Để tăng năng suất và sản lượng ngô hạt phục vụ các nhu cầu trong nước, rất cần áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến cho thâm canh ngô, trong đó xác định mật độ với
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐINH VĂN PHÓNG
NGHIÊN CỨU BÓN PHÂN CHO NGÔ LAI TRUNG NGÀY
TRÊN ĐẤT XÁM BẠC MÀU MIỀN BẮC VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC ĐẤT
MÃ SỐ : 62 62 01 03
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn: 1 PGS.TS NGUYỄN NHƯ HÀ
2 PGS.TS NGUYỄN VĂN BỘ
Phản biện 1: PGS.TS VŨ NĂNG DŨNG
Hội Khoa học đất Việt Nam
Phản biện 2: TS BÙI HUY HIỀN
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Phản biện 3: TS CAO KỲ SƠN
Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trang 3PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực có vị trí thứ 2 (sau lúa), là cây trồng hàng
hóa quan trọng ở các vùng sinh thái Do cây ngô có khả năng chịu hạn, không kén
đất, có thể trồng được nhiều vụ trong năm
Việt Nam có điều kiện phù hợp cho phát triển ngô qui mô lớn tại hầu hết cácvùng sinh thái Ngành sản xuất ngô ở nước ta thực sự có những bước tiến quantrọng từ đầu những năm 1990, gắn liền với việc mở rộng diện tích trồng giống lai
và hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác Trong đó có việc xác định quy trìnhbón phân cho các giống ngô lai trồng ở mật độ 5,0 - 5,5 vạn cây/ha với khoảng cáchhàng rộng (70 cm) Năng suất ngô trung bình của Việt Nam cho đến năm 2013 mới
đạt 4,45 tấn/ha, bằng 86,9% năng suất trung bình của thế giới, thấp hơn rất nhiều
so với năng suất ở các nước phát triển (Tổng cục Thống kê, 2013; Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2013b). Do đó giá thành ngô hạt ở Việt Nam còn cao, chưa cạnh tranh được
với giá ngô thế giới
Kết quả nghiên cứu ở ngoài nước và ở nước ta trong vài năm gần đây chothấy mật độ trồng ngô cho năng suất cao nhất đối với phần lớn các giống ngô là 7,0
- 8,0 vạn cây/ha, với khoảng cách hàng 40 - 50 cm Trong khi đó ở Việt Nam
thường đang áp dụng mật độ trồng ngô khoảng 5,0 vạn cây/ha với khoảng cách
hàng trồng 70 cm nên hạn chế khả năng sử dụng phân bón trong thâm canh ngô
Nhu cầu ngô hạt cho chế biến thức ăn chăn nuôi để thay thế nhập khẩu ngàycàng lớn, năm 2013 nước ta phải nhập khẩu 1,9 triệu tấn ngô hạt Chính vì vậy BộNông nghiệp và PTNT chủ trương tăng cường sản xuất ngô tại vùng đồng bằng,phát triển giống mới, cải tiến kỹ thuật thâm canh để tăng năng suất tại các vùng sảnxuất ngô truyền thống
Diện tích đất xám bạc màu ở miền Bắc Việt Nam tuy chỉ có khoảng 23000
ha (Hồ Quang Đức và cs., 2014), song ở các tỉnh Trung du nó là loại đất sản xuấtnông nghiệp chủ yếu Đây là đất có độ phì nhiêu tự nhiên thấp nhưng có tiềm năngtrồng ngô lớn ở miền Bắc Việt Nam
Hiện tại, diện tích trồng các giống ngô lai trung ngày chiếm trên 70% diệntích sản xuất ngô của Việt Nam Đây là nhóm các giống ngô lai có thời gian sinh
trưởng hợp lý cho việc thâm canh tăng vụ đạt hiệu quả kinh tế cao ở các vùng sinh
thái trồng ngô
Để tăng năng suất và sản lượng ngô hạt phục vụ các nhu cầu trong nước, rất
cần áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến cho thâm canh ngô,
trong đó xác định mật độ với khoảng cách trồng dày hợp lý và mức bón phân cânđối tương ứng để cây ngô phát huy tiềm năng năng suất có vai trò quyết định
1.2 Mục đích của đề tài
- Xác định mật độ dày thích hợp, khi giảm khoảng cách hàng trồng, tạo khả
năng tăng sử dụng phân bón trong thâm canh ngô lai trung ngày trên đất xám bạc màu
Trang 4- Xác định lượng phân N,P,K thích hợp cho thâm canh ngô lai trung ngày ởmật độ và khoảng cách hàng dày hợp lý trên đất xám bạc màu.
1.3 Những đóng góp mới của đề tài
Chỉ rõ tiềm năng tăng năng suất và nhu cầu tăng lượng phân bón cho ngô laitrung ngày trên đất xám bạc màu khi xác định được mật độ và khoảng cách hàngtrồng dày hợp lý là 7,0 vạn cây/ha với khoảng cách hàng 50 cm bằng giảm khoảngcách hàng từ 70 cm xuống 50 cm
Xác định được lượng phân N, P, K bón thích hợp (trên nền 10 tấn phân
chuồng) cho thâm canh ngô lai trung ngày ở mật độ dày hợp lý trên đất xám bạc màu
- Bổ sung thêm cơ sở khoa học cho việc tăng mật độ và phân bón hợp lý
trong thâm canh ngô đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao trên đất xám bạc màu
- Dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu mật độ trong mối quan
hệ với bón phân trong thâm canh ngô
1.4.2 Ý ngh ĩa thực tiễn
- Xây dựng chế độ bón phân cho ngô thâm canh phù hợp với mật độ
- Góp phần bổ sung vào tài liệu khuyến nông cây ngô
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới, ngô là cây điển hình được ứng dụng nhiều thành tựu khoa họcvào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình, 1977) Do vậy diện tích ngôtrên thế giới liên tục tăng trong những năm gần đây Năm 2012 diện tích trồng ngôcủa thế giới đã vượt qua diện tích trồng lúa nước Trong hơn 40 năm qua, ngô làcây trồng có tốc độ tăng năng suất cao nhất trong các cây lương thực chính So với
năm 1960, năm 2012, năng suất ngô trung bình của thế giới tăng 150% (từ 1,95
tấn/ha lên 4,89 tấn/ha)
Ở Việt Nam sau khi đất nước thống nhất, diện tích trồng ngô của nước tatăng lên rất nhanh và trở thành một trong những cây lương thực quan trọng trong
sản xuất nông nghiệp (Đinh Thế Lộc và cs., 1997; Nguyễn Hữu Tề và cs., 1997)
Năng suất ngô Việt Nam đến cuối những năm 1970 chỉ đạt 10 tạ/ha Ngành sản xuấtngô nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt là từ giữa những năm 1990 đến
nay, gắn liền với việc mở rộng diện tích trồng giống lai và cải thiện các biện pháp kỹ
Trang 5thuật canh tác.
Tuy nhiên năng suất ngô ở Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với các nước
năng suất cao (8 - 10 tấn/ha) và với năng suất trong thí nghiệm, do việc nghiên cứu
các biện pháp kỹ thuật thâm canh như: mật độ, khoảng cách trồng và bón phân cân
đối cho cây ngô thâm canh còn hạn chế Trong đó có mật độ trồng ngô thấp hơn
nhiều so với quy trình và bất hợp lý về khoảng cách giữa các hàng, việc bón phânvừa ít vừa không cân đối dẫn đến hiệu quả chưa cao Người dân chưa thấy lợi íchcủa trồng ngô thâm canh bằng tăng mật độ và bón phân hợp lý để làm giảm giáthành ngô hạt và tăng thu nhập Do đó hiện nay, nước ta vẫn phải nhập khẩu nhiềungô hạt để làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi (Phan Xuân Hào, 2008),
2.2 Nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng ngô trong và ngoài nước
Trên thế giới mật độ và khoảng cách trồng là vấn đề được nghiên cứu nhiều
và sâu nhất trong các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô, đặc biệt là ngô lai
Mỹ là nước có diện tích và sản lượng ngô hạt lớn nhất trên thế giới nên cónhiều nghiên cứu về mật độ và khoảng cách hàng trồng ngô Hiện tại ở Mỹ ngô lai
được trồng phổ biến ở mật độ 8,0 - 8,5 vạn cây/ha, khoảng cách hàng là 40, 50năng suất cao hơn hẳn so với mật độ và khoảng cách truyền thống (Dẫn theo Phan
Xuân Hào, 2008).Ở Argentina đã nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách hàng 35
cm và 70 cm với cùng mật độ 7,6 vạn cây/ha ở 2 giống ngô lai trong 2 năm chothấy: Trong điều kiện gieo hàng hẹp (35 cm) năng suất cao hơn hẳn so với khoảngcách truyền thống Việc tăng năng suất ở khoảng cách hàng hẹp so với hàng rộng,
đặc biệt ở mật độ cao, được giải thích là do tiếp nhận năng lượng mặt trời tốt hơn,
giảm bốc hơi nước bề mặt hạn chế cỏ dại phát triển do sớm che phủ mặt đất
Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu về mật độ và khoảng cách gieo trồng ngô được
các nhà khoa học nghiên cứu từ rất sớm Chúng ta luôn có quan niệm: Mật độ trồnggắn liền với đặc điểm của giống, điều kiện sinh thái và mùa vụ, khả năng đầu tư củanông dân ở từng vùng cụ thể (Ngô Hữu Tình, 1987) Để tăng mật độ từ trước đếnnay ở Việt Nam thường chỉ quan tâm giảm khoảng cách giữa các cây trong 1 hàng
trên cơ sở cố định khoảng cách hàng (Phan Xuân Hào, 2008) Các nhà khoa học đã
đi đến thống nhất khoảng cách tốt nhất giữa các hàng trong trồng ngô là 70 cm, có
xu hướng cố định khoảng cách giữa các hàng, điều chỉnh thay đổi mật độ giữa các
cây trong hàng (Nguyễn Thế Hùng, 2001) Điều đáng nói ở đây là các nghiên cứu
về khoảng cách hàng chưa được thực hiện ở ta, mà chỉ dựa theo khuyến cáo củaCIMMYT là 70 – 75 cm (Phan Xuân Hào, 2008) Quy trình kỹ thuật thâm canh
ngô lai chưa dựa trên cơ sở nghiên cứu trong thực tế cho phù hợp với điều kiện cụ
thể của từng vùng sinh thái trồng ngô (Phan Xuân Hào, 2008)
Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Ngô năm 2006 đến 2008 trên đất
phù sa đã xác định được mật độ cho năng suất cao nhất đối với phần lớn các giống
thí nghiệm là 8,0 vạn cây/ha Ở mật độ và khoảng cách này, năng suất các giống
cao hơn so với mật độ và khoảng cách đã được khuyến cao lâu nay (5,7 vạn cây/ha,
Trang 6khoảng cách hàng 70 cm) trung bình 32 % (30 – 35%) Tăng mật độ chỉ có hiệuquả cao khi đồng thời thu hẹp khoảng cách hàng Ưu thế của khoảng cách hànghẹp hơn càng rõ khi mật độ tương đối cao (Viện Nghiên cứu Ngô, 2009).
2.3 Nghiên cứu về bón phân cho ngô trong và ngoài nước
Theo Dauphin (1985) để tạo ra mỗi một tấn hạt, cây ngô hút 23 - 24 kg N, 6,5
- 11 kg P2O5và 14 - 42 kg K2O/ha từ đất Yêu cầu dinh dưỡng thay đổi khác nhautuỳ thuộc vào giống và mức năng suất được tạo ra Muốn năng suất ngô cao không
thể thiếu được sự cung cấp dinh dưỡng thật đầy đủ (Subandi et al., 1998).Theo Viện
Lân - Kali Atlanta (1996) để tạo ra 10 tấn ngô hạt/ha, cây ngô lấy đi một lượng dinh
dưỡng rất lớn (kg/ha: 269kgN, 111 P2O5, 269 K2O Mức bón phân được khuyến cáocho ngô ở Đài Loan là 175 kg N + 95 kg P2O5+ 70 kg K2O/ha (Shan, 1994)
Theo Nguyễn Văn Bộ (2007) lượng phân bón khuyến cáo cho ngô phải tuỳthuộc vào đất, giống ngô và thời vụ Bón từng loại phân riêng rẽ hiệu lực không cao
không đạt năng suất tối đa, bón kết hợp thì hiệu lực phân bón tăng và cho năng suất
cao rõ rệt và cao hơn cả hiệu lực của mỗi loại phân bón Xét về hiệu quả kinh tế thìbón phân cân đối cho ngô trên đất bạc màu, đất xám có hiệu quả kinh tế hơn đất
80 kg P2O5– 100 kg K2O/ha (giống LVN99) (dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003)
Theo Nguyễn Thế Hùng (1996), trên đất bạc màu vùng Đông Anh – Hà Nội,giống ngô LVN10 có phản ứng rất rõ với phân bón ở công thức bón 120 kg N – 120
kg P2O5– 120 kg K2O/ha
Theo hướng dẫn của Cục Trồng trọt (2006) để đạt năng suất ngô trên 7 tấn/ha ởcác tỉnh miền Bắc, thì lượng phân bón như sau: Đối với loại đất tốt: 10 - 15 tấn phânchuồng; 150 - 180 kg N; 100 - 120 kg P2O5; 80 - 100 kg K2O/ha Đối với đất trung bình:
10 - 15 tấn phân chuồng; 180 - 200 kg N; 120 - 140 kg P2O5; 100 - 120 kg K2O/ha
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu bón phân cho ngô với các giống ngô lai
và trình độ thâm canh hiện tại (trồng ở mật độ 5,0 vạn cây/ha với khoảng cách hàng
70 cm) trên đất xám bạc màu cho thấy, mức bón các phân đa lượng thích hợp nhất
cho 1 ha ngô (trên nền 10 tấn phân chuồng) là: 135 kg N, 90 kg P2O5, 100 kg K2O,
ứng với tỷ lệ N: P2O5: K2O là: 1:0,67: 0,74 (Nguyễn Như Hà, 2008; Nguyễn Như
Hà và cs., 2011)
2.4 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa giống, mật độ và sử dụng phân bón trong trồng ngô
Kết quả nghiên cứu ở Liên Xô (cũ) và Bungari cho thấy: Tăng mật độ trồng ngô
trong điều kiện không đủ ẩm và dinh dưỡng thì cho năng suất thấp ở mọi mật độ Vì
Trang 7vậy các nước Liên Xô (cũ) và Bungari đã nghiên cứu kỹ không chỉ về mật độ trồngngô mà còn cả mối quan hệ giữa mật độ và các điều kiện dinh dưỡng khác nhau, đi
đến kết luận ở mật độ 8,0 – 9,0 vạn cây/ha mà cung cấp dinh dưỡng đầy đủ thì chonăng suất cao, thậm chí tăng mật độ lên tới 10 vạn cây/ha mà cung cấp dinh dưỡngđầy đủ thì năng suất vẫn tăng (Phan Xuân Hào, 2008)
Theo Trần Hữu Miện (1987), phân bón và mật độ có mối quan hệ mật thiếtvới nhau Trên đất bãi sông Hồng: trồng với mật độ 6,0 vạn cây/ha, bón 120 kg N,
90 kg K2O, 60 kg P2O5/ha cho năng suất 40 - 50 tạ/ha; bón 150 kg N, 100 Kg K2O,
60 kg P2O5/ha cho năng suất 50 - 55 tạ/ha; bón 180 kg N, 150 kg K2O, 100 kg
P2O5/ha cho năng suất 65 - 70 tạ/ha
Theo Võ Minh Kha (1996) hiệu quả phân bón thay đổi nhiều theo giống câytrồng Cải tạo giống cần đi trước một bước Thay đổi giống tốt mà năng suất không đạt
được như tiềm năng của giống thì nên xem xét đến các điều kiện cho giống phát huy:nước, phân bón Cần chọn đúng kỹ thuật canh tác, phù hợp với mức đầu tư phân bón
Giữa mật độ gieo trồng và chế độ bón phân có quan hệ rất mật thiết và cũngrất phức tạp Vì mật độ gieo trồng liên quan đến đặc tính của cây, có khi còn rất khácnhau giữa các giống và điều kiện ngoại cảnh Việc tăng mật độ nếu chỉ quan tâm đểquần thể cây khai thác tốt nhất ánh sáng và không khí thì vẫn chưa đủ đảm bảo choviệc tăng năng suất trong trồng trọt Vì để thúc đẩy quá trình quang hợp cây cần
được cung cấp đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng khoáng thiết yếu, đầu tiên là các
chất đa lượng: đạm, lân và kali (Nguyễn Như Hà và Nguyễn Văn Bộ, 2013)
Theo nhiều tác giả (Mineev, 1990; Tạ Thu Cúc và cs., 2000; Nguyễn Như Hà
và Nguyên Văn Bộ, 2013), khi tăng mật độ thích hợp cho cây trồng, cần áp dụng kỹthuật cao hơn như tăng cường bón phân…
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Ngô (2009) đã chỉ ra rằng: có thể tăngmật độ hợp lý trên cơ sở giảm khoảng cách hàng trong trồng các giống ngô lai, tạo
điều kiện cho việc thâm canh và sử dụng phân bón nhiều hơn để đạt hiệu quả caohơn cho sản xuất ngô Tuy nhiên nghiên cứu chưa đưa ra được mật độ và công thức
bón phân hợp lý cho cây ngô trên đất xám bạc màu
PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Giống: Giống ngô lai trung ngày C.P.333, là giống được trồng phổ biến tạivùng nghiên cứu
- Phân bón: Đạm urê 46% N; lân supe 17% P2O5; kali clorua 60% K2O, phânchuồng
- Đất nghiên cứu là đất xám bạc màu tại xã Lương Phong - Huyện Hiệp Hoà
- Tỉnh Bắc Giang
- Thời gian nghiên cứu: Từ vụ đông 2010 đến vụ đông 2011, bao gồm 3 vụ,
trong đó,1 vụ xuân và 2 vụ đông
Trang 83.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Xác định khả năng tăng mật độ trồng ngô lai trung ngày hợp lý trên đất xám bạc màu bằng giảm khoảng cách hàng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, khoảng cách hàng trồng đến sinh trưởng,phát triển, các yếu tố cấu thành và năng suất của cây ngô trên đất xám bạc màu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, khoảng cách hàng trồng đến khả nănghấp thu các chất dinh dưỡng N, P, K ; hiệu quả sử dụng phân bón
3.2.2 Xác định lượng N, P, K thích hợp cho ngô lai trung ngày, trồng dày hợp lý trên đất xám bạc màu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phối hợp N, P, K đến sinh trưởng, cácyếu tố cấu thành năng suất, năng suất ngô; chất lượng hạt ngô và khả năng hấp thu
N, P, K của cây ngô
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phối hợp N, P, K đến hiệu quả sử dụngphân bón cho cây ngô
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp phương pháp thí nghiệm đồng ruộng với phương pháp phân tíchtrong phòng
3.3.1 Thí nghi ệm 1: Xác định khả năng tăng mật độ trồng ngô lai trung ngày
h ợp lý trên đất xám bạc màu bằng giảm khoảng cách hàng
- Các CTTN có nội dung cụ thể, trình bày trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Nội dung công thức thí nghiệm, xác định khả năng tăng mật độ
trồng ngô lai trung ngày hợp lý trên đất xám bạc màu bằng giảm khoảng cách hàng
Nội dung công thức thí nghiệm STT
Mật độ (vạn cây/ha) Khoảng cách hàng (cm) Phân bón
tỷ lệ N:P:K là 1:0,67:0,740
Trang 93.3.1.2 K ỹ thuật trồng và chăm sóc
Theo tiêu chuẩn TCN 341 – 2006, cụ thể như sau:
- Làm đất: Đất được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, sau đó lên luống theokhoảng cách hàng phù hợp cho mỗi công thức
- Bón phân
+ Bón lót 100% phân chuồng và phân lân, 25% phân đạm và 25% phân kali
(Phân được trộn đều, bón theo hàng rạch sâu 10-15 cm)
+ Bón thúc 1: Khi ngô được 4 - 6 lá thật bón 40% phân đạm, 25% phân kali,
bón cách gốc 5 - 7 cm ở độ sâu 3 - 5 cm, lấp kín phân kết hợp vun đất
+ Bón thúc 2: Khi ngô được 9 - 12 lá thật, bón hết lượng phân còn lại (35%
phân đạm, 50% phân kali) Bón cách gốc 10 - 12cm, sâu 5 - 7cm lấp kín phân kết
hợp vun gốc
- Chăm sóc: Giai đoạn cây con, tiến hành xới xáo, tưới nước duy trì độ ẩm
đất 70 - 80% Khi ngô được 4 - 6 lá thật, xới vun nhẹ quanh gốc kết hợp bón thúc
lần 1, tưới nước đủ ẩm và tiến hành tỉa dặm định cây đảm bảo mật độ trồng mỗihốc 1 cây Khi ngô được 9 - 12 lá thật, xới xáo diệt cỏ dại kết hợp bón thúc lần 2,vun cao gốc và tưới nước đủ ẩm (70 - 80% độ ẩm đồng ruộng)
- Tưới nước: Phải tưới nước đủ ẩm (70 - 80% độ ẩm đồng ruộng) ở các giai
đoạn 7 - 9 lá, xoáy nõn và khi kết thúc thụ phấn
- Phòng trừ sâu bệnh: Chỉ dùng thuốc khi đến ngưỡng phòng trừ theo hướngdẫn chung của ngành bảo vệ thực vật Dùng Validaxin 5% trừ bệnh khô vằn vàDragon trừ sâu hại
- Thu hoạch: Tiến hành thu hoạch khi ngô chín sinh lý (khi chân hạt có vết
đen hoặc 75% số cây có lá bi khô)
3.3.1.3 Ch ỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Theo Quy phạm số 10TCN 341 – 2006 (Bộ Nông nghiệp &PTNT, 2006) vàcác phương pháp khác đang được áp dụng
* Chỉ tiêu sinh trưởng: Chiều cao cây, số lá, diện tích lá vào các giai đoạn 3
-4 lá, 7 - 9 lá, xoáy nõn và chín
- Chiều cao cây (cm): Theo dõi 10 cây liên tục trên mỗi ô thí nghiệm (trừ cây
đầu hàng, có đánh dấu), đo từ gốc sát mặt đất đến đỉnh lá dài nhất
- Số lá trên cây (lá): Đếm số lá còn tươi/cây
- Chỉ số diện tích lá (LAI) tính theo phương pháp của Yoshida (1985)
Diện tích lá (m2) = Chiều dài x chiều rộng x 0,75 x số lá/cây
LAI (m2 lá/ m2 đất) = m2lá/cây x số cây/ m2 đất
- Sinh khối: Cân khối lượng tươi của 3 cây/ô thí nghiệm, sấy khô đến khối
lượng không đổi để tính khối lượng trung bình/cây và qui đổi về khối lượng/ha
* Sâu bệnh hại: Tình hình sâu bệnh hại theo dõi theo phương pháp phòng trừ tổnghợp dịch hại cây trồng nông nghiệp của Hà Quang Hùng (1998)
Trang 10- Sâu hại: Điều tra theo phương pháp 5 điểm đường chéo góc, mỗi điểm 10cây, theo dõi vào 4 giai đoạn chính như trên (điều tra tổng số sâu hại chính).
- Bệnh hại: Tỷ lệ cây bị bệnh % = (Số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra) x
100 (Mức độ bệnh hại theo Cục Bảo vệ thực vật 1997)
* Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
-Số bắp/cây: theo dõi trên 10 cây liên tục/công thức thí nghiệm
- Số hạt trung bình/bắp: Ngô sau khi thu hoạch xong, tách lá bi, dồn chungtheo từng công thức, lấy 10 bắp/công thức theo tỉ lệ bắp tốt, trung bình và xấu là3:4:3 Số hạt của bắp tính như sau: Một hàng hạt được tính khi có 50% số hạt sovới hàng dài nhất Đếm số hàng có trên từng bắp Số hàng hạt được tính bằng sốliệu trung bình của 10 bắp
- Khối lượng 1000 hạt (gam): Ở độ ẩm 14% lấy 2 mẫu, mỗi mẫu 500 hạt,
cân xác định khối lượng của 2 mẫu, nếu khối lượng của mẫu nặng trừ đi khối lượng
của mẫu nhẹ < 5% so với khối lượng trung bình của 2 mẫu, ta coi khối lượng 1000hạt bằng tổng khối lượng của 2 mẫu Nếu khối lượng của 2 mẫu chênh lệch >5% thìphải đếm hạt cân lại
- Độ ẩm hạt khi thu hoạch (%): Tẽ hạt của 10 bắp/ô, lấy 140 gam để đo độ
ẩm Lấy độ ẩm trung bình của 3 lần đo
- Năng suất thực thu (kg/ha) Thu tất cả bắp ngô của từng ô thí nghiệm Phơi khô,tách hạt, cân riêng hạt và phụ phẩm (thân, lá, lõi, bi) từng lần nhắc lại rồi lấy trung bình
* Chỉ tiêu chất lượng
- Hàm lượng protein thô, lipit trong hạt
- Phân tích mẫu hạt và phụ phẩm theo lần nhắc lại của từng công thức thínghiệm để xác định hàm lượng N, P, K trong hạt và phụ phẩm ở giai đoạn thu hoạch
- Tính tổng lượng N, P, K cây hút theo hạt và phụ phẩm (% tích lũy x năngsuất hạt và phụ phẩm)
*Hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân bón
+ Tính hiệu suất sử dụng phân bón cho ngô theo công thức:
H = (A - B) : C.Trong đó:
- H là hiệu suất phân bón (kg sản phẩm/kg chất dinh dưỡng)
- A là sản lượng ngô khi được bón phân (kg)
- B là sản lượng ngô khi không bón phân (kg)
- C là số lượng đơn vị chất dinh dưỡng (kg)
+ Xác định hiệu quả kinh tế
Lãi (thu nhập thuần) = Tổng thu nhập/ha - chi phí vật chất (giống, phân bón,thuốc BVTV, xăng dầu) - chi phí công lao động (tổng số công lao động x giá 1
công lao động tại địa phương)
Trong đó: Tổng thu nhập/ha = Năng suất ngô (kg/ha) x giá (đồng/kg)
+ Xác định tỷ lệ lãi trên chi phí mua phân bón theo công thức
Trang 11VCR = giá trị sản phẩm tăng lên do bón phân: giá trị tiền mua phân bón.
+ lượng phân bón tối đa kỹ thuật (x), được xác định dựa vào đạo hàm y’ =
-2ax+b của phương trình tổng quát: y = -ax2+bx+c, cho y = 0 để tính x = b/2a
Trong đó: y là năng suất cây trồng, x là lượng phân bón cho cây
- lượng bón tối thích kinh tế được xác định dựa vào phương trình:
x = (y’-b):2a
3.3.1.4 Phương pháp phân tích
Phân tích một số chỉ tiêu về lý hóa học đất và thành phần hóa học cây ngôbằng các phương pháp phân tích thông dụng theo (Sổ tay phân tích đất, nước,phân bón, cây trồng, 1998) của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá và Tuyển tập tiêuchuẩn Nông nghiệp Việt Nam, 2000
- Gồm 6 CTTN, trong đó CT1 đến CT5 được tiến hành trong vụ đông 2010
và vụ xuân 2011; CT2 đến CT6 thực hiện tiếp vụ đông 2011
- Trên nền phân bón 10 tấn phân chuồng/ha (10 tấn PC/ha) Lượng NPK bón
từ 0,85 đến 1,60 lần so với mức khuyến cáo (135 kg N + 90 kg P2O5 + 100 kg K2O
- 1NPK có tỷ lệ N:P:K là 1:0,67:0,740)
- Các công thức thí nghiệm có nội dung cụ thể trình bày trong bảng 3.2
- Các công thức thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB)với 4 lần nhắc lại Diện tích mỗi ô thí nghiệm 24m2
- Kỹ thuật trồng, chỉ tiêu theo dõi, phương pháp phân tích và xử lý kết quả
được thực hiện như thí nghiệm 1 (trang 7 – 9)
Bảng 3.2 Nội dung công thức thí nghiệm, xác định lượng N, P, K thích hợp cho ngô trồng ở mật độ khoảng cách hàng dày hợp lý theo phương pháp
thay đổi lượng N,P,K bón theo cùng tỷ lệ
S
Mật độ, khoảng cách trồng ngô
1 10 tấn PC/ha + 0,85 NPK (115 kg N/ha + 77 kg P 2 O 5 /ha + 85 kg K 2 O/ha)
2 10 tấn PC/ha + 1,00 NPK (135 kg N/ha + 90 kg P2O5/ha + 100 kg K2O/ha)
3 10 tấn PC/ha + 1,15 NPK (155 kg N/ha + 104 kg P 2 O 5 /ha + 115 kg K 2 O/ha)
4 10 tấn PC/ha + 1,30 NPK (176 kg N/ha + 117 kg P 2 O 5 /ha + 130 kg K 2 O/ha)
5 10 tấn PC/ha + 1,45 NPK (196 kg N/ha + 131 kg P2O5/ha + 145 kg K2O/ha)
6 10 tấn PC/ha + 1,60 NPK (216 kg N/ha + 144 kg P 2 O 5 /ha + 160 kg K 2 O/ha)
7,0 vạn cây/ha Khoảng cách hàng 50 cm
Trang 123.3.2.2 Thí nghi ệm xác định lượng bón N, P, K thích hợp bằng thay đổi từng lượng N, P, K bón cho ngô
- Để khẳng định kết quả của thí nghiệm xác định N, P, K thích hợp theo
phương pháp thay đổi lượng N, P, K bón theo cùng tỷ lệ nêu trên chúng tôi bố trí thí
nghiệm xác định lượng bón N, P, K thích hợp bằng thay đổi từng lượng N, P, Kbón (phương pháp kinh điển) gồm 3 thí nghiệm về bón phân N, P, K
Bảng 3.3 Nội dung công thức thí nghiệm, xác định lượng N thích hợp
cho ngô trồng ở mật độ khỏang cách hàng dày hợp lý theo phương pháp
thay đổi lượng N bón
S
Mật độ, khoảng cách trồng ngô
1 10 tấn PC /ha + 117 kg P 2 O 5 /ha + 130 kg K 2 O /ha - nền
50 cm
- Các công thức thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB),nhắc lại 4 lần, ô thí nghiệm có diện tích 24m2
- Nghiên cứu tiến hành ở vụ đông 2011 gồm các thí nghiệm và CTTN cụ thể
được trình bày trong các bảng: 3.3, 3.4, 3.5
- Kỹ thuật trồng, chỉ tiêu theo dõi, phương pháp phân tích và xử lý kết quả
được thực hiện như thí nghiệm 1
Bảng 3.4 Nội dung công thức thí nghiệm, xác định lượng P thích hợp
cho ngô trồng ở mật độ khỏang cách hàng dày hợp lý theo phương pháp
thay đổi lượng P bón
50 cm
Bảng 3.5 Nội dung công thức thí nghiệm, xác định lượng K thích hợp
cho ngô trồng ở mật độ khỏang cách hàng dày hợp lý theo phương pháp
thay đổi lượng K bón
Trang 13PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Xác định mật độ dày hợp lý khi giảm khoảng cách hàng trong trồng ngô lai trung ngày trên đất xám bạc màu
4.1.1 Ảnh hưởng của mật độ, khoảng cách hàng trồng đến sinh trưởng của cây
ngô
Chỉ số diện tích lá (LAI) là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh sự sinh trưởng pháttriển và khả năng quang hợp tạo năng suất của từng cá thể và quần thể ruộng ngô
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá của cây ngô
Chỉ số diện tích lá ngô ở các giai đoạn theo dõi
2010
Xuân 2011
Đông 2010
Xuân 2011
Đông 2010
Xuân 2011
Đông 2010
Xuân 2011
làm tăng LAI rõ và chỉ số này tăng dần khi mật độ tăng lên (mức tin cậy 95%) ở cả
hai vụ thí nghiệm trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng
So sánh các cặp công thức có cùng mật độ (5,0; 7,0 và 8,0 vạn cây/ha) nhưngkhác nhau về khoảng cách hàng (70 và 50 cm) cho thấy tăng mật độ ở khoảng cách
hàng 50 cm có xu hướng làm cho chỉ số LAI cao hơn khá rõ khi tăng mật độ ở
khoảng cách hàng 70cm, trong đó ở mật độ 7,0 vạn cây với khoảng cách hàng 50
cm luôn có LAI ở mức cao nhất Điều này cho thấy ưu thế trong phát triển bộ lá vàkhả năng quang hợp tốt hơn của quần thể ruộng ngô khi được trồng ở khoảng cách
hàng 50 cm, đặc biệt ở mật độ 7,0 vạn cây/ha
4.1.2 Ảnh hưởng của mật độ, khoảng cách hàng trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ngô
Mật độ và khoảng cách hàng ngoài việc ảnh hưởng tới số cây và số bắp đạt
được trên 1 đơn vị diện tích còn có ảnh hưởng rõ đến các yếu tố cấu thành năng
suất ngô: số hạt/bắp và khối lượng 1000 hạt Có thể thấy rõ điều này qua bảng 4.2
Nhìn chung tăng mật độ trong trồng ngô ở cả 2 vụ nghiên cứu làm số bắp/ha
tăng mạnh (20 - 80%) nhưng số hạt/bắp và khối lượng 1000 hạt lại đều có xu hướng