1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH TPP

74 714 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 190,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ nhu cầu thực tế cấp thiết của việc phát triển CNPT ngành dệt may Việt Nam trước thềm Hiệp định TPP và mục đính tiếp cận, tìm hiểu về những quy định trong Hiệp định liên quan trực tiếp đến ngành dệt may để có cái nhìn rõ ràng về TPP, nắm bắt cơ hội, hạn chế thách thức, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng cho cuộc đua mang tên TPP; chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Nam trong quá trình thực hiện Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)”.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

CHƯƠNG 1 4

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH DỆT MAY 4

1.1.Khái niệm, phân loại, đặc điểm và vai trò của công nghiệp phụ trợ 4

1.1.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ 4

1.1.2 Phân loại công nghiệp phụ trợ 5

1.1.3 Đặc điểm công nghiệp phụ trợ 7

1.1.4 Vai trò công nghiệp phụ trợ 8

1.2 Lý luận chung về công nghiệp phụ trợ ngành dệt may 9

1.2.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ ngành dệt may 9

1.2.3 Đặc điểm công nghiệp phụ trợ ngành dệt may 12

1.2.4 Vai trò công nghiệp phụ trợ ngành dệt may 12

1.3 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may trên thế giới và bài học cho Việt Nam 13

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may trên thế giới 13

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may 18

CHƯƠNG 2 22

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 22

2.1 Thực trạng ngành dệt may Việt Nam hiện nay 22

2.1.1 Tình xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam 23

2.1.2 Tình hình nhập khẩu ngành dệt may Việt Nam 24

2.1.3 Môi trường phát triển ngành dệt may Việt Nam 26

2.2 Thực trạng công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Nam hiện nay 28

2.2.1 Ngành nguyên liệu 28

i

Trang 2

2.2.2 Ngành kéo sợi 31

2.2.3 Ngành dệt vải 37

2.2.4 Ngành nhuộm, in vải 39

2.2.5 Ngành sản xuất phụ kiện may 42

2.2.6 Ngành cơ khí 43

2.3 Đánh giá chung về công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Nam hiện nay 45

2.3.1 Những kết quả đạt được của công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Nam 45

2.3.2 Hạn chế của công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Nam 47

2.3.3 Nguyên nhân yếu kém của công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Nam 48

CHƯƠNG 3 52

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH TPP 52

3.1 Quá trình hình thành, đặc điểm của TPP và cơ hội, thách thức của Việt Nam khi tham gia TPP 52

3.1.1 Quá trình hình thành hiệp định TPP 52

3.1.2 Đặc điểm của Hiệp định TPP 53

3.1.3 Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP 54

3.1.4 Những điều khoản quan trọng trong TPP về dệt may 58

3.2 Định hướng phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Nam 60

3.3 Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Nam trong quá trình thực hiện Hiệp định TPP 62

3.3.1 Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may 62

3.3.2 Công nghiệp dệt may đầu tư phát triển có trọng điểm vào các ngành CNPT chiến lược 62

3.3.3 Xây dựng và phát triển một Hiệp hội doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ ngành dệt may 63

3.3.4 Phát triển nguồn nhân lực trình độ cao cho công nghiệp phụ trợ ngành dệt may 64

ii

Trang 3

3.3.5 Tăng cường liên kết doanh nghiệp dệt may FDI với doanh nghiệp dệt

may trong nước 64

3.3.6 Phát triển các cụm liên kết công nghiệp dêt may 65

3.3.7 Khuyến khích, hỗ trợ đối với doanh nghiệp dệt may vừa và nhỏ 65

3.3.8 Xây dựng và phát triển tổ chức môi giới dệt 66

KẾT LUẬN 68

iii

Trang 4

EVFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU

TPP Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

iv

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

v

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Với gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp Việt Nam đã cónhững bước phát triển mạnh mẽ, bươc đầu hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thếgiới Thành tựu này là sự tổng hòa của nhiều yếu tố như: sự phát triển của ngànhcông nghiệp, dịch vụ, sự gia tăng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiêntrong xu thế toàn cầu hóa với sự cạnh tranh khốc liệt trên trường quốc tế, một trongnhững thách thức của nền kinh tế Việt Nam là phát triển công nghiệp phụ trợ(CNPT) – nhân tố quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sảnxuất công nghiệp, góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Công nghiệp dệt may là một trong 6 nhóm ngành được Chính phủchỉ định ưu tiên phát triển CNPT và được hoạch định kế hoạch phát triển cụ thể, đólà: cơ khí, điện tử, ô tô, xe máy, dệt may, da-giầy

Ngành công dệt may là ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc gia vì nóphục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làmcho xã hội và đặc biệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện chokinh tế phát triển, góp hần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước Trongquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, ngành dệt may đang chứng tỏ làmột ngành mũi nhọn trong nền kinh tế được thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu liêntục tăng trong mấy năm gần đây, các thị trường luôn được rộng mở, số lao độngtrong ngành ngày càng nhiều và chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành công nghiệp,giá trị đóng góp của ngành vào thu nhập quốc dân,… Tuy nhiên bên cạnh nhữngthành tựu đạt được, ngành dệt may Việt Nam đã và đang gặp những vấn đề cầnkhắc phục như chất lượng tăng trưởng của ngành thấp, vốn đầu tư xây dựng khônghiệu quả, mất cân đối giữa hai ngành dệt và may,… Trở ngại lớn nhất đối với sựphát triển của ngành dệt may hiện nay là tỷ lệ nội địa hóa còn rất thấp, sự phụ thuộcrất lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu Điều đó là do CNPT ngành dệt may chưaphát triển tương xứng với sự phát triển của ngành dệt may để đáp ứng nhu cầu củangành dệt may trong nước Những tồn tại và hạn chế của ngành CNPT đã làm chongành dệt may Việt Nam chưa phát triển một cách tương xứng so với tiềm năngthực sự của ngành

Mục tiêu phát triển CNPT ngành dệt may ngày càng được đề cao hơn khi thịtrường kinh tế ngày càng hội nhập, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đượctriển khai mang đến ngày một nhiều cơ hội phát triển toàn diện cho ngành dệt may,

Trang 7

đặc biệt là Hiệp định Đối tác thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) –FTA thế

hệ mới của thế kỉ được kí kết cuối năm 2015, trong đó Việt Nam là một trong 12nước thành viên Hiệp định TPP là hiệp định thương mại tự do đầu tiên Việt Namtham gia có chương riêng về dệt may Dệt may là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩulớn nhất vào thị trường TPP, đạt 11,2 tỷ USD năm 2014 (chiếm 20% tổng kimngạch xuất khẩu của ta sang các nước TPP) Vì vậy dệt may là một trong những mặthàng được kì vọng sẽ hưởng lợi nhiều nhất từ Hiệp định TPP thông qua những mónlợi lớn từ việc cắt giảm 99% thuế quan dần đưa mức thuế quan đối với hàng dệtmay xuất khẩu sang các nước trong khu vựa về mức 0%, mở rộng thị trường tiêuthụ, tăng năng lực cạnh tranh ngành,… Với những cơ hội mà TPP mang lại, ngànhdệt may Việt Nam đề ra mục tiêu cán đích 25 tỷ USD xuất khẩu trước năm 2020 vànâng tỷ lệ nội địa hóa lên mức 70-75% thay vì hơn 45% như hiện nay Tuy nhiên đểđược hưởng mức thuế suất ưu đãi này, ngành dệt may phải đáp ứng được quy tắcxuất xứ “từ sợi trở đi” trong nội khối TPP, các quy tắc khắt khe về môi trường vàtrình độ nhân lực lao động Thách thức mà TPP mang lại cho dệt may Việt Namngày càng lớn hơn khi tỷ lệ nội địa hóa ngành dệt may tương đối thấp, kim ngạchnhập khẩu nguyên phụ liệu cao trong đó lượng lớn giá trị nhập khẩu dệt may thuộc

về các nước không nằm trong khối TPP Như vậy để tận dụng tối đa cơ hội và hạnchế nhiều nhất các thách thức TPP mang lại đòi hỏi CNPT ngành dệt may phảiđược đẩy mạnh

Từ nhu cầu thực tế cấp thiết của việc phát triển CNPT ngành dệt may ViệtNam trước thềm Hiệp định TPP và mục đính tiếp cận, tìm hiểu về những quy địnhtrong Hiệp định liên quan trực tiếp đến ngành dệt may để có cái nhìn rõ ràng vềTPP, nắm bắt cơ hội, hạn chế thách thức, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng cho cuộc đua

mang tên TPP; chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Nam trong quá trình thực hiện Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)”.

1 Mục định nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với mục đích tiếp cận và kế thừa những kiến thức, lýluận hiện tại để tiếp tục tìm hiểu và hiểu rõ được tầm quan trọng của phát triểnCNPT ngành dệt may Việt Nam trước thời cuộc kinh tế đầy năng động này, đặc biệt

là Hiệp định Đối tác thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang trong thờigian đi vào thực hiện Song hành với đó là mục đích tìm hiểu về Hiệp định của thế

kỉ 21 này để có cái nhìn khách quan nhất về CNPT dệt may trước thềm TPP, đối

Trang 8

chiếu những quy định khắt khe của TPP và thực trạng ngành dệt may Việt Nam, qua

đó đề xuất một số giải pháp giúp CNPT dệt may Việt phát huy lợi thế, vượt qua khókhăn đón đầu TPP

2 Đối tương, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giải pháp phát triển ngành CNPT dệt mayViệt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Về thời gian: Trước khi Hiệp định TPP có hiệu lực

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và cácphương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp: kết hợp phân tích định lượng vớiđịnh tính để đánh giá các dữ liệu cung cấp trong đề tài

- Phương pháp thống kê so sánh: hệ thống số liệu theo chuỗi thời gian vềngành dệt may Việt Nam nói chung và CNPT ngành dệt may Việt Nam nói riêngtrong các giai đoạn

4 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Lý luận chung về công nghiệp phụ trợ ngành dệt may

Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may ở ViệtNam hiện nay

Chương 3: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Namđón đầu Hiệp định TPP

Trang 9

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH DỆT MAY 1.1 Khái niệm, phân loại, đặc điểm và vai trò của công nghiệp phụ trợ

1.1.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ

Khái niệm “công nghiệp phụ trợ” (supporting industry) xuất hiện ở Nhật Bản

từ thập niên 60 Tuy vậy, phải đến giữa thập niên 80, cùng với trào lưu đầu tư trựctiếp (chủ yếu là hoạt động lắp ráp) của Nhật vào các nước ASEAN như Thái Lan,Malaysia và Indonesia, khái niện này mới bắt đầu được biết đến ở Đông Á và đượcdùng phổ biến từ đầu thập kỷ 90 Mặc dù thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” (CNPT)

đã được nhắc đến từ khá lâu song cho đến nay nội hàm của khái niệm CNPT vẫncòn khá mơ hồ và chưa có một định nghĩa thống nhất

Ở Nhật Bản, định nghĩa CNPT chính thức được đưa ra lần đầu tiên vào giữanhững năm 1980 trong chương trình Phát triển công nghiệp hỗ trợ Châu Á: “CNPT

là các ngành công nghiệp cung cấp những gì cần thiết như nguyên vật liệu thô, linhphụ kiện và hàng hóa tư bản, cho các ngành công nghiệp lắp ráp”

Trong khi đó, theo cục phát triển CNPT (BSID) Thái Lan: “CNPT là cácngành công nghiệp cung cấp các linh phụ kện máy móc và các dịch vụ kiểm tra,đóng gói kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản” Cách hiểu này đã có độ

“vênh” so với Nhật Bản, tức CNPT không bao hàm việc chế tạo vật liệu cơ bản(như các loại sắt thép, nguyên vật liệu thô)

Còn Bộ Năng lượng Hoa Kỳ định nghĩa CNPT là “là những ngành côngnghiệp cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trướckhi chúng được đưa ra thị trường” Như vậy, CNPT không chỉ đơn thuần là việc sửsản xuất linh kiện, phụ kiện mà còn bao gồm các dịch vụ sản xuất như hậu cần, khobãi, phân phối, bảo hiểm

Có nhiều điểm tương đồng với định nghĩa CNPT của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ,trong Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010,tầm nhìn đến 2020 của Bộ Công thương Việt Nam, CNPT được định nghĩa là “hệthống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theochiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng…cho khâu lắp ráp cuốicùng” Để xác định ngành công nghiệp cần ưu tiên phát triển CNPT và qua đó xác

Trang 10

định 5 nhốm ngành: sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, thiết bị điện – điện tử, dệt may,

và da dày là những ngành cần ưu tiên

Tổng hợp lại, có thể thấy khái niệm CNPT cần hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩarộng, CNPT bao gồm toàn bộ các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào cho sản xuấtcông nghiệp nói chung Theo nghĩa hẹp, CNPT gắn với chức cung cấp linh kiện,phụ tùng và công cụ cho một số ngành công nghiệp nhất định Cách tiếp cận rộng –hẹp phụ thuộc vào “vị trí chiến lược” của người sự dụng thuật ngữ này Ở tầm tổngthể, nghĩa rộng của khái niệm gắn với chiến lược phát triển công nghiệp quốc giatổng thể Ở tầm ngành, nghĩa hẹp của khái niệm có giá trị xác định chuỗi hàm cungứng cụ thể, qua đó có định hướng và chiến lược phát triển ngành – sản phẩm phùhợp Như vậy, để hoạch định được chính sách phù hợp, phạm vi của CNPT phảiđảm bảo sự tương thích giữa định nghĩa với mục đích của chính sách

Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, thuộc nhóm nước đang phát triển theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mức thu nhập trung bình thấp, lại đặt dưới

áp lực của hội nhập và cạnh tranh quốc tế, khái niệm hẹp về CNPT cần được nhấnmạnh hơn, tức phát triển có trọng điểm các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cụ thể chomột số ngành nhất định Trên cơ sở này, định nghĩa CNPT trong quyết định số12/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển ngành côngnghiệp hỗ trợ được đề xuất là phù hợp: CNPT là các ngành công nghiệp sản xuấtvật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành côngnghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩmtiêu dùng

1.1.2 Phân loại công nghiệp phụ trợ

Xuất phát từ bản chất “hỗ trợ công nghiệp” của CNPT có thể phân loại CNPTthành ba loại cơ bản:

- Hỗ trợ “ruột” là loại hình CNPT tồn tại dưới dạng mạng lưới các nhà cungứng hình thức công ty mẹ - con do từng tập đoàn công nghiệp thành lập và pháttriển cho riêng mình Trong loại hình này, chức năng duy nhất của các công ty cungứng là sản xuất linh kiện, phụ tùng quan trọng, hàm chứa các bí quyết công nghệphụ vụ yêu cầu của công ty rắp ráp trong tập đoàn Đây là loại hình CNPT đượcđánh giá khá phổ biến ở các nước công nghiệp, được các tập đoàn mạnh ứng dụngrất thành công

Trang 11

- Hỗ trợ “hợp đồng” là loại hình CNPT được thực hiện theo cam kết giữa cácnhà cung ứng với các công ty lắp ráp theo từng yêu cầu và trong từng thời điểmnhất định đối với các linh kiện ít quan trọng hơn (chủ yếu là các chi tiết đơn giản)

có tỷ lệ giá trị thấp Vì vậy, các đối tượng được tìm kiếm và ký kết hợp đồng muacác loại phụ tùng, phụ kiện của các công ty lắp ráp bao gồm cả các doanh nghiệpFDI và doanh nghiệp nội địa

- Hỗ trợ “thị trường” là loại hình CNPT mà các phụ tùng, phụ kiện khôngchứa đựng nhiều bí quyết công nghệ, có tính phổ biến cao, được các nhà sản xuấtbán trên thị trường, không bị ràng buộc bởi bất kì cam kết nào đối với các công tylắp ráp Đồng nghĩa với việc “trôi nổi” này của sản phẩm phụ trợ trên thị trường làviệc quan ngại về xuất xứ nguyên liệu làm nên sản phẩm, chất lượng sản phẩm vàthông số kĩ thuật khiến các công ty lắp ráp phải bỏ ra một khoản chi phí khá lớn đểkiểm định

Như vậy, để phân biệt rõ ràng ba loại hình CNPT này cần dựa vào ba tiêu thức

cơ bản: mối liên kết giữa các công ty lắp ráp và công ty cung ứng sản phẩm linh phụkiện, yếu tố kĩ thuật của sản phẩm, và quy mô hỗ trợ của sản phẩm Có thể nhậnthấy rõ ràng nhất là tiêu thức mối liên kết giữa các công ty lắp ráp và công ty cungứng lỏng lẻo dần qua từng hình thức nêu trên: với loại hình hỗ trợ “ruột” đó là quan

hệ công ty mẹ - con cùng nằm trong một tổng thể là tập đoàn công nghiệp, phụthuộc hoàn toàn với nhau; và mức độ phụ thuộc giảm dần khi chỉ qua hình thức hợpđông cam kết tại hỗ trợ “hợp đồng” và hoàn toàn không ràng buộc tại hình thức hõtrợ “thị trường” Cùng chiều thoái giảm của mối quan hệ các công ty theo từng loạihình là chỉ tiêu yếu tố kĩ thuật của sản phẩm Rõ ràng bí quyết công nghệ ẩn chứatrong sản phẩm linh kiện, phụ kiện phụ vụ nhu cầu của các công ty lắp ráp đối vớitừng loại hình CNPT là khác nhau: sản phẩm của hỗ trợ “ruột” có tính chuyên biệtcao với trình độ kĩ thuật phức tạp; trong khi đó linh phụ kiện của hỗ trợ “thị trường”không còn chứa đựng nhiều bí quyết công nghệ và vì vậy chỉ là những sản phẩmgiản đơn, giá trị không cao Được coi như là hệ quả của hai chỉ tiêu trước, quy mô

hỗ trợ của sản phẩm cũng là chỉ tiêu dễ dàng sử dụng để phân loại CNPT Nếu nhưquy mô hỗ trợ của sản phẩm phụ trợ chỉ nằm trong nội bộ của một tập đoàn ở hìnhthức hỗ trợ “ruột”; chỉ phụ vụ cho các công ty có cam kết với nhau ở hình thức hỗtrợ “hợp đồng” thì quy mô hỗ trợ được mở rộng ra cả thị trường khi sản phẩm phụ

Trang 12

trợ trở nên phổ biến tại loại hình hỗ trợ “thị trường”; tất yếu làm giá trị của sảnphẩm giảm dần.

1.1.3 Đặc điểm công nghiệp phụ trợ

Đặc điểm của CNPT sẽ được biểu hiện rõ nét khi ta xem xét vị trí của nó trongquy trình tạo thành giá trị của một hàng hóa Nếu phân loại đơn giản, một hàng hóachỉ được tạo thành thông qua 5 giai đoạn: i) nghiên cứu thiết kế; ii) chế tạo chi tiết;iii) sản xuất - lắp ráp thành phẩm; iv) marketing - phân phối; v) bán hàng Thực tếtrong công nghiệp nói chung, các ngành công nghiệp được coi là phổ biến hiện nay

là sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy, máy móc thiết bị cơ khí điện, điện tử, dệt may,

…tức là tập trung phát triển giai đoạn 3 của quy trình giá trị Trong khi đó, dựa vàobản chất “là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện,bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩmhoàn chỉnh”, CNPT đóng góp lớn vào giai đoạn 2 của quy trình này Từ vị trí này cóthể rút ra 3 đặc điểm cơ bản của CNPT trong hệ thống công nghiệp hiện đại

Thứ nhất, các ngành CNPT cấu thành phần lớn hệ thống công nghiệp Trong

5 giai đoạn kể trên, giai đoạn sản xuất – lắp ráp thường có giá trị gia tăng thấp nhất

và giai đoạn chế tạo, sản xuất chi tiết lại tập trung chính giá trị gia tăng của sảnphẩm Như vậy có thể hiểu rằng CNPT sản xuất phần lớn giá trị gia tăng trong côngnghiệp nói chung chứ không phải các ngành công nghiệp thông thường nêu trên Cụthể, kinh nghiệm quốc tế đều xác nhận CNPT sản xuất ra khoảng 70 – 80% tổng giátrị sản xuất công nghiệp chế tạo Kết luận trên có thể được khẳng định thông qua sốliệu: tính chung ở các tập đoàn đa quốc gia (MNC), cứ 100 doanh nghiệp trong mộtchuỗi tham gia chế tạo sản phẩm cuối cùng thì có khoảng 95 doanh nghiệp thựchiện các hoạt động thuộc khu vực phụ trợ, chỉ có 5 doanh nghiệp lắp ráp – sản xuấtsản phẩm cuối cùng (Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp, BộCông thương, 2007)

Thứ hai, CNPT không phải là ngành “công nghiệp phụ” Nói đến CNPT

người ta thường nghĩ đến các ngành sản xuất phụ tùng, nguyên phụ liệu cho cácngành lắp ráp (những ngành thường được coi là ngành công nghiệp chính) Chính vìvậy, trên thực tế, CNPT thường bị coi là ngành “công nghiệp phụ” Tuy nhiên, điềunày hoàn toàn không hợp lý Về mặt lý luận CNPT có thể được hiểu là ngành đốixứng với các ngành công nghiệp lắp ráp, có vai trò như các ngành công nghiệp

Trang 13

khác Trong đó, ngành CNPT làm nền tảng cơ sở để phát triển các ngành côngnghiệp lắp ráp Ngược lại, các ngàn công nghiệp phổ biến chỉ có thể phát triển khi

có CNPT, và khi các ngành công nghiệp đó đã phát triển sẽ tạo “động lực” thúc đẩyphát triển CNPT

Thứ ba, CNPT góp phần tạo nên “chuỗi giá trị” Khi một ngành công nghiệp

sản xuất hay lắp ráp một sản phẩm nhất định phát triển, nó cần có một hệ thống cácngành CNPT để cung cấp các chi tiết sản phẩm đó Đến lượt nó, các doanh nghiệpđược coi là phụ trợ cho sản phẩm đó lại cần các doanh nghiệp khác “phụ trợ” chomình Cứ như vậy, để có hệ thống các ngành CNPT, ngoài việc phải phát triển cácngành công nghiệp cơ bản, cần có sự phát triển của các ngành CNPT khác nữa Nhưvậy, chỉ với một sản phẩm, chuỗi giá trị đã kéo dài và mở rộng ra hầu hết các ngànhcông nghiệp cơ bản, tạo ra giá trị cho nhiều ngành công nghiệp khác

1.1.4 Vai trò công nghiệp phụ trợ

Thứ nhất, đảm bảo tính chủ động cho nền kinh tế Một nền kinh tế có ngành

CNPT phát triển thì việc cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện, các bán thành phẩmđược thực hiện ngay trong nội địa (tức nội địa hóa chuỗi giá trị sản phẩm) Nhờ vậyhình thành một nền công nghiệp chủ động, không bị lệ thuộc vào nước ngoài và cácbiến động của nền kinh tế toàn cầu Trái lại, CNPT không phát triển sẽ làm cho cáccông ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụthuộc nhiều vào nhập khẩu các chi tiết Dù những sản phẩm này có thể được cungcấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảohiểm sẽ làm tăng chi phí đầu vào.Hệ quả là các ngành công nghiệp chính thiếu sứccạnh tranh và phạm vi phát triển cũng bị giới hạn trong một số ít các ngành

Thứ hai, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính Khi nguồn

cung ứng chủ động, chi phí của sản phẩm công nghiệp cũng giảm đáng kể do cắtgiảm chi phí vận chuyển, lưu kho, tận dụng nhân công giá rẻ và nguồn nguyên liệungay tại nội địa Với lợi thế tiết kiệm chi phí sản phẩm, các quốc gia có ngànhCNPT phát triển tiếp tục gia tăng sức cạnh tranh bởi sản phẩm đặc thù hơn hẳn cácsản phẩm chỉ được lắp ráp bởi các linh kiện, phụ kiện từ nguồn cung ứng toàn cầu.CNPT thuộc khu vực hạ nguồn như thương hiệu, marketing, chuỗi tiêu thụ, bánhàng,… đặc biệt gia tăng giá trị cho các sản phẩm công nghiệp làm cho hàng hóacủa quốc gia có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu

Trang 14

Thứ ba, tác động cân bằng cán cân thương mại Đối với các nước đang phát

triển, CNPT chưa được chú trọng, tức khả năng nội địa hóa khép kín chuỗi giá trị sảnphẩm bị giới hạn nên cầu về linh kiện, phụ kiện từ nước ngoài tăng cao Thực trạng nàykéo theo tình trạng nhập siêu nguyên liệu và các bán thành phẩm cho sản xuất, lắp ráptrong nước và ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế vĩ mô quốc gia Vì vậy, giải pháptất yếu để cân bằng cán cân thương mại của các quốc gia này đó chính là hạn chế nhậpkhẩu linh phụ kiện, bán thành phẩm bằng cách thúc đẩy phát triển CNPT

Thứ tư, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI vào lĩnh vực

công nghiệp Một môi trường đầu tư hấp dẫn sẽ thu hút được luồng vốn FDI lớn, và

đó cũng chính là mục tiêu của ngành công nghiệp nói chung và của từng doanhnghiệp nói riêng Muốn vậy CNPT phải đi trước một bước, cung cấp sản phẩm đầuvào cần thiết cho các ngành công nghiệp lắp ráp bởi lẽ bản thân các tập đoàn và cáccông ty lớn về lắp ráp hiện nay chỉ giữ lại trong quy trình của mình các khâu nghiêncứu, phát triển sản phẩm và lắp ráp thay vì tất cả gói gọn trong một công ty hay nhàmáy Trên thực tế, phí tổn về linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian trongnhững sản phẩm thuộc các ngành sản xuất máy móc chiếm tới hơn 80% giá thành,lao động chỉ chiếm từ 5-10%, do đó khả năng nội địa hoá có tính chất quyết địnhthành quả kinh doanh của DN Một nước dù có ưu thế về lao động nhưng CNPTkhông phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn Chừng nào các ngànhphụ trợ sẵn có chưa được cải thiện đồng loạt, nhiều DNVVN của nước ngoài chưađến đầu tư ồ ạt thì FDI của các công ty lớn không thể tăng hơn Tuy nhiên, cũngkhông phải CNPT phát triển đồng bộ rồi mới có FDI Có nhiều trường hợp FDI đitrước và kéo theo các công ty khác (kể cả công ty trong và ngoài nước) đầu tư pháttriển CNPT, do đó có sự quan hệ tương hỗ 2 chiều giữa FDI và CNPT

1.2 Lý luận chung về công nghiệp phụ trợ ngành dệt may

1.2.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ ngành dệt may

Ngành dệt may là ngành có truyền thống lâu đời, phục vụ nhu cầu thiết yếucủa con người Nó đáp ứng nhu cầu về sản phẩm tiêu dùng bao gồm các loại quần

áo, chăn ga, gối đệm, các loại đồ dùng sinh hoạt trong gia đình như: rèm cửa, vảibọc đồ dùng, khăn các loại, Sản phẩm của dệt may còn cần thiết cho hầu hết cácngành nghề và sinh hoạt: lều, buồm, lưới cá, cần câu, các loại dây thừng, dây chão,các thiết bị bên trong xe hơi, xe lửa, máy bay, tàu bè, vòng đai cua-roa, vỏ săm lốp,

Trang 15

ống dẫn, và nói chung mọi vật liệu dùng để đóng gói, bao bọc, để lót, để cách nhiệt,cách âm, cách điện, cách thủy, và cả những dụng cụ y khoa như chỉ khâu và bôngbăng.

Bất cứ một ngành công nghiệp nào muốn phát triển mạnh mẽ đều phải dựa trênmột nền tảng vững chắc, cũng như có một mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau giữacác ngành công nghiệp cả về chiều dọc và chiều ngang Đối với ngành dệt may, quan

hệ theo chiều dọc của ngành này được biểu hiện dưới dạng chuỗi như sau:

Sản xuất nguyên liệu – Kéo sợi – Dệt vải – nhuộm, in – cắt may – phân phối

Trong chuỗi giá trị này, khu vực thượng nguồn là các giai đoạn sản xuấtnguyên liệu; kéo sợi; dệt vải; nhuộm, in vải; hay đây cũng chính là các ngành CNPTdệt may Còn khu vực hạ nguồn là hai giai đoạn cắt may và phân phối hàng may –động lực thúc đẩy khu vực hạ nguồn phát triển Xong để sản xuất được một sảnphẩm dệt may hoàn chỉnh, khép kín hoàn toàn chuỗi giá trị, ngành CNPT không chỉdừng lại ở bốn giai đoạn đã nêu trên mà còn phải kết hợp với ngành cơ khí và ngànhsản xuất phụ kiện may

Như vậy, kết hợp giữa khái niệm CNPT và sơ đồ liên kết theo chiều dọc ngànhdệt may được nêu ở phần trên có thể rút ra khái niệm CNPT ngành dệt may như sau:CNPT ngành dệt may là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ kiện, bánthành phẩm dệt may để cung cấp cho ngành công nghiệp cắt may, phân phối các sảnphẩm dệt may hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng bao gồm cácngành sản xuất nguyên liệu, ngành kéo sợi, ngành dệt vải, ngành nhuộm, in vải,ngành cơ khí và ngành sản xuất phụ kiện may

1.2.2 Phân loại công nghiệp phụ trợ ngành dệt may

Dựa vào khái niệm CNPT ngành dệt may và dựa theo chức năng hỗ trợ chuyênbiệt, rõ ràng có thể phân loại CNPT ngành dệt may thành 6 ngành chủ đạo như sau:

1.Ngành sản xuất nguyên liệu

Ngành sản xuất nguyên liệu là ngành CNPT dệt may chủ chốt, cung cấp đầuvào cho cả chuỗi giá trị dệt may bao gồm các nguyên liệu tự nhiên như bông len, tơsợi, chỉ Vì vậy, những nước có điều kiện khí hậu thích hợp với sự phát triển củacây bông, đay và những ngành trồng dâu nuôi tằm sẽ có lợi thế so sánh không chỉtrong ngành sản xuất nguyên liệu dệt may mà trong toàn ngành dệt may nói chung,tiêu biểu là Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Mỹ Latinh

Trang 16

2 Ngành kéo sợi

Là giai đoạn kế tiếp của sản xuất nguyên liệu, ngành kéo sợi (do các công tymay đảm nhiệm) từ các nguyên liệu thô ban đầu bằng các phương pháp hóa dầu đểtạo thành các sản phẩm nguyên vật liệu phục vụ cho dệt may như chỉ, sợi và vải mànhiều nhất là tơ sợi tổng hợp Tơ sợi có hai loại là tơ sợi tự nhiên và tơ sợi nhân tạo

Tơ sợi tự nhiên có nguồn gốc từ thực vật (sợi bông, sợi đay, sợi lanh,…) và độngvật (tơ tằm) Tơ sợi nhân tạo được làm ra từ chất dẻo như các loại sợi ni lông

3 Ngành dệt vải

Sau khi hoàn tất khâu kéo sợi, sợi sẽ được dệt thành tấm vải – đầu vào chongành may Đặc thù của ngành CNPT này là không đòi hỏi kĩ thuật quá cao (thuộcnhóm hỗ trợ “thị trường”) nhưng thu hút lượng nhân lực lớn, tỉ trọng lợi nhuận rấtcao nên tương đối phù hợp với các nước đang phát triển như Việt Nam

4 Ngành nhuộm, in vải

Ngành nhuộn, in gồm một chuỗi công đoạn sản xuất ướt tức phụ thuộc môitrường nước, hóa chất và các năng lượng đầu vào Ngành CNPT này ngày càngphong phú, đa dạng về chất liệu, màu sắc của vải do nhu cầu ngày càng cao về lĩnhvực may thời trang trên thế giới

5 Ngành sản xuất phụ kiện may

Phụ kiện may mặc không thuộc khu vực thượng nguồn của chuỗi giá trị sảnphẩm dệt may mà phát triển song song, phụ trợ cho giai đoạn cắt may vải như: máycắt vải, máy trải vải,bàn trải vải, phần mềm thiết kế vải, bảng nhập mẫu rập, chỉ,khóa kéo, cúc,… Như vậy ngành sản xuất phụ kiện may cũng thể hiện năng lực vềkhoa học công nghệ của quốc gia và doanh nghiệp dệt may, phục vụ chủ yếu chongành may và quyết định đến chất lượng và hình thức của sản phẩm dệt may

6 Ngành cơ khí

Không thuộc trọng chuỗi liên kết dọc của dệt may nhưng ngành cơ khí có vaitrò quan trọng, là phương tiện để các ngành CNPT dệt may khác được thực hiện Cơkhí là ngành thể hiện lợi thế so sánh về khoa học công nghệ, cung cấp các trangthiết bị máy móc cho ngành dệt may và các sản phẩm dầu khí đốt tự nhiên để vậnhành máy móc, hóa dầu tạo thành sợi tổng hợp Vậy nên, phát triển ngành cơ khílàm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm lao động vàchuyên môn hóa quá trình sản xuất sản phẩm dệt may

Trang 17

1.2.3 Đặc điểm công nghiệp phụ trợ ngành dệt may

Thứ nhất, CNPT ngành dệt may là hệ thống các ngành tạo nên chuỗi giá trị chosản phẩm dệt may Hoàn thiện được chuỗi giá trị dệt may không thể thiếu ngành CNPTnhưng không phải chỉ cần sự phụ trợ của một ngành duy nhất mà là sự kết hợp của cảmột hệ thống ngành CNPT Mỗi một ngành trong hệ thống này phụ trách một chi tiết

cụ thể trong khâu sản phẩm, kết hợp với nhau tuần tự: nguyên liệu thô sau khi kéo sợi

sẽ được chuyển đến ngành dệt vải và nhuộm, in; ngành cơ khí và sản xuất phụ kiệnmay cung cấp máy móc, thiết bị phục vụ cho cả quy trình dệt và may của các ngànhCNPT cơ bản đã nêu trước Với một sản phẩm dệt may hoàn chỉnh, chuỗi giá trị đã kéodài và mở rộng ra nhiều ngành, tạo giá trị cho các ngành công nghiệp khác

Thứ hai, CNPT ngành dệt may chiếm tỉ trọng lớn trong chuỗi giá trị dệt may.

Có thể thấy trong mô hình liên kết dọc của dệt may khu vực thượng nguồn chiếm đa

số còn khu vưc hạ nguồn chỉ gồm hai giai đoạn cuối là cắt may vải và phân phối –hai giai đoạn có giá trị gia tăng thấp nhất Các ngành CNPT dệt may là nền tảngphát triển cắt may và phân phối hàng dệt, cắt may và phân phối sản phẩm phát triểnmới tạo động lực để các ngành CNPT dệt may đi lên

1.2.4 Vai trò công nghiệp phụ trợ ngành dệt may

Bám sát với vai trò của CNPT trong phát triển kinh tế - xã hội đã nêu ở phần 1.1.4,CNPT ngành dệt may cũng có 4 vai trò cơ bản

Thứ nhất, đảm bảo tính chủ động cho ngành dệt may Một quốc gia có CNPT

ngành dệt may phát triển sẽ có khả năng nội địa hóa sản phẩm dệt may, tức có thể tựcung cấp nguyên liệu, các bán thành phẩm dệt may như tơ sợi, vải dệt, vải nhuộm incho quá trình cắt may mà không cần nhập khẩu từ nước ngoài Nhờ vậy quốc giachủ động phát triển cả chiều rộng và chiều sâu ngành dệt may, đem lại chuỗi giá trịgia tăng toàn diện cho dệt may

Thứ hai, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may trên thị trường quốc tế Do

không phải phụ thuộc đầu vào dệt may trong hoạt động nhập khẩu các nguyên liệu vàbán thành phẩm, các quốc gia có CNPT ngành dệt may phát triển sẽ tiết kiệm được cáckhoản chi phí như: thuế nhập khẩu, chi phí vận chuyển, kho bãi,…Hơn nữa, việc chútrọng phát triển CNPT ngành dệt may sẽ giúp hình thành đặc thù cho sản phẩm dệtmay của quốc gia đó Thực tế khi nhập khẩu nguyên vật liệu dệt may từ nước ngoài thì

đa phần là sản phẩm hỗ trợ “thị trường”, bất cứ nước nào có nhu cầu đều có thể nhập

Trang 18

khẩu Đó là những sản phẩm đại trà, không có đặc thù hay ẩn chứa bí quyết riêng nên

sẽ không tạo được lợi thế cạnh tranh cho quốc gia

Thứ ba, cân bằng cán cân xuất nhập khẩu cho ngành dệt may và nền kinh tế

quốc dân Tình trạng nhập siêu sẽ chi phối nền kinh tế nói chung và ngành dệt maynói riêng Nhu cầu về các nguyên liệu và bán thành phẩm dệt may của các quốc giachưa phát triển CNPT ngành dệt may ngày càng tăng cao do nhu cầu về mặt hàngdệt may của thị trường tăng, kéo theo hệ quả nhập siêu nguyên liệu đầu vào cho quytrình dệt may Hệ lụy của tình trạng nhập siêu này không chỉ đối với riêng ngành dệtmay mà còn dẫn đến nhiều bất ổn kinh tế vĩ mô như gia tăng nợ công, thâm hụt cáncân thanh toán,…Như vậy, khi CNPT ngành dệt may phát triển sẽ tác động mạnhđến cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của dệt may và nền kinh tế

Thứ tư, tạo môi trường hấp dẫn thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

FDI vào ngành dệt may Ngày càng nhiều doanh nghiệp hỗ trợ cho dệt may ra đời

và phát triển chủ yếu phục vụ cho hoạt động chính của ngành dệt may, cung cấpnguyên liệu cho ngành dệt may phát triển Các doanh nghiệp hỗ trợ sẽ hình thànhmối liên kết với các doanh nghiệp FDI để chuyển giao công nghệ và phát triển mộtcách nhanh chóng Vì vậy, khi các doanh nghiệp hỗ trợ dệt may phát triển thì sẽ thuhút được nhiều hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư cho dệt may, thúcđẩy toàn ngành phát triển

1.3 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may trên thế giới

và bài học cho Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may trên thế giới

Theo nguồn:” Global Competitiveness, Wazir Advisors” quy mô thị trườngdệt may thế giới năm 2012 đạt 1.105 tỷ USD; chiếm khoảng 1,8% GDP toàn cầu

Dự báo đến năm 2025, quy mô ngành dệt may toàn cầu đạt 2.110 tỷ USD, tươngứng CAGR 6.5%/năm Dự báo đến năm 2025 Trung Quốc sẽ trở thành thị trườnglớn nhất với giá trị 540 tỷ USD, tương ứng CAGR giai đoạn 2012-2025 đạt10%/năm Ấn Độ sẽ là thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhất với CAGR đạt12%/năm và giá trị năm 2025 đạt 200 tỷ USD

Nhìn chung để đạt được vị trí cao như vậy, ngành công nghiệp dệt may của Ấn

Độ và Trung Quốc đã “bám sát” theo 7 nguyên tắc sau:

Trang 19

1 Coi dệt may là một ngành công nghiệp nền tảng trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp hóa, từ đó tạo thị trường để phát triển CNPT

Ngành dệt may – ngành công nghiệp khởi đầu cho quá trình công nghiệp hóa

vì vậy được coi trọng và có nhiều điều kiện phát triển mạnh Công nghiệp dệt mayphát triển tạo ra thị trường để phát triển CNPT ngành dệt may

Ngành dệt may ở Ấn Độ là một trong những ngành chính và quan trọng nhấttrong nền kinh tế, đặc biệt về thu nhập ngoại hối, việc làm và sản xuất trong nước.Ngành này hiện đang tăng trưởng 20% và chiếm 4% GDP của Ấn Độ Nó cũng góp14% vào sản xuất công nghiệp và khoảng 35 triệu việc làm Qui mô của ngành dệtmay trị giá 47 tỷ USD, trong đó thị trường trong nước là ở mức 30 tỷ USD và thịtrường nước ngoài ở mức 17 tỷ USD Sự đóng góp tỷ lệ phần trăm của hàng dệtmay xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Ấn Độ là 15,56% vớikim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chiếm 7,41% và 8,15% hàng may sẵn

Cũng có truyền thống lâu đời về dệt may, trong công cuộc công nghiệp hóa,Chính phủ Trung Quốc đã coi dệt may là ngành mũi nhọn để tập trung hỗ trợ pháttriển Trong suốt những năm từ 2010-2012, Trung Quốc là nước xuất khẩu nhiềunhất thế giới chiếm khoảng 40% tổng mậu dịch toàn cầu về dệt may CNPT dệt mayTrung Quốc cũng vô cùng phát triển Tuy tới năm 2014 trở đi có sự sụt giảm còn6.4 tấn nhưng cũng vẫn là một trong số những nước sản xuất bông hàng đầu, chiếmkhoảng 1/3 sản lượng bông trên thế giới

bỏ Cuối năm nay, Ấn Độ dự kiến sẽ ký kết một loạt các Hiệp định thương mại tự

do (FTA) với châu Âu, Canada và Australia Cùng với chiến lược "Make in India"

Trang 20

do Thủ tướng Ấn Độ Modi phát động, việc các Hiệp định thương mại tự do chínhthức có hiệu lực sẽ mở ra cơ hội lớn cho nhiều doanh nghiệp Ấn Độ thâm nhập thịtrường nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may.

Chính phủ Trung Quốc luôn có những sự hỗ trợ cần thiết tới nền CNPT củangành dệt may Đối với sự sụt giảm sản lượng bông năm 2014, Chính phủ nước này

đã thực hiện chính sách bông mới nhằm giảm sự biến động của giá bông tạo thuậnlợi để ổn định diện tích trồng và nguồn cung Trung Quốc đặt mục tiêu giá bôngnăm 2014 ở mức 19.800 NDT/tấn Theo cơ chế giá mục tiêu, chính phủ sẽ hỗ trợnhững người nông dân, nếu giá thị trường không đạt mức giá mục tiêu, dựa vàodiện tích trồng và năng suất

3 Đầu tư có trọng điểm và đầu tư theo hướng hiện đại

Trồng bông nguyên liệu là một thế mạnh của Ấn Độ giúp tạo điều kiện cho dệtsợi bông phát triển mạnh trong nhiều năm qua (các bang trồng bông chính làAndhra Pradesh, Gujarat, Haryana, Karnataka, ).Tổ chức FAS Mumbai dự báoxuất khẩu bông mùa vụ 2014/15 của Ấn Độ đạt 6 triệu kiện loại 480 pound/kiện.Với con số ấn tượng này, Ấn độ vẫn sẽ là nhà cung cấp lớn cho Pakistan vàBangladesh cũng như cung cấp cho khu vực Đông Nam Á Không chỉ đầu tư cótrọng điểm vào khâu nguyên liệu sản xuất, Ấn Độ còn chú trọng đầu tư phát triểntheo hướng hiện đại với việc giới thiệu các bộ sưu tập bằng cách sử dụng các vậtliệu hữu cơ (Cotton hữu cơ) và sản phẩm quần áo kháng khuẩn và thấm mồ hôichinh phục thị trường thế giới

Sở dĩ Trung Quốc có thể phát triển các ngành CNPT dệt may từ khâu nguyênliệu đầu vào, tới vải, sợi, phụ kiện là do đầu tư chú trọng vào các công nghệ hiệnđại tiên tiến trên thế giới vì có lợi thế lớn hơn so với các cường quốc khác về dệtmay như Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan Quốc gia này có lợi thế đặc biệt là các thiết

bị kéo sợi bông, thiết bị polyester, và các thiết bị nhuộm, in Trung Quốc cung cấpkhoảng 80% máy móc dệt may trong nước Không chỉ là nơi xuất khẩu máy móclớn nhất trên thế giới mà còn là thị trường nhập khẩu máy móc tiềm năng do TrungQuốc đang tập trung vào kĩ thuật dệt may và sử dụng công nghệ tự động hóa caotrong sản xuất Đặc biệt các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, Quảng Đông chiếmkhoảng 71% tổng máy móc dệt may nhập khẩu của cả nước

4 Xây dựng các quan hệ liên kết kinh tế chặt chẽ

Trang 21

Đối với ngành dệt may, quan hệ theo chiều dọc của ngành này được biểu hiệndưới dạng chuỗi giá trị như sau: Sản xuất nguyên liệu - Kéo sợi - Dệt vải - Nhuộm,

in vải - Cắt may - Phân phối hàng may

Do là một trong những nhà sản xuất hàng đầu về bông vậy nên có thể nói khâusản xuất nguyên liệu của Ấn Độ được đảm bảo vững chắc Song để phát triển chủđộng, toàn diện và bền vững (tức phát triển theo liên kết dọc của chuỗi giá trị), Ấn

Độ cũng đã nỗ lực phát triển CNPT ngành dệt may Ấn Độ có khoảng 750 đơn vịsản xuất máy móc và thiết bị, trong đó có hơn 250 đơn vị sản xuất máy móc hoànchỉnh và phần còn lại sản xuất phu tùng và phụ kiện Lĩnh vực sản xuất máy mócdệt may hiện nay đáp ứng 45-50% nhu cầu tổng thể của ngành công nghiệp dệt maytrong nước, thành phần chủ yếu là cán bông, kéo sợi, dệt, chế biến

Trung Quốc đã thiết lập mối liên hệ giữa ngành công nghiệp thượng nguồn và

hạ nguồn nên họ chủ động về nguyên liệu trong toàn ngành dệt may Các nhà sảnxuất thuộc lĩnh vực dệt may hoàn toàn có thể tìm nguồn nguyên liệu trong nước đểphục vụ sản xuất do đó hạn chế đi nguồn vốn thất thoát do phải nhập khẩu nguyênliệu từ nước ngoài Ngoài ra Trung Quốc cũng lập các công ti xúc tiến thương mạicùng các chi nhánh của các công ty dệt may ở nước ngoài, hợp tác với các công tidanh tiếng để hình thành lên hệ thống kênh tiêu thụ phạm vi toàn thế giới và mạnglưới maketing xuyên lục địa Do đó đảm bảo được đầu ra cho công nghiệp dệt may

5 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài, khuyến khích xuất khẩu

Khi tự do hóa nền kinh tế đã nổi lên, chính sách FDI trong ngành công nghiệpdệt may đã được cải cách với một mức độ lớn Động lực lớn nhất đối với các chínhphủ là các khu vực sản xuất khi hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài an toàn hơnnhiều khi đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất tiềm năng

Theo đó, Chính phủ Ấn Độ đang điều hành nhiều chiến dịch khác nhau nhưtích hợp lĩnh vực may mặc và dệt - cho phép 100% FDI Ngoài ra, Chính phủ cũngđang cố gắng để xây dựng một môi trường để thu hút đầu tư của 1400,000 triệu Rstrong giai đoạn Kế hoạch thứ mười một khi xuất khẩu dệt may có thể tăng từ $14 tỷlên $40 tỷ USD Bên cạch đó, việc thực hiện Chính sách Ngoại thương 2009-2014,Chính phủ Ấn Độ tiếp tục thực hiện miễn thuế cho việc xuất khẩu các sản phẩmmới và xuất khẩu sang các thị trường mới 26 nước được xác định là thị trường mớigồm 16 nước Mỹ Latinh và 10 nước Châu Á-Châu Đại Dương

Trang 22

Trung Quốc cũng có chính sách để thu hút vốn đầu tư FDI để phát triển kinh tếtrong đó có ngành dệt may Từ năm 2010-2020, Trung Quốc nêu rõ quan điểm thuhút FDI vào các ngành kỹ thuật cao, kinh nghiệm quản lý, nhân lực chất lượng cao.Trung Quốc cũng tiến hành sửa đổi bổ sung "Danh mục hướng dẫn ngành nghề đầu

tư nước ngoài", đồng thời cho phép chính quyền địa phương được phê chuẩn dự ánđầu tư từ 100 triệu USD lên 300 triệu USD

6 Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)

DNVVN chiếm vị trí khá quan trọng trong nền kinh tế hiện đại toàn cầu, đặcbiệt khá thích ứng với CNPT nói chung và CNPT dệt may nói riêng Tuy nhiên,DNVVN thường gặp những hạn chế nhất định về vốn, công nghệ sản xuất, nguồnnhân lực; đòi hỏi Chính phủ các nước cần có những cơ chế, chính sách phát triểnkhu vực này theo đúng hướng Vì vậy, phát triển DNVVN trở thành một mục tiêukhông thể thiếu trong phát triển toàn diện ngành CNPT dệt may

Trước tình trạng xuất khẩu gặp nhiều khó khăn và cạnh tranh quyết liệt nhưhiện nay Ấn Độ đã thực hiện chương trình tín dụng cho các doanh nghiệp vừa vànhỏ được ưu đãi vay vốn 50% cho các hợp đồng xuất khẩu từ 111.000 USD đến222.000 USD Đồng thời, thực hiện dành quỹ bảo hiểm xuất khẩu lên tới 78 triệuUSD cho các doanh nghiệp có hợp đồng xuất khẩu vào các thị trường mới khó khănnhư thị trường Châu Phi, Mỹ Latinh

Theo dự báo tới năm 2027, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trở thành nền kinh tế đứngđầu thế giới, trong đóDNVVN đóng góp khoảng 60% GDP của đất nước và cung cấpkhoảng 75% việc làm ở đô thị Nhận thấy tầm quan trọng của DNVVN, Chính phủTrung Quốc đã có nhiều chính sách đảm bảo sự phát triển ổn định và công bằng củacác doanh nghiệp này, đặc biệt trong ngành dệt may Bên cạnh đó, tiếp tục thành lập vàkhông ngừng mở rộng các quỹ đầu tư phát triển DNVVN tạo thành một mạng lướiliên kết các khâu nhỏ trong một ngành công nghiệp lớn như dệt may

7 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực CNPT dệt may

Nhân tố được coi là quan trọng nhất cho sự phát triển lâu dài của các ngànhCNPT nói chung và CNPT dệt may nói riêng là nguồn lao động có kĩ năng cao –yếu tố cơ bản tạo sức hút cho các tập đoàn đa quốc gia mở rộng thị trường xuấtkhẩu Trung Quốc là quốc gia có dân số đông nhất thế giới do vậy có nguồn laođộng tương đối dồi dào Song hành với việc đầu tư về công nghệ cao, Trung Quốc

Trang 23

còn chú ý đến chất lượng của nguồn nhân lực Bằng chứng là lao động nghành dệtmay Việt Nam có năng suất lao động đạt mức 1.3-1.9 USD/H chỉ bằng 40-50%năng suất của lao động Trung Quốc Nhờ có chiến lược đầu tư hợp lí cùng với pháttriển khoa học công nghệ giúp Trung Quốc có năng suất lao động cao thuộc hàngđầu thế giới trong lĩnh vực dệt may.

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển công nghiệp phụ trợ ngành dệt may

Việt Nam với lợi thế của một nước đi sau sẽ có cơ hội học hỏi và kế thừanhững kinh nghiệm phát triển CNPT ngành dệt may của các nước đi trước như Ấn

Độ và Trung Quốc Song có thể thấy, tuy cùng đề ra “7 nguyên tắc vàng” nhưngmỗi nước đều có phương thức thực hiện từng nguyên tắc khác nhau tùy vào đặcđiểm và lợi thế so sách của quốc gia Vậy nên việc học hỏi kinh nghiệm của cácnước đi trước không phải cứng nhắc, dập khuôn mà cần có sự so sánh vị trí, đặcđiểm của Việt Nam với các nước đi trước để rút ra được những bài học phù hợpnhất cho Việt Nam

Vị trí CNPT ngành dệt may Việt Nam: Trong những năm qua, dệt may là ngànhxuất khẩu chủ lực của Việt Nam với khoảng 6.000 doanh nghiệp dệt may; thu hút hơn2,5 triệu lao động Năm 2013, sản phẩm dệt may Việt Nam xuất khẩu đến hơn 180quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt 17,9 tỷ USD; chiếm 13,6%tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam và 10,5% GDP cả nước Tốc độ tăng trưởng dệtmay trong giai đoạn 2008-2013 đạt 14,5%/năm đưa Việt Nam trở thành một trongnhững quốc gia có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may nhanh nhất thếgiới Tuy nhiên, do công nghiệp phụ trợ dệt may còn yếu, phát triển chưa tương xứngvới nhu cầu của ngành may nên nguồn nguyên liệu phục cụ cho sản xuất gia công củangành dệt may Việt Nam chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài Hầu hết các doanhnghiệp dệt may có quy mô vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn đầu tư thấp, hạn chếkhả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị

Dựa vào hoàn cảnh thực tiễn được xác định như trên, Việt Nam có thể học hỏiđược một số bài học kinh nghiệm phát triển CNPT ngành dệt may của Ấn Độ và TrungQuốc như sau:

Thứ nhất, xác định dệt may là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn

của đất nước, trong đó chú trọng phát triển CNPT Để công nghiệp hóa thành công,

Trang 24

các nước đi sau như Việt Nam phải thâm nhập sâu hơn vào mạng sản xuất dệt maytoàn cầu cũng như tạo dựng các mạng sản xuất của riêng mình Muốn vậy, khôngchỉ tận dụng và phát huy những lợi thế so sánh tĩnh (giá nhân công rẻ, tài nguyênthiên nhiên sẵn có, vị trí địa lí thuận lợi,…) mà cần phải trang bị cả lợi thế động (kỹthuật công nghệ, năng lực tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, khả năng khai thácthị trường, sáng tạo và phát triển sản phẩm,…).

Thứ hai, khẳng định vai trò to lớn của Chính phủ trong việc đưa ra những chủ

trương, chính sách phát triển công nghiệp dệt may và CNPT dệt may Có thể nhận thấytrong “7 nguyên tắc vàng” phát triển CNPT dệt may của hai nước trên đều có sự hỗ trợđắc lực của những chính sách của Chính phủ, có thể kể đến chính sách hạn ngạch, miễngiảm thuế, những chính sách thu hút vốn đầu tư FDI, khuyến khích phát triểnDNVVN,… Nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ đã thúc đẩy CNPT dệt may pháttriển, khuyến khích các doanh nghiệp dệt may đổi mới năng lực và hiện đại hóa côngnghệ, thiết bị, dây chuyền sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm

Thứ ba, khuyến khích đầu tư gồm hai phương diện đầu tư trong nước và đầu

tư FDI

Về đầu tư trong nước, việc Chính phủ đề cao phát triển công nghiệp dệt maykéo theo hoạt động đầu tư được đẩy mạnh Song không có nghĩa là đầu tư “càobằng” mà từ những kinh nghiệm của các nước đi trước có thể rút ra được bài họcđầu tư có trọng điểm đặc biệt là đầu tư khâu sản xuất nguyên liệu như Ấn Độ vàTrung Quốc Phát huy lợi thế so sánh tĩnh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn laođộng dồi dào thì việc Việt Nam chú trọng phát triển giai đoạn đầu của chuỗi giá trịsản phẩm không phải là điều không thể Tuy nhiên nhìn nhận lại vị trí của Việt Namtrên trường quốc tế thì Việt Nam vẫn có thể đầu tư trọng điểm vào lĩnh vực gia côngdệt may tuy rằng giá trị gia tăng của khâu này thấp

Về vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI – một trong những yếu tố có đónggóp và thúc đẩy to lớn cho sự phát triển của CNPT dệt may ở nhiều nước đang pháttriển trên thế giới Nếu chỉ dừng lại ở việc tận dụng những lợi thế so sánh sẵn có thìkhông đủ tạo môi trường đầu tư hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Để chủđộng trong việc thu hút FDI cũng như tạo mooi trường đầu tư tốt nhất đòi hỏi côngnghiệp dệt may và CNPT dệt may Việt Nam chú trọng trong việc xây dựng các khucông nghệ dệt vải với các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng đường xá, thoát nước

Trang 25

sạch và xử lí nước đúng tiêu chuẩn, các chế độ quy định về lao động, đảm bảo nângcao chất lượng sản phẩm,…

Thứ tư, phát triển đồng bộ cả về khoa học công nghệ và nhân lực Học hỏi

kinh nghiệm các nước, với lợi thế của nước đi sau, Việt Nam hoàn toàn có thể đầu

tư theo hướng đón đầu các công nghệ tiên tiến, hiện đại và áp dụng các khoa học kĩthuận tiên tiến vào sản xuất vải và nguyên phụ liệu may mặc Đầu tư cho công nghệ

sẽ góp phần tăng năng suất lao động và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới,không những trong ngành sản xuất vải mà còn quyết định sự phát triển bền vữngcủa sản phẩm dệt may Một nhân tố quan trọng nữa góp phần vào sự phát triển bềnvững của công nghiệp dệt may đó chính là nguồn nhân lực chất lượng cao.Như đãbiết nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ, chăm chỉ là lợi thế so sánh tĩnh của Việt Namnhưng như vậy chưa đủ, để phát triển lâu dài CNPT dệt may thì nguồn nhân lựcchất lượng cao còn quan trong hơn nhiều so với máy móc hiện đại Từ kinh nghiệmcủa Trung Quốc có thể thâý được tầm quan trọng của đào tạo đội ngũ nhân viên kỹthuật giỏi, lực lượng lao động chính quy thì mới có khả năng tận dụng trang thiết bị,máy móc tạo ra những sản phẩm mới, chất lượng cao

Thứ năm, phát triển DNVVN và tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp.

Như kinh nghiệm của các nước công nghiệp dệt may phát triển đặc biệt làTrung Quốc thì những sản phẩm phụ trợ dệt may thường được sản xuất và cung cấpchủ yếu từ những DNVVN Nhìn nhận lại Việt Nam, khu vực tư nhân chủ yếu làcác DNVVN, thu hút phần lớn lao động làm việc trong công nghiệp dệt may nêncần thiết phải có những chính sách tích cực nhằm hỗ trợ cho DNVVN lĩnh vựcCNPT dệt may Bên cạnh những chính sách hỗ trợ đầu vào như hỗ trợ về tài chính,công nghệ, Chính phủ cần coi trọng việc tạo dựng và phát triển thị trường đầu racho các doanh nghiệp trong lĩnh CNPT dệt may; có như vậy mới tạo hiệu quả đáng

kể trong hoạt động của các DNVVN, giúp nâng cao năng suất và giá trị gia tăngtoàn ngành dệt may

Cũng một bài học kinh nghiệm học được từ các nước trên thế giới đó là chỉkhi xây dựng các quan hệ liên kết kinh tế chặt chẽ và thông suốt thì CNPT dệt maymới có thể phát triển được Hình thành chuỗi giá trị thông qua hoạt động liên kếtkinh tế không chỉ đơn thuần là hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp cùngngành, cũng quy mô và trong cùng một khu vực mà chuỗi liên kết này được mở

Trang 26

rộng, tăng cường liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phụtrợ dệt may nội địa với các doanh nghiệp có vốn FDI nhằm khai thác công nghệ,kinh nghiệm quản lí của các doanh nghiệp FDI Liên kết giữa các nhà cung cấp nộiđịa với doanh nghiệp dệt may nước ngoài, đặc biệt các tập đoàn đa quốc gia vàxuyên quốc gia tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tham gia vào hệthống của các tập đoàn này.

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH DỆT

MAY VIỆT NAM 2.1 Thực trạng ngành dệt may Việt Nam hiện nay

Có nguồn gốc lâu đời, cùng với điện thoại và linh kiện, dệt may hiện nay làngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm qua Năm 2013, sản phẩmdệt may Việt Nam xuất khẩu đến hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ (trong đó cácthị trường xuất khẩu chính là: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc) với kim ngạchxuất khẩu đạt 17,9 tỷ USD; chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam và10,5% GDP cả nước Tốc độ tăng trưởng dệt may trong giai đoạn 2008-2013 đạt14,5%/năm đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởngkim ngạch xuất khẩu dệt may nhanh nhất thế giới

Hiện cả nước có khoảng 6.000 doanh nghiệp dệt may, thu hút hơn 2,5 triệu laođộng, chiếm khoảng 25% lao động của khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam.Theo số liệu của VITAS, mỗi 1 tỷ USD xuất khẩu hàng dệt may có thể tạo ra việclàm cho 150 - 200 nghìn lao động, trong đó có 100 nghìn lao động trong doanhnghiệp dệt may và 50 - 100 nghìn lao động tại các doanh nghiệp hỗ trợ khác Phầnlớn các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân (84%), tập trung ở Đông Nam

Bộ (60%) và đồng bằng sông Hồng (30%) Các doanh nghiệp may chiếm khoảng70% tổng số doanh nghiệp trong ngành với hình thức xuất khẩu chủ yếu theo hìnhthức gia công CMT (85%)

Trang 28

2.1.1 Tình xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam

2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 0

Giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam(Tỷ USD)

DN FDI DN trong nước Tổng

Biểu đồ 2.1: Gía trị xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2005-2013

Nguồn: Bloomberg

Dệt may Việt Nam ngày càng phát triển với kim ngạch xuất khẩu tăng nhanhtrong những năm trở lại đây và hiện trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai củanước ta Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong những năm gần đây, dệt may làmột trong những ngành có tốc độ tăng trưởng, phát triển nhanh nhất, bình quânkhoảng 12 – 13%/năm

Năm 2012 ngành dệt may đã đóng góp trên 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cảnước với hơn 17 tỷ USD Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt17,9 tỷ USD; tăng 18,5% so với cùng kỳ; chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩuViệt Nam Đặc biệt, trong năm 2014, toàn ngành dệt may đã đạt kim ngạch xuấtkhẩu 24,5 tỷ USD, tăng trên 19% so với năm 2013, là mức tăng lớn nhất trong 3năm gần đây Trong khối các nước xuất khẩu dệt may, Việt Nam cũng là quốc gia

có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lớn nhất Tuy nhiên một điều đáng chú ý là khốicác doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) có sự tăng trưởng vàđạt kim ngạch cao hơn các doanh nghiệp dệt may trong nước cụ thể, năm 2013,kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 10,7 tỷ USD, tăng 18,5% so vớicùng kỳ và chiếm tỷ trọng 59,4% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may Trong khi đó,giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước đạt 7,3 tỷ USD, thấp hơn 3,4 tỷ USD

so với doanh nghiệp FDI

Trang 29

Thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đã mở rộng ra hơn 180 quốc gia

và vùng lãnh thổ vào năm 2013, trong đó Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc làbốn đối tác lớn nhất

Biểu đồ 2.2: Thị trường xuất khẩu dệt may Việt Nam năm 2014

Nguồn: Bloomberg

Năm 2014, kim ngạch hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam đạt 20,95 tỷUSD; trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang 4 thị trường chính này chiếm tới 85,3%(đạt 17,78 tỷ USD) Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ liên tụctăng mạnh qua các năm và đạt 9,82 tỷ USD năm 2014; chiếm 46,87% tổng kimngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam

2.1.2 Tình hình nhập khẩu ngành dệt may Việt Nam

Sản phẩm dệt may là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, đưa nước tatrở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ngành dệt may lớn nhất Tuynhiên, tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may Việt Nam cũng tương đối lớn và tăng liêntục qua các năm, được biểu hiện cụ thể qua 3 mặt hàng nhập khẩu chính đó là: vải,bông và sợi

Trang 30

NK bông Tổng

Biểu đồ 2.3: Gía trị nhập khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2007-2013

Nguồn: VITAS

Từ biểu đồ có thể thấy xu hướng gia tăng của tổng kim ngạch nhập khẩu dệtmay nước ta tăng đều và liên tục với CAGR trong giai đoạn 2009-2013 là20,5%/năm (cao hơn CAGR giá trị xuất khẩu dệt may cùng giai đoạn là 2,1%) Tỷtrọng của các thành phần trong kim ngạch nhập khẩu tương đối đồng đều và giá trịxuất khẩu dệt may tăng cao nhất trong giai đoạn 2009-2010 (tăng 2,489 tỷ USD).Năm 2013, giá trị nhập khẩu dệt may đạt 13.547 triệu USD; tăng 19,2% so với cùngkỳ; chiếm 10,25% tổng kim ngạch nhập khẩu Việt Nam năm 2013 Trong cơ cấunhập khẩu dệt may, vải chiếm tỷ trọng chủ yếu và tốc độ tăng ổn định hơn so vớinguyên liệu xơ, sợi và bông Năm 2013, giá trị nhập khẩu vải đạt 8,397 triệu USD;chiếm 62% tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may Việt Nam

Trang 31

Biểu đồ 2.4: Thị trường nhập khẩu dệt may Việt Nam năm 2013

Nguồn: VITAS

Có thể thấy 4 thị trường cung cấp nguyên phụ liệu dệt may chính cho ViệtNam đó là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Hoa Kỳ Cụ thể năm 2013, kimngạch nhập khẩu từ 4 thị trường chính này là 10,81 triệu USD trên tổng kim ngạchnhập khẩu dệt may Việt Nam là 13,547 triệu USD (chiếm 79,8%) Trong đó TrungQuốc chiếm tỷ trọng cao nhất với 48%, điều này chứng tỏ nguyên phụ liệu dệt mayViệt phụ thuộc rất lớn vào đối tác Trung Quốc và để giảm bớt sự phụ thuốc này làđiều không mấy dễ dàng đối với nước ta

2.1.3 Môi trường phát triển ngành dệt may Việt Nam

Dệt may với vị thế là ngành công nghiệp trọng điểm, đóng góp tỷ trọng lớnvào lĩnh vực công nghiệp nước nhà, vì vậy Chính phủ không ngừng thúc đẩy pháttriển toàn diện môi trường dệt may Việt Nam thông qua các chính sách, pháp lý liênquan đến ngành dệt may

Thứ nhất, về cơ cấu ngành dệt may Tháng 2/2013, Thủ tướng Chính phủ phê

duyệt “Đề án tái cơ cấu Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VINATEX) giai đoạn 2013 –2015” nhằm bảo đảm VINATEX tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính;hình thành chuỗi cung ứng sợi - dệt - nhuộm - may; nâng cao giá trị gia tăng trong sảnphẩm dệt may, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của VINATEX, gópphần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Song hành cùng với việc phê duyệt đề án này,Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Công ty mẹ - Tập đoàn Dệt May Việt Nam khẩn trương

Trang 32

thực hiện cổ phần hóa trong năm 2014 và yêu cầu Bộ Công Thương phải có lộ trình vàphương án cụ thể để hoàn thành việc thoái vốn đến cuối năm 2015.

Thứ hai, về thuế thu nhập Thuế thu nhập doanh nghiệp được hưởng ưu đãi

khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đượcQuốc hội thông qua ngày 19/06/2013 Theo đó, Luật quy định từ 01/01/2014 ápdụng mức thuế suất phổ thông là 22%; doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá

20 tỷ đồng được áp dụng thuế suất phổ thông 20% kể từ 01/07/2013 Từ ngày01/01/2016, mức thuế suất phổ thông là 20% và mức thuế suất ưu đãi 20% đượcđiều chỉnh giảm xuống 17% Bên cạnh đó, Luật thuế thu nhập cá nhân cũng chínhthức nâng mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế lên 9 triệu đồng vàcho một người phụ thuộc lên 3,6 triệu đồng, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/07/2013

Thứ ba, về hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực Bên cạnh những chủ trương,

chính sách phát triển môi trường dệt may theo chiều rộng, Chính phủ Việt Namcũng chủ trọng phát triển theo chiều sâu thông qua Quyết định số 288/QĐ-TTg vềviệc hỗ trợ kinh phí đào tạo nguồn nhân lực dệt may Việt Nam cho Tập đoàn Dệtmay Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ký vào tháng 02/2014: chi 65,6 tỷ đồng từnguồn ngân sách trung ương năm 2014 để hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực

Có thể thấy Chính phủ đã tạo mọi điều kiện để phát triển môi trường dệt may sâurộng, song để Việt Nam dần trở thành “miền đất hứa” của ngành dệt may thì không thểkhông kể đến những cơ hội mà các Hiệp định thương mại tự do mang lại (FTA)

Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là Hiệpđịnh thương mại tự do nhiều bên, với mục tiêu thiết lập một khu vực thương mại tự

do chung cho các nước đối tác trong khu vực châu Á Thài Bình Dương Ngày05/10/2015, Hiệp định TPP chính thức được Bộ trưởng Thương mại của 12 nướcthành viên bao gồm: Singapore, Chile, NewZealand, Brunei, Australia, Peru, Mỹ,Việt Nam và Malaysia, Canada, Mexico và Nhật Bản Thông tin từ Hiệp hội dệtmay Việt Nam cho rằng việc kết thúc đàm phán TPP là tin vui đối với ngành dệtmay nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung Chỉ tính nửa đầu năm 2015, xuấtkhẩu dệt may sang thị trường các nước tham gia TPP đã chiếm gần 70% trong tổnggiá trị xuất khẩu toàn ngành, khi gia nhập TPP thị phần này còn tăng gấp đôi Hàngdệt may Việt xuất khẩu sang Mỹ hiện chịu thuế suất khoảng 17 – 18%, Hiệp địnhTPP được kỳ vọng sẽ cắt giảm mức thuế quan này dần về 0% Theo dự báo của

Trang 33

Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS), với triển vọng Hiệp định TPP, xuất khẩu dệtmay Việt Nam sang Hoa Kỳ có thể tăng trưởng 12-13%/năm và có thể đạt 30 tỷUSD vào năm 2025, đưa quy mô xuất khẩu toàn ngành năm 2025 đạt khoảng 55 tỷUSD Tuy nhiên để được hưởng mức thuế suất 0% này ngành dệt may Việt Namđứng trước một trở ngại lớn đó là các doanh nghiệp dệt may phải đáp ứng yêu cầu

“từ sợi trở đi”, có nghĩa các khâu từ kéo sợi, dệt - nhuộm - hoàn tất và may phảiđược thực hiện tại các nước thành viên TPP

Đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã tuyên bốkết thúc ngày 04/08/2015 sau hơn 2 năm và 14 lần đàm phán chi tiết theo đó Hiệp địnhcam kết xóa bỏ hầu hết các dòng thuế đối với hàng hóa giao dịch giữa Việt Nam và 28nước thuộc khối Liên minh châu Âu trong 7 năm để tạo điều kiện tiếp cận thị trường ởcác ngành quan trọng trong đó có dệt may Cụ thể mức thuế mà EU áp dụng đối vớimặt hàng may mặc Việt Nam sẽ giảm từ 11,6% xuống còn 0%, dự kiến giá trị xuấtkhẩu dệt may của Việt Nam vào EU tăng trưởng trung bình 6%/năm

2.2 Thực trạng công nghiệp phụ trợ ngành dệt may Việt Nam hiện nay

2.2.1 Ngành nguyên liệu

Ngành nguyên liệu phụ trách giai đoạn đầu của chuỗi giá trị dệt may, là ngànhđặt nến móng cho công nghiệp dệt may hình thành và phát triển Vậy đối với ngànhCNPT đóng vai trò quyết định đến toàn ngành dệt may này, ngành nguyên liệu dệtmay Việt Nam đã và đang làm được những gì?

Tương đương với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may, nhu cầu vềbông vải ngày càng tăng nhưng nguyên liệu đầu vào thiết yếu này hầu như đượcnhập khẩu 100% đối với Việt Nam Năm 2011, kim ngạch nhập khẩu bông là 1,1 tỷUSD, vải các loại là 6,6 tỷ USD, chiếm 70% kim ngạch nhập khẩu toàn ngành Nhưvậy, sản lượng bông trong nước chỉ đáp ứng được nhu cầu sản lượng rất nhỉ trongtổng nhu cầu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, chỉ sản xuất được từ 1-2%.Hơn nữa, do giá bông thế giới luôn biến động khó lường, đặc biệt tháng 1/2012Chính phủ Trung Quốc tăng dự trữ bông từ 2,2 - 4 triệu tấn và đến tháng 3/2012Chính phủ Ấn Độ cũng ban hành lệnh cấm xuất khẩu bông, tăng dự trữ trong nước

1 triệu tấn đã đặt các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vào hoàn cảnh vô cùng khókhăn trong việc thu mua, tạm trữ nguồn nguyên liệu đầu vào Nguyên căn của tìnhtrạng này xuất phát từ chính ngành trồng bông Việt Nam

Trang 34

Theo ông Phan Chí Dũng, vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ, Bộ Công thương:

“Trong chính ngành bông còn đang tồn tại tập quán sản xuất phân tán, manh mún,nhỏ lẻ, chưa thành vùng sản xuất bông tập trung lớn, sản xuất nhớ nước trời nênluôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và khi xảy ra rủi ro thì nông dân lại không tuân thủ hợpđồng với doanh nghiệp” Thực tế kĩ thuật trồng bông vải ở nhiều nơi Việt Nam chủyếu vẫn dựa vào tập quán canh tác truyền thống , phụ thuộc phần lớn vào điều kiệnthới tiết chớ chưa hình thành hệ thống tưới tiêu khi thời tiết không thuận lợi Việcnày tiền ẩn nhiều rủi ro do thời tiết có những diễn biến bất thường, năng suất vàchất lượng bông không được đảm bảo Đối với giá bông hạt được nnang lên từ9000đ/kg lên 15.000đ/kg (tại Bình Thuận), 17.000-18.000đ/kg (tại các tỉnh TâyNguyên) nhưng giá các cây trồng khác cùng thời vụ như ngô, khoai, sắn, lúa, đậunành…nên không thu hút được người dân tham gia trồng bông Tuy nhiên theo tínhtoán của Tập đoàn Dệt may Việt Nam, lợi nhuận có thể đạt được đối với 1 ha trồngbông là là 29 triệu/ha, trong khi trồng ngô là 26 triệu/ha, trồng lúa là 23 triệu/ha, tứclợi nhuận cây bông mang lại cho người nông dân trên 1 ha cao hơn các cây trồngphổ biến khác nhưng với điều kiện trồng trang trại và trồng có tưới Thực tế mới có

2 trang trại mẫu ở Ninh Thuận và Bình Thuận được triển khai và đi vào hoạt độngnên tình hình trồng bông nói chung chưa có chuyển biến rõ rệt

Trước thực trạng kém phát triển của ngành nguyên liệu trồng bông, Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 29/QĐ- TTg ngày 8/1/2010 phê duyệtChương trình phát triển cây bông vải Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đếnnăm 2020

Bảng 2.1: Chương trình phát triển cây bông vải Việt Nam 2015-2020

Năng suất bông có tưới bình quân Tấn/ha 2 2,5

Nguồn: Cục xúc tiến thương mại

Sau hơn 2 năm triển khai thực hiện chương trình này, diện tích và sản lượngbông trong nước tăng liên tục thông qua cả 2 hình thức phát triển theo mô hình phântán trong dân và mô hình tập trung

Trang 35

Bảng 2.2: Tình hình phát triển ngành nguyên liệu bông Việt Nam

giai đoạn 2009-2012

Niên vụ Diện tích (ha) Sản lượng bông xơ

(tấn)

Tỉ lệ tăng sảnlượng (%)

là 30.000 ha0, tổng sản lượng bông xơ cũng chỉ đạt xấp xỉ 5.000 tấn (bằng ¼ so vớichỉ tiêu đặt ra cho năm 2015 là 20.000 tấn theo Quyết định của Thủ tướng Chínhphủ) Nông dân gặp khó khăn về đầu ra do sự liên kết giữa doanh nghiệp và nôngdân trồng bông còn lỏng lẻo Ví dụ tiêu biểu là một thời gian dài nông dân TâyNguyên đã phải “tự bơi” với cây bông vải vì không được hỗ trợ về chi phí gieotrồng, giống cây và phương pháp chăm bón cũng như đầu ra cho bông hạt không ổnđịnh, đến khi cây bông có nguy cơ bị loại khỏi cơ cấu giống cây trồng mới đượccông ty cổ phần Bông Tây Nguyên đưa ra các biện pháp khắc phục Hơn nữa, việctiếp cận nguồn vốn ưu tiên cho chương trình phát triển cây bông vẫn đang trong giaiđoạn hoàn chỉnh và chưa được ban hành Trong khi đó quỹ đất dành cho phát triểnbông trang trại còn hết sức khó khăn ngay cả việc thành lập quỹ bình ổn giá thumua bông hạt trong nước để ổn định gia, đảm bảo lợi ích cho người trồng bông vàphát triển ngành bông Việt Nam vẫn chưa thực hiện được

Ngành CNPT nguyên liệu cho dệt may Việt Nam còn cung cấp cho toàn ngànhnguồn nguyên liệu tơ tằm tuy khối lượng sản phẩm cung cấp thấp (chỉ chiếmkhoảng 0,2% tổng nguyên liệu dệt) nhưng giá trị gia tăng tương đối cao so với nghềtrồng bông Sản xuất tơ tằm là ngành nghề tổng hợp giữa trồng trọt (trồng cây dâutằm) và chăn nuôi (nuôi tằm) Nghề sản xuất tơ tằm tận dụng được tối đa lợi thế sosánh của Việt Nam như khí hậu nhiệt đới, phù hợp với tập quán sản xuất nhỏ, phù

Trang 36

hợp với vốn đầu tư, kĩ thuật chăm sóc của người nông dân Việt Nam, với nguồn laođộng dồi dào trong nông thôn nước ta Đặc biệt ngành phát triển với vốn đầu tư thấp

và quay vòng vốn nhanh (từ khi có trứng giống cho đến khi tằm kết kén chỉ khoảng43-47 ngày) Rõ ràng nghề sản xuất tơ tằm đêm lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhữngcây trồng thông thường như lúa, ngô và ngay cả với ngành trồng bông Theo điềutra của Nhật, khoảng 57% tổng giá trị của tơ thành phẩm là do người trồng đâu nuôitằm tạo ra Số liệu này hoàn toàn có thể chứng minh ngành trồng dâu nuôi tằm củaViệt Nam đang có xu hướng phát triển trải dài từ Bắc vào Nam, một số nơi đã pháttriển thành những vùng dâu có diện tích lớn, sản lượng kén cao, trọng điểm là tạiMộc Châu, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Nam, Lâm Đồng Theo báo cáo của BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện cả nước có 31 tỉnh tham gia sản xuất dâutằm trên cả 8 cùng sinh thái với tổng diện tích dâu là 25.046 ha (chiếm 0,21% diệntích đất nông nghiệp) Hiện có 4 vùng sản xuất tập trung là đồng bằng sông Hồng,Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Trong đó Tây Nguyên làvùng sản xuất tập trung lớn nhất cả nước với 10.126 ha (chiếm 40,43% diện tích);vùng có diện tích ít nhất là đồng bằng sông Cửa Long chỉ có 15 ha tại tỉnh AnGiang Hiện có khoảng 96.691 hộ nông dân trồng dâu nuôi tằm với thu nhập bìnhquân từ kén/ha dâu/năm đạt 60-70 triệu đồng Đến nay đã có 66.52% hộ được tiếpcận với các chính sách hỗ trợ sản xuất dâu tằm dưới các hình thức khác nhau

2.2.2 Ngành kéo sợi

Kế tiếp ngành nguyên liệu trong chuỗi giá trị dệt may, ngành kéo sợi đón sảnphẩm đầu ra của ngành nguyên liệu (những nguyên liệu thô) làm đầu vào trong quátrình sản xuất đối với nguyên liệu tự nhiên thực vật (bông, xơ, đay), động vật (tơtằm) Bên cạnh đó nguyên liệu cho ngành kéo sợi còn bao gồm sợi nhân tạo (từpolyester) nhưng chủ yếu vẫn là sử dụng nguyên liệu đầu vào được cung cấp từkhâu nguyên liệu bông Vì vậy, sự phát triển của ngành kéo sợi phụ thuộc lớn vào

sự phát triển của ngành nguyên liệu bông

Trong những năm gần đây, Việt Nam là một trong rất ít quốc gia tại châu Á đã

mở rộng hoạt động sản xuất của ngành kéo sợi, với chỉ từ 2 triệu cọc sợi năm 2000

đã tăng lên hơn 5,1 triệu cọc sợi năm 2012 Cả nước có 100 nhà máy kéo sợi vớitổng công suất 680 nghìn tấn sợi bông nhân tạo (tương đương 5,1 triệu cọc) Do nhucầu tiêu thụ mạnh đối với các loại sợi từ một số thị trường, đặc biệt là Trung Quốc

Trang 37

và Thổ Nhĩ Kỳ, xuất khẩu sợi nước ta trong năm 2012 tiếp tục tăng, đạt 415.000tấn, với mức tăng trưởng 8%/năm Hiện nay, nước ta đã xuất khẩu hơn 60% sợi(bao gồm cả sợi bông) sản xuất trong nước, tập trung chủ yếu tại các thị trường nhưTrung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Indonesia và Thái Lan.

Bảng 2.3: Tổng quan ngành dệt may/ ngành kéo sợi của Việt Nam

Nguồn: Hiệp hội sợi Việt Nam (VCOSA)

Ngành sợi phát triển thuận lợi trong những năm qua xuất phát từ hai nguyênnhân chính Thứ nhất, ngành sợi đã phát huy được lợi thế cạnh tranh về chi phí đầuvào thấp so với các nước mà cụ thể là chi phí nhân công và tiền thuê đất Thứ hai là

do nhu cầu sợi của thị trường của thế giới tăng nhanh trong những năm gần đây.Tuy nhiên, đa số lượng sợi sản xuất trong nước được xuất khẩu trong khi các doanhnghiệp dệt trong nước lại nhập khẩu sợi từ nước ngoài do cung và cầu trong nướcchưa phù hợp với nhau về số lượng và chất lượng sợi

1.Nguyên liệu bông

Đi từ thực trạng ngành trồng bông Việt Nam, sản lượng bông nội địa tạo rachỉ có thể đáp ứng 5% nhu cầu nguyên liệu đầu vào của ngành kéo sợi, vậy nên xuhướng tăng nhanh trong nhập khẩu nguyên liệu bông phục vụ cho ngành CNPT kéosợi là tất yếu Năm 2012, Việt Nam nhập khẩu 416.000 tấn bông, tăng 27% so vớinăm trước Đây cũng là năm thứ sáu liên tiếp, Hoa Kỳ là nước cung cấp bông vảilớn nhất cho Việt Nam, khoảng 126.600 tấn , chiếm khoảng 30% tổng lượng bôngnhập khẩu; từ đó đưa nước ta từ vị trí thứ 7 trong năm 2011 trở thành quốc gia lớnthứ 4 về nhập khẩu bông vải từ Hoa Kỳ, vượt qua Indonesia, Hàn Quốc và TháiLan Nhập khẩu bông năm 2013 đạt 589.000 tấn, trị giá 1.171 triệu USD; tăng 39%

về lượng và 33,6% về giá trị so với năm 2012

Ngày đăng: 18/05/2017, 13:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ - thực trạng và một số khuyến nghị, Viện nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương – trung tâm thông tin-tư liệu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ - thực trạng và một số khuyến nghị
2. Trần Đình Thiên, Phát triển công nghiệp hỗ trợ- đánh giá thực trạng và hệ quả, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Kinh tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghiệp hỗ trợ- đánh giá thực trạng và hệ quả
3. Vũ Minh, “Vạch mặt” 6 yếu kém của công nghiệp hỗ trợ, www.cafef.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vạch mặt” 6 yếu kém của công nghiệp hỗ trợ
6. Cổng thông tin điện tử Tập đoàn dệt may Việt Nam, Ngành dệt may Việt Nam chuẩn bị cho TPP, 11/04/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành dệt may Việt Nam chuẩn bị cho TPP
10. Cục Xúc tiến thương mại, Phân tích SWOT ngành dệt may Việt Nam, 01/02/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích SWOT ngành dệt may Việt Nam
11. Hiệp hội Bông sợi Việt Nam, Ngành dệt may đón đầu TPP: Dệt nhuộm nhiều rào cản, 25/01/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành dệt may đón đầu TPP: Dệt nhuộm nhiều rào cản
14. Bộ Công thương Việt Nam, Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam: cần một lộ trình khả thi, 10/11/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam: cần một lộ trình khả thi
15. An Ngọc-Nguyệt Quế, Có TPP, dệt may Việt Nam thoát “khiếp gia công”, www.cafef.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: khiếp gia công
16. Tố Uyên, Dệt may trước TPP nếu biết cách có thể biến “sở đoản” thành lợi thế, Thời báo Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dệt may trước TPP nếu biết cách có thể biến “sở đoản” thành lợi thế
18. Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp (2007), Báo cáo tổng kết thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2010 và định hướng chiến lượng giai đoạn 2011 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kếtthực hiện chiến lược phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2010 và định hướngchiến lượng giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp
Năm: 2007
5. Báo cáo ngành dệt may, 180414 FPT Securities/http://images1.cafef.vn Link
4. Bộ Kế hoạch Đầu tư, Cục phát triển Doanh nghiệp, Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
7. Bộ Công thương Việt Nam, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương-Ký kết xác định lời văn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương Khác
9. Cổng thông tin Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Đẩy mạnh tiêu thụ xơ sợi pholyester của PVTex Khác
12. Hiệp hội Bông sợi Việt Nam, Thị trường Hoa Kỳ: khắt khe tiêu chuẩn an toàn ngành dệt may, 13/01/2016 Khác
13. Cục Xúc tiến thương mại, Dệt may và nguyên liệu, Bản tin ngành dệt may tháng 12 năm 2015 Khác
17. Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Năng lượng – Công nghiệp – Khai khoáng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành chuỗi cung ứng sợi - dệt - nhuộm - may; nâng cao giá trị gia tăng trong sản phẩm dệt may, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của VINATEX, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội - Nghiên cứu PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH TPP
Hình th ành chuỗi cung ứng sợi - dệt - nhuộm - may; nâng cao giá trị gia tăng trong sản phẩm dệt may, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của VINATEX, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (Trang 30)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w