Với mục đích tìm hiểu cụ thể các hành vi liên quan đến sức khỏe, vấn đề trầm cảm và stress của SV, phân tích những cảm nhận trải nghiệm từ đó đưa ra một số một số biện pháp để nâng cao n
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Với một sinh viên năm thứ tư chuyên ngành Điều dưỡng, lần đầu tiên tiến hành một nghiên cứu sức khỏe là một thử thách lớn Tôi xin trân trọng cảm ơn tới tất cả mọi người đã giúp tôi trên suốt chặng đường làm nghiên cứu này
Trước hết, xin cảm ơn TS Trần Thị Thanh Hương đã giới thiệu cho tôi một
đề tài mà tôi cho là rất hấp dẫn, bổ ích và mới mẻ Cảm ơn cô đã dẫn dắt tôi từ lúc chuẩn bị đề cương nghiên cứu, tới công việc thu thập số liệu và cho tới khi nghiên cứu thành công
Tôi rất biết ơn tất cả những bạn sinh viên đã tham gia vào trong nghiên cứu Không có sự hiện diện cũng như sự chia sẻ chân thành của họ, tôi sẽ không bao giờ hoàn thành được đề tài này
Xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các phòng ban đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu và phỏng vấn sinh viên
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thành viên trong gia đình cũng như các anh chị trong lớp KTC4 đã luôn ủng hộ tôi trong quá trình làm nghiên cứu Sự ủng
hộ bằng cả vật chất và tinh thần đó là nguồn động lực lớn nhất để tôi đi tới cùng trong đề tài này
Sinh viên
Nguyễn Thị Hưởng
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: - Bộ môn Điều dưỡng trường Đại học Thăng Long
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm khóa luận tốt nghiệp một cách khoa học, chính xác và trung thực
Các kết quả, số liệu trong khóa luận này đều có thật, thu được từ quá trình nghiên cứu của chúng tôi, chưa được đăng tải trong tài liệu khoa học nào
Sinh viên
Nguyễn Thị Hưởng
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CES-D The centre for Epidemiological Studies - Depression Scale: Thang điểm
đánh giá nguy cơ trầm cảm ĐHTM Đại học Thương Mại
SAVY 2 Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ II
SV Sinh viên
UNFPA United Nations Population Fund: Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc
UNICEF United Nations Children's Fund: Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
WHO World Health Organization:Tổ chức y tế thế giới
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các chỉ số, biến số nghiên cứu 16
Bảng 3.1: Các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 19
Bảng 3.2: Các chỉ số cơ thể của SV 20
Bảng 3.3: Mức độ sử dụng các chất có hại cho sức khỏe của SV 21
Bảng 3.4: Một số đặc điểm về hành vi sinh hoạt tình dục ở SV 22
Bảng 3.5: Đặc điểm dinh dưỡng của SV 24
Bảng 3.6: Thời gian nghỉ ngơi tĩnh tại của SV 24
Bảng 3.7: Tỷ lệ chơi game online và vào mạng xã hội ở SV 24
Bảng 3.8: Nguy cơ trầm cảm ở SV 25
Bảng 3.9: Một số triệu chứng trầm cảm ở SV 26
Bảng 3.10: Stress với mối quan hệ cá nhân với gia đình, bạn bè và xã hội 26
Bảng 3.11: Stress với bản thân SV 27
Bảng 3.12: Stress với việc học tập 28
Bảng 3.13: Stress với môi trường sống và làm việc 28
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 3.1: Tình hình sử dụng mũ bảo hiểm khi đi xe máy của SV 20
Hình 3.2: Tỷ lệ quan hệ tình dục ở SV trong vòng 12 tháng qua 23
Hình 3.3: Tỷ lệ các biện pháp tránh thai đƣợc sử dụng khi quan hệ 23
Hình 3.4: Thời gian chơi game online và vào mạng xã hội của SV 25
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1 Một số khái niệm 3
2 Một số nghiên cứu đã có về sức khỏe SV 7
3 Khái quát đặc điểm của SV 11
Chương 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
1 Địa điểm và thời gian 14
2 Đối tượng nghiên cứu 14
3 Phương pháp nghiên cứu 14
4 Đạo đức nghiên cứu 18
CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 19
2 Hành vi sức khỏe của SV 20
3 Đánh giá nguy cơ trầm cảm (CES-D) 25
4 Các yếu tố liên quan tới stress 26
CHƯƠNG 4:BÀN LUẬN 30
1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 30
2 Hành vi sức khỏe của SV 31
3 Đánh giá nguy cơ trầm cảm 33
4 Các yếu tố liên quan tới stress 34
KẾT LUẬN 35
KHUYỂN NGHỊ 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 71
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tuổi trẻ là nền tảng cho một đời người Với sinh viên, thời gian ngồi trên ghế giảng đường đại học là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong quá trình lâu dài tích lũy kiến thức, kinh nghiệm và phương pháp tư duy
Học tập ở đại học là cơ hội tốt để sinh viên (SV) được trải nghiệm bản thân, vì thế SV rất thích khám phá, tìm tòi cái mới Đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình Tuy nhiên, với lứa tuổi này, theo quy luật phát triển tâm lý, SV lại đối mặt với nhiều hành vi không có lợi cho sức khỏe như uống rượu, hút thuốc, hành vi tình dục không an toàn…Đây cũng chính là thời gian mà nhiều SV có sự thay đổi môi trường sống, bắt đầu một cuộc sống tự lập, thay đổi môi trường học tập với cách thức học tập khác hẳn so với thời gian học phổ thông Vì vậy, nhiều SV không thể đương đầu với những khó khăn, thử thách
lâm vào chứng trầm cảm và stress
Theo báo cáo chung điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ II (SAVY 2) do Bộ Y tế, Tổng cục thống kê và các cơ quan hỗ trợ UNFPA, UNICEF, WHO năm 2010 thì tỷ lệ thanh thiếu niên nói chung, SV nói riêng sử dụng rượu bia, hút thuốc ngày càng nhiều hơn Số lượng thanh thiếu niên tập thể dục thể thao "rất thường xuyên" hoặc "thường xuyên" rất cao, còn lại chỉ thỉnh thoảng mới tập hoặc hiếm khi hay không bao giờ tập thể dục, thể thao SAVY 2 cho thấy thanh thiếu niên có cái nhìn lạc quan về cuộc sống trong tương lai, không có sự khác biệt đáng kể về mức độ lạc quan giữa nữ và nam, giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các nhóm thanh niên có trình độ học vấn khác nhau, cũng như giữa những người theo các tôn giáo khác nhau Mặt khác, SAVY 2 cũng cho thấy có một
tỷ lệ không nhỏ trong số họ còn có lúc có cảm giác tự ti (29,9%), có cảm giác thất vọng, chán chường về tương lai (14,3%) Cuộc sống gia đình, môi trường học tập,
sự hài lòng với công việc, việc có hay không sử dụng chất gây nghiện là những yếu tố có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của thanh thiếu niên [2]
Trang 8Trường Đại học Thương Mại (ĐHTM) với hơn 14.000 SV chính qui đang theo học, những cử nhân kinh tế tương lai Ngoài việc cần có thể lực như ý, bộ óc cũng cần nhạy bén chạy đua với các con số để phù hợp với thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trạm y tế trường có nhiệm vụ cơ bản là chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cán bộ giáo viên và SV Hiện tại chưa có nghiên cứu nào liên quan đến sức khỏe của SV trong trường Với mục đích tìm hiểu cụ thể các hành vi liên quan đến sức khỏe, vấn đề trầm cảm và stress của SV, phân tích những cảm nhận trải nghiệm từ
đó đưa ra một số một số biện pháp để nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và điều
chỉnh hành vi của SV, chúng tôi tiến hành làm đề tài “Thực trạng hành vi sức khỏe, nguy cơ trầm cảm và stress của sinh viên năm thứ hai Đại học Thương Mại năm 2013” với 3 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng hành vi sức khỏe của SV năm thứ hai Trường Đại học Thương Mại
2 Đánh giá nguy cơ trầm cảm của SV nói trên
3 Đánh giá các yếu tố liên quan tới stress của SV nói trên
Trang 93
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Một số khái niệm về hành vi sức khỏe, trầm cảm và stress:
1.1 Hành vi sức khỏe:
Hành vi của con người được hiểu là một hành động hay nhiều hành động phức
tạp trước một sự việc, hiện tượng mà các hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan và khách quan
Hành vi sức khỏe là những thuộc tính cá nhân như niềm tin, sự mong đợi,
động lực thúc đẩy, giá trị, nhận thức và kinh nghiệm; những đặc điểm về tính cách bao gồm tình cảm, cảm xúc, các loại hình hành động và thói quen có liên quan đến
sự duy trì, phục hồi và cải thiện sức khỏe Có những hành vi có lợi và hành vi có hại cho sức khỏe mỗi người Đối với học sinh, SV hành vi sức khỏe ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả học tập, lối sống của các em.[5]
Những hành vi có lợi cho sức khỏe SV: Đó là các hành vi lành mạnh được SV thực hành để phòng chống bệnh tật như tập thể dục, dinh dưỡng hợp lý…
Những hành vi có hại cho sức khỏe: Là các hành vi có nguy cơ hoặc có tác động xấu đến sức khỏe như hút thuốc lá, lạm dụng và nghiện rượu, chơi game online quá nhiều, quan hệ tình dục bừa bãi thiếu bảo vệ,…
1.2 Trầm cảm:
Trầm cảm là một bệnh lý y tế liên quan đến tâm trí và cơ thể Cũng được gọi
là rối loạn trầm cảm chính và trầm cảm lâm sàng, nó ảnh hưởng đến cách cảm nhận, suy nghĩ và hành xử Trầm cảm có thể dẫn đến một loạt các vấn đề tình cảm và thể chất Có thể gặp khó khăn khi thực hiện các hoạt động bình thường hàng ngày và trầm cảm có thể làm cho cảm thấy như thế cuộc sống là không đáng sống.[11]
Khoảng vài chục năm gần đây, số người bị rối loạn trầm cảm chiếm tỷ lệ cao
ở hầu hết các nước trên thế giới Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới 5% dân số trên hành tinh của chúng ta có rối loạn trầm cảm rõ rệt [20] Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ của trầm cảm, trong một nghiên cứu dịch tễ lâm sàng
Trang 1010 rối loạn tâm thần thường gặp ở 8 vùng sinh thái do Trần Văn Cường và cộng sự năm 2001 cho tỷ lệ trầm cảm là 2,8% dân số [13]
1.2.1 Các triệu chứng trầm cảm bao gồm:
- Cảm giác buồn bã hay bất hạnh
- Khó chịu hay thất vọng, ngay cả đối với những việc nhỏ
- Mất quan tâm hay niềm vui trong các hoạt động bình thường
- Giảm tình dục
- Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều
- Thay đổi trong sự thèm ăn, trầm cảm thường gây ra giảm sự thèm ăn và giảm cân, nhưng ở một số người nó gây ra thèm ăn và tăng cân
- Vấn đề tư duy, tập trung, quyết định và ghi nhớ
- Thường xuyên suy nghĩ về cái chết hoặc tự tử
- Khóc không có lý do rõ ràng
- Không giải thích được vấn đề, chẳng hạn như đau lưng hay đau đầu
Đối với một số người, các triệu chứng trầm cảm rất nặng, rõ ràng Những người khác nói chung cảm thấy đau khổ hay hạnh phúc mà không thực sự biết tại sao
Trầm cảm ảnh hưởng đến mỗi người theo những cách khác nhau, do đó các triệu chứng trầm cảm khác nhau từ người này sang người khác Kế thừa những đặc
Trang 115
điểm, độ tuổi, giới tính và nền văn hóa, tất cả các đóng một vai trò trong cách trầm cảm có thể ảnh hưởng đến.[11]
1.2.2 Thang điểm đánh giá nguy cơ trầm cảm:
Có nhiều thang điểm để đánh giá rối loạn trầm cảm, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thang đánh giá nguy cơ trầm cảm CES-D (The centre for Epidemiological Studies-Depression Scale), ra đời năm 1977, gồm 20 câu, được thiết kế bao gồm các triệu chứng chính của bệnh trầm cảm được xác định với sự nhấn mạnh vào các phần tình cảm: trầm cảm tâm trạng, cảm giác tội lỗi và vô dụng, cảm giác bất lực và tuyệt vọng, chậm phát triển tâm thần, mất cảm giác ngon miệng
và rối loạn giấc ngủ
Thang đo này đã được đánh giá về tính giá trị và độ tin cậy đối với đối tượng
vị thành niên ở Việt Nam Mỗi câu hỏi được đánh giá ở các mức điểm 0, 1, 2, 3
- 0 điểm: Không bao giờ hoặc hiếm khi (< 1 ngày)
- 1 điểm: Đôi khi (1 - 2 ngày)
- 2 điểm: Thỉnh thoảng hoặc trung bình (3 - 4 ngày)
- 3 điểm: Rất hay xảy ra hoặc hầu hết thời gian trong hoặc lớn hơn 7 ngày Kết quả được phân tích theo các mức độ:
- < 22 điểm: Không có nguy cơ trầm cảm
- ≥ 22 điểm: Có nguy cơ trầm cảm
1.3.1 Tác động của stress:
Trang 12- Đối với cơ thể: Khi bị rơi stress tâm lý hay thể chất, cơ thể sẽ gia tăng sản xuất các loại hormon (adrenaline và cortisol), tạo ra các thay đổi rõ rệt ở nhịp tim, huyết áp, sự trao đổi chất và các hoạt động thể chất khác
- Đối với sức khỏe và đời sống: Stress kéo dài là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của cao huyết áp và bệnh tim, bệnh tâm thần và tâm lý Các thay đổi về hành vi do stress gây ra, chẳng hạn như việc lạm dụng rượu bia, thuốc lá cũng làm suy giảm đáng kể tình trạng thể chất con người
- Đối với cảm xúc: Những người bị stress gần như luôn đắm chìm trong các hành vi tiêu cực, có những dấu hiệu cơ bản như tinh thần dao động và hành vi thất thường, trầm cảm
- Đối với khả năng quyết định: Mất khả năng đưa ra quyết định chính xác, nhất là khi sự tự tin mất đi Những quyết định không thấu đáo về công việc và gia đình có thể dẫn đến những tai nạn hay những vụ tranh cãi, làm tổn thất tài chính và thậm chí mất việc
- Đối với gia đình: Stress có thể làm mối quan hệ gia đình tan vỡ do xung đột xoay quanh những vấn đề liên quan đến việc chăm sóc con cái và đi làm [7]
1.3.2 Các nguyên nhân gây ra stress:
- Xã hội không ngừng thay đổi: Tình trạng di dân từ nông thôn ra thành thị, sự thay đổi môi trường sống và học tập, vai trò ngày càng bình đẳng của phụ nữ,… đã góp phần làm tăng các mức độ stress
- Sự gia tăng tốc độ đô thị hóa: Tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh là nguyên nhân gây stress nhiều nhất trong những thập niên gần đây Stress phát sinh từ những điều kiện sống gò bó, từ sự chung đụng với hàng triệu người xung quanh, sự gia tăng tội ác, tiếng ồn và sự ô nhiễm không khí
- Sự thay đổi môi trường sống và học tập: SV đến học ở các trường đại học hầu hết phải sống xa gia đình Việc thay đổi từ một môi trường sống và học tập quen thuộc và luôn được chăm sóc bởi cha mẹ hay các thành viên khác trong gia đình sang một môi trường hoàn toàn mới mẻ, không ai chăm sóc đã khiến SV rơi vào tình trạng căng thẳng và lo lắng
Trang 137
- Vai trò giới tính thay đổi: Vai trò của phụ nữ đã thay đổi sâu sắc trong 100 năm qua, nhất là khu vực thành thị Vì phụ nữ chiếm đa số trong lực lượng lao động, họ được đánh giá ngang bằng với nam giới và cũng chịu áp lực công việc như nam giới Tuy nhiên phụ nữ thường bị stress nhiều hơn so với nam giới vì sự mâu thuẫn giữa sự nghiệp và gia đình, do họ vẫn phải gánh vác những nghĩa vụ truyền thống trong gia đình.[7]
Nguyên nhân gây stress cho SV có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do hoạt động học tập thi cử và thành tích học tập, vấn đề tiền bạc, kinh tế, tác động của các mối quan hệ gia đình, bạn bè
Các biểu hiện stress nhiều nhất ở SV là sự khó tập trung chú ý, sự khó ghi nhớ, căng thẳng điều đó đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống và kết quả học tập của
SV SV có nhiều cách ứng phó với stress khác nhau, nhiều em đã tìm được cách ứng phó tốt như: gặp gỡ bạn bè nói chuyện, gặp người thân, nghe nhạc Nhưng cũng
có nhiều SV có cách ứng phó chưa hiệu quả như: hút thuốc (sử dụng chất kích thích), đập phá đồ đạc hay chat, chơi game, đi lang thang, cá độ đá bóng, tìm cảm giác phiêu lưu…
2 Một số nghiên cứu đã có về sức khỏe SV:
2.1 Các nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu thực trạng về thể lực của người Việt Nam: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định, cần đặc biệt chú trọng các giải pháp nâng cao tầm vóc
và thể trạng người Việt Nam Để góp phần thực hiện Nghị quyết này, Viện Khoa học thể dục thể thao đã chủ trì thực hiện dự án điều tra thể chất người Việt Nam từ 6-20 tuổi vào thời điểm năm 2001 Điều tra này được tiến hành ở 24 tỉnh, thành trong toàn quốc, trên gần 50.000 đối tượng Dự án này cung cấp các thông tin giúp chúng ta đánh giá thực trạng thể chất, từ đó tìm ra các giải pháp thích hợp tiếp tục nâng cao thể chất người Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ này [3]
Về tỉ lệ hút thuốc lá ở SV, học sinh và học viên khu vực phía Nam và các yếu
tố ảnh hưởng bằng cách khảo sát cắt ngang 5272 thanh niên tuổi từ 15-24 ở các trường trung học, đại học, cao đẳng, dạy nghề ở khu vực này với bộ câu hỏi tự điền
Trang 14Nghiên cứu ghi nhận được tỉ lệ hút thuốc lá ở nhóm đối tượng này là 7,38% Tỉ lệ hút thuốc lá khác biệt đáng kể theo giới tính (ở nam là 14,25% và ở nữ là 0,08%), tuổi (tỉ lệ hút thuốc lá gia tăng từ 15 tuổi và tăng nhanh nhất từ 18-22 tuổi), loại hình học tập (học sinh phổ thông là 1,12%; học viên học nghề 15,61% và SV đại học là 9,51%), mức độ vận động thể lực, nghề nghiệp cha, nơi sinh [4]
Theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế năm 2002, có 11,2% vị thành niên có quan
hệ tình dục, trong đó có hơn 1/3 không sử dụng biện pháp tránh thai nào Theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Anh, biện pháp tránh thai được biết đến nhiều nhất là bao cao su (98,9%), thuốc tránh thai (98%), vòng tránh thai (94,9%).[1]
Theo nghiên cứu về một số vấn đề về sức khỏe tâm thần, các yếu tố nguy cơ cũng như bảo vệ đối với vấn đề này ở SV chính quy của 2 khoa Y tế công cộng và Điều dưỡng tại Đại học Y Dược TP.HCM của tác giả Hồ Ngọc Quỳnh năm 2009 thì
SV nữ có khuynh hướng lo âu nhiều hơn nhưng lại ít trầm cảm hơn SV nam Những yếu tố gia đình có ảnh hưởng đến mức độ trầm cảm của SV nam trong khi những yếu tố liên quan đến môi trường học tập có mối liên hệ mạnh mẽ với mức độ trầm cảm của SV nữ [10] Theo nghiên cứu của Nguyễn Triệu Phong, có trung bình khoảng 8% SV thường xuyên cảm thấy bị trầm cảm, 6,5% thường xuyên cảm thấy buồn, 6,3% thấy cô đơn, 8% thấy nói chuyện ít hơn bình thường, 5,3% không thể bắt đầu việc gì, 10% thấy không muốn ăn hoặc ăn không ngon, 6,5% thấy mọi việc mình làm là sai [8]
Theo cuộc khảo sát năm 2008 do một số giảng viên tâm lý học Trường Sĩ quan Lục quân 2 thực hiện, trong số 200 SV năm thứ nhất của Trường đại học Sư phạm TP.HCM, Đại học Kinh tế quốc dân, Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai, có 54%
SV cho biết cảm thấy khó khăn trong cách sinh hoạt ở môi trường mới, 60% thừa nhận nội dung học tập quá nhiều dẫn đến chán học, lo lắng, khó chịu, 22% bị mất ngủ thường xuyên Không ít tân SV gặp khó khăn khi phải thay đổi cách sinh hoạt hoàn toàn so với thời gian học phổ thông Điều này dễ dẫn đến chán nản, lo lắng Những SV chưa quen sống tự lập càng có nguy cơ bị khủng hoảng, ảnh hưởng đến sức khỏe.[13]
Trang 15Stress của SV: nguồn internet
2.2 Các nghiên cứu trên thế giới:
Theo nghiên cứu của Julie M.Brandy trên SV năm nhất đại học Loyola, Chicago, gần 42% SV hút thuốc lá, tuy nhiên , chỉ có 17,4 % SV báo cáo hút thuốc
lá ít nhất một ngày trong vòng 30 ngày qua Gần một nửa số SV có quan hệ tình dục với ít nhất một bạn tình trong quá khứ ba tháng (40,6%), và hơn một nửa báo cáo có
ít nhất một đồ uống có cồn trong 30 ngày qua (55,2%) [15]
Trang 16Theo một nghiên cứu khác tại một trường đại học tại Đức, cho thấy có khoảng 22,1% SV có hút thuốc lá, 32,5% SV uống rượu vài lần một tuần, 10% có sử dụng các thuốc gây nghiện (cần sa, cocain, amphetamines,…) trong 3 tháng gần đây, hơn 40% SV báo cáo hoạt động thể lực ít hơn một lần một tuần, 8,1% SV ít chú ý tới chế độ dinh dưỡng lành mạnh [17]
Theo một nghiên cứu về ảnh hưởng của facebook trong cuộc sống của SV cho thấy tỷ lệ dùng mạng xã hội facebook hàng ngày là 64%, trong đó 40,1% sử dụng
từ 1 - 2 giờ mỗi ngày và thường vào buổi tối muộn [16]
SV với mạng xã hội Nguồn internet
Theo nghiên cứu của Katherine Skipworth về mối quan hệ giữa stress và trầm cảm ở SV đại học Arizona cho thấy những người đã cả trầm cảm thực sự hay có dấu hiệu trầm cảm thường liên quan tới có mức độ căng thẳng cao, nhiều trách nhiệm học tập, hoàn cảnh sống nghèo đói, sử dụng thuốc theo đơn và đã hoặc cố gắng hay suy nghĩ về tự tử Kết quả cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy là mức độ của SV về căng thẳng giảm, đã làm giảm tỷ lệ trầm cảm, điều này thấy ở tất cả các sinh viên trong trường [19]
Trang 1711
Theo tác giả Brice Pith từ lứa tuổi thanh thiếu niên trầm cảm là chứng bệnh tâm thần phổ biến nhất Theo nghiên cứu được công bố trên Tạp chí 2010 của Hiệp hội y khoa Mỹ, mặc dù thiếu niên tự tử đã giảm sút kể từ năm 1996, năm 2004 tỷ lệ
đã tăng 18% Tỷ lệ này giảm xuống trong năm 2005 nhưng không nhiều, tỷ lệ là khoảng 4,5% trên 100.000 dân Khoảng 18.800.000 người Mỹ trưởng thành, chiếm khoảng 9,5% độ tuổi dân số Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên bị rối loạn trầm cảm trong một năm Trong đó tỷ lệ gặp ở phụ nữ cao gấp 2 lần so với nam giới Năm 1997 có 30.535 người chết vì tự tử tại Hoa Kỳ Tỷ lệ tự tử ở người trẻ gia tăng đáng kể trong vài thập kỷ qua Rối loạn lo âu thường xuyên xảy ra cùng với các rối loạn trầm cảm, rối loạn ăn uống hoặc lạm dụng thuốc.[20]
3 Khái quát đặc điểm của SV:
3.1 Đặc điểm SV Việt Nam:
SV trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác
là "tổng hoà của các quan hệ xã hội" Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng: Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn [14] Một đặc điểm rất đáng chú ý đang xuất hiện trong những người trẻ hôm nay, liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là một cuộc cách mạng, đó là sự hình thành một môi trường ảo, hình thành một lối sống ảo Đặc điểm này chỉ biểu hiện trong giới trẻ, đặc biệt những người có tri thức như SV Hình thành một phương pháp tư duy của thời đại công nghệ thông tin: Ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay vì cây bút, có tính lắp ghép chính xác, hệ thống, hạn chế sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan Con người vì thế sống trong một môi trường ảo, và cái hiện thực ở đây là cái hiện thực ảo, giao tiếp ảo Về môi trường sống, SV thường theo học tập trung tại các trường đại học và cao đẳng (thường ở các đô thị), sinh hoạt trong một cộng đồng (trường, lớp) gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi
Trang 18Đối với SV nước ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn ra qúa trình phân hoá, với hai nguyên nhân cơ bản: Tác động của cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo; sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ SV chênh lệch lớn ngay
từ đầu vào Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó những đặc điểm tương đồng dưới đây:
- Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, … Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ
- Tính năng động: Nhiều SV vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty ngay khi đang còn là SV), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện) Nhiều
SV cùng một lúc học hai trường
- Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn liền với sự định hướng cụ thể Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: SV hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân
và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không Có thể khẳng định là có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân
- Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong SV trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng [14]
Trang 1913
- Tính cá nhân: Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là SV Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân Sự hy sinh, quan tâm đến người khác thấp đi và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận
SV
Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực.[14]
3.2 Đặc điểm SV Đại học Thương Mại:
Được hình thành từ năm 1960, Trường Đại học Thương mại là trường đại học
đa ngành, đa lĩnh vực thương mại hiện đại; một trung tâm giáo dục đào tạo bậc đại học và sau đại học đạt chuẩn chất lượng cao của quốc gia và tiếp cận đẳng cấp quốc
tế về chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo tiên tiến và cập nhật, hệ thống kết cấu hạ tầng và cơ sở học hiện đại, môi trường giáo dục kỷ cương và thân thiện với người học Hiện có 14.566 SV chính qui đang theo học, 6.000 SV tại chức và cao học SV được đào tạo theo tín chỉ và được chọn chuyên ngành ngay từ khi thi vào trường Số lượng nữ sinh chiếm 3/4 trong tổng số SV Ngoài các đặc điểm chung của SV, SV Thương Mại thường nhanh nhạy trong việc tìm kiếm công việc,
tư duy làm giàu, áp lực học tập cao Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên và các phòng ban chức năng luôn phục vụ tốt và tích cực tổ chức các sinh hoạt nhằm thu hút đông đảo SV tham gia [9]
Trang 20CHƯƠNG 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Địa điểm và thời gian:
- Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Thương Mại
- Thời gian nghiên cứu: 1/2013 – 11/2013
2 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng: SV năm thứ 2 Trường Đại học Thương Mại
- SV năm thứ 2 được lựa chọn do đây là thời điểm bắt đầu có sự thích nghi với môi trường học tập ở đại học Đây cũng là thời điểm SV sẽ có nhiều những thay đổi
về hành vi lối sống
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
Hiện đang học năm thứ 2 hệ chính quy
Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
Hiện đang học các năm thứ 1, 3, 4
Từ chối tham gia nghiên cứu
Hiện đang có vấn đề về sức khỏe tâm thần hoặc một số tật như khiếm thị, tật nguyền
Đang trong thời kỳ điều tra liên quan tới vấn đề pháp lý
3 Phương pháp nghiên cứu:
3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
Trang 2115
: Hệ số tin cậy, với α = 0,05 ta có Z = 1,96
p: tỷ lệ SV có nguy cơ trầm cảm Theo nghiên cứu của Đỗ Đình Quyên, tỷ lệ
SV có nguy cơ trầm cảm là 39,6% [18], vì vậy chúng tôi lấy p = 0,4
: Sai lệch mong muốn Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng = 0,05
Từ đó ta tính được n 369, lấy tròn 400 Tính thêm số sinh viên bỏ cuộc, cỡ
mẫu cuối cùng là 450 sinh viên
3.3 Chọn mẫu:
Tống số sinh viên năm thứ 2 tại 9 khoa chuyên ngành là 3575 SV, trong đó tỷ
lệ nam/nữ là ¼ Sinh viên được lựa chọn tham gia nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ danh sách sinh viên năm thứ 2 của các lớp, phân bổ theo tỷ lệ nam/nữ là ¼
3.4 Công cụ thu thập thông tin:
Các thông tin cần thiết nghiên cứu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền Bộ câu hỏi nghiên cứu bao gồm 3 phần:
- Phần 1: Hành vi sức khỏe của SV
- Phần 2: Đánh giá nguy cơ trầm cảm (CESD)
- Phần 3: Đánh giá stress
3.5 Kỹ thuật thu thập số liệu:
- Dựa vào danh sách, lịch học của các lớp do Phòng Đào tạo cung cấp, sắp xếp lịch tập trung phỏng vấn cho các đối tượng
- Giải thích về mục tiêu, nội dung của nghiên cứu trước lớp
- Cán bộ y tế phát bộ câu hỏi cho từng SV đã dự định phỏng vấn để SV tự điền sau đó thu lại ngay sau khi hoàn thành
- Cán bộ thu thập thông tin giám sát và trả lời thắc mắc về nội dung của đối tượng
Trang 223.6 Các chỉ số, biến số nghiên cứu:
Bảng 2.1: Các chỉ số, biến số nghiên cứu
Tình trạng hôn nhân hiện tại Danh mục G4
Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng hành vi sức khỏe của SV năm thứ 2
Trường Đại học Thương Mại
Hành vi sinh
hoạt tình dục
Số bạn tình trong 12 tháng qua Danh mục B5 Quan hệ tình dục trong 12 tháng qua Nhị phân B6
Thói quen, lối sống
Sử dụng mũ bảo hiểm khi đi xe máy Danh mục B1 Uống rượu trong 1 tháng qua Danh mục B2 Hút thuốc lá trong 1 tháng qua Danh mục B3
Dinh dưỡng
Mô tả lượng rau trung bình ăn trong
Hoạt động thể lực
Trang 23Thời gian sử dụng trong ngày Định lượng B101
Mục tiêu 2: Đánh giá triệu chứng trầm cảm (CESD) của SV
Nguy cơ trầm cảm
Các triệu chứng của trầm cảm Nhị phân D1-D20
Tỷ lệ SV có nguy cơ trầm cảm Định lượng
Mục tiêu 3: Những yếu tố liên quan tới stress của SV
Các yếu tố liên quan tới
3.7 Sai số nghiên cứu và kỹ thuật khống chế sai số:
Nghiên cứu không thể tránh khỏi sai số thường gặp của một nghiên cứu mô tả cắt ngang:
- Sai số do đối tượng không hiểu rõ ý của các câu hỏi hoặc trả lời thiếu Khắc phục bằng các thử và sửa chữa bộ câu hỏi, tập huấn kỹ cho điều tra viên giám sát quá trình điều tra
- Sai số do sai sót trong quá trình nhập số liệu Khắc phục bằng các kiểm tra chéo quá trình nhập liệu
- Sai sót do đối tượng từ chối trả lời hoặc trả lời sai sự thực ở những câu hỏi nhạy cảm Khắc phục bằng cách phổ biến cho đối tượng về việc giữ bí mật các thông tin của đối tượng tham gia nghiên cứu
Trang 243.8 Nhập và xử lý số liệu:
- Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
- Xử lý bằng phần mềm STATA v12.0
- Để đánh giá nguy cơ trầm cảm của SV, chúng tôi sử dụng thang đo CES-D
đã được chuẩn hóa theo nghiên cứu của Đỗ Đình Quyên [18] Bộ câu hỏi sử dụng thang điểm 4 mức từ 0-3 Sau đó tính tổng điểm của các câu hỏi, kết quả tổng điểm được phân tích theo 2 mức độ:
< 22 điểm: Không có nguy cơ trầm cảm
≥ 22 điểm: Có nguy cơ trầm cảm
4 Đạo đức nghiên cứu:
- Điều tra thống nhất và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường
Trang 2519
CHƯƠNG 3:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu:
Nơi ở hiện tại
Kí túc xá SV Thuê nhà trọ Sống ở nhà họ hàng Sống cùng gia đình
Nhận xét: Đối tượng tham gia chủ yếu là SV nữ (73,7%), gần gấp 3 lần số SV
nam Tuổi trung bình của SV là 19,3, ít tuổi nhất là 18, cao nhất là 26 Tỷ lệ SV sinh
ra ở nông thôn gấp đôi ở thành thị Chủ yếu SV hiện tại thuê nhà trọ (58,8%) hoặc sống cùng gia đình (23%), số khác sống ở nhà họ hàng hay trong kí túc xá SV (7,0%) Hầu hết SV vẫn còn đang độc thân (99,5%)
Trang 26170,5 ± 6,8 157,6 ± 5,1 160,9 ± 7,9
169,22 – 171,88 157,03 – 158,19 160,20 – 161,76
Cân nặng (Kg)
Nam
Nữ Chung
59,8 ± 7,8 47,1 ± 4,6 50,4 ± 7,9
58,25 – 61,29 46,54 – 47,59 49,62 – 51,18
Nhận xét: Chiều cao và cân nặng trung bình của SV nam và nữ có sự khác biệt
rõ rệt Chiều cao trung bình ở nam là 170,5 cm, cao hơn nữ khoảng 13 cm, hơn trung bình chung gần 10 cm Cân nặng trung bình ở nam là 59,8 kg, nặng hơn nữ khoảng 12 kg, hơn trung bình chung khoảng 9 kg
2 Hành vi sức khỏe của SV:
2.1 Thói quen, lối sống:
- Đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy:
Hình 3.1: Tình hình sử dụng mũ bảo hiểm khi đi xe máy của SV