vốn cho mua sắm máy móc thiết bị
- Vốn kiến thiết cơ bản khác
Như vậy hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng Để phân tích cụ thể vai trò hoạt động này chúng ta phải sử dụng các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
III Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
1 Chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
Kết quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản được thể hiện ở khối lượng vốn đầu tư thực hiện, ở các tài sản cố định được huy động hoặc năng lực sản xuất kinh doanh, dịch vụ tăng thêm
Trang 131.1 Chỉ tiêu khối lượng vốn đầu tư thực hiện
Đó là tổng số tiền đã chi để tiến hành hoạt động của các công cuộc đầu tư bao gồm : Chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhà cửa cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị máy móc để tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác theo quy định của thiết
kế dư toán và được ghi trong dự án đầu tư được duyệt
Phương pháp tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện
Đối với công tác đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện đầu tư ngắn thì số vốn đầu tư được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện khi toàn bộ công việc của quá trình thực hiện đầu tư kết thúc
Đối với công cuộc đầu tư quy mô lớn thời gian thực hiện đầu tư kéo dài thì vốn đầu tư được tính cho từng giai đoạn, từng hoạt động của một công cuộc đầu tư đã hoàn thành
Đối với công cuộc đầu tư do ngân sách tài trợ để tính số vốn đã chi để được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện thì các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư phải đạt tiêu chuẩn và tính theo phương pháp sau đây
- Vốn cho công tác xây dựng: Để tính chỉ tiêu này người ta phải căn cứ vào bảng đơn giá dự toán quy định của Nhà nước và căn cứ vào khối lượng công tác xây dựng hoàn thành
Iv c = Q xi P i + C in + W
Trong đó: Qxi là khối lượng công tác xây dựng hoàn thành
Pi là đơn giá dự toán
Cin là chi phí chung
W là lãi định mức
Khối lượng công tác hoàn thành phải đạt các tiêu chuẩn sau:
* Khối lượng này phải có trong thiết kế dự toán, đã được phê duyệt phù hợp với tiến
độ thi công
* Đã cấu tạo vào thực thể công trình
Trang 14* Đã đảm bảo chất lượng quy định
* Đã hoàn thành đến giai đoạn hoàn thành quy ước ghi trong tiến độ đầu tư
* Được cơ quan tài chính chấp nhận thanh toán
Đối với công tác lắp đặt máy móc, thiết bị: Phương pháp tính khối lượnng vốn đầu tư thực hiện cũng tính tưng tự như đối với công tác xây dựng
Iv l = Q li P i + C in + W
- Mức vốn đầu tư thực hiện đối với công tác mua sắm trang thiết bị máy móc máy móc cần lắp, được xác định bằng giá mua cộng với chi phí vận chuyển đến địa điểm tiếp nhận, chi phí bảo quản cho đến khi giao lắp từng bộ phận (đối với thiết bi lắp phức tạp) hoặc cả chiếc máy đối với thiết bị lắp giản đơn Mức vốn đầu tư thực hiện đối với công tác mua sắm trang thiết bị máy móc cần lắp được xác định giá mua cộng với chi phí vận chuỷên đến kho của đơn vị sử dụng và nhập kho
-Đối với công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác
* Nếu có đơn giá thì áp dụng phương phát tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện như đối với công tác xây lắp
* Nếu chưa có đơn giá thì được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện theo phương pháp thực chi, thực thanh
1.2 Tài sản cố định huy động và năng lực sản suất phục vụ tăng thêm
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượng xây dựng cố khả năng phát huy tác dụng độc lập ( làm gia sản phẩm hàng hàng hoá, hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ cho xã hội được ghi trong dự án đầu tư ) đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm song thủ tục nghiệm thu sử dụng có thể đưa vào hoạt động được ngay
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất phục vụ của các tài sản cố định đã được huy động để sản xuất sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ khác được ghi trong dự án đầu tư
Đối với công cuộc đầu tư quy mô lớn, có nhiều đối tượng hạng mục xây dựng cố khả năng phát huy tác dụng độc lập thì được áp dụng hình thức huy động bộ phận sau khi
Trang 15từng đối tượng hạng mục đã kết thúc quá trình xây dựng , mua sắm, lắp đặt Còn đối với công cuộc đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện đầu tư ngắn thì áp dụng hình thức huy động toàn bộ khi tất cả đối tượng, hạng mục công trình đã kết thúc quá trình xây dựng mua sắm và lắp đặt Các tài sản cố định được huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm
là sản phẩm cuối cùng của công cuộc đầu tư xây dựng cơ bản, được thể hiện qua hai hình thái giá trị và hiện vật
- Đối với chỉ tiêu biểu hiện bằng hiện vật như (số lượng nhà ở, bệnh viện, trường học, nhà máy ) Công suất hoặc năng lực phát huy tác dụng của các tài sản cố định được huy động (số căn hộ số m2 nhà ở, số giường nằm của bệnh viện, số km đường giao thông
Để đánh giá toàn diện của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản chúng ta không những dùng chỉ tiêu kết quả mà chúng ta phải sử dụng chỉ tiêu hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng
cơ bản
2 Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
Tuỳ vào cấp độ quản lý và mục đích sử dụng các kết quả để tính toán trong đầu , cho nên cần phải phân biệt hiệu qủa tài chính hay hiệu quả kinh tế - xã hội Hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có thể được phản ánh ở hai góc độ:
Dưới góc độ vi mô hiệu quả là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra của dự
án, đó chính là lợi nhuận mà dự án mang lại Lợi nhuận là động lực hấp dẫn nhất của chủ đầu tư
Hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản dưới góc độ vĩ mô được hiểu như sau: Hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là tỷ lệ giữa thu nhập quốc dân so với mức vốn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất vật chất hoặc mức vốn đáp ứng được nhiệm vụ kinh tế xã hội, chính trị
Hiệu quả =
Các kết quả thực hiện đầu tư Tổng vốn đầu tư thực hiện Đây là chỉ tiêu tổng quát phản ánh ảnh hưởng sự đầu tư xây dựng cơ bản tới nền kinh tế
2.1 Hệ số ICOR (tỷ suất vốn đầu tư)
Trang 16ICOR =
K
GDP Trong đó: K mức gia tăng vốn đầu tư
GDP mức gia tăng GDP
Hệ số này cho biết muốn tăng được 1% giá trị tổng sản phẩm trong nước (GDP) thì cần phải đầu tư thêm bao nhiêu % vốn đầu tư Chỉ tiêu này chỉ có tính tương đối, bởi vì hiệu quả đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố như chính sách phát triển kinh tế của đất nước và độ trễ thời gian của đầu tư Chỉ tiêu nầy thường đánh giá hiệu quả đầu tư ở phạm vi rộng như tỉnh, thành phố, quốc gia
Để phản ánh hiệu quả đầu tư của dự án chúng ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
2.2 Chỉ tiêu thu nhập thuần (NPV)
NPV = (Bi- Ci ) x
1 (1+r)i
NPV: Thu nhập thuần của dự án là thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi tất cả các khoản chi phí của cả đời dự án, nó phản ánh quy mô lãi của cả đời dự án
Bi : là thu nhập năm thứ i của dự án đầu tư
Ci : là chi phí của dự án vào năm thứ i
Dự án được chấp nhận khi NPV> 0
2.3 Hệ số hoàn vốn nội bộ ( IRR)
Là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của vốn đầu tư Nó là mức lãi suất mà khi dùng nó để tính chuyển các khoản tiền phát sinh về cùng mặt bằng hiện tại thì tổng số thu bằng tổng số chi Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:
IRR = r1 +
NPV1 .( r2-r1)
NPV 1 - NPV 2
Trang 17Trong đó: r1 mức lãi suất để có NPV> 0
r2 mức lãi suất để có NPV< 0
r2> r1( r2- r1< 5%)
Dự án được chấp nhận khi IRR>= r định mức
2.4 Thời hạn thu hồi vốn (T)
Thời hạn thu hồi vốn đầu tư là khoảng thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu hồi
đủ số vốn đầu tư đã bỏ ra, chỉ tiêu này được xác định cho từng năm và có thể tính cho cả đời
dự án Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn bình quân
T =
Iv0
Wpv
Trong đó: T : Thời hạn thu hồi vốn đầu tư bình quân
Iv0: Vốn đầu tư ban đầu
Wpv: Lợi nhuận bình quân cả đời dự án
f: là tổng định phí
p: là giá bán cho một đơn vị sản phẩm v: là biến phí cho một đơn vị sản phẩm
Ta có thể mô tả điểm hoà vốn bằng đồ thị sau:
O: đây là điểm hoà vốn của dự án A: là điểm chưa thu hồi đủ vốn B: là điểm dự án đã mang lại lợi nhuận
Trang 18
0 x
2.6 Hiệu quả kinh tế xã hội
Phần trên là một số chỉ tiêu phản ánh hiệụ quả tài chính của dự án đầu tư Nhưng để thấy rõ vai rò của đầu tư thì chúng ta phải phân tích hiệu quả kinh tế xã hội mà dự án đem lại Bởi vì không phải bất cứ hoạt động đầu tư nào có khả năng sinh lời cao đều mang lại ảnh hưởng tốt với nền kinh tế Do vậy trên góc độ quản lý vĩ mô phải xem xét mặt kinh tế
xã hội do thực hiện đầu tư đem lại Điều này giữ vai trò quyết định để các cấp có thẩm quyền cháp nhận dự án và quyết định đầu tư, các định chế tài chính quốc tế, các cơ quan viện trợ song phương và đa phương tài trợ cho hoạt động đầu tư
Lợi ích kinh tế xã hội của đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh tế xã hội thu được so với đóng góp mà nền kinh tế và xã hội phải bỏ ra khi thực hiên đầu tư
Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của đầu tư với việc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế những sự đóng góp này có thể được xét mang tính chất định tính hoặc đo lường bằng các tính toán định lượng
Chi phí mà xã hội phải bỏ ra của dự án bao gồm toàn bộ các tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, sức lao động mà xã hội dành cho đầu tư thay vì sử dụng các công việc khác trong tương lai
A O
B
Q
P
Trang 19Khi phân tích hiệu quả kinh tế xã hội phải tính đầy đủ các khoản thu chi, xem xét và điều chỉnh các khoản thu chi mang tính chuyển khoản, những tác động dây chuyền nhằm phản ánh đúng những tác động của dự án
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế- xã hội của dự án đầu tư xem xét ở tầm vĩ mô
- Giá trị gia tăng ròng ký hiệu là NVA
Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư NVA là mức chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào (đầu vào chỉ tính chi phí vật chất không tính chi phí về lao động)
NVA = O – (MI + Iv)
O: Giá trị đầu ra
MI: Chi phí thường xuyên
Iv :Vốn đầu tư ban đầu
- Chỉ tiêu lao động có việc làm của dự án: Được tính bằng số lao động trực tiếp trong
dự án cộng với số lao động tăng thêm của các dự án có liên quan trừ đi số lao động bị mất tại các dự án
- Mức tiết kiệm ngoại tệ: Để tính chỉ tiêu này chúng ta phải tính được các khoản thu chi ngoai tệ của dự án và các dự án liên đới, cùng với số ngoại tệ tiết kiệm được do sản xuất thay thế hàng xuất khẩu, sau đó quy đồng tiền về cùng mặt bằng thời gian để tính được
số ngoại tệ do tiết kiệm từ dự án
- Chỉ tiêu giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư (những người có vốn hưởng lợi tức, những ngời làm công ăn lương , Nhà nước thu thuế ) Chỉ tiêu này phản ánh các tác động điều tiết thu nhập giữa các nhóm dân cư hoặc các vùng lãnh thổ Để xác định chỉ tiêu này, trước hết phải xác định được nhóm dân cư hợc vùng lãnh thổ được phân phối giá trị tăng thêm (NNVA giá trị thu nhập thuần thuý quốc gia) của dự án, tiếp đến xác định được phần giá trị tăng thêm do dự án tạo ra mà nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ thu được Cuối cùng tính chỉ tiêu tỷ lệ gia tăng của mỗi nhóm dân cư hoặc mỗi vùng lãnh thổ thu được trong tổng giá trị gia tăng ở năm hoạt động bình thường của dự án, so sánh tỷ lệ của các nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ với nhau sẽ thấy được tình hình phân phối giá trị gia tăng do dự án tạo
ra giữa các nhóm dân cư hoặc các vùng lãnh thổ trong nước
Trang 20- Các chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế: Chỉ tiêu này cho phép đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm do dự án sản xuất ra trên thị trường quốc tế ngoài ra còn có thể đánh giá những tác động khác của dự án như ảnh hưởng tới môi trường, đến kết cấu hạ tầng
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội ở tầm vi mô:
- Mức đóng góp cho ngân sách
- Mức tiết kiệm ngoại tệ
- Số lao động có việc làm trực tiếp của dự án
- Mức tăng năng suất lao động của người lao động làm việc trong dự án
- Mức nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, trình độ quản lý của cán bộ
Trang 21Chương II Thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản Hưng Yên giai đoạn 1997-2000
I Đặc điểm tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế xã hội
1 Đặc điểm tự nhiên
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng Sông Hồng, được tái lập từ 01/01/1997, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hải Dương) Đặc điểm tự nhiên không có biển và đồi núi tiếp giáp với 6 tỉnh là: Nà Nội Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương Toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính, 9 huyện (Kim Động, Mỹ Hào, Văn Giang, Văn Lâm, Khoái Châu, Phủ Cừ, Tiên Lữ, Yên Mỹ), một thị xã Thị xã Hưng Yên là một trung tâm văn hoá, chính trị của tỉnh đã từng vang tiếng một thời
“thứ nhất kinh kỳ thứ nhì Phố Hiến” Tỉnh lỵ Hưng Yên đặt tại thị xã Hưng Yên, cách Hà Nội 64 km, cách Thành Hải Dương 48 km và quốc lộ 1 khoảng 20 km Là một tỉnh đất chật người đông, diện tích tự nhiên 890 km2, dân số 1,1 triệu người, mật độ dân số trung bình
1227 người/km2
Hưng Yên là một tỉnh thuần nông 80% dân số làm nông nghiệp, không có biển và đồi núi nhưng có nhiều sông ngòi như sông Hồng, sông Thái Bình và hệ thống sông nội đồng khác Cũng như các tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Hồng, Hưng Yên chịu ảnh hưởng của nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, nhiều nắng và có mùa đông giá lạnh
Về tài nguyên thiên nhiên: Hưng Yên có một tài nguyên đất nông nghiệp phong phú, màu mỡ Diện tích đất nông nghiệp khoảng 62000 ha Tài nguyên nước ngọt dồi dào do nằm trong hệ thống sông Hồng Tuy nhiên, Hưng Yên lại có rất ít khoáng sản, khoáng sản chủ yếu là nguồn cát đen ven sông Hồng và nguồn than nâu ( khoảng 30 tỷ tấn) phân bố ở độ sâu trung bình từ 600 đến 1000m, khó khai thác
Về tài nguyên nhân văn: Hưng Yên là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử nổi tiếng, đặc biệt là quần thể di tích Đa Hoà- Dạ Trạch( Khoái Châu) thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung, khu di tích phố Hiến, khu tưởng niệm lương y Hải Thượng Lãn Ông và hàng trăm di tích đã
Trang 22được xếp hạng Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng có lịch sử phát triển lâu dài Hưng Yên là một tỉnh có dân số đông, dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao khoảng 46% dân số của tỉnh
2 Tình hình kinh tế xã hội:
Trước năm 1997, Hưng Yên được hợp nhất với tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng (cũ) Trong gần 30 năm(1968-1996) nằm trong đơn vị hành chính chung với Hải Dương, khu vực Hưng Yên không được quan tâm đầu tư cho phát triển kinh tế Vì thế nền kinh tế của Hưng Yên phát triển rất chậm chạp, cơ cấu kinh tế lạc hậu Cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ năm 1996 (15% - 60%- 25%) Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp và luôn thấp hơn mức trung bình của toàn quốc
Ngành công nghiệp của Hưng Yên khi mới tái lập tỉnh rất nhỏ bé, chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh có thiết bị công nghệ lạc hậu, cũ kĩ với quy mô nhỏ hoạt động kém hiệu quả
Ngành nông nghiệp, cây lương thực chiếm một tỷ trọng lớn, ruộng đồng manh mún, lao động thủ công là chủ yếu, năng suất cây trồng không cao
Dịch vụ thương mại kém phát triển, thông tin liên lạc lạc hậu, cơ sở hạ tầng xuống cấp nghiêm trọng, hầu hết đường giao thông tỉnh và huyện là đường đá chưa trải nhựa Giao thông xuống các vùng trong địa bàn tỉnh rất khó khăn, hệ thống điện nước thiếu thốn, cơ sở vật chất trường học, bệnh viện, trạm xá xuống cấp nghiêm trọng
Để phát huy tiềm năng, tạo cơ sở thúc đẩy phát triển kinh tế, tỉnh Hưng Yên được tái lập vào ngày 1/1/1997 Sau hơn bốn năm tái lập tỉnh đến nay Nhờ sự giúp đỡ của trung ương, sự nỗ lực của cán bộ và nhân dân, với chủ trương chính sách phát huy mọi tiềm năng
và thế mạnh của tỉnh, trong đó tập trung lớn đầu tư vào xây dựng cơ bản Hưng Yên đã đạt được những thành tựu đáng kể
Ta có thể thấy rõ điều này qua bảng sau:
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội tỉnh Hưng Yên giai đoạn 1997-2000
Trang 23100 51,22 22,0 26,78
100 45,16 25,94 28,90
Nguồn: Niên giám thống kê Hưng Yên
Qua bảng số liệu cho thấy Hưng Yên có tốc độ tăng trưởng rất cao, năm 1997 là 13,59%, năm 1998 là 10,19%, năm 1999 là 14,19%, năm 2000 là 12% Trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước tương ứng (8,15%; 5,8%; 4,8%;6,7%) Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến đáng kể với xu hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế Thu nhập bình quân đầu người cũng tăng đáng kể từ 204USD-đến 300 USD vào năm 2000 theo giá quy đổi bình quân
Đến cuối năm 2000 số đường tỉnh đã được trải nhựa 60%, 80% cơ sở trường học phổ thông được xây dựng kiên cố Hệ thống bệnh viện trạm xá nâng cấp Tỉnh đã thành lập 3 cụm công nghiệp là (Như quỳnh, Phố nối và thị xã Hưng Yên) Đã thu hút được các nguồn vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế Đến hết năm 2000 Hưng Yên đã thu hút được 35 dự
án lớn, đặc biệt đã thu hút được 8 dự án đầu tư nước ngoài, 27dự án đầu tư của ngoại tỉnh với tổng số vốn đăng ký là 130 triệu USD , đến nay đã có 4 dự án đầu tư nước ngoài và 12
dự án đầu tư ngoại tỉnh đi vào hoạt động Vốn thực hiện 70 triệu USD, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng lên rất nhanh từ 605 tỷ đông năm 1997 lên 2.300 tỷ đồng năm 2000 Đời sống của nhân dân trong tỉnh ngày càng được nâng cao Những thành tựu trên nhờ một phần lớn tác dụng của đầu tư xây dựng cơ bản Để thấy rõ vấn đề này, trước tiên chúng ta xem xét nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Hưng Yên thời kỳ 1997-2000
II Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản của Hưng Yên thời kỳ 1997-2000
Trang 243 Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thời kỳ 1997-2000
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đóng vai trò hết sức qua trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi một quốc gia nói chung và mỗi địa phương nói riêng Hoạt động này tạo ra cơ sở hạ tầng: Đường giao thông, bưu điện, trường học và các tiềm lực vật chất phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất như : máy móc thiết bị, nhà xưởng Do đó vốn đầu tư xây dựng cơ bản luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của xã hội và được hình thành chủ yếu từ các nguồn: vốn Ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng ưu đãi, vốn huy động của các doanh nghiệp, vốn đóng góp của nhân dân, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong đó vốn ngân sách Nhà nước chiếm vị trí quan trọng trong nguồn vốn đầu tư xây dựng
cơ bản của cả nước
Là một tỉnh mới được tái lập (01/01/1997), nên hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của tỉnh, tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng nhanh chóng cùng các điạ phương khác phát triển trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh rất phong phú, đa dạng Quy
mô của vốn đầu tư lớn, năm 1997 là 280,13 tỷ đồng, năm 1998 là 219,765 tỷ đồng, năm
1999 là 389,126 tỷ đồng, năm 2000 là 405,31 tỷ đồng
Trong các năm vừa qua, Nhà nước đã đầu tư cho tỉnh với khối lượng vốn khá lớn nhằm xây dựng trụ sở làm việc, trường học, đường giao thông, tạo các tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tỉnh Vốn đầu tư của tỉnh giai đoạn 1997-2000 như sau: (Bảng 2)
- Vốn NSNN: Bao gồm NSNN cấp cho tỉnh quản lý chi cho đầu tư xây dựng cơ bản,
và vốn NSNN trực tiếp đầu tư cho các công trình trọng điểm thuộc phạm vi Nhà nước quản
lý Đây là các công trình lớn có tính chất kỹ thuật phức tạp Do vậy Nhà nước phải quản lý
để đảm bảo sự phù hợp với vai trò và chức năng, nhiệm vụ của mình
- Khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn NSNN năm 1997 là 165,542 tỷ đồng, năm 1998 là 95,569 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng tương ứng là 59,1% và 43,5% Năm 1999
là 160,75 tỷ đồng, chiếm 41,3%, mặc dù năm 1999 khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
từ NSNN tăng lên về quy mô song về tỷ trọng lại giảm hơn so với năm 1998 Đến năm 2000 khối lượng vốn NSNN dành cho đầu tư xây dựng cơ bản là 185,26 tỷ đồng, chiếm 49,6% + Vốn tín dụng ưu đãi: Đây là nguồn huy động của các tổ chức tín dụng để dành cho đầu tư xây dựng cơ bản Nguồn này chiếm tỷ trọng không cao nhưng đóng vai trò quan
Trang 25trọng trong đầu tư xây dựng cơ bản Nguồn vốn này thường để bù đắp vào các công trình
do thiếu hụt khi NSNN chưa kịp thời bổ sung để đảm bảo tiến độ dự án hoặc vay trực tiếp
để đầu tư
+ Vốn doanh nghiệp : Nếu như năm 1997 và 1998 khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ chiếm 50,651 tỷ đồng và 59,530 tỷ đồng, với tỷ trọng tương ứng là 19,8% và 29,5% Năm 1999 và 2000 khối lượng vốn huy động từ các doanh nghiệp mạnh, năm 1999 là 164,76 tỷ đồng và năm 2000 là 145,380 tỷ đồng, với tỷ trọng chiếm tương ứng là 42,3% và 35,9%
+ Nguồn vốn khác: Đây là nguồn vốn của nhân dân đóng góp để bổ sung cho hệ thống giao thông nông thôn, kiên cố hoá kênh mương nội đồng Nguồn vốn này kết hợp với nguồn vốn của Nhà nước để xây dựng kết cấu hạ tầng tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Trong quá trình phát triển kinh tế nguồn vốn nước ngoài có vị trí quan trọng, nguồn vốn này thường đầu tư vào phát triển ngành công nghiệp của cả nước nói chung và Hưng Yên nói riêng Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 8 dự án đầu tư nước ngoài, trong đó có 4 dự án đã đi vào hoạt động như công ty liên doanh LG-Sel, liên doanh sản xuất phụ tùng ô tô xe máy, liên doanh sản xuất mút xốp, liên doanh sản xuất nước khoáng
Mặc dù khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của khu vực này chiếm tỷ trọng nhỏ
so với tổng số vốn đầu tư đăng ký Song các công ty này đóng góp giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất của tỉnh, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội lớn
Nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, cùng với Quảng Ninh, Hải Phòng, trong những năm qua Hưng Yên đã tạo được những bước phát triển quan trọng nhờ vào việc chuyển đổi cơ cấu đầu tư và thu hút một nguồn vốn đầu tư vào phát triển kinh
tế
Trang 272 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo ngành kinh tế quốc dân
Đánh giá tình hình thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo ngành kinh tế, giúp cho chúng ta thấy được quy mô khối lượng phân bổ vào các ngành kinh tế như thế nào, để
từ đó đánh giá được sự ảnh hưởng của các ngành tới sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói riêng và của đất nước nói chung (Bảng 3)
Ngành nông nghiệp, thuỷ lợi: Như chúng ta đã biết 80% dân số của Hưng Yên sống
bằng nghề nông, diện tích đất nông nghiệp là 62.000 ha Cùng với chiến lược phát triển chung của đất nước, trong mấy năm gần đây là đầu tư mạnh cho nông nghiệp
Ngành nông nghiệp và thuỷ lợi của Hưng Yên cũng được đầu tư đáng kể so với thời
kỳ chưa tái lập tỉnh Khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung cho ngành nông nghiệp, thuỷ lợi, năm 1997 là 37,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 13,3%; năm 1998 giảm hơn, từ năm 1999 đến 2000 có xu hướng tăng Năm 1999 là 39,98 tỷ đồng, chiếm 10,3%; năm 2000
là 39,24 tỷ đồng, chiếm 9,7% Tổng khối lượng vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp, thuỷ lợi bao gồm cả vốn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương quản lý khoảng 140 tỷ đồng thời kỳ 1997 – 2000 Trong đó vốn ngân sách trung ương quản lý đầu tư vào các công trình trọng điểm như kênh dẫn nước Bắc Hưng Hải, dự án Văn Lâm Văn Giang, duy tu bảo dưỡng đê điều, kè đập Ngân sách địa phương quản lý đầu tư vào việc xây dựng các trạm bơm, kênh dẫn nước nhỏ, trạm bảo vệ thực vật, trạm thú y Đến nay đã có khoảng 40 trạm bơm công suất từ 2x2500 – 12x2500m3/h được xây dựng và kiên cố được khoảng 200km kênh mương nội đồng Đây là điều kiện quan trọng để phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên
Ngành công nghiệp, xây dựng: là ngành có khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
tương đối lớn trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh Năm 1997 là 40,825tỷ đồng, chiếm 14,6%; năm1998 là 35,181tỷ đồng, chiếm 16%; năm 1999 là 56,257 tỷ đồng, chiếm 14,5%; năm 2000 là 61,243 tỷ đồng, chiếm 15,1% tổng khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong các ngành kinh tế
Với xu hướng tăng dần của vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong thời kỳ 1997 – 2000, tỷ trọng của vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong ngành công nghiệp giữ ở vị trí tương đối ổn định Xét về mặt tổng thể cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành công nghiệp là hợp
lý Hưng Yên đang có những chính sách thu hút vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế
Trang 28trong và ngoài nước, để từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hoá, hoà nhập cùng với xu hướng phát triển kinh tế của đất nước
Một thực tế cho thấy ở Hưng Yên 80% dân số làm nông nghiệp, sự tích luỹ trong dân rất thấp, hơn nữa sự hiểu biết về kinh tế thị trường của người dân còn hạn chế Do vậy việc xây dựng doanh nghiệp của người dân Hưng Yên chưa nhiều Hưng Yên là một tỉnh nghèo tổng chi ngân sách thường lớn gấp 2 - 3 lần tổng thu, các doanh nghiệp quốc doanh của địa phương có quy mô nhỏ bé, hơn nữa cũng chưa được đầu tư thích đáng vào cải tạo, thay thế máy móc thiết bị nên làm ăn không mấy hiệu quả
Nhờ vị trí thuận lợi, Hưng Yên nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Bắc bộ, với lợi thế 23 km đường 5A trên địa bàn tỉnh, cùng với chính sách thu hút đầu tư có hiệu quả, Hưng Yên đã thu hút được 8 dự án đầu tư nước ngoài và 27 dự án đầu tư của ngoại tỉnh Đây là các dự án tập trung vào phát triển ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài mặc dù có ít dự án nhưng khối lượng vốn đầu tư đăng kí thực hiện lại chiếm tỷ trọng khá lớn và đầu tư vào những ngành có trình độ khoa học công nghệ cao như sản xuất lắp giáp ti vi, sản xuất lắp giáp phụ tùng ô tô, xe máy Các doanh nghiệp ngoài tỉnh đầu tư vào Hưng Yên trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng như may mặc, đồ nội thất, đồ uống Đây là lĩnh vực không kém phần quan trọng để khai thác tiềm năng và thế mạnh của tỉnh về lao động, sản phẩm từ nông nghiệp
Ngành vận tải kho bãi, thông tin liên lạc: Hưng Yên là một tỉnh nghèo, cơ sở hạ tầng
yếu kém, mấy năm gần đây nhờ sự giúp đỡ của trung ương và các tổ chức quốc tế Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho ngành này thời kỳ 1997 – 2000 chiếm tỷ trọng tương đối lớn Các dự án của trung ương quản lý trên địa bàn tỉnh là quốc lộ 5A và dự án xây dựng cầu Chiều Dương nối liền Hưng Yên với Thái Bình, phát triển ngành bưu điện Nguồn vốn cho xây dựng cơ bản của ngành này chủ yếu là nguồn từ ngân sách Nhà nước, nguồn vốn trong dân chiếm tỷ trọng ít
Trong thời kỳ này các tuyến đường liên tỉnh, huyện như 39A, 200, 19, 38, 39B, 201,
202, 205, 206, 208 và một loạt các con đường khác đã và đang được cải tạo mở rộng Đặc biệt con đường 39A chạy từ Phố Nối xuống thị xã Hưng Yên, đường này đang được cải tạo
mở rộng Đây là con đường huyết mạch của tỉnh, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh Hưng Yên
Trang 29Đối với lĩnh vực quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng: Hưng Yên là một tỉnh mới
được tái lập cơ sở vật chất của khu vực này còn thiếu thốn Do vậy mấy năm gần đây khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung nhiều hơn Năm 1997 là 13,375 tỷ đồng chiếm 4,8%; năm 1998 là 15,212 tỷ đồng chiếm 6,9%; từ năm 1999-2000 có sự tăng lên đáng kể do Nhà nước trực tiếp đầu tư vào các công trình nhà ở, trụ sở làm việc của các ban ngành cấp tỉnh, huyện Năm 1999 là 58,554 tỷ đồng chiếm 15%; đến năm 2000 là 74,227
tỷ đồng chiếm 18,3% Hầu hết các sở ban ngành của tỉnh Hưng Yên cùng với các phòng ban, UBND cấp huyện được xây dựng mới
Ngành giáo dục đào tạo: Đây là ngành có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp
phát triển kinh tế xã hội của Hưng Yên nói riêng cũng như của đất nước nói chung Trong mấy năm gần đây ngành này được quan tâm nhiều hơn, khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, năm 1997 là 33,182 tỷ đồng chiếm 11,8%; năm 2000 là 34,125 tỷ đồng chiếm 8,6% Mặc dù đã được quan tâm nhiều hơn song khối lượng vốn đầu tư vào khu vực này vẫn chiếm tỷ trọng thấp, hơn nữa khối lượng vốn đầu tư cho khu vực này chủ yếu cho xây dựng kiên cố các trường học, chưa quan tâm đến việc mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh, sinh viên trong các trường học
Ngành y tế, cứu trợ xã hội: Ta thấy rằng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho
ngành này tăng lên liên tục, năm 1997 là 6,69 tỷ đồng, chiếm 2,4%; năm 2000 là 21,52 tỷ đồng, chiếm 5,3% Điều này biểu hiện sự quan tâm của Nhà nước tới sức khoẻ và đời sống của nhân dân nhiều hơn Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành này tập trung vào cải tạo,
mở rộng, xây dưng mới các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện và xã Do đó đã làm cho cơ sở vật chất của ngành y tế không ngừng được tăng lên đáp ứng phần lớn việc khám chữa bệnh cho người dân trong tỉnh
Ngành văn hoá thể thao: Thời kỳ này được quan tâm nhiều hơn, khối lượng vốn đầu
tư xây dựng cơ bản năm 1997 là 16,58 tỷ đồng, chiếm 5,9%; năm 1998 là 24,1825 tỷ đồng, chiếm 11%; năm 2000 là 27,4 tỷ đồng chiếm 6,8% Nguồn vốn này tập trung xây dựng các trung tâm văn hoá xã, huyện, tỉnh và sự nghiệp báo chí, phát thanh truyền hình, các công trình lớn như đài tưởng niệm liệt sĩ của tỉnh, nhà làm việc, triển lãm sở văn hoá thông tin, nhà văn hoá thiếu nhi, hội văn học nghệ thuật, trường nghiệp vụ thể dục thể thao, nhà làm việc báo Hưng Yên
Trang 30Đối với lĩnh vực phục vụ cá nhân và cộng đồng: Lĩnh vực này được quan tâm nhiều
hơn trong những năm gần đây vào việc đầu tư xây dựng các hệ thống dịch vụ như khu vui chơi giải trí; phát triển hệ thống điện nước ở trung tâm huyện, thị xã, các khu công nghiệp Với khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho năm 1997 là 8,39 tỷ đồng, chiếm 3%, năm 2000là 24,2 tỷ đồng, chiếm 6% Song lĩnh vực này có vị trí rất quan trọng trong việc xây dựng hệ thống điện, nước cho các trung tâm huyện, thị xã, các khu công nghiệp Đảm bảo cung cấp điện, nước phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Ngành này kết hợp cùng với các ngành khác thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hưng Yên, làm cho Hưng Yên ngày càng phát triển hoà nhập cùng với xu hướng phát triển chung của đất nước
Trang 31Bảng3
Trang 323 Cơ cấu kỹ thuật vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ cấu vốn kỹ thuật vốn đầu tư xây dựng cơ bản phản ánh nội dung của vốn đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm:
- Vốn cho xây lắp
- Vốn cho mua sắm thiết bị
- Vốn kiến thiết cơ bản khác
Từ cơ cấu kỹ thuật vốn đầu tư xây dựng cơ bản có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế của một ngành hoặc một quốc gia ở các nước tư bản phát triển người ta coi trọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản dùng cho việc mua sắm máy móc thiết bị cơ bản khác
ở các nước tư bản tỷ trọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc mua sắm máy móc thiết bị chiếm 60-70% tổng khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đối với các dự án thuộc ngành công nghiệp
Qua bảng mô tả cơ cấu kỹ thuật vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo một số ngành kinh
tế thì vốn cho xây lắp chiếm tỷ trọng quá lớn từ 62,5%-81,5% trong các ngành nông nghiệp, thuỷ lợi; vận tải kho bãi, thông tin liên lạc; văn hoá thể thao; quản lý Nhà nước; giáo dục đào tạo; hai ngành còn lại là ngành công nghiệp và xây dựng, vốn cho xây lắp là 51,95% Nhìn chung vốn cho xây lắp là chưa hợp lý vì thực tế thấy rằng vốn cho xây lắp chỉ có tác dụng tạo nên phần vỏ bao che cho công trình, nó không trực tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội, mà vốn thiết bị mới là vốn trực tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội trong khi đó lại chiếm
tỷ trọng thấp
Đối với ngành giáo dục đào tạo, đây là ngành quan tâm nhiều trong việc mua sắm thiết bị, dụng cụ đồ dùng học tập cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu; nhưng tỷ trọng vốn cho thiết bị lại quá nhỏ chỉ chiếm 9,17% Do vậy trong những năm tới phải điều chỉnh lại cơ cấu kỹ thuật vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Việc xem xét cơ cấu kinh tế vốn đầu tư xây dựng cơ bản của từng ngành, từng lĩnh vưc cũng khác nhau tùy thuộc vào từng điều kiện phát triển kinh tế của từng địa phương, từng khu vực Tóm lại nghiên cứu cơ cấu kinh tế vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho thấy tỷ trọng giữa vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho xây lắp, thiết bị và kinh tế cơ bản chưa hợp lý
Trang 33nên hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh chưa tạo đủ cơ sở để phát huy nội lực của ngành, vượt tầm để cạnh tranh trong nền kinh tế
Trang 34Bảng4
Trang 354 Tài sản cố định huy động
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượng xây dựng
có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm hàng hoá hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ cho xã hội) đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm đã làm sang thủ tục nghiệm thu sử dụng có thể đưa vào hoạt động được ngay
Quy mô của tài sản cố định do hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản tạo ra được phản ánh tổng hợp qua chỉ tiêu giá trị tài sản cố định huy động có thể biểu hiện ở hai hình thái hiện vật và giá trị, ở đây chúng ta xem xét tài sản cố định biểu hiện ở hình thái giá trị của các ngành kinh tế quốc dân
Qua bảng số liệu ta thấy rằng giá trị tài sản cố định mới tăng của các ngành kinh tế tăng lên liên tục Tuy nhiên mức tăng này không đều nhau qua các năm, bởi vì đầu tư xây dựng cơ bản là lĩnh vực cần phải có một thời gian nhất định để xây dựng, lắp đặt, mua sắm mới có thể hình thành nên tài sản cố định
Giá trị tài sản cố định tập trung vào 4 ngành đó là công nghiệp, nông nghiệp thuỷ lợi; vận tải kho bãi, thông tin liên lạc; quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng Đối với lĩnh vực vận tải kho bãi, thông tin liên lạc có giá trị tài sản cố định lớn nhất, năm 1997 là 71,87 tỷ đồng, năm 1998 là 56,079 tỷ đồng năm 2000 là 78,54 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng tương ứng là 39,3%, 22,3%, 24,9% tổng giá trị tài sản cố định Điều này cho thấy hệ thống giao thông trong tỉnh, và hệ thống thông tin truyền thanh, truyền hình được nâng cấp, cải tạo Ngành công nghiệp và xây dựng cũng có giá trị tài sản cố định tương đối lớn với tỷ trọng từ 15,3% – 18,8% so với tổng tài sản Điều này đã mở ra một phương hướng phát triển mới của Hưng Yên, thể hiện sự chuyển đổi nhanh của cơ cấu kinh tế
Giá trị tài sản cố định tăng thêm của ngành nông nghiệp, thuỷ lợi, vận tải kho bãi, thông tin liên lạc, Chiếm tỷ trọng tương đối cao, làm cho kết cấu hạ tầng của Hưng Yên được nâng cấp nhiều Đây là tiền đề tạo ra cơ sở vật chất để phát triển kinh tế
Sự tăng giá trị tài sản cố định trong ngành giáo dục đào tạo trong những năm gần đây, đã khẳng định chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng và Nhà nước bằng cách nâng cao hơn nữa cơ sở vật chát cho ngành này Giá trị tài sản cố định mới tăng của các ngành
Trang 36còn lại như y tế, phục vụ cá nhân cộng đồng biểu hiện sự quan tâm của Nhà nước tới sức khoẻ của nhân dân, và các hoạt động phục vụ cá nhân cộng đồng
Trang 37Bảng5
Trang 385 Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất phục vụ của tài sản cố định đã được huy động và sử dụng để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo quy định được ghi trong dự án đầu tư
Ta có thể xem xét năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm của một số ngành trong giai đoạn 1997-2000
- Đối với ngành công nghiệp của tỉnh Hưng Yên trước đây Từ năm 1996 trở lại trước, các doanh nghiệp quốc doanh trên địa bàn tỉnh làm ăn kém hiệu quả, công nghệ lạc hậu cũ kỹ Do vậy giá trị sản xuất của địa bàn tỉnh Hưng Yên 1996 đạt 355 tỷ đồng
Với giá trị sản xuất công nghiệp là 355 tỷ đồng năm 1996 Hưng Yên đang ở vị trí 46/61 tỉnh thành phố về giá trị sản xuất công nghiệp Đến nay tình hình này đã có sự thay đổi đáng kể Nguyên nhân là do việc cải tạo nâng cấp các nhà máy của địa phương và trung ương cùng với việc đóng góp tích cực khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã đưa giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng lên rõ rệt năm 1999 giá trị sản xuất công nghiệp là 1.880 tỷ đồng tăng gấp 5,3 lần so với năm 1996, năm 2000 giá trị sản xuất công nghiệp là 2.350 tỷ đồng, năm 2001 dự kiến giá trị sản xuất công nghiệp của Hưng Yên chiếm khoảng 2.800 tỷ đồng, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 2000 tỷ đồng, đưa Hưng Yên đứng vào hàng thứ 14/61 tỉnh thành phố về giá trị sản xuất công nghiệp
Các sản phẩm chủ yếu là dệt may, giầy dép, hàng thủ công mỹ nghệ, ống thép, các sản phẩm lắp ráp điện tử, ô tô xe máy, chế biến nông sản
- Đối với ngành nông nghiệp được sự đầu tư thích đáng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, Hưng Yên đã xây dựng mới khoảng 40 trạm bơm công suất 2x2500m3/h – 12x2500m3/h đã phục vụ cho tưới và tiêu khoảng 80% diện tích lúa, kiên cố được khoảng
200 km kênh mương nội đồng
- Giao thông vận tải được cải tạo nâng cấp được 23km đường cấp I, 40km đường cấp III, 200km đường cấp II đã giúp cho giao thông trong tỉnh và các tỉnh khác thuận lợi hơn