1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

251 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 251
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường đại học kinh tế quốc dân --- Đề tài độc lập cấp nhà nước đề tài do chính phủ giao Mã số: ĐTĐL-2005/25G Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xâ

Trang 1

Trường đại học kinh tế quốc dân

-

Đề tài độc lập cấp nhà nước (đề tài do chính phủ giao Mã số: ĐTĐL-2005/25G)

Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi

để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nhu cầu công cộng

và lợi ích quốc gia

Trang 2

Thông tin chung về đề tài

thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ

(Đề tài độc lập cấp nhà nước do Chính phủ giao cho trường Đại học Kinh tế quốc dân)

4 Cơ quan phối hợp thực hiện đề tài:

7 Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

8 Trường đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh

9 Trường đại học kinh tế Đà Nẵng

Trang 3

16 UBND tỉnh Cần Thơ

17 UBND tỉnh Bình Dương

5 Ban Chỉ đạo, Ban Chủ nhiệm, Tổ thư ký và các thành viên đề tài 5.1 Ban Chỉ đạo đề tài:

1 GS.TS Nguyễn Văn Thường, Hiệu trưởng trường ĐH KTQD, Trưởng ban

2 GS.TSKH Lê Du Phong, Trường ĐH KTQD, Phó trưởng ban

3 GS.TS Nguyễn Đình Phan, Chủ tịch Hội đồng Trường, Uỷ viên

4 GS.TS Nguyễn Văn Nam, P Hiệu trưởng Trường ĐH KTQD, Uỷ viên

5 GS.TS Nguyễn Thành Độ, P Hiệu trưởng Trường ĐH KTQD, Uỷ viên

5.2 Ban chủ nhiệm

1 GS.TSKH Lê Du Phong, Chủ nhiệm đề tài

2 GS.TS Nguyễn Văn Nam, Phó chủ nhiệm

3 GS.TS Nguyễn Thành Độ, Uỷ viên

4 GS.TS Mai Ngọc Cường, Uỷ viên

5 GS.TS Tống Văn Đường, Uỷ viên

6 PGS.TS Hoàng Văn Hoa, Uỷ viên

5.3 Ban thư ký đề tài

1 PGS TS Hoàng Văn Hoa, Trưởng ban

2 PGS.TS Phạm Văn Khôi, Phó trưởng ban

3 PGS TS Nguyễn Văn áng, Uỷ viên

4 TS Hoàng Văn Cường, Uỷ viên

5 PGS.TS Trần Xuân Cầu, Uỷ viên

6 TS Phạm Hồng Chương, Uỷ viên

7 Ths Hồ Thị Hải Yến, Thư ký kế toán

8 Ths Trịnh Mai Vân, Thư ký hành chính

Trang 4

6 Các thành viên đề tài:

1- GS.TS Nguyễn Văn Thường, Trường đại học Kinh tế quốc dân 2- GS.TSKH Lê Du Phong, Trường đại học Kinh tế quốc dân 3- GS.TS Nguyễn Đình Phan, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 4- GS.TS Nguyễn Thành Độ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 5- GS.TS Nguyễn Văn Nam, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 6- GS.TS Tống Văn Đường, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 7- GS.TS Mai Ngọc Cường, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 8- PGS.TS Hoàng Văn Hoa, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 9- PGS.TS Phạm Văn Khôi, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 10- PGS.TS Nguyễn Quốc Tế, Trường Đại học Kinh tế TP HCM 11- PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng 12- PGS.TS Nguyễn Đình Long, Bộ Nông nghiệp và PTNT

13- TS Nguyễn Hữu Dũng Bộ LĐ - TB và XH 14- TS Hoàng Văn Cường, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 15- PGS.TS Nguyễn Văn áng, trường Đại học Kinh tế quốc dân 16- PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 17- PGS.TS Phạm Quý Thọ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 18- PGS TS Trần Quốc Khánh, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 19- TS Phạm Huy Vinh, Trường Đại học Kinh tế quốc dân

20- TS Nguyễn Thế Phán, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 21- TS Phạm Hồng Chương, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 22- TS Phạm Ngọc Linh, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 23- PGS.TS Trần Xuân Cầu, Trường Đại học Kinh tế quốc dân

Trang 5

24- TS Từ Quang Phương, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 25- PGS.TS Vũ Minh Trai, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 26- PGS.TS Lê Công Hoa, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 27- TS Phạm Đại Đồng, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 28- TS Nguyễn Thanh Hà, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 29- Ths Phạm Minh Thảo, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 30- Ths Nguyễn Hữu Đoàn, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 31- Ths Trịnh Mai Vân, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 32- Ths Hồ Thị Hải Yến, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 33- Ths Nguyễn Anh Tuấn, Trường Đại học Kinh tế quốc dân

34 CN Nguyễn Minh Hà, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 35- CN Nguyễn Đình Hưng, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 36- CN Đoàn Thị Huyền, Trường Đại học Kinh tế quốc dân

7- Thời gian thực hiện đề tài: Năm 2005

Trang 6

Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 1.1 : Vai trò và tác động tích cực của phát triển đô thị Biểu đồ 1.2 : Tỷ lệ dân số đô thị ở Việt Nam

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu đất năm 2001của hộ trong diện điều tra Biểu đồ 2.2 Cơ cấu đất năm 2005 của các hộ trong diện điều tra Biểu đồ 2.3: Mức chênh lệch giá bồi thường đất ở, ở các tỉnh điều tra Biểu đồ 2.4 Mức chênh lệch giá bồi thường đất nông nghiệp các tỉnh điều tra Biểu đồ 2.5 Mức diện tích bồi thường đất ở của các hộ điều tra

Biểu đồ 2.6: Mức bồi thường bằng nhà ở của các tỉnh điều tra Biểu đồ 2.7 Kết quả trả lời về sự thuận lợi của nhà đất so với trước Biểu đồ 2.8 Kết quả trả lời về tình trạng xấu đi của phần đất sản xuất nông

nghiệp còn lại so với trước Biểu đồ 2.9 Kết quả đánh giá giao thông nội bộ khu tái định cư thuận lợi Biểu đồ 2.10 Kết quả đánh giá cung cấp nước sạch khu tái định cư tốt hơn Biểu đồ 2.11 Kết quả đánh giá cung cấp điện khu tái định cư tốt hơn Biểu đồ 2.12 Kết quả đánh giá môi trường khu tái định cư tốt hơn Biểu đồ 2.13 Kết quả đánh giá an ninh khu tái định cư tốt hơn nơi ở cũ Biểu đồ 2.14 Kết quả đánh giá diện tích khu tái định cư hẹp hơn nơi ở cũ Biểu đồ 2.15: Kết quả ý kiến có nên cấp đất nông nghiệp ở Bình Dương Biểu đồ 2.16: ý kiến chung về tái định cư cho người bị thu hồi đất Biểu đồ 2.17: ý kiến chung về mức độ hợp lý của việc cấp nhà tái định cư Biểu đồ 2.18: ý kiến chung về mức độ hợp lý của giá bồi thương hoa màu Biểu đồ 2.19: Trình độ chuyên môn của các hộ trước khi thu hồi đất Biểu đồ 2.20: Chất lượng đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất Biểu đồ 2.21: Trình độ chuyên môn các hộ sau thu hồi đất

Biểu đồ 2.22: Mức thu trung bình mỗi hộ tính chung cho các nguồn thu Biểu đồ 2.23: Mức thay đổi tổng thu của các hộ so với trước

Biểu đồ 2.24: Đời sống tinh thần của người dân hiện tại so với trước khi bị

thu hồi đất Biểu đồ 2.25: Nguồn gốc của tiền dùng để mua sắm phương tiện phục sản

xuất và sinh hoạt của các hộ bị thu hồi đất

Trang 7

Danh mục các biểu

Biểu 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu của cả nước và các đô thị

lớn năm 2004 Biểu 1.2: Các chỉ tiêu cơ bản phản ánh trình độ công nghiệp hoá và đô thị

hoá ở các nước Bảng 1.3: Tình hình thu hồi đất giai đoạn 1990 -2003 Biểu 1.4: Tình hình thu hồi đất ở một số địa phương giai đoạn 2001-2005 Biểu 1.5: Phát triển các khu công nghiệp của nước ta đến năm 2005 phân

theo vùng

Biểu 1.6: Dân số đô thị Việt Nam giai đoạn 1975-1990 Biểu 1.7: Dân số đô thị Việt Nam giai đoạn 1990-2005 Biểu 1.8: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép và đầu tư của khu vực

dân doanh thời kỳ 1988 -2004 Biểu 1.9: Số lượng lao động đang làm việc trong các khu công nghiệp ( do

Thủ tướng Chính Phủ cấp phép) Biểu 1.10: Tình hình lao động bị mất việc làm trong nông nghiệp do thu hồi

đất giai đoạn 2001 - 2005 Biểu 1.11: Tình hình thu hồi đất nông nghiệp và tình trạng mất việc làm của

nông dân vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2001 - 2005 Biểu 1.12: Tình hình thực hiện thu hồi đất và đền bù, tái định cư ở thành

phố Hà Nội năm 2000 - 2004 Biểu 1.13: Thực trạng việc làm của lực lượng lao động tỉnh Hải Dương sau

khi thu hồi đất Biểu 1.14: Tình hình sử dụng tiền đền bù đất nông nghiệp của các hộ gia

đình ở tỉnh Hải Dương Biểu 1.15: Tình hình thuê đất tại các khu công nghiệp tính đến tháng

12/2004 Biểu 2.1: Biến động đất đai của các hộ điều tra giai đoạn 2001-2005 Biểu 2.2 Tỷ lệ số hộ phân theo các loại đất chính bị thu hồi

Trang 8

Biểu 2.3 Diện tích đất thu hồi bình quân mỗi hộ phân theo loại đất Biểu 2.4 Tỷ lệ diện tích đất thu hồi bình quân mỗi hộ phân theo mục đích

sử dụng đất thu hồi

Biểu 2.6 Tiền bồi thường bình quân một hộ phân theo loại đất Biểu 2.7 Số hộ được bồi thường bằng đất phân theo loại đất bị thu hồi Biểu 2.8 Diện tích các loại đất được bồi thường tính bình quân một hộ phân

theo các loại đất Biểu 2.9 Số hộ được bồi thường bằng nhà ở và diện tích bình quân một hộ

được bồi thường đất ở Biểu 2.10 Sự thuận lợi của nhà và đất ở của hộ so với trước Biểu 2.11 Điều kiện đất sản xuất bồi thường so với đất cũ Biểu 2.12: Điều kiện giao thông nội bộ khu tái định cư so với chỗ ở cũ Biểu 2.13 Điều kiện giao thông công cộng của khu tái định cư

Biểu 2.14.Tình hình cung cấp nước sạch ở khu tái định cư so với chỗ ở cũ Biểu 2.15 Tình hình cung cấp điện ở khu tái định cư so với chỗ ở cũ Biểu 2.16 Điều kiện môi trường ở khu tái định cư so với nơi ở cũ Biểu 2.17 Điều kiện trường học ở khu tái định cư so với nơi ở cũ Biểu 2.18 Điều kiện khám chữa bệnh ở khu tái định cư so với nơi ở cũ Biểu 2.19 Điều kiện mua sắm ở khu tái định cư so với nơi ở cũ

Biểu 2.20 Tình hình an ninh tại khu tái định cư so với nơi ở cũ Biểu 2.21 Điều kiện văn hoá, tinh thần ở khu tái định cư so với nơi ở cũ Biểu 2.22 Về diện tích nhà ở tại khu tái định cư so với nơi ở cũ Biểu 2.23 Có nên cấp đất nông nghiệp cho người bị thu hồi đất không Biểu 2.24: Có nên tái định cư cho người bị thu hồi đất không

Biểu 2.25: Mức độ hợp lý của việc cấp nhà tái định cư

Biểu 2.26: Mức độ hợp lý của giá bồi thường đối với đất nông nghiệp Biểu 2.27: Mức độ hợp lý của giá bồi thường đất phi nông nghiệp

Trang 9

Biểu 2.28: Mức độ hợp lý của giá bồi thường đối với đất ở Biểu 2.29: Mức độ hợp lý của giá bồi thường đối với hoa màu Biểu 2.30: Mức độ hợp lý của giá giá bồi thường đối với nhà ở, công trình

xây dựng Biểu 2.31: Trình độ chuyên môn của người bị thu hồi đất trước khi bị thu hồi Biểu 2.32: Công việc của người bị thu hồi đất trước khi bị thu hồi

Biểu 2.33: Tình hình đào tạo nghề cho lao động bị mất đất Biểu 2.34: Mức độ phù hợp của nghề được đào tạo

Biểu 2.35: Trình độ chuyên môn của người lao động sau khi thu hồi đất Biểu 2.36: Đánh giá kết quả tuyển dụng lao động bị thu hồi đất sau đào tạo Biểu 2.37: Số lao động được các đơn vị nhận đất tạo việc làm

Biểu 2.38: Công việc của người bị thu hồi đất sau khi bị thu hồi

Biểu 2.39 : Tình hình việc làm của người lao động bị thu hồi đất Biểu 2.40: Nơi làm việc của lao động sau khi bị thu hồi đất Biểu 2.41: Lý do không tìm được việc làm của người bị thu hồi đất Biểu 2.42: Sự hỗ trợ của huyện và tỉnh đối với đào tạo nghề cho người lao

động có đất bị thu hồi Biểu 2.43: Mức độ hỗ trợ với người đi đào tạo nghề của các địa phương Biểu 2.44: Hình thức đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất

Biểu 2.45: Số hộ điều tra phân theo nguồn thu nhập của hộ Biểu 2.46: Tỷ lệ số hộ phân theo nguồn thu của hộ bị thu hồi đất Biểu số 2.47: Mức thu trung bình từ mỗi nguồn thu của các hộ Biểu 2.48: Mức thu trung bình mỗi hộ tính chung cho tất cả các nguồn thu Biểu 2.49: Thay đổi nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp của các hộ so với

trước khi bị thu hồi đất

nghiệp của các hộ so với trước khi bị thu hồi đất Biểu 2.51: Thay đổi nguồn thu từ dịch vụ của các hộ so với trước khi bị thu

hồi đất

Trang 10

Biểu 2.52: Thay đổi nguồn thu từ tiền lương, tiền công của các hộ

so với trước khi bị thu hồi đất Biểu 2.53: Thay đổi nguồn thu từ lãi suất và lợi tức của các hộ so với trước

khi bị thu hồi đất Biểu 2.54: Thay đổi nguồn thu từ trợ cấp, bảo hiểm xã hội của các hộ so với

trước khi bị thu hồi đất Biểu 2.55 : Thay đổi từ nguồn thu khác của các hộ so với trước khi bị thu

hồi đất Biểu 2.56: Mức thay đổi tổng thu của các hộ so với trước khi bị thu hồi đất Biểu 2.57 : Phương tiện sản xuất và sinh hoạt của các hộ trước khi thu hồi đất Biểu 2.58: Phương tiện sản xuất và sinh hoạt của các hộ sau khi thu hồi đất

Biểu 2.59: Thu nhập bình quân đầu người của các hộ so với trước khi bị thu

hồi đất Biểu 2.60: Đời sống tinh thần của người dân hiện tại so với trước khi bị thu

hồi đất Biểu 2.61: Nguồn gốc của tiền dùng để mua sắm phương tiện phục sản xuất

và sinh hoạt của các hộ bị thu hồi đất

Biểu 3.1: Dự kiến các loại đất đến năm 2010 Biểu 3.2: Tình hình thu hồi đất và mất việc làm ở một số địa phương giai

đoạn 2006-2010 Biểu 3.3: Dùng một phần đất dự án để dân phát triển dịch vụ Biểu 3.4: Dùng tầng trệt cho dân kinh doanh

Biểu 3.5: Dùng một phần tiền đền bù đào tạo nghề bắt buộc cho lao động trẻ Biểu 3.6: Thu hút lao động trẻ vào các dự án phi nông nghiệp tại địa bàn Biểu 3.7: Chính quyền giải phóng mặt bằng có tốt hơn doanh nghiệp không

Trang 11

Phần mở đầu

1 Sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài

Thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong những năm qua trên khắp các vùng miền của đất nước, nhiều khu công nghiệp với quy mô khác nhau được hình thành và đi vào hoạt động Cùng với xu hướng đó, quá trình xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia cũng đang diễn ra rất nhanh ở nước ta, không chỉ đối với các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh mà đối với hầu hết các tỉnh, thành phố khác trên phạm vi cả nước Đây là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, tạo nên động lực mới cho sự phát triển, thúc

đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Việc phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia đi liền

đồng thời với việc thu hồi đất, bao gồm cả đất ở và đất nông nghiệp của một bộ phận dân cư, chủ yếu là ở các vùng ven đô thị, vùng có điều kiện giao thông thuận lợi, vùng có tiềm năng, có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế- xã hội Giải quyết vấn đề việc làm, ổn định và từng bước nâng cao đời sống cho người bị thu hồi đất là nhiệm vụ của các cấp

ủy Đảng, chính quyền và toàn xã hội Điều đó đòi hỏi cần có một hệ thống chính sách đồng bộ để vừa thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, vừa bảo đảm được lợi ích của người bị thu hồi đất Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ở nhiều nơi đang gây ra nhiều vấn đề kinh tế- xã hội rất bức xúc Điều đó thể hiện ở một số nét chủ yếu sau đây:

Một là, xu thế đô thị hoá, phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị,

xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia gắn liền với tình trạng đất giành cho sản xuất kinh doanh của người dân bị thu hẹp, phải thay đổi điều kiện sinh sống Điều này làm cho một bộ phận dân cư bị mất việc làm truyền thống, phải chuyển đổi nghề nghiệp, thay đổi chỗ ở Trong khi đó, quá trình phát triển các khu công

Trang 12

nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia chưa gắn liền với công tác đào tạo nghề, chưa chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho người dân có đất bị thu hồi chuyển đổi nghề nghiệp Điều đó làm cho một bộ phận dân cư ở các khu vực này không có khả năng tìm kiếm cho mình một công việc mới Hơn nữa, công tác tái định cư cũng chưa được chuẩn bị chu đáo, thiếu các điều kiện đảm bảo cho người dân có được điều kiện sinh hoạt bình thường tại nơi ở mới Tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt tại nơi tái định cư.v.v

đã và đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều địa phương

Tình trạng này càng đặc biệt khó khăn đối với bộ phận nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp Người nông dân nước ta, từ hàng ngàn đời nay

đã gắn bó với ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu của họ, sản xuất nông nghiệp là nguồn sinh sống chủ yếu của người nông dân Việc thu hồi đất của nông dân ở một số nơi không gắn liền với giải quyết việc làm, không thu hút họ vào các hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ đã đẩy một

bộ phận nông dân ra khỏi đời sống kinh tế- xã hội, không gắn liền với tiến trình đổi mới của đất nước Tình trạng này đã xảy ra ở một số nơi làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế- xã hội gay gắt

Hai là, công tác đền bù khi thu hồi đất nông nghiệp mới chỉ chú ý

đến mặt lượng mà bỏ qua mặt chất Mặc dù số tiền mà Nhà nước phải bỏ ra

để đền bù cho những người dân về những thiệt hại mà họ phải gánh chịu là không nhỏ, nhưng số tiền đó trong nhiều trường hợp không những không giúp cho người nông dân thiết lập một cuộc sống mới tốt hơn mà còn gây nên những tác động xã hội tiêu cực Do đền bù thu hồi không gắn với tư vấn,

định hướng nghề nghiệp và chuyển đổi cơ cấu ngành nghề nên nhiều hộ nông dân không có khả năng sử dụng số tiền đó vào hoạt động sản xuất kinh doanh

Ba là, Chính sách thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu

đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia ở nước ta những năm gần đây đã không gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và không theo một quy hoạch phát triển đồng

bộ Vì vậy, một bộ phận lớn người bị thu hồi đất, nhất là đất nông nghiệp, đã không được thu hút vào các hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ Vì

Trang 13

vậy, đời sống của một số người bị thu hồi đất vốn đã khó khăn càng trở nên khó khăn hơn

Bốn là, việc thu hồi đất ở một số địa phương đã diễn ra một cách thiếu

dân chủ, không công bằng, chưa đảm bảo lợi ích chính đáng của người bị thu hồi đất Thậm chí ở một số nơi, đã có tình trạng tiêu cực, tham nhũng trong quá trình thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất Tình trạng sử dụng đất thu hồi kém hiệu quả cũng xảy ra khá phổ biến Điều đó đang gây

ra sự bất công trong xã hội, làm cho tình hình chính trị- xã hội ở một số nơi trở nên phức tạp hơn

Năm là, quá trình đô thị hoá và phát triển các khu công nghiệp, khu đô

thị cũng gây nên những tác động tiêu cực như: sự du nhập của các tệ nạn xã hội (ma tuý, mại dâm, cờ bạc v.v) Điều này không những đem lại sự bất

ổn cho xã hội, làm băng hoại đạo đức và truyền thống của dân tộc mà còn tác động không nhỏ đến suy nghĩ, lòng tin của những người dân có đất bị thu hồi, đẩy một bộ phận người dân vào hoàn cảnh khó khăn Hậu quả đó làm cản trở quá trình thực hiện mục tiêu cao cả của Đảng ta: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đồng thời gây xói mòn niềm tin của người dân vào các chủ trương, chính sách và đường lối của

trực thuộc Trung ương triển khai nghiên cứu đề tài: “Thực trạng thu nhập,

đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế x∙ hội, nhu cầu công

người có đất bị thu hồi”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Đề tài có hai mục tiêu chủ yếu sau đây:

- Đánh giá thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ

Trang 14

tầng kinh tế xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của vấn đề này

- Đề xuất các quan điểm, phương hướng, giải pháp và các điều kiện giải quyết thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã

hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia những năm tới

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Như tên đề tài đã chỉ rõ, đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng

về thu nhập, đời sống và việc làm của những người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia

Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội trên phạm vi cả nước Do kinh phí có hạn và nhất là do yêu cầu phải báo cáo Chính phủ trong một thời gian rất ngắn (Đề tài phải hoàn thành trong 6 tháng để báo cáo Chính phủ) nên Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

- Về phạm vi không gian:

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng thu nhập đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi ở tại 8 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương Đó là những địa phương đang có tốc độ đô thị hoá nhanh cũng như

đang phát triển nhiều khu, cụm công nghiệp tập trung, theo đó là sự phát triển của hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội Hơn nữa, việc lựa chọn các địa phương này cũng mang tính đại diện cho các vùng kinh tế ở nước ta

- Về phạm vi thời gian

+ Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi từ năm 2001 đến nay (2005) Đây là thời kỳ đô thị hóa đã diễn ra rất nhanh chóng Đồng thời, nhiều vấn đề bức xúc trong quá trình thu hồi đất cũng nảy sinh chủ yếu trong thời gian này

+ Phạm vi thời gian cho các đề xuất trong đề tài là thời kỳ 2006-2010,

đặt trong tầm nhìn đến năm 2020

Trang 15

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất

bị thu hồi là một đề tài có tính ứng dụng cao Để thực hiện tốt nhiệm vụ của Chính phủ giao, đề tài sử dụng tổng hợp một hệ thống các phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận chủ yếu sau đây:

4.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích kinh tế, kế thừa các công trình đ∙ nghiên cứu có liên quan Đề tài đã tiến hành phân tích, tổng hợp một số công

trình đã nghiên cứu có liên quan, các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học, các bài báo, bài phát biểu về thực trạng thu hồi đất và đời sống, việc làm, thu nhập của người có đất bị thu hồi ở một số địa phương trong thời gian gần đây Trên cơ

sở đó, đề tài rút ra một số vấn đề có tính lý luận và thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc nhằm thống kê, phân tích, so sánh thực trạng thu nhập, việc làm của người

có đất bị thu hồi ở một số địa phương cũng như trên phạm vi cả nước; phân tích

so sánh chính sách đền bù trong quá trình thu hồi đất, chính sách giải quyết việc làm ở một số địa phương

4.3 Phương pháp điều tra thống kê, mô hình hóa để rút ra những kết luận có

tính khoa học trong việc đánh giá thực trạng thu nhập, đời sống việc làm của người có đất bị thu hồi, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị phù hợp,

có tính khả thi cao

4.4 Phương pháp điều tra khảo sát

- Đề tài đã tiến hành thiết kế các loại phiếu điều tra, phỏng vấn các hộ

gia đình bị thu hồi đất và phiếu phỏng vấn cán bộ địa phương ở vùng có đất bị thu hồi

- Các hộ gia đình có đất bị thu hồi được điều tra, phỏng vấn gồm có: Hộ

sản xuất nông nghiệp, hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hộ gia

đình kinh doanh thương mại- dịch vụ và các loại hộ khác Mục đích của việc

điều tra các loại hộ khác nhau là nhằm thu thập thông tin về thu nhập việc làm,

đời sống của những người có đất bị thu hồi đang hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau (công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp); xem xét, đánh giá chính sách

đền bù, giải quyết việc làm và đời sống của các loại hộ khác nhau khi bị thu hồi đất

Trang 16

- Nội dung điều tra, phỏng vấn các hộ gia đình có đất bị thu hồi gồm

17 câu hỏi (cả định tính và định lượng) liên quan trực tiếp đến các vấn đề như:

đất đai của hộ bị thu hồi (bao gồm cả đất ở và đất sản xuất); tình hình bồi thường cho hộ gia đình khi thu hồi đất; việc sử dụng tiền bồi thường do thu hồi đất; thu nhập, việc làm của hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất, chính sách giải quyết việc làm, ổn định đời sống của chính quyền địa phương và doanh nghiệp đối với hộ gia đình và lao động sau khi thu hồi đất.v.v

- Phạm vi và quy mô điều tra, khảo sát Được sự đồng ý của Bộ Khoa

học và công nghệ, đề tài đã tiến hành điều tra, khảo sát tại 8 tỉnh và thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh, đại diện cho cả ba miền của đất nước, đó là: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Tây, Đà Nẵng, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ Đây cũng là những địa phương đang có nhiều vấn đề bức xúc trong qua trình thu hồi đất

Tại mỗi tỉnh, thành phố, đề tài chọn hai quận/huyện có diện tích đất bị thu hồi nhiều nhất Trong mỗi quận/huyện lại chọn ra hai xã/phường có nhiều hộ gia

đình bị thu hồi đất và đang có nhiều vấn đề bức xúc nhất Tại mỗi xã/phường, đề tài tiến hành điều tra, phỏng vấn 75 hộ Như vậy, mỗi tỉnh có 300 hộ gia đình

được điều tra, phỏng vấn, tổng cộng ở 8 tỉnh là 2400 hộ

- Cùng với việc điều tra các hộ gia đình bị thu hồi đất, đề tài đã tiến hành

phỏng vấn các cán bộ địa phương Tại mỗi tỉnh, đề tài phỏng vấn 100 người,

bao gồm cán bộ cấp tỉnh (30 người), cán bộ cấp huyện (30 người), cán bộ cấp xã (20 người) và cán bộ ban quản lý các khu công nghiệp, khu đô thị (10 người), cán bộ quản lý các dự án (10 người) Tổng số có 800 cán bộ ở 8 tỉnh/thành phố

được phỏng vấn Nội dung phỏng vấn cán bộ địa phương gồm có 13 câu hỏi liên quan trực tiếp đến tình hình thu hồi đất ở địa phương, chính sách giải quyết việc làm, ổn định và nâng cao thu nhập đối với người có đất bị thu hồi, kiến nghị của

địa phương về vấn đề hậu giải phóng mặt bằng.v.v

Mục đích của việc phỏng vấn cán bộ địa phương là nhằm thu thập ý kiến của cán bộ các cấp ở vùng có đất bị thu hồi về đánh giá thực trạng chính sách thu hồi đất, thực trạng đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất và kiến nghị của địa phương về chính sách giải quyết lao động, việc làm, ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi

Để hoàn thành nhiệm vụ điều tra khảo sát và bảo đảm tính chính xác của

số liệu điều tra, Trường đại học kinh tế quốc dân dã cử hơn 30 cán bộ nghiên

Trang 17

cứu, giảng viên có kinh nghiệm trực tiếp đến làm việc, trao đổi với cán bộ địa phương (tỉnh, huyện, xã) và các hộ gia đình bị thu hồi đất ở 8 tỉnh, thành phố Thời gian điều tra được tiến hành trong tháng 7 và tháng 8 năm 2005

- Đề tài thu thập số liệu, thông tin (theo mẫu phiếu) về tình hình thu hồi

đất, số lao động đã có việc làm, mức sống của các hộ gia đình bị thu hồi đất trên phạm vi quận/huyện/thị xã và trên phạm vi tỉnh/thành phố Mục tiêu của việc thu thập thông tin này là để nắm bắt thông tin tổng quát về thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của các hộ gia đình bị thu hồi đất

- Các phiếu điều tra phỏng vấn, các thông tin thu thập được đã được đề tài

xử lý trên máy tính bằng chương trình spss (xem phần phụ lục: kết quả

xử lý số liệu điều tra, phỏng vấn tình hình đời sống việc làm của người có

đất bị thu hồi)

- Ngoài ra, Ban chủ nhiệm đề tài đ∙ trực tiếp làm việc, nghe báo cáo,

trao đổi về chính sách thu hồi đất, chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng, thực trạng lao động, việc làm, thu nhập của người bị thu hồi đất ở một số địa phương như: Thành ủy và UBND thành phố Đà Nẵng, UBND tỉnh Bắc Ninh,

UBND huyện Hoài Đức và Chương Mỹ (tỉnh Hà Tây), thị xã Hà Đông, Ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh và một số địa phương khác

4.5 Đề tài sử dụng phương pháp chuyên gia, tổ chức các cuộc hội thảo khoa

học, các cuộc hội nghị để thu thập ý kiến của các nhà quản lý, các nhà khoa học

về thực trạng đời sống, thu nhập, việc làm của người có đất bị thu hồi và chính sách của Nhà nước, của địa phương trong quá trình thu hồi đất

5 Sản phẩm chủ yếu của đề tài

- Báo cáo tổng hợp đề tài;

- Báo cáo tóm tắt đề tài;

- Bản kiến nghị của đề tài;

- Các kỷ yếu hội thảo khoa học của đề tài;

- Báo cáo của các đề tài nhánh, các báo cáo chuyên đề, báo cáo kết quả điều tra khảo sát ở 8 tỉnh/thành phố

- Phụ lục về kết quả xử lý số liệu điều tra, khảo sát theo chương trình spss và excel về thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người bị thu hồi đất

Trang 18

- Các tài liệu liên quan như: Báo cáo tình hình thu hồi đất và thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi ở một số địa phương; kết quả thu thập, tổng hợp các công trình nghiên cứu, tài liệu dịch…

6 Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, phụ lục (số liệu điều tra khảo

sát), đề tài gồm các phần lớn sau đây:

- Phần thứ nhất: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thu nhập, đời

sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia

- Phần thứ hai: Thực trạng thu hồi đất và thực trạng thu nhập, đời

sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia từ kết quả điều tra thực tế của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

- Phần thứ ba: Quan điểm và giải pháp về giải quyết việc làm, đảm

bảo thu nhập và đời sống của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia những năm tới

- Kết luận và kiến nghị

Trang 19

Phần thứ nhất Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thu nhập,

đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - x∙ hội, nhu cầu công cộng

và lợi ích quốc gia

1.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá và sự cần thiết phải thu hồi đất

1.1.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá (CNH, HĐH& ĐTH) là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học- công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, kinh tế tri thức đang dần đi vào cuộc sống và toàn cầu hoá là một xu thế không gì

có thể cưỡng lại được, thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường giúp các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước

Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy, CNH, HĐH&ĐTH là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới, hiện đại và do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế – xã hội nông thôn Trong nền kinh tế hiện đại, CNH, HĐH

&ĐTH có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội Về mặt kinh tế, CNH, HĐH làm thay

đổi phương thức sản xuất và cơ cấu nền kinh tế, chuyển nền kinh tế sang một bước phát triển mới về chất, đó là nền kinh tế dựa trên nền đại công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao Về mặt xã hội, đó là quá trình đô thị hoá Trong nền kinh tế hiện đại, đô thị hoá không chỉ đơn thuần là sự hình thành các đô thị mới mà đó là một nấc thang tiến hoá vượt bậc của xã hội với một trình độ văn minh mới, một phương thức phát triển mới Đó là cách thức tổ chức, bố trí lực lượng sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơ bản, đó là: 1) phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn; 2) làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Hiện tượng đô thị hoá được coi là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại ngày nay Cùng với quá trình

Trang 20

công nghiệp hoá, đô thị hoá được coi như một khía cạnh quan trọng của sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hoá là một quá trình lịch sử trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế – xã hội là nâng cao vai trò của đô thị trong sự phát triển mọi mặt của xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp – xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hoá

- Đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố lại lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và

điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị theo chiều rộng

và theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số ở các đô thị Đó là quá trình tập trung, tăng cường, phân hoá các hoạt động trong đô thị và nâng cao tỷ lệ số dân thành thị trong các vùng, các quốc gia cũng như trên toàn thế giới Đồng thời, đô thị hoá cũng là quá trình phát triển của các thành phố lớn và phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong dân cư

Đô thị hoá có hai hình thức biểu hiện chủ yếu: Một là, đô thị hoá theo

chiều rộng, trong đó quá trình đô thị hoá diễn ra tại các khu vực trước đây

không phải là đô thị Đó cũng chính là quá trình mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các khu đô thị mới, các quận, phường mới Với hình thức này, dân số và diện tích đô thị không ngừng gia tăng, các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và các hoạt động của kinh tế đô thị không ngừng mở rộng; các hoạt động sản xuất kinh doanh và điểm dân cư ngày càng tập trung Sự hình thành các đô thị mới được tạo ra trên cơ sở phát triển các khu công nghiệp và trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch

vụ ở vùng nông thôn và ngoại ô là xu hướng tất yếu của sự phát triển, là nhân tố mở đường thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Đô thị hoá theo chiều rộng là hình thức phổ biến hiện nay ở các nước đang phát triển trong

thời kỳ đầu công nghiệp hóa; Hai là, đô thị hoá theo chiều sâu, đó là quá

trình hiện đại hoá và nâng cao trình độ của các đô thị hiện có Mật độ dân số

có thể tiếp tục tăng cao, phương thức và các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, thực lực khoa học kỹ thuật, công nghệ ngày càng tăng cường; hiệu quả kinh tế – xã hội cũng ngày càng được cải thiện và nâng cao Đô thị hoá theo chiều sâu là quá trình thường xuyên và là yêu cầu tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển Quá trình đó đòi hỏi các nhà quản lý đô thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động và phải biết

điều tiết, tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả cao trên cơ sở hiện đại hoá trên mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội ở đô thị

Trang 21

Đô thị hoá là một tiến trình rất đa dạng, chứa đựng nhiều hiện tượng

và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển Trên quan điểm một vùng,

đô thị hoá là quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống

theo kiểu đô thị Trên quan điểm kinh tế quốc dân, đô thị hoá là một quá

trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân,

bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu Đô thị hoá là quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị của các nhóm dân cư, gắn liền với những biến đổi sâu sắc về kinh tế – xã hội của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ.v.v Do vậy, đô

thị hoá gắn liền với sự phát triển kinh tế – xã hội Đô thị hoá nông thôn là

xu hướng bền vững có tính quy luật; đó là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho các vùng nông thôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…); Thực chất đó là tăng trưởng đô thị theo

xu hướng bền vững Đô thị hoá ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng

ngoại vi của thành phố do kết quả phát triển công nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng, tạo ra các cụm đô thị, liên đô thị, góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn

- Trong quá trình CNH, HĐH, sự hình thành các đô thị hiện đại có vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội Bên cạnh nông thôn, đô thị là hình thái quần cư cơ bản thứ hai của xã hội loài người Trên thế giới, đô thị ra đời rất sớm, nhưng chỉ thật sự phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và đến nay, đô thị đã trở thành một hiện tượng xã hội, một hiện tượng kinh tế có ảnh hưởng hết sức quan trọng tới mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống kinh tế xã hội

Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước Sự phát triển đô thị kích thích tăng trưởng và phát triển của các vùng lãnh thổ xung quanh và toàn bộ nền kinh

tế thông qua quá trình phân bố lại các cơ sở kinh tế, lan truyền tiến bộ công nghệ, văn hoá, xã hội Với sự phát triển của hệ thống các đô thị, nhiều nước

đã từng bước hình thành được những vùng lãnh thổ phát triển không chỉ đảm nhận chức năng động lực thúc đẩy sự phát triển toàn bộ kinh tế - xã hội đất nước mà còn đảm nhận chức năng hợp tác và hội nhập quốc tế, vừa đảm nhận vai trò tiếp nhận thông tin, các thành tựu về phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hoá của thế giới rồi lan rộng ra các vùng xung quanh Vai trò

và tác động tích cực của phát triển đô thị được thể hiện trong biểu đồ dưới đây:

Trang 22

Biểu đồ 1.1 : Vai trò và tác động tích cực của phát triển đô thị

+ Các đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân, tích luỹ của nền kinh tế và nguồn thu cho ngân sách quốc gia Chẳng hạn, chỉ tính riêng bốn thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng năm 2004, chiếm khoảng 14% dân số, tạo ra 36,4% GDP, 45,7% giá trị sản lượng công nghiệp, và gần 50% giá trị xuất khẩu của cả nước Các đô thị này đã trở thành những vùng động lực có tốc độ tăng trưởng cao và có đóng góp quan trọng vào việc tăng quy mô của nền kinh tế, tăng giá trị công nghiệp, dịch vụ và xuất khẩu của cả nước

+ Với quy mô sản xuất, diện tích, dân số lớn và không ngừng gia

tăng, sự tập trung lớn các năng lực sản xuất, các đô thị cũng có khả năng

cung cấp một khối lượng đáng kể các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ với chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của nhiều vùng trong nước và nguồn hàng cho xuất khẩu Số liệu sau đây cho thấy rõ vai trò của bốn đô thị lớn nhất ở Việt Nam

Phát triển Đô thị

Phát triển và phân bố các ngành công nghiệp mới

Tăng việc làm và dân số trong vùng

Tạo ra các ngoại ứng tới các hoạt động kinh tế

Cung cấp kết cấu hạ tầng tốt hơn cho sản xuất và đời sống Nâng cao trình độ

của lao động công nghiệp

Phát triển các ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu đầu vào của công nghiệp

Thu hút thêm vốn đầu tư

và sự phân bổ các doanh nghiệp mới

Tăng nguồn thu cho ngân sách

Mở rộng quy mô và phát triển các ngành dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống

Nâng cao phúc lợi xã hội cho các vùng

Trang 23

Biểu 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu của cả nước

và các đô thị lớn năm 2004 Chỉ tiêu Cả nước Hà Nội TP HCM Hải Phòng Đà Nẵng Phần còn

lại

Dân số (1.000 người) 82069,8 3082,8 6063,0 1772,5 763,3 70388,2

Tỷ trọng dân số (%) 100,0 3,75 7,38 2,15 0,93 85,79 GDP (Tỷ đồng) 362092 30526,7 79121 12521,5 9564,4 230358,4

Tỷ trọng GDP (%) 100,0 8,43 21,85 3,45 2,64 63,63 Tốc độ tăng GDP (%) 7,69 11,12 11,6 11,39 13,26 ……

Hệ số GDP bình quân so với cả nước (lần)

1,0 2,09 2,49 1,15 1,43 ……

GTSX công nghiệp (Tỷ đồng) 354030 35365,8 102063 18269,9 7059,5 191271,8

Tỷ trọng GTSXCN (%) 100,0 9,9 28,8 5,1 1,9 54,3 Giá trị xuất khẩu (Tr USD) 26003 2164,2 9816,0 700,5 310,4 13011,9

Tỷ trọng GTXK (%) 100,0 8,3 37,7 2,7 1,2 50,1 Giải quyết việc làm (người) …… 78000 221600 39100 24400 ……

Nguồn: Tính từ số liệu của Niên giám thống kê Hà Nội 2004, Cục Thống

kê Hà Nội

+ Các đô thị lớn thực sự là các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, thương mại của các vùng và cả nước, là những “đầu tàu” trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là hợp tác và giao lưu quốc tế Các hoạt động dịch vụ quan trọng như xuất nhập khẩu, tài chính, tiền tệ, vận tải, du lịch, khoa học công nghệ từ các đô thị lớn bắt đầu có sức lan toả và thúc đẩy sự phát triển chung của các lãnh thổ trên phạm vi cả nước

+ Các đô thị có ưu thế về nhân lực được đào tạo chất lượng cao, có khả năng nhanh chóng tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, trên cơ sở đó tạo ra các công nghệ và các trang thiết bị hiện đại không chỉ phục vụ cho sự phát triển của bản thân đô thị mà còn đáp ứng cho nhu cầu của các vùng lãnh thổ khác trên toàn quốc

+ Với những ưu thế về hệ thống kết cấu hạ tầng so với các lãnh thổ khác, các đô thị từng bước bảo đảm sự tiếp cận nhanh chóng, kịp thời các nguồn thông tin, đặc biệt là thông tin kinh tế, thông tin về thị trường… để lại tiếp tục cung cấp, chuyển tải và phản hồi các thông tin này, tạo điều kiện cho các vùng cùng tham gia trao đổi thông tin và hoà nhập vào sự phát triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế

Trang 24

+ Sự phát triển các đô thị góp phần nâng cao năng suất và chất lượng lao động cho toàn bộ nền kinh tế Chẳng hạn, tại các đô thị của Việt Nam đã bước đầu hình thành đội ngũ lao động và cán bộ quản lý có trình độ và tác phong lao động công nghiệp hiện đại Hầu hết lực lượng lao động có trình

độ từ cao đẳng và đại học trở lên của cả nước tập trung tại các đô thị Tay nghề của người lao động được nâng cao cùng các kinh nghiệm quản trị kinh doanh… được tiếp tục lan toả sang các lãnh thổ còn lại của đất nước thông qua việc phát triển của các chi nhánh, các cơ sở sản xuất kinh doanh đặt tại các địa phương khác, góp phần từng bước nâng cao trình độ và hiệu quả quản lý kinh doanh, nâng cao năng suất và chất lượng lao động cho toàn bộ nền kinh tế nói chung, các vùng kém phát triển nói riêng

+ Với lợi thế về lực lượng và tiềm lực khoa học kỹ thuật, sự tập trung

số lượng lớn các cơ sở đào tạo và khoa học, trong đó có các trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học đầu ngành, các đô thị lớn còn giữ vai trò đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, góp phần từng bước nâng cao chất lượng nguồn lao động cho nền kinh tế

+ Do GDP/người tăng nhanh, cộng với sự phát triển của các cơ sở công nghiệp chế biến, xuất khẩu làm cho sức mua của các đô thị tăng nhanh, trong đó phải kể đến sức mua về hàng nông lâm thuỷ sản với chất lượng cao Việc các đô thị trở thành nơi tiêu thụ hàng nông sản chất lượng cao sẽ tác động đến sự phát triển các cơ sở cung cấp nguyên liệu và dịch vụ, góp phần chuyển đổi tập quán sản xuất truyền thống của nhiều vùng nông thôn, mở ra khả năng nâng cao chất lượng và giá trị nông sản, mở rộng thị trường … Như vậy, sự phát triển các đô thị sẽ tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn và của cả nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

+ Sự phát triển của các đô thị cũng được đánh giá là đã tạo điều kiện

để bổ sung nguồn vốn đầu tư cho sự phát triển của các vùng nông thôn, vùng kém phát triển thông qua việc các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức từ các thành phố lớn chuyển vốn đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh công nghiệp, du lịch, văn hoá… đến các vùng kém phát triển Thông qua việc thu hút lao động tới các đô thị, một phần đáng kể trong thu nhập của người lao động được đưa trở về các vùng nông thôn, vùng kém phát triển để giúp đỡ gia đình xây dựng, sửa sang nhà cửa, đường sá, phát triển kinh tế nông hộ v.v

Trang 25

Tóm lại, đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hoá Sự phát triển của các đô thị có vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của cả nước Nhiều đô thị đã và

đang chuyển dần từ chức năng hành chính thuần tuý sang cả chức năng kinh

tế, đồng thời tùy theo các cấp độ khác nhau mà đảm nhận các chức năng trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá Tác động lan toả của các đô thị được

mở rộng cả về phạm vi không gian và biến đổi về chất Nhiều đô thị đã thực

sự trở thành các hạt nhân động lực cho sự phát triển của nhiều vùng

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con người, sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến cân bằng sinh thái do tài nguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, khối lượng khai thác và sử dụng nước sạch tăng, ô nhiễm các chất thải công nghiệp và sinh hoạt, giảm diện tích cây xanh và mặt nước, bùng nổ giao thông cơ giới

Ngoài ra, sự gia tăng dòng người di dân từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường, hình thành các khu nhà “ổ chuột” và khu nghèo đô thị, gây nên những khó khăn cho công tác quản lý đô thị do sự phức tạp về mặt tổ chức đời sống và sản xuất v.v…

Do đó, khi quy hoạch đô thị, cần phải tính đến các biện pháp ngăn chặn và hạn chế những hiện tượng không có lợi đó

- Đối với nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống muốn trở thành nước có nền công nghiệp hiện đại, thì phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đó là con đường để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Cũng như ở nhiều nước khác, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cũng tất yếu kéo theo quá trình đô thị hoá Tốc độ công nghiệp hoá càng nhanh thì trình độ đô thị hoá càng cao Đô thị hoá là quan hệ hệ quả tất yếu của CNH, HĐH Đô thị hoá và sự hình thành các đô thị hiện đại là một trong những chỉ tiêu cơ bản phản ánh trình độ CNH, HĐH Về thực chất, CNH, HĐH và đô thị hoá là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh khu vực công nghiệp và dịch vụ và chuyển dịch cơ cấu lao động

đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, tăng nhanh lao động làm công nghiệp và dịch vụ, giảm mạnh lao động làm nông nghiệp Công nghiệp hoá diễn ra

đồng thời với phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế mở, khu

Trang 26

công nghiệp tập trung, các trung tâm dịch vụ lớn, cùng với nó là quá trình

mở rộng các khu đô thị, các thị trấn, thị tứ… Điều đó dẫn đến dân số thành thị cũng sẽ tăng lên Và như vậy, một phần lớn lao động nông thôn làm nông nghiệp sẽ phải chuyển sang làm phi nông nghiệp, dân sống ở nông thôn trở thành dân thành thị

Đến nay, tuy mức độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở Việt Nam đã và đang được đẩy nhanh, nhưng so với thế giới vẫn còn ở mức thấp Theo báo cáo thống kê của Liên hiệp quốc, các nước công nghiệp phát triển, các nước NIC, NIE (các nước và các nền kinh tế công nghiệp mới) và các nước kém phát triển có sự khác nhau rất xa về trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá, có thể thấy qua biểu sau:

Biểu 1.2: Các chỉ tiêu cơ bản phản ánh trình độ công nghiệp hoá

và đô thị hoá ở một số nước

Các nước G7 Các nước NIC, NIE Các chỉ tiêu

Quốc Malaysia

Thái Lan

Việt Nam

1 GDP bình quân đầu người, năm 2003 (USD giá cố định năm 1993)

Nguồn: - Thống kê của Liên Hợp Quốc các năm,

- Điều tra Lao động - Việc làm hàng năm

Biểu 1.2 cho thấy trình độ công nghiệp hoá, đô thị hoá của nước ta rất thấp so với các nước G7, NIC, NIE Mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm 2003 Việt Nam chỉ đạt 471 USD (tính theo giá cố định năm

Trang 27

1993), đến năm 2005 ước tính đạt 600 USD, vẫn chưa thoát khỏi nhóm nước nghèo nhất thế giới; ngược lại, các nước NIC, NIE có mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người cao hơn nước ta từ 5 đến 24 lần, các nước G7 cao hơn từ 60 đến 80 lần Để trở thành nước công nghiệp, cơ cấu kinh tế chủ yếu phải là công nghiệp và dịch vụ và kéo theo nó đại bộ phận lao động làm việc trong ngành công nghiệp và dịch vụ Đối với Việt Nam, đến năm 2004, lao

động làm nông nghiệp vẫn chiếm tới 57,9% Nếu lấy năm 2000 để so sánh,

tỷ lệ lao động làm nông nghiệp của nước ta khoảng 62,6%, trong khi các nước NIC, NIE chỉ khoảng dưới 20%, các nước G7 chỉ khoảng 2-5% Về trình độ đô thị hoá, đến năm 2004, Việt Nam có tỷ lệ dân số thành thị chiếm 26,32%, đến năm 2005 đạt khoảng 26,85%, trong khi các nước NIC, NIE có

tỷ lệ cao hơn nhiều (Thái Lan 32%, Malaysia 64%, Hàn Quốc 81%) và chỉ bằng 1/3 các nước G7 Tỷ lệ lao động làm công ăn lương, cũng là chỉ tiêu quan trọng của công nghiệp hoá, đô thị hoá Nói chung các nước công nghiệp và có trình độ đô thị hoá cao, có thị trường lao động chính thức rất phát triển thì tỷ lệ lao động làm công ăn lương rất cao, khoảng 40-70% (NIC, NIE) và khoảng 90% (G7) Trong khi đó, ở nước ta đến năm 2003 chỉ khoảng 23,81% và năm 2005 khoảng 27,2%, bằng 1/2 các nước NIC, NIE

và bằn 1/3 - 1/4 các nước G7 Trong vòng 15 năm, tỷ lệ dân số thành thị chỉ tăng 7,7%, bình quân mỗi năm tăng trên 0,5% So với thế giới, Việt Nam

đứng thứ 8 ở khu vực Đông Nam á và thấp hơn châu Phi (33%), châu á (38%), mức trung bình của thế giới (47%) Nếu xếp thứ tự từ cao xuống thấp thì tỷ lệ dân số thành thị của Việt Nam đứng thứ 42 trong tổng số 51 nước

và vùng lãnh thổ châu á, đứng thứ 181 trong tổng số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới

Tình hình trên đây đặt ra cho chúng ta là phải đẩy nhanh hơn nữa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá, như là một yêu cầu khách quan và cấp bách nhất của sự phát triển Trên thực tế đối với nước ta, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đang diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh góp phần quan trọng phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch

vụ, nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các trung tâm thương mại và dịch vụ, là yếu tố quan trọng duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao, tạo nhiều việc làm ở khu vực chính thức (khu vực kết cấu), với chất lượng việc làm và giá trị lao động ngày càng cao Theo tính toán, 1 ha đất nông nghiệp chỉ sử dụng khoảng 3-5 lao động, làm

ra giá trị khoảng 22,5 triệu đồng/năm (năm 2004) Nhưng nếu chuyển sang xây dựng khu công nghiệp, có thể thu hút 50-100 lao động và hơn nữa (tuỳ

Trang 28

quy mô doanh nghiệp) và làm ra giá trị từ 500 triệu đến hàng tỷ đồng/năm, thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp cao gấp nhiều lần làm nông nghiệp

- Đối với nước ta, với 80% dân cư sống ở nông thôn, và khoảng 60% lực lượng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp, muốn trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại như mục tiêu đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra, thì con đường duy nhất là chúng ta phải đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước

ta cũng đi liền với quá trình đô thị hoá, quá trình nâng cấp, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và các công trình phục vụ lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia Tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng nhanh thì trình độ đô thị hoá càng cao, hệ thống cơ sở hạ tầng và các công trình công cộng càng

đồng bộ, càng hiện đại Chính vì thế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng và các công trình công cộng là những chỉ số cơ bản nói lên trình độ phát triển của nền kinh tế nước ta

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở nước ta cũng chính là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, cơ cấu lại việc phân bổ dân cư theo hướng tăng nhanh khối lượng dân cư sống ở khu vực thành thị và giảm mạnh số lượng và tỷ lệ dân cư sống

ở khu vực nông thôn Quá trình hình thành các đô thị ở nước ta trong những

năm gần đây có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong các đô thị lớn Sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trong

những đô thị lớn là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị, là biểu hiện của tính chuyên môn hoá cao trong sản xuất, kinh doanh Các hoạt

động sản xuất kinh doanh có cùng đặc điểm, tính chất là được tập trung vào một khu vực tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu tốt hơn, sản xuất với năng suất và hiệu quả cao hơn và tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm của đô thị, thị trường lao động phong phú hơn, tính hiệu quả tăng do tập trung mật

độ của các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ

- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các vùng ngoại ô Sự hình thành các trung tâm của mỗi vùng là tất yếu khách

quan nhằm đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống ngày càng tăng của chính vùng đó và là hạt nhân lan toả sang các vùng khác Đó cũng là

Trang 29

biểu hiện của tính tập trung hoá trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, quy mô sản xuất và hoạt động thương mại - dịch vụ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quy mô dân số của vùng để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả Đồng thời, các trung tâm này còn là điểm nối, hay sự chuyển tiếp giữa các đô thị lớn làm cho tính hiệu quả của hệ thống

đô thị được nâng cao Trong quá trình đô thị hoá, các trung tâm này sẽ trở thành những đô thị vệ tinh của các đô thị lớn

- Mở rộng các đô thị hiện có Việc mở rộng các đô thị hiện có theo mô

hình làn sóng là xu thế tất yếu khi nhu cầu về đất xây dựng đô thị tăng và khả năng mở rộng có thể thực hiện tương đối dễ dàng Xu hướng này tạo sự

ổn định và giải quyết các vấn đề quá tải cho đô thị hiện có

- Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị Đây là xu hướng hiện

đại trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn ở nước ta Vấn đề cơ bản là tạo nguồn tài chính để xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại Ví dụ khu đô thị Nam Sài gòn là sự chuyển một vùng nông thôn thành đô thị hiện đại

- Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất Cả hai hình thức đô thị hoá đều dẫn

đến sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất Hình thức phát triển theo chiều rộng

đưa đến tình trạng thu hẹp đất canh tác nông nghiệp nhanh chóng Một phần

đất do nhà nước thu hồi để xây dựng các công trình, một phần đất dân cư bán cho những người từ nơi khác tới để ở, để làm cơ sở sản xuất, kinh doanh Hình thức phát triển theo chiều sâu cũng dẫn đến tình trạng thay đổi mục đích sử dụng đất Trong quá trình đô thị hoá, Nhà nước chủ động chuyển đổi mục đích

sử dụng đất nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế – xã hội

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong quá trình đô thị hoá, cơ cấu

ngành kinh tế trong đô thị, trong vùng và cả nền kinh tế đều thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng trong khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III Khi đô thị mở rộng ra vùng ngoại vi nhằm giải quyết vấn đề quá tải dân số, hình thành các khu dân cư đô thị ở các vùng ngoại vi thì các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng khu vực III

- Thay đổi hình thái kiến trúc Hình thái kiến trúc đô thị được biểu

hiện tập trung ở các kiểu nhà ở Kiểu nhà ở phản ánh trình độ văn hoá, mức sống, đặc điểm xã hội mỗi thời kỳ Tại các thành phố chúng ta có thể phân biệt những toà nhà cổ, những toà nhà xây dựng thời bao cấp, những toà nhà

Trang 30

xây dựng thời kỳ đổi mới Tại các vùng nông thôn các ngôi nhà kiểu thành thị đang dần thay thế cho nhà mái ngói ở các phường mới, quận mới, khu

đô thị mới những toà nhà hiện đại đã và đang được xây dựng

- Hình thành nhanh chóng cơ sở hạ tầng Quá trình đô thị hoá là quá

trình hình thành nhanh chóng cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà bắt đầu bằng hệ thống giao thông, tiếp theo đó là hệ thống cấp điện, cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, trường học, bệnh viên, trung tâm thương mai, dịch vụ và cuối cùng là khu ở của dân cư Trong quá khứ, việc hình thành các khu ở của dân cư trước hoặc đồng thời với việc hình thành cơ sở hạ tầng đã gây rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý quy hoạch đô thị

- Thay đổi lối sống Thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống , phương thức

kiếm sống là kết quả tất yếu của quá trình đô thị hóa Người dân đô thị sẽ nhanh chóng làm biến đổi tập quán phù hợp với lối sống đô thị hiện đại Những tục lệ như ma chay, cưới xin sẽ theo kiểu đô thị để hợp với xã hội

đô thị

- Thay đổi cơ cấu dân cư Trong quá trình đô thị hoá, cơ cấu dân cư

theo tuổi-giới, theo tầng lớp xã hội, theo nghề nghiệp cũng biến đổi theo Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét Thu nhập của dân cư nói chung tăng lên nhưng tốc độ tăng của mỗi nhóm xã hội, mỗi nghề nghiệp rất khác nhau Cơ cấu giàu nghèo có quan hệ chặt chẽ với cơ cấu nghề nghiệp, việc làm của người lao động

Đô thị hoá tất yếu dẫn đến sự phân bố lại các nguồn lực trong đó có nguồn lực về đất đai; Phải chuyển một bộ phận đất đai, trước hết là đất nông nghiệp sang phục vụ cho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, cho việc mở rộng các khu đô thị cũ và xây dựng các khu đô thị mới, cũng như cho việc xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và các công trình công cộng phục vụ lợi ích của cộng đồng và quốc gia Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Đô thị hoá ở nước ta cũng đang diễn ra đồng thời cả hai quá trình: Đô thị hoá theo chiều rộng và đô thị hoá theo chiều sâu Trong những năm gần đây

và cho đến năm 2020, khi nền kinh tế nước ta cơ bản trở thành một nền kinh

tế công nghiệp- đô thị hoá ở nước ta đã và sẽ tiếp tục diễn ra với quy mô lớn theo chiều rộng Như đã nêu ở trên, so với nhiều nước trong khu vực, mức

độ đô thị hoá ở nước ta vẫn còn rất thấp Đồng thời với đô thị hoá theo chiều

Trang 31

sâu, đô thị hoá theo chiều rộng là tất yếu khách quan Trong quá trình đó, các thành phố, các khu đô thị hiện có sẽ tiếp tục mở rộng quy mô ra các vùng ngoại vi và hình thành nên các thành phố, các khu đô thị có quy mô lớn hơn Đồng thời một loạt các thành phố, thị xã, thị trấn, các khu đô thị sẽ

được nâng cấp và hình thành các thành phố, các quận, phường mới Theo đó quy mô dân số đô thị sẽ không ngừng gia tăng Đó cũng là quá trình hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ, các khu đô thị mới

1.1.2.Tầm quan trọng của việc thu hồi đất để công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở nước ta

Thực tiễn ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy, CNH, HĐH

& ĐTH tất yếu sẽ dẫn đến một bộ phận đất đai được chuyển đổi mục đích

sử dụng Trong quá trình đó, Nhà nước sẽ thực hiện thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia

Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia

ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi chúng ta thực hiện đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn từ những năm 1990, khi nền kinh tế nước

ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định rõ: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại1 Cùng với CNH, HĐH nền kinh tế, nhiệm vụ xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng: giao thông, điện lực, thông tin, thuỷ lợi, cấp nước, thoát nước.v.v được đặt ra một cách cấp thiết Tiến trình CNH, HĐH

ở nước ta từ những năm 1990 được gắn liền với đô thị hoá cả về chiều rộng

và chiều sâu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm (2001 – 2010) đã nêu rõ: phát triển mạng lưới đô thị phân bổ hợp lý trên các vùng Hiện đại hoá dần các thành phố lớn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn2 Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam thời kỳ 1996 – 2020 xác định mục tiêu phát triển đô thị cả nước đến năm 2020 là: xây dựng tương đối

1 Vân kiiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2001, trang 89

2 Như trên, trang 94

Trang 32

hoàn chỉnh đô thị cả nước, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và kỹ thuật hiện đại, có môi trường đô thị trong sạch, được phân bổ và phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước…, phấn đấu đến năm 2020, dân số đô thị chiếm khoảng 45% dân số cả nước3

Thực hiện chủ trương trên, từ những năm 1990, quá trình thu hồi đất

để phát triển và xây dựng mới các đô thị, xây dựng các khu công nghiệp và kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở nước ta đã diễn ra rất mạnh mẽ

Biểu 1.3: Tình hình biến động các loại đất giai đoạn 1990 -2003

Đơn vị : ha

Loại đất 1990 2000 2003 2000/1990 2003/1990 2003/2000

1- Đất xây dựng 91.452 126.491 161.700 +35.039 +70.248 +35.209 2- Đất giao thông 231.106 437.965 481.600 +206.859 +250.494 +43.635 3- Đất thuỷ lợi 340.812 557.010 583.200 +216.198 +242.388 +26.190

đất chưa sử dụng: 12.604.100 ha Đến năm 2003 cả nước có 9.531.800 ha

đất nông nghiệp, 12.402.200 ha đất lâm nghiệp có rừng, 1.669.600 ha đất chuyên dùng, 460.400 ha đất ở, 8.867.400 ha đất chưa sử dụng Như vậy,

đất chuyên dùng năm 2003 so với năm 1996 tăng lên khoảng 367.818 ha, bình quân mỗi năm tăng 52.545 ha Đất chuyên dùng tăng lên chủ yếu do xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia Số liệu ở biểu 1.3 cho thấy tình hình biến động các loại đất ở nước ta thời kỳ 1990 – 2003

Theo biểu 1.3 cho thấy, trong 13 năm, từ năm 1990 đến năm 2003, chúng ta đã thu hồi tới 697.410 ha đất phục vụ cho việc xây dựng các khu

3 Bộ Xây dựng: Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam thời kỳ 10096 – 2020

Trang 33

công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia Trong đó, đất giành cho xây dựng là 70,248

ha, đất giao thông là 250.494 ha, đất cho thuỷ lợi là 242,388 ha Riêng đối với đất ở, thì đất ở đô thị cũng tăng tương đối nhanh, song do chúng ta thực hiện việc điều chỉnh lại định mức đất ở cho khu vực nông thôn theo quy

định của Luật đất đai năm 1993 nên số lượng đất ở năm 2003 giảm so với năm 1990

Riêng giai đoạn từ 2001 đến năm 2003, tổng diện tích đất thu hồi là 153.979 ha, trong đó đất chuyên dùng là 136.757 ha, đất ở là 17.222 ha

Điều đáng chú ý là, diện tích đất thu hồi phục vụ cho xây dựng của 3 năm này lớn hơn so với 10 năm trước đó Còn đối với đất ở thì diện tích đất ở thuộc khu vực đô thị tăng nhanh hơn đất ở của khu vực nông thôn

Việc thu hồi đất không diễn ra đồng đều ở các vùng, miền và ở 64 tỉnh, thành phố của cả nước mà chỉ tập trung ở một số vùng, một số địa phương có điều kiện thuận lợi, nhất là gần các sân bay, bến cảng, các đầu mối giao thông đường sắt và đường bộ, gần các trung tâm kinh tế lớn của

đất nước Hơn nữa, mức độ thu hồi đất cũng còn phụ thuộc lớn vào những tỉnh, thành phố có đội ngũ cán bộ có năng lực, năng động sáng tạo và có chính sách cởi mở, phù hợp với xu thế phát triển của địa phương

Các vùng có đất thu hồi nhiều nhất là vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ Cho đến nay, các tỉnh, thành phố sau đây là những địa phương có đất bị thu hồi nhiều: Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hoà, Lâm Đồng, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp và Cần Thơ Vì vậy, những bức xúc liên quan đến vấn đề thu hồi đất (giá cả đền bù, tổ chức tái định cư, giải quyết việc làm và thu nhập.v.v.) cũng chủ yếu là diễn ra ở các địa phương này

Trang 34

Biểu 1.4: Tình hình thu hồi đất ở một số địa phương

Nguồn : Báo cáo của các tỉnh và tài liệu của Bộ Lao động - TB và Xã hội, 2005

Việc thu hồi đất ở nước ta trong những năm gần đây là sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất Nhờ có thu hồi đất, chúng ta đã xây dựng nhiều khu công nghiệp, các cụm công nghiệp; Mở rộng và xây dựng mới các khu đô

thị; Mở rộng và xây dựng mới hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội giao thông, cấp điện, cấp – thoát nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện v.v; Hoàn thiện và phát triển các cơ sở kinh doanh dịch vụ: Khách sạn, nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm dịch vụ, du lịch; Mở rộng và xây dựng mới các khu vui chơi giải trí, công viên, cây xanh v.v Chính điều

đó làm cho quá trình CNH, HĐH có bước tiến đáng kể, quá trình đô thị hoá

diễn ra mạnh mẽ hơn

Thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình CNH, HĐH & ĐTH Tác động này thể hiện rõ ở những điểm dưới đây

Trang 35

Thứ nhất, nhờ có đất thu hồi, cả nước đã xây dựng được 131 khu công nghiệp, khu chế xuất, thu hút được hàng trăm dự án đầu tư ở trong và ngoài nước với hàng chục tỷ USD và hàng ngàn tỷ đồng cho phát triển kinh tế – xã

hội của đất nước

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở một nước nông nghiệp như nước ta thì

nội dung quan trọng nhất là chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm lao động nông thôn Đặc biệt, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

luôn gắn liền với xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất

Tính đến hết năm 2005, cả nước đã có 131 khu công nghiệp và khu chế xuất

đã được xây dựng với tổng diện tích 28.076 ha Ngoài ra còn có 124 cụm công nghiệp hoặc khu công nghiệp vừa và nhỏ do các địa phương thành lập, rải rác tại 19 tỉnh, thành phố với tổng diện tích hơn 6.500 ha Hiện vẫn còn

có gần 350 khu vực ở 54 tỉnh, thành phố kiến nghị đưa vào quy hoạch xây dựng thành khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 35.000 ha

Biểu 1.5: Phát triển các khu công nghiệp của nước ta

đến năm 2005 phân theo vùng.

công nghiệp (khu)

Diện tích sử dụng (ha)

1- Vùng trung du miền núi phía Bắc 4 577

Trang 36

Biểu 1.6 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép và đầu tư

của khu vực dân doanh thời kỳ 1988 -2004

Năm Số dự án đầu tư trực

tiếp nước ngoài được cấp phép (dự án)

Vốn đóng góp đầu tư trực tiếp nước ngoài (triệu USD)

Đầu tư của khu vực dân doanh (tỷ VNĐ)

trình đô thị hoá cũng được đẩy mạnh

Năm 1954, dân số thành thị ở nước ta là 2.748.000 người trong tổng số 25.074.000 người (tỷ lệ đô thị hoá là 11%) Trong những năm 1975 – 1990, tốc độ đô thị hoá ở nước ta diễn ra rất chậm, trong khi đó, dân số tăng nhanh làm cho tỷ lệ dân số thành thị có xu hướng giảm

Trang 37

Biểu 1.7: Dân số đô thị Việt Nam giai đoạn 1975-1990

số (1000 người)

Trong đó : Thành thị (1000 người)

Tỷ lệ dân

số thành thị (%)

Tốc độ tăng dân

số (kỳ sau so với

kỳ trước – lần)

Tốc độ tăng dân số đô thị (kỳ sau so với

Trong đó : Thành thị (1000 người)

Tốc độ phát triển dân số (kỳ sau so với kỳ trước – lần)

Tốc độ phát triển dân

số đô thị (kỳ sau so với kỳ trước – lần)

Nguồn : Số liệu thống kê 2004, NXB Thống kê - Hà Nội 2004

Đặc biệt là từ năm 2000 đến nay, đô thị hoá ở nước ta đã diễn ra với tốc

độ nhanh Tính đến 31/12/2004, cả nước có 25 thành phố trực thuộc tỉnh, 42 quận, 59 thị xã, 536 huyện, 1.181 phường, 583 thị trấn, 9.012 xã Đến cuối năm 2005, cả nước có 679 đô thị, tăng gấp 1,4 lần so với năm 1990, trong

đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 87 thành phố trực thuộc tỉnh, 587 thị trấn5 Hệ thống đô thị của ta rải đều trên khắp lãnh thổ với đủ các loại hình : đô thị công nghiệp, đô thị cảng, đô thị hành chính, đô thị du lịch, đô thị tổng hợp Tuy nhiên, nhìn chung, quy mô các đô thị còn nhỏ bé, cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập

4 Dự báo

5 Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trang 38

Biểu đồ 1.2 : Tỷ lệ dân số đô thị ở Việt Nam

từ 2001-2005 khu vực nội đô cũng đã mở ra thêm 6502 ha, và điều đáng nói

là cả hai thành phố này đã có dáng dấp của một thành phố hiện đại

Ngoài ra một loạt các thị xã cũng được mở rộng, xây mới khá khang trang và được nâng lên thành thành phố như : Lạng Sơn, Lào Cai, Điện Biên, Hải Dương, Thanh Hoá, Pleicu, Quảng Ngãi.v.v Cả nước đã hình thành một

hệ thống khá đồng bộ các đô thị trung tâm và đô thị vệ tinh, từng bước thực hiện tốt mục tiêu chiến lược phát triển đô thị Việt Nam giai đoạn 1996 – 2020

tương đối hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng

- Sân bay Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất được mở rộng và nâng cấp thường xuyên để đạt chuẩn quốc tế Nhiều sân bay mới được đưa vào sử dụng như: Cát Bi, Điện Biên, Vinh, Chu Lai, Phù Cát, Cam Ranh, Pleicu, Buôn Ma Thuột, Liên Khương, Cần Thơ, Côn Đảo, Phú Quốc

- Cảng biển Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn được mở rộng, nâng cấp và hiện đại để có thể tiếp nhận được các loại tàu trọng tải lớn ra vào cập cảng

11

19.5 20.75

26.32 27.2

0 5 10 15 20 25 30

Trang 39

Đồng thời, một loạt cảng mới, cảng nước sâu cũng được đầu tư xây dựng như cảng Cái Lân, Cảng Nghi Sơn, cảng Chân Mây, cảng Dung Quất, cảng Thi Vải.v.v , tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới

- Hệ thống đường bộ được xây mới, mở rộng và nâng cấp nhanh, nhất

là đường quốc lộ 1, quốc lộ 3,5,6,8,9,10,14,18, đường Phan Rang-Đà Lạt,

Đồng Nai-Đà Lạt, đường xuyên á: TP Hồ Chí Minh – Nông Pênh; TP Hồ Chí Minh - Vũng Tàu v.v Việc hoàn thành xây dựng mới đường Hồ Chí Minh đã tạo thuận lợi cho phát triển toàn bộ vùng miền Tây của đất nước

- Hệ thống điện lưới quốc gia đã kéo đến tất cả các tỉnh và huyện trong cả nước, đặc biệt là hoàn thành xây dựng hai đường dây 500KV Bắc Nam, tạo điều kiện cho việc điều hoà lượng điện tiêu thụ giữa các miền ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn

- Hệ thống thông tin, liên lạc, bưu chính viễn thông được phát triển và hiện đại hóa rất nhanh, thoả mãn được yêu cầu ngày càng cao của các cấp, các ngành và nhân dân, kịp thời phục vụ chỉ đạo, điều hành và các hoạt

động sản xuất - kinh doanh - dịch vụ và đời sống

- Hệ thống thuỷ lợi được nâng cấp và xây mới ngày một nhiều, nâng diện tích được tưới tiêu chủ động lên thêm 2 triệu ha so với trước năm 1990

Thứ tư, việc hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị mới đã tạo

điều kiện thu hút, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động với thu nhập

tương đối khá, giúp họ từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, cũng như tinh thần của bản thân và gia đình

Biểu 1.9: Số lượng lao động đang làm việc trong các khu công nghiệp

( do Thủ tướng Chính Phủ cấp phép )

Đơn vị : 1000 người

1- Số lao động luỹ kế cuối kỳ

2- Lao động thu nhận qua các năm

3- Tốc độ tăng (%) - - 212,96 122,6 138,3 135,0

Nguồn: GS.TS Võ Thanh Thu, đề tài độc lập cấp Nhà nước, năm 2005

Trang 40

Đó là số lao động trực tiếp được thu hút vào các doanh nghiệp của các khu công nghiệp (do Thủ tướng Chính phủ cấp phép), ngoài ra còn có trên 1 triệu lao động gián tiếp phục vụ cho các khu này nữa

Các tỉnh, thành phố thu hút được nhiều lao động vào làm việc trong các khu công nghiệp là : Đồng Nai 190 ngàn người, Hà Nội 15 ngàn người,

Đà Nẵng 14,5 ngàn người và Bình Định 12 ngàn người

Tóm lại, nếu như CNH, HĐH & ĐTH là tất yếu khách quan đối với nước ta thì việc thu hồi đất để phục vụ CNH, HĐH & ĐTH là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.Vì thế trong quá trình CNH, HĐH &ĐTH, bất cứ nước nào cũng phải chuyển đổi một bộ phận đất đai từ đất nông nghiệp sang công nghiệp và đô thị

1.2 những vấn đề nảy sinh trong quá trình thu hồi

đất để Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá Như đã nêu ở trên, để CNH, HĐH& ĐTH, việc thu hồi đất chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng, đất chuyên dùng

để phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, đường sá giao thông và các công trình quốc gia khác là tất yếu Việc thu hồi đất này làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế – xã hội có liên quan tới 3 đối tượng là xã hội, mà đại diện là nhà nước; Các doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xây dựng các khu đô thị, khu tái định cư; Và người dân có đất bị thu hồi

1.2.1 Đối với người dân có đất bị thu hồi

Đối với người dân có đất bị thu hồi, vấn đề đặt ra là phải giải quyết việc làm, thu nhập và đời sống

1.2.1.1 Vấn đề việc làm của người dân có đất bị thu hồi

Đây là vấn đề quan trọng đặc biệt đối với người dân có đất bị thu hồi Bởi lẽ, bình thương, người dân đang sinh sống trong ngôi nhà của họ, với một công việc ổn định, nhất là nông dân Khi bị thu hồi đất, buộc họ không những phải chuyển nơi ở, mà còn phải chuyển đổi nghề nghiệp Vì thế vấn

đề việc làm là vấn đề rất nan giải đối với người dân bị thu hồi đất

Trong thực tế, quá trình đô thị hoá, kinh tế ở các đô thị mới tăng trưởng nhanh chóng nhờ sự tập trung lực lượng sản xuất, tạo ra năng suất lao

động cao, cách tổ chức lao động hiện đại Do đó, quá trình tăng trưởng kinh

tế đô thị cũng tạo cơ hội để tăng việc làm ở các đô thị Quá trình đó vừa làm tăng tổng việc làm vừa làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong đô thị Ngược

Ngày đăng: 18/05/2017, 14:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức đào tạo nghề cho người bị thu hồi đất khá phong phú. Đề  tài đã phân thành 5 nhóm là đào tạo tại doanh nghiệp, tại trung tâm dạy  nghề, tại cơ sở đào tạo riêng, gửi đi đào tạo và cấp kinh phí tự tìm nơi đào  tạo - Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Hình th ức đào tạo nghề cho người bị thu hồi đất khá phong phú. Đề tài đã phân thành 5 nhóm là đào tạo tại doanh nghiệp, tại trung tâm dạy nghề, tại cơ sở đào tạo riêng, gửi đi đào tạo và cấp kinh phí tự tìm nơi đào tạo (Trang 120)
Biểu 2.44: Hình thức đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất. - Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
i ểu 2.44: Hình thức đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w